



Preview text:
Luật chống độc quyền (ANTITRUST LAWS) là gì?
1. Thị trường độc quyền 1.1. Độc quyền là gì?
Trong pháp luật không có quy định chung về độc quyền nhưng căn cứ theo
các nội dung trong thực hiện thì độc quyền là thuật ngữ trong kinh tế học chỉ
về trạng thái thị trường chỉ có duy nhất một người bán và sản xuất ra sản
phẩm không có sản phẩm thay thế. Về nguồn gốc, thuật ngữ “độc quyền” -
"monopoly" bắt nguồn từ tiếng Hy Lạp cổ đại. Monos (nghĩa là duy nhất) và
Polein (nghĩa là bán). Có thể hiểu theo một cách đơn giản, "độc quyền" đề
cập đến bất kỳ cá nhân hoặc doanh nghiệp nào là người bán duy nhất trên thị
trường. Đây là một dạng thất bại thị trường, một trường hợp cực đoan của sự
thiếu cạnh tranh trên thị trường. Mặc dù trong thực tế hầu như không tìm
được trường hợp nào đáp ứng đầy đủ hai tiêu chí của độc quyền nên có thể
coi như không tồn tại độc quyền thuần túy, nhưng các hình thức độc quyền
không thuần túy đều dẫn đến không đem lại hiệu quả lợi ích xã hội. Độc
quyền là hiện tượng thị trường trong đó chỉ có một hãng hoặc một nhóm hãng
hợp tác với nhau để chiếm vị trí độc tôn trong việc cung cấp một sản phẩm,
giúp họ có thể kiểm soát hoàn toàn giá của sản phẩm đó, tối đa hóa lợi nhuận
và ngăn cản các hãng khác cạnh tranh gia nhập thị trường.
Độc quyền là hệ quả tất yếu của việc cạnh tranh không có định hướng
và điều tiết: Từ cạnh tranh lành mạnh chuyển qua cạnh tranh không lành
mạnh dẫn tới cạnh tranh có tính độc quyền và cuối cùng xuất hiện độc quyền.
Độc quyền làm tê liệt cạnh tranh lành mạnh, cản trở sự tăng trưởng kinh
tế, tác động trực tiếp đến lợi ích người tiêu dùng, ảnh hưởng xấu đến an
sinh xã hội và tạo ra sức ì cho chính bản thân những doanh nghiệp độc
quyền. Cạnh tranh không lành mạnh và độc quyền là những khuyết tật của
nền kinh tế thị trường. Các nước có nền kinh tế thị trường phát triển sử dụng
nhiều biện pháp khác nhau để kiểm soát độc quyền: Chính sách thuế, quản lí
giá sản phẩm, điều chỉnh độc quyền, chống các-ten, tơ-rớt...
Thị trường độc quyền (Monopoly) là một cấu trúc thị trường được đặc trưng
bởi một người bán duy nhất chỉ bán một sản phẩm duy nhất trên thị trường và
có nhiều người mua. Trong thị trường độc quyền, người bán không phải đối
mặt với sự cạnh tranh, bởi họ chính là người bán duy nhất, bán sản phẩm
duy nhất không có sản phẩm thay thế và không có đối thủ cạnh tranh. Có thể
nói, một thị trường độc quyền là thị trường không cạnh tranh. Đây được coi là
một trong các hình thức sản xuất thất bại của thị trường, trường hợp tiêu
cực của thị trường là sự thiếu tính cạnh tranh. Tuy nhiên, tại nhiều nước phát
triển, độc quyền chỉ còn tồn tại ở một vài ngành nhất định và một mức độ
nhất định. Bởi nó là nhân tố đảm bảo cho cạnh tranh phát triển và duy trì
được hiệu quả kinh tế của toàn xã hội.
1.2. Đặc điểm của thị trường độc quyền
- Một thị trường độc quyền được điều tiết chi phối bởi một nhà cung cấp duy
nhất. Khi một nhà cung cấp kiểm soát việc cung cấp và sản xuất một sản
phẩm hoặc dịch vụ nhất định, các công ty khác khó có thể tham gia vào thị trường độc quyền.
- Tối đa hóa lợi nhuận. Trong thị trường độc quyền, công ty độc quyền tối đa
hóa mọi lợi nhuận. Họ có thể đặt giá cao hơn mức giá bình thường mà họ có
thể có trong một thị trường cạnh tranh để kiếm được lợi nhuận cao hơn. Do
không có cạnh tranh nên mức giá do công ty độc quyền ấn định sẽ là giá thị trường.
- Sản phẩm không độc đáo. Hàng hóa hoặc dịch vụ do doanh nghiệp nào đó
cung cấp là duy nhất. Không có sản phẩm thay thế có sẵn trên thị trường.
2. Luật chống độc quyền (Antitrust Law) là gì?
Luật chống độc quyền (Antitrust Law) là một tập hợp các dự luật của tiểu
bang và liên bang Hoa Kỳ nhằm ngăn chặn sự độc quyền và khuyến khích
cạnh tranh lành mạnh giữa các tập đoàn kinh doanh nhằm thúc đẩy cạnh
tranh giữa các tập đoàn một cách công bằng. Mục đích chính là đem lại lợi
ích cho người tiêu dùng. Tuy nhiên, kể từ khi Luật Chống Độc quyền ra đời
vào năm 1890, lịch sử cho thấy sức mạnh của đạo luật không hề ngăn chặn
được độc quyền mà thực tế được xem là một âm mưu nhằm hạn chế sự
cạnh tranh giữa các doanh nghiệp. Ở một số quốc gia nói tiếng Anh, luật
chống độc quyền còn được biết với tên gọi khác là Luật cạnh tranh (Competition Law).
Luật chống độc quyền là luật được xây dựng nhằm ngăn chặn độc quyền hay
các thông lệ kinh doanh giới hạn sự cạnh tranh thị trường tự do. Cho dù chỉ
có 40 tiểu bang chấp nhận đạo luật này, các bộ luật quan trọng hơn là những luật liên bang sau:
- Bộ luật Chống độc quyền Sherman (Sherman Antitrust Act) năm 1890, cấm
độc quyền, hạn chế thương mại, cấm tập đoàn kinh doanh, các tổ chức này
được tạo ra với mục đích duy nhất là hạn chế cạnh tranh. Luật Sherman ngăn
chặn “mọi hợp đồng, liên kết hoặc âm mưu không hợp lý nhằm hạn chế
thương mại” cùng “sự độc quyền, cố gắng độc quyền hoặc âm mưu hay sự
kết hợp để độc quyền”.
- Bộ luật của ủy ban Thương mại Liên bang (Federal Trade Commission) năm
1914, sáng lập ủy ban Thương mại Liên bang, một cơ quan liên bang có
quyền quy định về hoạt động thương mại giữa các bang, thẩm tra các hoạt
động kinh doanh (ngoại trừ những hoạt động của ngân hàng), đồng thời,
chống lại các hành vi cạnh tranh không công bằng, lừa đảo trên thị trường
bằng các lệnh cưỡng chế. Mục đích chính của luật này là cạnh tranh công
bằng giữa các doanh nghiệp với nhau và bảo vệ lợi ích của người tiêu dùng.
Điều đáng lưu ý, Luật Ủy ban Thương mại Liên bang năm 1914 cấm việc sử
dụng quảng cáo để lừa đảo hoặc quảng cáo sai sự thật.
- Bộ luật Chống độc quyền Clayton (Clayton Antitrust Act) năm 1914 và các
thông tư bổ sung, sửa đổi, cấm các hợp đồng cấu kết, liên kết giữa các ban
quản trị, và một số hình thức thâu tóm của công ty mẹ. Luật Clayton cấm các
hành vi phân biệt giá dẫn tới sự suy giảm cạnh tranh đáng kể hoặc dẫn tới
độc quyền, các hợp đồng cản trở người mua bán hàng cho đối thủ cạnh tranh
của người bán, các hợp đồng ràng buộc, việc mua một công ty dẫn tới làm
giảm cạnh tranh đáng kể và hội đồng giám đốc đan xen nhau giữa các đối thủ
cạnh tranh. Luật này cũng khẳng định rằng các quy định về chống độc quyền
không áp dụng đối với người lao động (tức công đoàn). Sửa đổi cả nội dung
và thủ tục đối với luật chống độc quyền của liên bang.
3. Luật Cạnh tranh - Luật chống độc quyền ở Việt Nam
Tại Việt Nam, ngày 03/12/2004, Luật Cạnh tranh được Quốc hội thông qua
lần đầu tiên và có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/7/2005. Theo đánh giá,
Luật Cạnh tranh 2004 là hành lang pháp lý quan trọng góp phần thúc đẩy quá
trình tạo lập và duy trì môi trường cạnh tranh công bằng và lành mạnh giữa
các chủ thể, qua đó tạo động lực phát triển kinh tế đất nước và huy động các
nguồn lực xã hội hiệu quả bảo vệ tốt nhất quyền lợi của người tiêu dùng. Mặc
dù đạt được một số thành tựu đáng kể song kết quả qua nhiều năm thi
hành của Luật cạnh tranh 2004 đã không được như mong đợi do trong quá
trình thi hành bộ luật này dần bộc lộ những hạn chế, nhiều khó khăn, vướng
mắc trong quá trình thi hành. Nhằm khắc phục những hạn chế của dự luật
năm 2004, ngày 12/06/2018, Quốc hội đã thông qua Luật Cạnh tranh năm
2018 (Luật Cạnh tranh 2018) sửa đổi và bổ sung Luật Cạnh tranh năm 2004
có hiệu lực thi hành từ ngày 01/07/2019.
Theo đó, Luật cạnh tranh 2018 mở rộng phạm vi điều chỉnh và đối tượng áp
dụng, tức là bất cứ một hành vi, thoả thuận hay một giao dịch mua bán sáp
nhập bất kỳ diễn ra ở thời điểm nào, cả trong lãnh thổ Việt Nam hay ngoài
lãnh thổ Việt Nam nhưng có khả năng tác động gây hạn chế cạnh tranh một
cách đáng kể đối với thị trường Việt Nam thì sẽ thuộc phạm vi điều chỉnh của
Luật Cạnh tranh 2018. Ngoài ra, luật sửa đổi cũng quy định và làm
rõ các hành vi bị nghiêm cấm của cơ quan nhà nước lạm dụng chức vụ,
quyền hạn để can thiệp trái pháp luật vào hoạt động cạnh tranh. Đây là quy
định mới để nâng cao hiệu lực thi hành của Luật Cạnh tranh một cách toàn
diện với mọi chủ thể, của tổ chức, cá nhân khi có hành vi được cho là có ảnh
hưởng xấu đến cạnh tranh trên thị trường.
Document Outline
- Luật chống độc quyền (ANTITRUST LAWS) là gì?
- 1. Thị trường độc quyền
- 1.1. Độc quyền là gì?
- 1.2. Đặc điểm của thị trường độc quyền
- 2. Luật chống độc quyền (Antitrust Law) là gì?
- 3. Luật Cạnh tranh - Luật chống độc quyền ở Việt N
- 1. Thị trường độc quyền