THỪA KẾ
KHÁI NIỆM VỀ THỪA KẾ
Thừa kế là sự chuyển dịch tài sản của người chết qua cho người còn sống
theo di chúc hoặc chia theo pháp luật. Việc thừa kế không chủ bao gồm
tài sản mà còn liên quan đến quyền và nghĩa vụ của nguời để lại di sản.
Điều 609 BLDS 2015: “Cá nhân có quyền lập di chúc để định đoạt tài
sản của mình; để lại tài sản của mình cho người thừa kế theo pháp luật;
hưởng di sản theo di chúc hoặc theo pháp luật.
Người thừa kế không là cá nhân có quyền hưởng di sản theo di chúc.
Giải thích: Điều này khẳng định quyền thừa kế là 1 quyền quan trọng của
cá nhân =>Người có tài sản có thể quyết định việc chia tài sản qua di
chúc=> nếu không có di chúc hoặc di chúc không hợp pháp thì sẽ chia
theo pháp luật =>người thừa kế có quyền nhận di sản nhưng cũng có thể
từ chối nhận di sản.
Hình thức chia thừa kế
Điều 624 BLDS 2015: “Di chúc là sự thể hiện ý chí của cá nhân nhằm
chuyển tài sản của mình cho người khác sau khi chết.
Giải thích: Người lập di chúc có quyền quyết định ai sẽ nhận tài sản của
mình sau khi chết=> di chúc có thể lập bằng văn bản hoặc di chúc
miệng tùy trường hợp đặc biệt=> di chúc phải tuân thủ điều kiện hợp
pháp (Đ630 BLDS)
Ví dụ: Ông A có khối tài sản là 5 tỷ. Trước khi mất, ông A lập di chúc để
lại toàn bộ tài sản cho người con trai và sau khi ông mất thì di sản của
ông sẽ được giao lại cho người con trai
Điều kiện để một di chúc có hiệu lực
Theo Điều 643 BLDS thì: “ 1. Di chúc có hiệu lực từ thời điểm mở thừa
kế.
2. Di chúc không có hiệu lực toàn bộ hoặc một phần trong trường hợp sau
đây:
a) Người thừa kế theo di chúc chết trước hoặc chết cùng thời điểm với
người lập di chúc;
b) Cơ quan, tổ chức được chỉ định là người thừa kế không còn tồn tại vào
thời điểm mở thừa kế.
Trường hợp có nhiều người thừa kế theo di chúc mà có người chết trước
hoặc chết cùng thời điểm với người lập di chúc, một trong nhiều cơ quan,
tổ chức được chỉ định hưởng thừa kế theo di chúc không còn tồn tại vào
thời điểm mở thừa kế thì chỉ phần di chúc có liên quan đến cá nhân,
quan, tổ chức này không có hiệu lực.
3. Di chúc không có hiệu lực, nếu di sản để lại cho người thừa kế không
còn vào thời điểm mở thừa kế; nếu di sản để lại cho người thừa kế chỉ
còn một phần thì phần di chúc về phần di sản còn lại vẫn có hiệu lực.
4. Khi di chúc có phần không hợp pháp mà không ảnh hưởng đến hiệu lực
của các phần còn lại thì chỉ phần đó không có hiệu lực.
5. Khi một người để lại nhiều bản di chúc đối với một tài sản thì chỉ bản di
chúc sau cùng có hiệu lực.
VÍ DỤ
Ví dụ 1: Di chúc có hiệu lực từ thời điểm mở thừa kế
Năm 2022, ông Nguyễn Văn A lập một di chúc hợp pháp, trong đó ông để lại toàn bộ căn
nhà số 123 đường Nguyễn Trãi, quận 1, TP. Hồ Chí Minh cho con trai là Nguyễn Văn B.
Trong di chúc, ông A cũng chỉ định rõ rằng B sẽ nhận quyền sở hữu căn nhà sau khi ông
qua đời.
Đến ngày 15/3/2024, ông A qua đời. Kể từ thời điểm này, di chúc của ông A bắt đầu có hiệu
lực, và B có quyền làm thủ tục thừa kế theo nội dung di chúc. Trước thời điểm đó, di chúc
chỉ có ý nghĩa thể hiện ý chí của ông A nhưng chưa có giá trị thực hiện.
Ví dụ 2: Di chúc không có hiệu lực do người thừa kế chết trước hoặc cùng thời điểm
với người lập di chúc
Ngày 10/6/2023, bà Trần Thị C lập di chúc để lại số tiền 2 tỷ đồng trong tài khoản ngân
hàng của mình cho con gái là Trần Thị D. Tuy nhiên, đến ngày 5/5/2024, Trần Thị D bị tai
nạn giao thông và qua đời. Một tháng sau, ngày 10/6/2024, bà C cũng qua đời.
Trong trường hợp này, do Trần Thị D đã qua đời trước bà C, nên phần di chúc liên quan đến
D sẽ không có hiệu lực. Khoản tiền 2 tỷ đồng sẽ được chia theo quy định của pháp luật về
thừa kế, trừ khi bà C có di chúc thay thế hoặc có quy định khác về người thừa kế dự phòng.
Ví dụ 3: Di chúc không có hiệu lực do tổ chức thừa kế không còn tồn tại
Ông Phạm Văn E lập di chúc vào năm 2020, trong đó ông để lại 1 tỷ đồng cho Quỹ Hỗ trợ
Trẻ em Mồ côi X. Tuy nhiên, đến năm 2023, quỹ này bị giải thể theo quyết định của cơ
quan chức năng. Năm 2024, ông E qua đời.
Vì Quỹ Hỗ trợ Trẻ em Mồ côi X không còn tồn tại tại thời điểm mở thừa kế, nên phần di
chúc liên quan đến tổ chức này không có hiệu lực. Số tiền 1 tỷ đồng sẽ được xử lý theo quy
định của pháp luật, có thể được chia lại cho các thừa kế khác của ông E nếu di chúc không
có điều khoản thay thế.
Ví dụ 4: Một phần di chúc không có hiệu lực nhưng phần còn lại vẫn có hiệu lực
Năm 2021, bà Lê Thị G lập di chúc để lại tài sản của mình như sau:
Một căn nhà tại quận 3, TP. Hồ Chí Minh cho con trai lớn Lê Văn H.
Một xe ô tô hiệu Toyota Camry cho con gái Lê Thị K.
Tuy nhiên, đến năm 2023, do gặp khó khăn tài chính, bà G đã bán chiếc xe Toyota Camry.
Đến năm 2024, bà G qua đời.
Trong trường hợp này, phần di chúc liên quan đến căn nhà vẫn có hiệu lực, và Lê Văn H
vẫn được thừa kế căn nhà theo di chúc. Tuy nhiên, phần di chúc liên quan đến chiếc xe
không có hiệu lực, vì chiếc xe không còn tồn tại tại thời điểm mở thừa kế.
Ví dụ 5: Di chúc không có hiệu lực do toàn bộ di sản không còn
Năm 2022, ông Đặng Hoàng M lập di chúc để lại toàn bộ tài sản gồm một căn nhà và 2 tỷ
đồng tiền tiết kiệm cho con trai là Đặng Hoàng N. Tuy nhiên, đến năm 2023, ông M bán căn
nhà để trả nợ và rút toàn bộ số tiền tiết kiệm để điều trị bệnh.
Đến năm 2024, khi ông M qua đời, toàn bộ tài sản được ghi trong di chúc đã không còn.
Trong trường hợp này, di chúc của ông M không có hiệu lực vì không còn di sản để thực
hiện theo nội dung di chúc. Con trai ông M sẽ không nhận được tài sản theo di chúc, trừ khi
có tài sản khác mà di chúc chưa đề cập.
VÍ DỤ VỀ CHIA DI SẢN THEO DI CHÚC
TÌNH HUỐNG: PHÂN CHIA DI SẢN THEO DI CHÚC
Ông Nguyễn Văn A qua đời năm 2024, để lại di sản trị giá 30 tỷ đồng cùng một di chúc hợp
pháp được công chứng vào năm 2022. Nội dung di chúc quy định việc phân chia tài sản như
sau:
Bà Trần Thị B (vợ) hưởng 10 tỷ đồng.
Anh Nguyễn Văn C (con trai) hưởng 15 tỷ đồng.
Chị Nguyễn Thị D (con gái) hưởng 5 tỷ đồng.
CƠ SỞ PHÁP LÝ VÀ THỰC HIỆN PHÂN CHIA DI SẢN
1. Về hiệu lực của di chúc
Theo Điều 627 Bộ luật Dân sự 2015:
"Di chúc là sự thể hiện ý chí của cá nhân nhằm chuyển tài sản của mình cho người khác sau
khi chết."
Theo Điều 630 Bộ luật Dân sự 2015, di chúc hợp pháp khi đáp ứng các điều kiện:
Người lập di chúc minh mẫn, sáng suốt, không bị lừa dối, đe dọa hoặc cưỡng ép.
Nội dung di chúc không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội.
Hình thức di chúc phù hợp quy định pháp luật.
Trong tình huống này, di chúc của ông A được công chứng nên được coi là hợp pháp.
2. Về quyền lập di chúc và phân chia di sản
Theo Điều 626 Bộ luật Dân sự 2015:
"Người lập di chúc có quyền chỉ định người thừa kế, phân định phần di sản cho từng người
thừa kế; truất quyền hưởng di sản của người thừa kế."
Như vậy, ông A có toàn quyền quyết định việc chia di sản theo ý muốn.
3. Về quyền của những người thừa kế không có tên trong di chúc
Theo Điều 644 Bộ luật Dân sự 2015:
Con chưa thành niên, cha, mẹ, vợ/chồng không có khả năng lao động vẫn được
hưởng một phần di sản bằng hai phần ba suất thừa kế theo pháp luật, dù nội dung di
chúc không có tên họ.
Như vậy, nếu ông A có cha mẹ già yếu hoặc con chưa đủ 18 tuổi nhưng không được hưởng
di sản theo di chúc, họ có quyền yêu cầu chia một phần di sản.
4. Về thực hiện di chúc
Theo Điều 659 Bộ luật Dân sự 2015:
Người thừa kế theo di chúc sẽ nhận di sản theo đúng nội dung di chúc. Nếu có tranh
chấp hoặc phát sinh vấn đề về quyền hưởng di sản không phụ thuộc vào di chúc, di
sản sẽ được chia lại theo quy định pháp luật.
KẾT LUẬN
Di sản của ông A sẽ được chia theo đúng nội dung di chúc. Nếu không có người thuộc diện
được hưởng thừa kế không phụ thuộc vào di chúc, bà B nhận 10 tỷ đồng, anh C nhận 15 tỷ
đồng, chị D nhận 5 tỷ đồng. Việc phân chia tài sản sẽ do những người thừa kế thực hiện
theo quy định pháp luật.
VÍ DỤ VỀ HẠN CHẾ PHÂN CHIA DI SẢN
Hạn chế trong việc chia di sản theo di chúc
Một người khi lập di chúc có quyền định đoạt tài sản của mình, nhưng
việc thực hiện di chúc có thể bị hạn chế bởi các quy định pháp luật nhằm
đảm bảo quyền lợi của những người có liên quan. Dưới đây là các trường
hợp mà di sản không thể chia hoàn toàn theo nội dung di chúc.
1. Hạn chế do tài sản chung của vợ chồng
Tình huống: Ông Nguyễn Văn A lập di chúc để lại toàn bộ căn nhà trị giá
10 tỷ đồng cho con trai Nguyễn Văn B, không để lại phần nào cho vợ là
bà Trần Thị C.
Phân tích pháp lý:
Theo khoản 1 Điều 33 Luật Hôn nhân và Gia đình 2014, tài sản hình
thành trong thời kỳ hôn nhân là tài sản chung của vợ chồng, trừ khi
có chứng cứ chứng minh là tài sản riêng.
Theo Điều 66 Luật Hôn nhân và Gia đình 2014, khi một bên vợ hoặc
chồng chết, tài sản chung sẽ được chia đôi, phần của người mất mới
là di sản để phân chia thừa kế.
Kết luận:
Nếu căn nhà được mua trong thời kỳ hôn nhân, một nửa căn nhà (5
tỷ đồng) thuộc quyền sở hữu của bà C.
Ông A chỉ có quyền lập di chúc đối với phần tài sản thuộc quyền sở
hữu của mình (5 tỷ đồng).
2. Hạn chế do người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung di
chúc
Tình huống: Ông A lập di chúc để lại toàn bộ tài sản cho con trai, không
để lại tài sản cho vợ và con gái.
Phân tích pháp lý:
Theo Điều 644 Bộ luật Dân sự 2015, những người sau đây vẫn được
hưởng một phần di sản dù không được nhắc đến trong di chúc:
o Con chưa thành niên.
o Con đã thành niên nhưng không có khả năng lao động.
o Vợ/chồng không có khả năng lao động.
o Cha mẹ không có khả năng lao động.
Kết luận:
Nếu vợ ông A trên 60 tuổi hoặc mắc bệnh không thể lao động, bà
vẫn có quyền hưởng một phần di sản.
Nếu con gái ông A dưới 18 tuổi hoặc không có khả năng lao động,
cô cũng có quyền hưởng một phần di sản.
3. Hạn chế do nghĩa vụ tài sản của người để lại di sản
Tình huống: Sau khi ông A qua đời, phát hiện ông còn nợ 2 tỷ đồng chưa
thanh toán.
Phân tích pháp lý:
Theo Điều 615 Bộ luật Dân sự 2015, trước khi chia di sản, phải ưu
tiên thanh toán các khoản nợ và nghĩa vụ tài chính của người chết.
Nếu tổng tài sản ông A để lại là 5 tỷ đồng, trước tiên phải trừ đi 2 tỷ
để thanh toán nợ.
Kết luận:
Phần di sản thực tế còn lại sau khi trừ nợ chỉ còn 3 tỷ đồng để chia
theo di chúc.
Người hưởng di sản chỉ có thể nhận phần còn lại sau khi các khoản
nợ được thanh toán.
Tóm lại, di chúc có thể bị hạn chế khi
1. Di sản bao gồm tài sản chung của vợ chồng → Chỉ chia phần
tài sản thuộc sở hữu của người lập di chúc.
2. Có người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung di chúc
Những người thuộc diện này vẫn có quyền hưởng một phần di sản.
3. Người chết còn nghĩa vụ tài sản → Phải thanh toán hết nợ trước
khi chia di sản.
Kết luận chung về tình huống trên:
Căn nhà 10 tỷ đồng thực tế chỉ có 5 tỷ đồng thuộc di sản của ông A.
Nếu bà C trên 60 tuổi, bà vẫn được hưởng một phần di sản dù di
chúc không nhắc đến.
Nếu ông A còn nợ 2 tỷ đồng, di sản thực tế chỉ còn 3 tỷ đồng để
chia theo di chúc.
Di chúc vẫn có hiệu lực nhưng không được thực hiện 100% theo ý chí của
người lập di chúc mà phải tuân theo các quy định hạn chế của pháp luật.
Thừa kế theo pháp luật
Theo Điều 649 BLDS 2015: “Thừa kế theo pháp luật là thừa kế theo
hàng thừa kế, điều kiện và trình tự thừa kế do pháp luật quy định”
Các trường hợp thừa kế theo pháp luật được quy định tại Điều 650
BLDS:
“1. Thừa kế theo pháp luật được áp dụng trong trường hợp sau đây:
a) Không có di chúc;
b) Di chúc không hợp pháp;
c) Những người thừa kế theo di chúc chết trước hoặc chết cùng thời điểm
với người lập di chúc; cơ quan, tổ chức được hưởng thừa kế theo di chúc
không còn tồn tại vào thời điểm mở thừa kế;
d) Những người được chỉ định làm người thừa kế theo di chúc mà không
có quyền hưởng di sản hoặc từ chối nhận di sản.
2. Thừa kế theo pháp luật cũng được áp dụng đối với các phần di sản sau
đây:
a) Phần di sản không được định đoạt trong di chúc;
b) Phần di sản có liên quan đến phần của di chúc không có hiệu lực pháp
luật;
c) Phần di sản có liên quan đến người được thừa kế theo di chúc nhưng
họ không có quyền hưởng di sản, từ chối nhận di sản, chết trước hoặc
chết cùng thời điểm với người lập di chúc; liên quan đến cơ quan, tổ chức
được hưởng di sản theo di chúc, nhưng không còn tồn tại vào thời điểm
mở thừa kế.”
Điều 660 BLDS 2015 quy định về phân chia di sản theo pháp luật
“1. Khi phân chia di sản, nếu có người thừa kế cùng hàng đã thành thai
nhưng chưa sinh ra thì phải dành lại một phần di sản bằng phần mà
người thừa kế khác được hưởng để nếu người thừa kế đó còn sống khi
sinh ra được hưởng; nếu chết trước khi sinh ra thì những người thừa kế
khác được hưởng.
2. Những người thừa kế có quyền yêu cầu phân chia di sản bằng hiện vật;
nếu không thể chia đều bằng hiện vật thì những người thừa kế có thể
thỏa thuận về việc định giá hiện vật và thỏa thuận về người nhận hiện
vật; nếu không thỏa thuận được thì hiện vật được bán để chia.
Hàng thừa kế theo pháp luật được quy định tại Điều 651 BLDS 2015:
“ . Những người thừa kế theo pháp luật được quy định theo thứ tự sau
đây:
a) Hàng thừa kế thứ nhất gồm: vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ
nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết;
b) Hàng thừa kế thứ hai gồm: ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại, anh
ruột, chị ruột, em ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người
chết là ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại;
c) Hàng thừa kế thứ ba gồm: cụ nội, cụ ngoại của người chết; bác ruột,
chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột của người chết; cháu ruột của người
chết mà người chết là bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột; chắt
ruột của người chết mà người chết là cụ nội, cụ ngoại.
2. Những người thừa kế cùng hàng được hưởng phần di sản bằng nhau.
3. Những người ở hàng thừa kế sau chỉ được hưởng thừa kế, nếu không
còn ai ở hàng thừa kế trước do đã chết, không có quyền hưởng di sản, bị
truất quyền hưởng di sản hoặc từ chối nhận di sản.
VÍ DỤ MINH HỌA VỀ THỪA KẾ THEO PHÁP LUẬT
1. Trường hợp không có di chúc
Tình huống thực tế:
Ông Nguyễn Văn H mất năm 2024, không để lại di chúc. Ông H có vợ là bà Trần Thị M,
hai con là Nguyễn Văn A và Nguyễn Thị B. Cha mẹ ông H đã mất trước đó. Di sản để lại
gồm một căn nhà trị giá ba tỷ đồng và một khoản tiền tiết kiệm một tỷ đồng.
Giải thích theo pháp luật:
Theo Điều 650 Bộ luật Dân sự 2015, khi người chết không để lại di chúc, di sản sẽ được
chia theo pháp luật. Theo Điều 651 Bộ luật Dân sự 2015, những người thừa kế thuộc hàng
thừa kế thứ nhất của ông H gồm vợ và hai con. Vì vậy, ba người này sẽ được hưởng di sản
theo nguyên tắc mỗi người một phần bằng nhau.
Kết quả phân chia di sản:
Tổng giá trị di sản của ông H là bốn tỷ đồng. Số người thừa kế là ba người. Mỗi người được
hưởng một phần di sản tương đương:
Bà Trần Thị M hưởng 1,33 tỷ đồng.
Nguyễn Văn A hưởng 1,33 tỷ đồng.
Nguyễn Thị B hưởng 1,33 tỷ đồng.
2. Trường hợp di chúc không hợp pháp
Tình huống thực tế:
Ông Lê Minh K lập di chúc để lại toàn bộ tài sản cho một người bạn thân mà không có chữ
ký hoặc điểm chỉ của ông K cũng như không có người làm chứng. Sau đó, ông K qua đời
vào năm 2024. Gia đình ông gồm vợ là bà Hoàng Thị T, hai con là Lê Thanh M và Lê
Thanh N.
Giải thích theo pháp luật:
Theo Điều 630 Bộ luật Dân sự 2015, một di chúc hợp pháp phải được lập thành văn bản có
công chứng hoặc chứng thực, hoặc phải có ít nhất hai người làm chứng nếu không công
chứng. Do di chúc của ông K không đáp ứng điều kiện này nên bị coi là không hợp pháp.
Theo Điều 650 Bộ luật Dân sự 2015, khi di chúc không hợp pháp, di sản được chia theo
pháp luật. Vì vậy, di sản của ông K sẽ được chia cho hàng thừa kế thứ nhất gồm vợ và hai
con.
Kết quả phân chia di sản:
Di sản được chia đều cho ba người thừa kế hợp pháp:
Bà Hoàng Thị T hưởng một phần ba di sản.
Lê Thanh M hưởng một phần ba di sản.
Lê Thanh N hưởng một phần ba di sản.
3. Trường hợp người thừa kế chết trước người lập di chúc
Tình huống thực tế:
Ông Trần Đức P lập di chúc để lại toàn bộ tài sản cho con trai duy nhất là Trần Đức Q. Tuy
nhiên, trước khi ông P qua đời, Trần Đức Q đã mất do tai nạn. Ông P không sửa đổi di chúc
và sau đó qua đời vào năm 2024.
Giải thích theo pháp luật:
Theo điểm c khoản 1 Điều 650 Bộ luật Dân sự 2015, khi người thừa kế theo di chúc chết
trước hoặc chết cùng thời điểm với người lập di chúc, phần di sản đó sẽ được chia theo pháp
luật. Vì ông P không có di chúc khác, di sản sẽ chia cho hàng thừa kế thứ nhất của ông, gồm
vợ và cha mẹ nếu còn sống.
Kết quả phân chia di sản:
Giả sử vợ ông P và cha mẹ ông đã mất, những người thừa kế còn lại của ông P sẽ là cháu
nội Trần Minh R (con của Trần Đức Q). Theo quy định về thừa kế thế vị tại Điều 652 Bộ
luật Dân sự 2015, cháu nội Trần Minh R sẽ được hưởng phần di sản mà cha mình lẽ ra được
hưởng.
4. Trường hợp có người từ chối nhận di sản
Tình huống thực tế:
Ông Phạm Văn D mất năm 2024, không để lại di chúc. Ông có vợ là bà Lý Thị X và ba con
là Phạm Văn Y, Phạm Văn Z và Phạm Thị U. Tài sản để lại gồm một căn nhà trị giá năm tỷ
đồng. Sau khi ông D mất, Phạm Văn Y quyết định từ chối nhận di sản.
Giải thích theo pháp luật:
Theo Điều 620 Bộ luật Dân sự 2015, người thừa kế có quyền từ chối nhận di sản nhưng phải
lập văn bản và không nhằm trốn tránh nghĩa vụ tài chính. Khi Phạm Văn Y từ chối, phần di
sản của anh sẽ được chia lại cho những người còn lại trong hàng thừa kế thứ nhất.
Kết quả phân chia di sản:
Ban đầu, di sản của ông D sẽ chia đều cho bốn người, mỗi người hưởng 1,25 tỷ đồng. Tuy
nhiên, do Phạm Văn Y từ chối nhận di sản, phần này sẽ được chia lại cho ba người còn lại,
tức:
Bà Lý Thị X hưởng 1,67 tỷ đồng.
Phạm Văn Z hưởng 1,67 tỷ đồng.
Phạm Thị U hưởng 1,67 tỷ đồng.
6. Trường hợp di sản không còn vào thời điểm mở thừa kế
Tình huống thực tế:
Ông Nguyễn Văn B lập di chúc để lại một mảnh đất cho con gái là Nguyễn Thị M. Tuy
nhiên, trước khi mất, ông B đã bán mảnh đất này để đầu tư kinh doanh. Năm 2024, ông B
qua đời mà không kịp sửa đổi di chúc.
Giải thích theo pháp luật:
Theo khoản 3 Điều 643 Bộ luật Dân sự 2015, nếu di sản để lại cho người thừa kế không còn
vào thời điểm mở thừa kế, phần di chúc liên quan đến di sản đó không có hiệu lực. Trong
trường hợp này, Nguyễn Thị M sẽ không được hưởng phần di sản là mảnh đất đã bị bán, trừ
khi ông B còn tài sản khác và di chúc vẫn có hiệu lực với phần tài sản còn lại
VÍ DỤ CƠ BẢN VỀ CHIA DI SẢN CÁC HÀNG THỪA KẾ THEO PHÁP LUẬT
Tình huống 1: Phân chia di sản theo hàng thừa kế thứ nhất
Ông Nguyễn Văn A qua đời vào ngày 15/03/2024, không để lại di chúc. Theo quy định tại
khoản 1 Điều 651 Bộ luật Dân sự 2015, những người thuộc hàng thừa kế thứ nhất của
ông A bao gồm:
1. Bà Trần Thị B (vợ hợp pháp của ông A).
2. Nguyễn Văn C (con trai ruột).
3. Nguyễn Thị D (con gái ruột).
4. Nguyễn Văn E (con nuôi hợp pháp, có quyết định công nhận của cơ quan nhà nước
có thẩm quyền).
Tổng giá trị di sản của ông A là 4 tỷ đồng. Căn cứ theo khoản 2 Điều 651 Bộ luật Dân sự
2015, những người thừa kế cùng hàng được hưởng phần di sản bằng nhau. Do đó, mỗi
người thuộc hàng thừa kế thứ nhất sẽ được hưởng:
Bà B: 1 tỷ đồng.
Anh C: 1 tỷ đồng.
Chị D: 1 tỷ đồng.
Anh E: 1 tỷ đồng.
Tình huống 2: Phân chia di sản theo hàng thừa kế thứ hai
Ông Trần Văn X qua đời vào ngày 02/02/2024, không có vợ con và cũng không để lại di
chúc. Cha mẹ đẻ của ông X đã mất từ nhiều năm trước. Căn cứ theo khoản 1 Điều 651 Bộ
luật Dân sự 2015, do không còn ai thuộc hàng thừa kế thứ nhất, di sản sẽ được chia cho
những người thuộc hàng thừa kế thứ hai, bao gồm:
1. Trần Văn Y (anh ruột).
2. Trần Thị Z (em gái ruột).
3. Ông Trần Văn T (ông nội).
4. Bà Nguyễn Thị H (bà ngoại).
Tổng giá trị di sản của ông X là 2 tỷ đồng. Theo quy định tại khoản 2 Điều 651 Bộ luật
Dân sự 2015, những người thừa kế cùng hàng được hưởng phần di sản bằng nhau. Do đó,
mỗi người thuộc hàng thừa kế thứ hai sẽ được hưởng:
Ông T: 500 triệu đồng.
Bà H: 500 triệu đồng.
Anh Y: 500 triệu đồng.
Chị Z: 500 triệu đồng.
Tình huống 3: Phân chia di sản theo hàng thừa kế thứ ba
Bà Lê Thị P qua đời ngày 10/05/2023, không có chồng con, không có cha mẹ, anh chị em
ruột. Theo quy định tại khoản 1 Điều 651 Bộ luật Dân sự 2015, vì không còn ai thuộc
hàng thừa kế thứ nhất và thứ hai, di sản sẽ được chia cho những người thuộc hàng thừa
kế thứ ba, bao gồm:
1. Cụ Lê Văn K (cụ nội).
2. Cụ Nguyễn Thị M (cụ ngoại).
3. Ông Lê Văn N (chú ruột).
4. Bà Lê Thị Q (cô ruột).
5. Anh Nguyễn Văn R (cháu ruột, con của bác ruột).
Tổng giá trị di sản của bà P là 3 tỷ đồng. Theo quy định tại khoản 2 Điều 651 Bộ luật Dân
sự 2015, những người thuộc hàng thừa kế thứ ba được hưởng phần di sản bằng nhau. Do
đó, mỗi người thuộc hàng này sẽ được hưởng:
Cụ K: 600 triệu đồng.
Cụ M: 600 triệu đồng.
Ông N: 600 triệu đồng.
Bà Q: 600 triệu đồng.
Anh R: 600 triệu đồng.
Dưới đây là nội dung được chỉnh sửa để phù hợp với góc nhìn của nhà làm luật, tập trung vào lập
luận pháp lý mà không có biểu tượng hay cách diễn đạt mang tính cảm xúc.
CÁC TÌNH HUỐNG THỪA KẾ PHỨC TẠP – PHÂN TÍCH PHÁP LÝ
Tình huống: Tranh chấp thừa kế giữa con nuôi và con ruột
Tóm tắt tình huống
Ông Lê Văn P qua đời năm 2024, để lại tài sản trị giá 20 tỷ đồng. Ông có hai người con:
Anh Lê Quốc B (con ruột, sinh năm 2000).
Anh Trần Văn K (con nuôi hợp pháp, được nhận nuôi năm 2015).
Không có di chúc được lập trước khi ông P mất, dẫn đến tranh chấp thừa kế giữa anh B và
anh K.
Phân tích pháp lý
1. Xác định hàng thừa kế theo pháp luật
Theo khoản 1 Điều 651 Bộ luật Dân sự (BLDS) 2015, hàng thừa kế thứ nhất gồm:
"Những người thừa kế theo pháp luật được quy định theo thứ tự sau đây:
a) Vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết."
Như vậy, cả con ruộtcon nuôi hợp pháp đều thuộc hàng thừa kế thứ nhất và có
quyền hưởng di sản như nhau.
2. Chia di sản thừa kế theo pháp luật
Do không có di chúc, di sản sẽ được chia theo pháp luật, căn cứ khoản 2 Điều 651 BLDS
2015:
"Những người thừa kế cùng hàng được hưởng phần di sản bằng nhau."
Tài sản của ông P trị giá 20 tỷ đồng, nên sẽ chia đều cho hai người thừa kế:
Anh Lê Quốc B (con ruột): 10 tỷ đồng.
Anh Trần Văn K (con nuôi hợp pháp): 10 tỷ đồng.
3. Nếu có tranh chấp từ phía con ruột
Giả sử anh B không chấp nhận chia tài sản với anh K và lập luận rằng anh K không phải con
ruột của ông P, thì cần xem xét căn cứ pháp lý về quyền thừa kế của con nuôi.
Theo khoản 1 Điều 24 Luật Nuôi con nuôi 2010:
"Kể từ ngày giao nhận con nuôi, giữa cha, mẹ nuôi và con nuôi có đầy đủ quyền, nghĩa vụ
của cha, mẹ và con như đối với cha, mẹ, con ruột."
Điều này có nghĩa là:
Khi anh K được nhận làm con nuôi hợp pháp vào năm 2015, quan hệ giữa anh K và
ông P đã tương đương như quan hệ cha con ruột.
Do đó, anh K có đầy đủ quyền thừa kế theo Điều 651 BLDS 2015 như con ruột của
ông P.
Nếu anh B kiện yêu cầu loại anh K khỏi hàng thừa kế, tòa án sẽ bác đơn vì:
Anh K đã được nhận nuôi hợp pháp theo quy định của pháp luật.
Quan hệ nuôi con nuôi đã phát sinh đầy đủ quyền lợi, bao gồm quyền hưởng di sản
thừa kế.
4. Phương án giải quyết tranh chấp
4.1. Nếu cả hai người thừa kế đồng ý chia tài sản
Mỗi người được hưởng 10 tỷ đồng, theo quy định tại khoản 2 Điều 651 BLDS
2015.
4.2. Nếu con ruột tranh chấp, không chấp nhận chia tài sản cho con nuôi
Tòa án sẽ xem xét giấy tờ pháp lý về việc nhận con nuôi.
Nếu có đầy đủ giấy tờ hợp lệ, anh K vẫn được hưởng thừa kế bình đẳng với anh B
theo Điều 24 Luật Nuôi con nuôi 2010.
4.3. Nếu phát hiện di chúc hợp pháp
Nếu ông P từng lập di chúc và nội dung khác với quy định pháp luật, di sản sẽ chia
theo di chúc (theo Điều 624 BLDS 2015).
Nếu di chúc có nội dung tước quyền thừa kế của anh K nhưng anh K thuộc diện được
hưởng suất thừa kế không phụ thuộc vào di chúc (Điều 644 BLDS 2015), anh K
vẫn có thể yêu cầu một phần di sản.
Kết luận
1. Cả con ruộtcon nuôi hợp pháp đều thuộc hàng thừa kế thứ nhất theo khoản 1
Điều 651 BLDS 2015.
2. Do không có di chúc, di sản chia đều theo pháp luật (mỗi người 10 tỷ đồng) theo
khoản 2 Điều 651 BLDS 2015.
3. Nếu có tranh chấp, anh K có thể dựa vào Điều 24 Luật Nuôi con nuôi 2010 để
khẳng định quyền thừa kế hợp pháp.
4. Nếu xuất hiện di chúc hợp pháp, tài sản sẽ được chia theo di chúc theo Điều 624
BLDS 2015, trừ trường hợp con nuôi có quyền hưởng suất thừa kế không phụ thuộc
vào di chúc theo Điều 644 BLDS 2015.
Tình huống: Xác định quyền thừa kế thế vị của cháu nội
PHÂN TÍCH VẤN ĐỀ THỪA KẾ THẾ VỊ
Tóm tắt tình huống
Ông Nguyễn Văn T có một người con trai duy nhất là anh Nguyễn Văn
H.
Năm 2015, anh H có con là Nguyễn Văn P.
Năm 2023, anh H qua đời trước ông T.
Năm 2024, ông T qua đời nhưng không để lại di chúc.
Ông T để lại di sản trị giá 15 tỷ đồng.
Vấn đề đặt ra: Xác định quyền thừa kế của cháu nội (bé P) trong
trường hợp cha đã mất trước ông nội.
Phân tích pháp lý
1. Xác định hàng thừa kế theo pháp luật
Theo khoản 1 Điều 651 Bộ luật Dân sự (BLDS) 2015, những người
thừa kế theo pháp luật thuộc hàng thừa kế thứ nhất gồm:
"Vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người
chết."
Trong trường hợp này:
Anh Nguyễn Văn H (con ruột của ông T) lẽ ra thuộc hàng thừa kế
thứ nhất.
Nhưng anh H đã qua đời trước ông T, nên không còn là người
thừa kế trực tiếp.
Do đó, cần xem xét đến quyền thừa kế thế vị.
2. Xác định quyền hưởng thừa kế thế vị của cháu nội
Theo Điều 652 BLDS 2015 về thừa kế thế vị:
"Trong trường hợp con của người để lại di sản chết trước hoặc chết
cùng thời điểm với người để lại di sản, thì cháu được quyền hưởng
phần di sản mà cha hoặc mẹ của cháu được hưởng nếu còn sống;
nếu cháu cũng đã chết trước hoặc chết cùng thời điểm với người để lại di
sản thì chắt được hưởng phần di sản mà cha hoặc mẹ của chắt được
hưởng nếu còn sống."
Áp dụng vào tình huống này:
Anh H (cha của bé P) đã mất trước ông T, nên bé P được
hưởng thừa kế thế vị.
Phần di sản mà anh H đáng lẽ được hưởng nếu còn sống sẽ
chuyển sang cho bé P.
anh H là con duy nhất của ông T, nên bé P sẽ hưởng toàn
bộ 15 tỷ đồng theo nguyên tắc thừa kế thế vị.
3. Giả thiết nếu có tranh chấp từ người khác
Trường hợp người khác (họ hàng, người thân) yêu cầu chia
tài sản
o bé P là cháu ruột, hưởng thừa kế thế vị, nên không ai
khác thuộc hàng thừa kế thứ nhất có thể đòi chia di sản.
o Trường hợp ông T có vợ (bà nội của bé P), bà sẽ cùng hưởng
thừa kế theo Điều 651 BLDS 2015.
Nếu xuất hiện di chúc hợp pháp của ông T
o Nếu di chúc có nội dung khác (ví dụ: ông T để lại tài sản cho
người khác), thì di sản sẽ chia theo di chúc (Điều 624 BLDS
2015).
o Tuy nhiên, nếu di chúc truất quyền thừa kế của bé P mà bé
vẫn thuộc diện thừa kế không phụ thuộc vào nội dung di
chúc (theo Điều 644 BLDS 2015), bé vẫn có thể hưởng một
phần di sản.
Kết luận
1. Nguyễn Văn P được hưởng thừa kế thế vị theo Điều 652 BLDS
2015, vì cha (anh H) mất trước ông nội (ông T).
2. Do ông T không có di chúc, toàn bộ 15 tỷ đồng sẽ do bé P thừa
kế theo quy định của pháp luật.
3. Nếu xuất hiện tranh chấp, cần xem xét các yếu tố pháp lý như
quan hệ huyết thống, di chúc (nếu có) và các quy định liên
quan đến quyền thừa kế thế vị.
PHÂN TÍCH TRANH CHẤP THỪA KẾ GIỮA MẸ RUỘT, MẸ KẾ VÀ CON RIÊNG
Tóm tắt tình huống
Ông Đặng Văn M mất năm 2024, để lại di sản trị giá 30 tỷ đồng. Trước
đây, ông M có một đời vợ là bà Nguyễn Thị H và có một con gái chung là
chị Đặng Thị N. Sau khi ly hôn, ông M kết hôn với bà Lê Thị V nhưng
không có con chung.
Sau khi ông M qua đời, cả bà V (vợ hợp pháp) và chị N (con riêng của ông
M với vợ trước) đều yêu cầu hưởng di sản. Bà V cho rằng bà là vợ hợp
pháp nên phải được hưởng phần lớn tài sản, trong khi chị N là con riêng
nên không có quyền tranh chấp.
Tình huống trở nên phức tạp hơn khi xuất hiện Đặng Văn Q, một người
con trai sinh năm 2005, nhưng chưa từng được ông M công nhận trên
giấy khai sinh.
Phân tích pháp lý
1. Xác định người thừa kế hợp pháp
Theo khoản 1 Điều 651 Bộ luật Dân sự (BLDS) 2015, những người thuộc
hàng thừa kế thứ nhất của ông M gồm:
Bà Lê Thị V – vợ hợp pháp của ông M tại thời điểm ông mất.
Chị Đặng Thị N – con ruột của ông M.
Những người cùng hàng thừa kế được hưởng phần di sản bằng nhau theo
khoản 2 Điều 651 BLDS 2015. Do đó, nếu chỉ có bà V và chị N, tài sản sẽ
được chia như sau:
Bà V: 15 tỷ đồng.
Chị N: 15 tỷ đồng.
2. Tranh chấp phát sinh khi xuất hiện con riêng Đặng Văn Q
Anh Đặng Văn Q sinh năm 2005 nhưng chưa được ông M công nhận trên
giấy khai sinh. Tuy nhiên, theo khoản 1 Điều 651 BLDS 2015, nếu Q có
thể chứng minh được quan hệ huyết thống với ông M, anh cũng thuộc
hàng thừa kế thứ nhất.
Khoản 2 Điều 88 Luật Hôn nhân và Gia đình 2014 quy định:
"Người được sinh ra trong thời kỳ hôn nhân hoặc do người mẹ mang thai
trong thời kỳ hôn nhân được xác định là con chung của vợ chồng."
Do đó, nếu Q có bằng chứng như xét nghiệm ADN hoặc các tài liệu hợp
pháp khác, anh có thể yêu cầu tòa án công nhận quan hệ cha con theo
Điều 91 Luật Hôn nhân và Gia đình 2014.
Nếu Q được công nhận là con ruột, tài sản sẽ phải chia lại theo Điều 651
BLDS 2015, và cả ba người đều có quyền hưởng di sản. Khi đó, việc phân
chia sẽ như sau:
Bà V: 10 tỷ đồng.
Chị N: 10 tỷ đồng.
Anh Q: 10 tỷ đồng.
3. Phương án giải quyết tranh chấp
3.1. Nếu Q không chứng minh được quan hệ huyết thống
Chỉ có bà V và chị N là người thừa kế hợp pháp.
Tài sản sẽ chia đều, mỗi người 15 tỷ đồng theo khoản 2 Điều 651
BLDS 2015.
3.2. Nếu Q chứng minh được là con ruột của ông M
Khi đó, anh Q thuộc hàng thừa kế thứ nhất và có quyền hưởng di
sản theo Điều 651 BLDS 2015.
Tài sản chia lại thành ba phần bằng nhau, mỗi người 10 tỷ đồng.
3.3. Nếu bà V phản đối việc chia tài sản cho Q
Bà V có thể yêu cầu tòa án xem xét tính hợp pháp của chứng cứ.
Nếu Q không có giấy khai sinh ghi tên ông M, anh có thể yêu cầu
xác nhận cha con theo Điều 91 Luật Hôn nhân và Gia đình 2014, sử
dụng xét nghiệm ADN làm căn cứ pháp lý.
Nếu có đầy đủ chứng cứ, tòa án sẽ công nhận Q là con ruột và buộc
chia tài sản theo quy định của Điều 651 BLDS 2015.
Kết luận
1. Nếu chỉ có bà V và chị N, tài sản chia đều mỗi người 15 tỷ đồng
theo Điều 651 BLDS 2015.
2. Nếu Đặng Văn Q chứng minh được là con ruột, tài sản chia lại,
mỗi người 10 tỷ đồng theo Điều 651 BLDS 2015.
3. Nếu Q không có đủ chứng cứ xác minh quan hệ huyết thống,
anh không được hưởng di sản.
Cơ sở pháp lý được áp dụng trực tiếp vào tình huống:
Điều 651 BLDS 2015: Quy định về hàng thừa kế theo pháp luật.
Khoản 2 Điều 88 Luật Hôn nhân và Gia đình 2014: Quy định
về xác định quan hệ cha con.
Điều 91 Luật Hôn nhân và Gia đình 2014: Người có quyền yêu
cầu xác nhận cha con.
Tình huống: Tranh chấp khi di sản liên quan đến tài sản chung của vợ
chồng
PHÂN TÍCH TRANH CHẤP THỪA KẾ LIÊN QUAN ĐẾN TÀI SẢN CHUNG CỦA
VỢ CHỒNG
Tóm tắt tình huống
Ông Phan Văn Dbà Nguyễn Thị K là vợ chồng hợp pháp, có
hai con chung là Phan Quốc TPhan Quốc N.
Năm 2023, ông D qua đời không để lại di chúc.
Ông D để lại một căn nhà trị giá 10 tỷ đồng.
Bà K khẳng định căn nhà là i sản chung vợ chồng, do đó chỉ
một nửa (5 tỷ đồng) là di sản thừa kế.
Hai con của ông D yêu cầu chia toàn bộ giá trị căn nhà (10
tỷ đồng).
Vấn đề đặt ra: Xác định phần di sản thuộc sở hữu của ông D trong
khối tài sản chung vợ chồng và phân chia di sản thừa kế.
Phân tích pháp lý
1. Xác định tài sản chung hay riêng của vợ chồng
Theo khoản 1 Điều 33 Luật Hôn nhân và Gia đình 2014:
"Tài sản do vợ chồng tạo lập trong thời kỳ hôn nhân là tài sản chung, trừ
khi có thỏa thuận khác hoặc tài sản được tặng cho, thừa kế riêng."
Trong trường hợp này, căn nhà được mua trong thời kỳ hôn
nhân, nên được xác định là tài sản chung của ông D và bà K.
Theo khoản 1 Điều 66 Luật Hôn nhân và Gia đình 2014, khi
một bên vợ/chồng chết:
"Một nửa khối tài sản chung thuộc về người còn sống, phần còn lại
thuộc quyền sở hữu của người mất và được chia theo pháp luật
thừa kế."
=> Kết luận: 5 tỷ đồng thuộc về bà K, 5 tỷ đồng là di sản thừa kế
của ông D.
2. Xác định những người thừa kế theo pháp luật
Theo khoản 1 Điều 651 Bộ luật Dân sự 2015, những người thuộc
hàng thừa kế thứ nhất gồm:
"Vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người
chết."
=> Trong tình huống này, những người thừa kế hợp pháp của ông D
gồm:
Bà K (vợ)
Anh T (con ruột)
Anh N (con ruột)
Không có di chúc, nên theo khoản 2 Điều 651 BLDS 2015, di sản sẽ
chia đều giữa những người thừa kế cùng hàng.
Kết luận
1. Phần tài sản thuộc quyền sở hữu của ông D: 5 tỷ đồng.
2. Những người thừa kế hợp pháp của ông D: bà K, anh T, anh N.
3. Phương thức chia thừa kế theo pháp luật:
o Mỗi người thừa kế sẽ nhận 1/3 trong tổng số 5 tỷ đồng.
o Bà K hưởng: 1,67 tỷ đồng.
o Anh T hưởng: 1,67 tỷ đồng.
o Anh N hưởng: 1,67 tỷ đồng.
Lưu ý: Nếu xuất hiện tranh chấp về nguồn gốc tài sản (ví dụ: nhà
do ông D được tặng riêng hoặc có thỏa thuận chia tài sản riêng
trong hôn nhân), cần xem xét thêm bằng chứng pháp lý để xác định
lại phần tài sản của ông D trong khối tài sản chung.
Tình huống : PHÂN TÍCH TÌNH HUỐNG THỪA KẾ LIÊN QUAN ĐẾN CON DÂU
Tóm tắt tình huống
Ông Lê Văn T mất, để lại tài sản trị giá 50 tỷ đồng. Con trai ông là Lê Văn
M đã qua đời trước đó, chỉ còn lại con dâu là Nguyễn Thị K và cháu nội là
Lê Văn C.
Gia đình ông T không chấp nhận cho con dâu hưởng thừa kế và yêu cầu
chia toàn bộ di sản cho cháu nội C. Nguyễn Thị K khởi kiện yêu cầu được
hưởng một phần di sản vì đã chăm sóc cha chồng nhiều năm. Trong quá
trình giải quyết, xuất hiện một bản di chúc viết tay của ông T, trong đó
để lại 20% tài sản cho con dâu.
Phân tích pháp lý
1. Quyền thừa kế theo pháp luật của con dâu
Căn cứ theo khoản 1 Điều 651 Bộ luật Dân sự 2015, những người
thuộc hàng thừa kế thứ nhất của ông T gồm:
o Cha đẻ, mẹ đẻ của ông T (nếu còn sống);
o Vợ của ông T (nếu còn sống);
o Con đẻ, con nuôi của ông T (nếu có).
Con trai ông T (Lê Văn M) thuộc hàng thừa kế thứ nhất nhưng đã
mất trước ông T. Theo Điều 652 Bộ luật Dân sự 2015 về thừa kế
thế vị, suất thừa kế của Lê Văn M sẽ được chuyển cho con ruột của
anh M, tức là Lê Văn C.
Con dâu Nguyễn Thị K không thuộc hàng thừa kế theo pháp
luật, vì theo Điều 651 BLDS 2015, con dâu không nằm trong ba
hàng thừa kế. Do đó, nếu chia thừa kế theo pháp luật, Nguyễn Thị K
không có quyền hưởng di sản của ông T.
2. Xác định quyền hưởng thừa kế của Nguyễn Thị K theo di chúc
Điều 624 BLDS 2015 quy định: "Di chúc là sự thể hiện ý chí của cá
nhân nhằm chuyển tài sản của mình cho người khác sau khi chết."
Nếu bản di chúc viết tay của ông T được xác định là hợp pháp theo
Điều 630 BLDS 2015 (về điều kiện có hiệu lực của di chúc), thì di
sản sẽ được chia theo nội dung di chúc.
Nếu di chúc xác định Nguyễn Thị K được hưởng 20% tài sản, thì cô
có quyền hưởng 10 tỷ đồng từ tổng số 50 tỷ đồng.
Nếu di chúc bị tòa án tuyên vô hiệu do không đáp ứng các điều kiện
theo luật định, thì di sản sẽ được chia theo pháp luật và Nguyễn Thị
K không có quyền hưởng thừa kế.
3. Yêu cầu của Nguyễn Thị K về công lao chăm sóc cha chồng
Nguyễn Thị K có thể lập luận rằng cô đã chăm sóc cha chồng trong
nhiều năm và có công duy trì, bảo quản tài sản. Trong trường hợp
này, có thể xem xét khoản 1 Điều 644 BLDS 2015 về người thừa
kế không phụ thuộc vào nội dung di chúc, theo đó:
o Nếu Nguyễn Thị K thuộc diện người có nghĩa vụ cấp dưỡng
với ông T hoặc là người mà ông T có nghĩa vụ nuôi dưỡng, thì
cô có thể được hưởng một phần di sản không phụ thuộc vào
nội dung di chúc.
o Tuy nhiên, con dâu không thuộc đối tượng được hưởng di sản
không phụ thuộc vào nội dung di chúc, trừ khi cô chứng minh
được rằng mình có công sức đóng góp vào khối tài sản chung.
4. Quyết định của tòa án
Có hai kịch bản có thể xảy ra:
Trường hợp 1: Di chúc hợp pháp
Nguyễn Thị K được hưởng 20% di sản (10 tỷ đồng).
80% di sản còn lại (40 tỷ đồng) sẽ được chia cho cháu nội Lê Văn C,
theo nguyên tắc thừa kế thế vị (Điều 652 BLDS 2015).
Trường hợp 2: Di chúc bị vô hiệu
Toàn bộ di sản 50 tỷ đồng sẽ được chia theo pháp luật.
Lê Văn C là người duy nhất thuộc hàng thừa kế thứ nhất (theo thừa
kế thế vị) và sẽ được hưởng toàn bộ 50 tỷ đồng.
Nguyễn Thị K không có quyền hưởng bất kỳ phần di sản nào.
Kết luận
1. Theo pháp luật về thừa kế: Con dâu không có quyền hưởng thừa
kế theo pháp luật vì không thuộc hàng thừa kế của ông T.
2. Theo di chúc: Nếu di chúc hợp pháp, Nguyễn Thị K sẽ được hưởng
phần tài sản theo di chúc.
3. Theo công lao đóng góp: Nguyễn Thị K không thể yêu cầu thừa
kế nếu chỉ dựa trên lý do đã chăm sóc cha chồng, trừ khi chứng
minh được công sức đóng góp vào khối tài sản.
Tình huống : PHÂN TÍCH TÌNH HUỐNG THỪA KẾ LIÊN QUAN ĐẾN HÀNH VI
BỎ RƠI CHA MẸ
Tóm tắt tình huống
Bà Nguyễn Thị M mất, để lại di sản trị giá 80 tỷ đồng. Con trai duy nhất
của bà là Nguyễn Văn A, đã rời khỏi nhà suốt 20 năm và không chăm sóc
mẹ.
Khi bà M qua đời, hàng xóm là ông Trần Văn B đứng ra lo hậu sự và
thanh toán toàn bộ chi phí mai táng.
Nguyễn Văn A sau đó xuất hiện, yêu cầu hưởng toàn bộ tài sản thừa kế.
Trong khi đó, ông Trần Văn B khởi kiện, yêu cầu được công nhận quyền
hưởng thừa kế vì đã chăm sóc bà M.
Phân tích pháp lý
1. Quyền thừa kế của Nguyễn Văn A theo pháp luật
Theo khoản 1 Điều 651 Bộ luật Dân sự 2015, Nguyễn Văn A là con
ruột của bà M nên thuộc hàng thừa kế thứ nhất, có quyền hưởng
di sản nếu không có di chúc.
Điều 644 BLDS 2015 quy định rằng con cái vẫn có quyền hưởng di
sản không phụ thuộc vào nội dung di chúc, trừ khi có quy định khác
của pháp luật.
Do bà M không để lại di chúc, di sản sẽ được chia theo pháp luật, và
Nguyễn Văn A có quyền hưởng toàn bộ di sản trừ khi bị tước quyền
thừa kế theo quy định tại Điều 621 BLDS 2015.
2. Khả năng Nguyễn Văn A bị tước quyền thừa kế
Điều 621 BLDS 2015 quy định về các trường hợp không được
hưởng di sản, trong đó có:
o Khoản 1 điểm a: Người bị kết án về hành vi cố ý xâm
phạm tính mạng, sức khỏe, ngược đãi nghiêm trọng,
hành hạ người để lại di sản.
o Khoản 1 điểm b: Người vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ
nuôi dưỡng đối với người để lại di sản.
Nếu có bằng chứng rõ ràng cho thấy Nguyễn Văn A bỏ mặc mẹ
suốt 20 năm, không chăm sóc, không cấp dưỡng, có thể bị
xem là vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ nuôi dưỡng, dẫn đến
việc bị tước quyền thừa kế.
Tuy nhiên, để bị tước quyền thừa kế, phải có quyết định của tòa án
dựa trên chứng cứ cụ thể, chẳng hạn như:
o Lời khai của hàng xóm, chính quyền địa phương xác nhận A đã
bỏ rơi mẹ.
o Hồ sơ về việc bà M từng yêu cầu con trai cấp dưỡng nhưng
không được đáp ứng.
o Các giấy tờ chứng minh A hoàn toàn không liên lạc với mẹ
suốt 20 năm.
3. Quyền hưởng di sản của ông Trần Văn B
Ông B không phải là người thừa kế theo pháp luật (Điều 651 BLDS
2015).