



















Preview text:
Tailieugiangday.vn
LUYỆN ĐỀ ĐỌC HIỂU THỂ LOẠI TRUYỆN NGẮN LỚP 9 ĐỀ 1
Đọc đoạn trích sau:
Sau trận mưa rào vòm trời như được rửa sạch, trở nên xanh và cao hơn. Đã chớm
hè nhưng trời vẫn lành lạnh, cái lạnh làm người ta hưng phấn và chóng đói. Thường
Mạnh đi học về là đi thả trâu. Tối mịt cậu rong trâu về, đầu tưởng tượng đến một nồi
cơm bốc khói nghi ngút.
[…] Chợt Mạnh phát hiện ra một đám mầm khoai đỏ au, mập mạp, tua tủa hướng
lên trời. Kinh nghiệm đủ cho cậu biết bên dưới những chiếc mầm là củ khoai lang sót.
Với bất cứ đứa trẻ trâu nào thì điều đó cũng tương đương với một kho báu. Nó bị sót lại
từ trước Tết và bây giờ nó sẽ rất ngọt. Để xem, anh bạn to cỡ nào? Không ít trường hợp
bên dưới chỉ là một mẩu khoai. Nước miếng đã kịp tứa khắp chân răng khi cậu tưởng
tượng đến món khoai nướng. Ruột nó trong như thạch. Những giọt mật trào ra, gặp lửa
tạo một thứ hương thơm chết người, nhất là khi trời lại lành lạnh thế này. Thật may là
mình đem theo lửa – cậu lẩm bẩm. […].
Mạnh đã có việc để làm, mà lại là một việc làm người ta háo hức. Trong chốc lát
đống cành khô bén lửa và đợi đến khi nó chỉ còn lớp than hồng rực Mạnh mới vùi củ
khoai vào. Cậu ngồi im lắng nghe một sự dịch chuyển vô cùng tinh tế dưới lớp than, cùi
trắng muốt đang bị sức nóng ủ cho thành mật. Từng khoảnh khắc với Mạnh lúc này trở
nên vô cùng huyền diệu. Rồi có một mùi thơm cứ đậm dần, cứ quánh lại, lan tỏa, xoắn
xuýt. Cậu nhớ lại có lần bà kể, nhờ đúng một củ khoai nướng mà ông cậu thoát chết đói
và sau đó làm nên sự nghiệp. Chuyện như cổ tích nhưng lại có thật. Nào, để xem sau đây
cậu sẽ làm nên công trạng gì.
Chợt cậu thấy có hai người, một lớn, một bé đang đi tới. Ông già ôm theo bọc tay
nải còn cậu bé thì cứ ngoái cổ lại phía làng. Cậu nhận ra hai ông cháu lão ăn mày ở xóm
bên. Hôm nay, chẳng có phiên chợ sao ông cháu lão cũng ra khỏi nhà nhỉ. Vài lần giáp
mặt cậu bé và thấy mặt mũi nó khá sáng sủa. Bố mẹ nó chết trong một trận lũ quét nên nó
chỉ trông cậy vào người ông mù lòa.
Mạnh lén trút ra tiếng thở dài khi ông cháu lão ăn mày đã đến rất gần. Có thể thấy
rõ cánh mũi lão phập phồng như hà hít tìm thứ mùi vị gì đó. Cậu bé vẫn câm lặng, thỉnh
thoảng lén nhìn Mạnh.
– Mùi gì mà thơm thế – ông cậu bé lên tiếng – Hẳn ai đang nướng khoai. Ngồi nghỉ
một lát để ông xin lửa hút điếu thuốc đã cháu.
Ông lão lần túi lấy gói thuốc lào. Thằng bé giúp ông tháo khỏi lưng chiếc điếu nhỏ
xíu. Mùi khoai nướng vẫn ngào ngạt và Mạnh đành ngồi chết gí, không dám động cựa.
Chỉ khi ông lão nhờ, cậu mới cúi xuống thổi lửa. Chà, ông cháu lão mà ngồi dai là củ
khoai cháy mất. Đã có mùi vỏ cháy. Lửa sẽ lấn dần vào cho đến khi biến củ khoai thành
đen thui mới thôi. Dường như đoán được nỗi khó xử của Mạnh, ông lão bảo:
– Tôi chỉ xin lửa thôi…
Mạnh như bị bắt quả tang đang làm chuyện vụng trộm, mặt đỏ lên. Nhưng ông lão
mắt lòa không thể nhìn thấy còn cậu bé ý tứ nhìn đi chỗ khác.
– Thôi, chào cậu nhé. Ta đi tiếp đi cháu! Tailieugiangday.vn
Ông lật đật đứng dậy, bám vào vai cậu bé, vội vã bước. Cậu bé lặng lẽ nhìn Mạnh
như muốn xin lỗi vì đã làm khó cho cậu. Cái nhìn đĩnh đạc của một người tự trọng,
không muốn bị thương hại khiến Mạnh vội cúi gằm xuống. Ôi, giá như có ba củ khoai,
chí ít cũng là hai củ. Đằng này chỉ có một… Mạnh thấy rõ tiếng chân hai ông cháu xa
dần. Nhưng chính khi ấy, khi củ khoai nóng hổi, lớp vỏ răn lại như từng gợn sóng nằm
phơi ra trước mắt Mạnh, thì nỗi chờ đón háo hức lúc trước cũng tiêu tan mất. Giờ đây củ
khoai như là nhân chứng cho một việc làm đáng hổ thẹn nào đó. Dù Mạnh có dối lòng
rằng mình chẳng có lỗi gì sất nhưng cậu vẫn không dám chạm vào củ khoai… Hình như
đã có người phải quay mặt đi vì không dám ước có được nó. Có thể ông nội cậu đã từng
nhìn củ khoai nướng cho ông làm nên sự nghiệp bằng cái cách đau đớn như vậy.
Mặc dù rong trâu về từ chiều nhưng mãi tối mịt Mạnh mới vào nhà. Giờ đây mới là
lúc cậu sống trọn vẹn với cảm giác ngây ngất của người vừa được ban tặng một món quà
vô giá. Cậu nhắm mắt lại mường tượng giây phút cậu bé kia mở gói giấy báo ra. Nửa củ
khoai khi đó sẽ khiến cậu ta liên tưởng đến phép lạ, có thể lắm chứ! Và rồi cậu thấy lâng
lâng đến mức chính mình tự hỏi liệu đây có phải là giấc mơ?
(Trích “Củ khoai nướng” – Truyện ngắn chọn lọc Tạ Duy Anh- xuất bản 2002) *Chú thích:
Tác giả: Tạ Duy Anh có tên khai sinh là Tạ Việt Dũng, sinh ngày 9/9/1959 quê ở
Chương Mĩ, tỉnh Hà Tây (nay thuộc Hà Nội). Ông là cây bút trẻ trong thời kì đổi mới.
Qua hơn 20 năm cầm bút, Tạ Duy Anh vẫn luôn luôn trăn trở tìm cách đổi mới từ duy,
quan niệm nghệ thuật, làm mới tác phẩm từ nội dung tới hình thức, từ ngôn ngữ tới cấu
trúc. Tạ Duy Anh tiếp nối những dòng văn đầy trăn trở nhưng cũng đầy tính nhân văn.
Tác phẩm: Củ khoai nướng nằm trong tập “Truyện ngắn chọn lọc” – Tạ Duy Anh.
Trả lời câu hỏi/ Thực hiện các yêu cầu sau:
Câu 1. Thể loại của văn bản trên?
Câu 2. Nêu chủ đề của văn bản?
Câu 3. Nhân vật chính trong đoạn trích là ai?
Câu 4. Vì sao cậu bé Mạnh lại có “cảm giác ngây ngất của người vừa được ban tặng một món quà vô giá”?
Câu 5. Qua đoạn trích trên, em hãy rút ra thông điệp có ý nghĩa nhất với bản thân. GỢI Ý TRẢ LỜI
Câu 1 Thể loại: truyện ngắn
Câu 2 Chủ đề: Lòng yêu thương con người.
Câu 3 Nhân vật chính trong đoạn trích là cậu bé Mạnh
Cậu bé Mạnh lại có “cảm giác ngây ngất của người vừa được ban tặng một
Câu 4 món quà vô giá”vì đã chia sẻ một phần khoai nướng cho chú bé ăn mày.
Thông điệp ý nghĩa qua đoạn trích:
HS có thể rút ra nhiều bài học khác nhau (phù hợp chuẩn mực đạo đức và pháp
Câu 5 luật), GV linh hoạt cho điểm, dưới đây là gợi ý tham khảo:
– Trong cuộc sống cần có lòng yêu thương, sự sẻ chia giữa con người và con người. Tailieugiangday.vn
– Không nên phân biệt đối xử, luôn có sự tôn trọng với mọi người xung quanh
mình dù có thể họ là những người bất hạnh, kém may mắn.
– Bài học về lòng tự trọng, ứng xử trước khó khăn thử thách của cuộc sống … ĐỀ 2 Đọc văn bản sau:
Ba đi làm về thấy bà già ngồi chình ình giữa nhà, ngay bộ bàn trà, một con mèo
xám vắt ngang vai, và mẹ thì quỳ dưới bà ta, ôm bàn chân gầy như cọng củi vào lòng, cắt
giũa những cái móng dài tựa phù thủy trung cổ trong tranh vẽ.
Đó là một bà già mặt nhàu nếp gấp, mầu da cũ mốc chừng như sắp thiu ôi, chỉ
cặp mắt đôi khi lóe lên một tia nhìn lơ vơ, khó tả. Nó chẳng biểu lộ ý nghĩ nào ngoài việc
phát ra tín hiệu còn chút sự sống trong cái xác khô khòng. Nghe tiếng ba bỏ giày ở cửa,
mẹ vẫn không quay người nhìn, nói:
– Chồng con đó má. Ảnh đẹp trai hén!
Bà già không ra vẻ phản đối hay đồng tình, chỉ giương mắt đục ra ngó rồi lại tiếp
tục lim dim tận hưởng sự nuông chiều, không một chút mặc cảm. Mẹ kể sáng đi chợ về thì
thấy bà già đứng dựa cửa nhà đụt mưa, nhưng nước đã tạt ướt sũng ống quần, thấy tội
nên mẹ mời bà vào nhà ngồi cho đỡ lạnh. Một hồi nghe thức ăn trong bếp dậy mùi, bà
già kêu, “bây à, má đói”.
– Nghe thương đứt ruột.
Ba phát hiện ra mẹ không chỉ cho má ăn, còn tắm táp, kỳ cọ, cho bà mặc quần áo
của mình. Bộ đồ rách tã kia mẹ đem giặt, phơi trên sào, đã thôi rỏ nước. Kéo mẹ ra một
góc, ba thầm thì, coi chừng dân trộm cắp bất lương. Mẹ cười, “má không làm vậy với
mình đâu”. Chữ “má” làm ba không thốt nên lời.(1)
Đêm đó mẹ nằm bên ba mà cứ bận tâm tới bà già với con mèo ngoài phòng
khách. Không biết má nằm đất có bị đau mình không. Nghĩ má lạ chỗ ngủ không yên, mẹ
ôm Bi và Quới ra ngủ chiếu với bà, cả bọn rầm rì quá nửa đêm. Không biết họ nói những
gì mà bà già còn hứng chí ca, “sắm được sào dài sông bỗng cạn queo/mưa dầm nắng lửa
mình ên chống chèo”. Giọng the thé, lẫn trong tiếng mèo phụ họa, nghe rợn. (2)
Má ở lại một đêm rồi biến mất. Bộ đồ mẹ đưa má mặc đỡ cũng được xếp thẳng
nếp, đặt trên ghế dựa. Không lấy đi bất cứ thứ gì, bà già còn để lại con mèo tên Chó. Mẹ
buồn suốt cả tuần sau đó, cứ thắc thỏm không biết má đi đâu, đang giữa mùa mưa dầm
dề. Nghe giọng bao dung như thể nếu bà già ở lại, mẹ sẽ nuôi luôn.(3)
Khoảng thời gian ít ỏi bà già ghé qua, chẳng lưu lại gì ngoài những cọng tóc rơi
trong phòng tắm, mà hôm sau khi làm công việc cọ rửa, mẹ đã dọn sạch. Sẽ giống một
giấc mơ, nếu không có con mèo xám. Tính khí tự nhiên y hệt bà già, nó mạnh dạn đi lại
trong nhà không một chút bỡ ngỡ, cả hành động nhảy vào nôi nằm dưới chân Bi ngủ, như
quen thuộc lâu rồi. Tuyệt không thấy con vật ngó ra cửa trông chủ cũ, chừng như bụi
mưa ngoài đó, mặt đường ướt nhoét làm nó ớn. (4)
Bỗng dưng ba có cảm giác, bà già vẫn ở lởn vởn đâu đây, qua cách mẹ bồn chồn
ngó mây kéo bầy, những lần đưa nhau đi chơi phố đột nhiên mẹ bảo ba dừng xe, gửi Bi
lại để chạy theo một người nào đó, rồi trở lại với vẻ mặt thất vọng. Một bữa bắt gặp con
Chó (thật ra là mèo) đang thè lưỡi liếm bột ăm dặm trên miệng Bi, ba nổi khùng kêu mẹ Tailieugiangday.vn
liệng con mèo (tên Chó) đi phứt cho rồi. “Đâu được, của má đó, biết đâu má lại về tìm
nó”, mẹ cười, xoa đầu con vật. Nghe giọng, khó biết mẹ đang nói về bà già lang thang,
mà đến cái tên thật của bà ta mẹ cũng còn ngơ ngác.(5)
(Trích Vực không đáy in trong tập truyện ngắn Không ai qua sông của Nguyễn Ngọc Tư,
NXB Trẻ, 2016, tr.5-8)
Thực hiện các yêu cầu:
Câu 1: Câu chuyện được kể từ ngôi kể nào?
Câu 2: Truyện được kể qua điểm nhìn của ai? Việc lựa chọn ngôi kể và điểm nhìn như
vậy có tác dụng như thế nào trong việc thể hiện chủ đề tư tưởng của tác phẩm?
Câu 3: Nhận biết và phân tích sự kết hợp giữa lời người kể chuyện và lời nhân vật trong đoạn (1) của văn bản.
Câu 4: Phân tích ý nghĩa chi tiết diễn tả hành động của nhân vật người mẹ trong câu văn
sau: Ba phát hiện ra mẹ không chỉ cho má ăn, còn tắm táp, kỳ cọ, cho bà mặc quần áo
của mình. Bộ đồ rách tã kia mẹ đem giặt, phơi trên sào, đã thôi rỏ nước.
Câu 5: Phân tích và đánh giá một thông điệp tiêu biểu mà văn bản muốn gửi đến người đọc. GỢI Ý TRẢ LỜI
– Ngôi kể thứ 3 Câu 1
– Điểm nhìn của đứa con, ba, mẹ, bà già
– Tác dụng: Tạo tính khách quan, cái nhìn đa chiều…
– Lời người kể chuyện: Ba đi làm về …. Câu 2
– Lời nhân vật má: Chồng con đó. Ảnh đẹp trai hén.
Nghe thương đứt ruột.
Má không làm vậy với mình đâu
– Lời nhân vật bà già: Bây à, má đói
– Sự kết nối giữa lời người kể chuyện với lời nhân vật tạo nên sự hấp dẫn, Câu 3
sinh động, lôi cuốn, độc đáo, chân thực. Người đọc dễ hình dung cảm xúc, thái
độ của nhân vật, linh hoạt…
– Chi tiết diễn tả hành động: Mẹ cho má ăn, tắm táp, kì cọ, cho bà mặc
quần áo của mình. Đồ rách đem giặt phơi trên sào.
– Phân tích ý nghĩa hành động: Thể hiện tính cách nhân vật, làm rõ chủ đề Câu 4
tư tưởng của tác phẩm giúp ta hình dung người mẹ chăm sóc bà già nhiệt tình,
nhẹ nhàng, chu đáo, tử tế, bao dung, tràn đầy sự thương cảm, chân thành. Coi
bà già như mẹ của mình…
– Chỉ ra 1 thông điệp: Hãy sống tử tế, nhân văn, thấu cảm, đặt niềm tin vào người khác… Câu 5
– Phân tích đánh giá ý nghĩa:Đây là thông điệp có giá trị, ý nghĩa thiết
thực. Nâng đỡ tinh thần con người, xoa dịu nỗi đau, hành động nghĩa cử nhỏ
nhưng có ý nghĩa lớn, tạo ra giá trị sống… Tailieugiangday.vn ĐỀ 3 Đọc văn bản sau:
Hai ông ấm, ngồi phất được đến mười cái lồng bàn giấy. Họ rất vui sướng vì họ
tin đã làm toại được sở thích của cha già. Cụ Kép co ro chạy từ nồi mạch nha, qua đám
lồng bàn giấy, đến cái rổ đá cuội đã ráo nước thì cụ ngồi xổm xuống, ngồi lựa lấy những
viên đá thật trắng, thật tròn, để ra một mẹt riêng. Ông ấm cả, ông ấm hai lễ mễ bưng
những chậu Mặc lan vào trong nhà. Cả ba ông con đều nhặt những hòn cuội xấu nhất,
méo mó, xù xì trải xuống mặt đất những chậu lan gần nở. Mỗi lần có một người đụng
mạnh vào dò lan đen, cụ Kép lại xuýt xoa như có người châm kim vào da thịt mình.
Nồi kẹo đã nấu xong nhưng phải đợi đến gần cuối canh hai kẹo mới nguội.
Bây giờ thêm được bõ già đỡ một tay nữa, cả ba ông con đều lấy những hòn cuội
để riêng ban nãy ra mẹt, đem dúng đá cuội vào nồi kẹo, quấn kẹo bọc kín lấy đá, được
viên nào liền đem đặt luôn vào lồng chậu hoa. Những viên đá bọc kẹo được đặt nhẹ
nhàng lên trên lượt đá lót lên nền đất chậu hoa. Úp xong lồng bàn giấy lên mười chậu
Mặc lan thì vừa cúng giao thừa. Ba ông con, khăn lượt áo thâm lạy trước bàn thờ đặt
ngoài trời. Năm nay, trời giao thừa lành. Cả một buổi sớm, cụ Kép phải bận ở đình làng.
Trước khi ra đình cụ đã dặn bõ già ở nhà phải sửa soạn cho đủ để đến quá trưa, cụ và
vài cụ nữa đi việc đình làng về sẽ cùng uống rượu thưởng hoa. Bõ già đã bày ra giữa sân
bốn cái đôn sứ Bát Tràng mầu xanh quan lục. Trước mặt mỗi đôn, bõ già đặt một án thư
nhỏ, trên đó ngất nghểu hai chậu lan còn lù lù chiếc lồng bàn úp, và một hũ rượu da lươn
lớn có nút lá chuối khô. Bõ già xếp đặt trông thạo lắm. Trong mấy năm nay, đầu mùa
xuân nào bõ già cũng phải ít ra là một lần, bày biện bàn tiệc rượu Thạch lan hương như
thế. Bõ già hôm nay lẩm bẩm phàn nàn với ông ấm hai:
- Năm nay cụ nhà uống rượu sớm quá và lại uống ban ngày. Mọi năm, cứ đúng
rằm tháng giêng mới uống. Vả lại uống vào chiều tối. Đốt đèn lồng, treo ở ngoài vườn,
trông vào bữa rượu hoa, đẹp lắm cậu ạ.
Ông ấm hai vui chuyện, hỏi bõ già:
- Này bõ già, tôi tưởng uống rượu nhấm với đá cuội tẩm kẹo mạch nha thì có thú
vị gì. Chỉ thêm xót ruột.
- Chết, cậu đừng nói thế, cụ nghe thấy cụ mắng chết. Cậu không nên nói tới chữ
xót ruột. Chính cụ nhà có giảng cho tôi nghe rằng những cụ sành uống rượu, trước khi
vào bàn rượu không ăn uống gì cả. Các cụ thường uống vào lúc thanh tâm. Và trong lúc
vui chén, tịnh không dùng những đồ nhắm mặn như thịt cá đâu. Mấy vò rượu này, là
rượu tăm đấy. Cụ nhà ta quý nó hơn vàng. Khi rót rỏ ra ngoài một vài giọt, lúc khách về,
cụ mắng đến phát thẹn lên. Cậu đậy nút lại không có rượu bay!
Phía ngoài cổng, có tiếng chó sủa vang.
Bõ già nhìn ra thấy bốn cụ tiến vào đã quá nửa lòng ngõ duối. Cụ nào cũng cầm
một cây quạt thước, chống một chiếc gậy tre càng cua hay trúc đùi gà. Uống xong tuần
nước, cụ Kép mời ba cụ ra sân uống rượu. Bõ già vòng tay vái các cụ và đợi các cụ yên
vị rồi thì khom khom mở từng chiếc lồng bàn giấy một.
Một mùi hương lan bị bỏ tù trong bầu không khí lồng bàn giấy phất từ đêm qua,
đến bây giờ vội tản bay khắp vườn cây […] Cơn gió nhẹ pha loãng hương thơm đặc vào không gian. Tailieugiangday.vn
(Trích Hương Cuội, Nguyễn Tuân, Vang bóng một thời, NXB Văn học 2012)
Trả lời câu hỏi / thực hiện yêu cầu:
Câu 1. Câu chuyện trong đoạn trích trên lấy bối cảnh thời gian nào?
Câu 2. Chủ đề chính của đoạn trích?
Câu 3. Nhân vật cụ Kép trong đoạn trích trên thuộc lớp người nào?
Tại sao vườn nhà cụ Kép lại thiếu loại lan Bạch Ngọc?
Câu 4. Theo cụ Kép, việc ứng xử với hoa như thế nào mới xứng với đạo của người tài tử?
Qua đó em có nhận xét về nếp sống của cụ Kép?
Câu 5. Theo em, có nên khuyến khích lối sống như cụ Kép trong xã hội ngày nay không? Vì sao? GỢI Ý TRẢ LỜI
Câu 1. Câu chuyện trong đoạn trích trên lấy bối cảnh thời gian: Những năm đầu thế kỷ XX.
Câu 2. Chủ đề chính của đoạn trích: ca ngợi thú chơi lan tao nhã như một vẻ đẹp xưa cũ còn vang bóng.
Câu 3. Nhân vật cụ Kép trong đoạn trích trên thuộc lớp nhà Nho cuối mùa.
Lí do vườn nhà cụ Kép lại thiếu loại lan Bạch Ngọc là vì đó là giống lan khó chăm.
Câu 4. Theo cụ Kép, việc ứng xử với hoa như thế nào mới xứng với đạo của người tài tử:
Có thời giờ chăm sóc và đối đãi với hoa bằng đạo chí thành.
Qua đó em thấy cụ Kép có nếp sống: Thanh cao, nho nhã.
Câu 5. Theo em, có nên khuyến khích lối sống như cụ Kép trong xã hội ngày nay không? Vì sao?
– Nêu được quan điểm nên / không nên khuyến khích lối sống như cụ Kép (xa lánh
những gì ồn ào của xã hội, gắn bó với thiên nhiên; biết thưởng thức những sinh thú thanh
cao, đòi hỏi sự cầu kì, tinh tế).
– Lí giải lí do nêu quan điểm. ĐỀ 4 Đọc văn bản sau:
Cặp mắt anh lại đang nhìn xói vào cái mặt tôi đang được bàn tay anh dằn ngửa
ra. Da mặt tôi cứ dày lên. Tôi nhắm mắt, rồi mở mắt. Mỗi lúc mở mắt, tôi không thể nhìn
đi đâu khác cặp mắt anh. Trời ơi, có lẽ tôi ngồi trên ghế cắt tóc ở cái quán này đã một
nửa thế kỷ? Chốc nữa, sắp tới, anh sẽ làm gì tôi đây?
- Đồ dối trá, mày hãy nhìn coi, bà mẹ tao khóc đã lòa cả hai mắt kia! Bây giờ thì tấm
hình tao đã được trưng trên các tạp chí hội họa của khắp các nước. Người ta đã trân
trọng ghi tên mày bên dưới, bên cạnh mấy chữ: "Chân dung chiến sĩ giải phóng". Thật là danh tiếng quá!
- Tôi là một nghệ sĩ chứ có phải đâu là một anh thợ vẽ truyền thần, công việc nghệ sĩ là
phục vụ cả một số đông người, chứ không phải chỉ phục vụ một người! Anh chỉ là một cá
nhân, với một cái chuyện riêng của anh, anh hãy chịu để cho tôi quên đi, để phục vụ cho
cái đích lớn lao hơn. Anh đã thấy đấy, bức "chân dung chiến sĩ giải phóng" đã đóng góp
đôi chút vào công việc làm cho thế giới hiểu cuộc kháng chiến của chúng ta thêm! Tailieugiangday.vn
"A ha! Vì mục đích phục vụ số đông của người nghệ sĩ cho nên anh quên tôi đi hả... Có
quyền lừa dối hả? Thôi, anh bước khỏi mắt tôi đi. Anh cút đi!".
Một bận, đến hai ngày liền tôi không thấy anh thợ của tôi làm việc. Cái quán cắt
tóc bỏ vắng hai ngày liền. Sáng ngày thứ ba vẫn thế. Và lại thấy một người đàn bà ra dọn
dẹp, chứ không phải bà cụ già lòa như mọi ngày. Tôi chạy sang. Chiếc ghế cắt tóc không
còn nữa. Chỉ còn chiếc gương và mấy cái chai lọ. Người đàn bà hỏi tôi:
- Bác đến cắt tóc? - Vâng.
- Nhà em mấy hôm nay đang dọn cái chỗ làm mới ở phố ngoài kia. Ngày mai xong. Xin mời bác đến.
Vợ anh có vẻ trạc tuổi gần ba mươi. Một khuôn mặt đàn bà hiền lành. Chị vừa nói vừa
bóc tấm tranh của tôi ra. Tôi gợi chuyện.
- Bức tranh đẹp đấy chứ, chị nhỉ?
Người đàn bà hơi đỏ mặt, cuốn tấm tranh lại một cách cẩn thận. Lâu sau mới đáp:
- Anh nhà tôi bảo: Anh bộ đội trong tờ tranh này chính là người ta vẽ anh ấy. Hồi anh ấy
còn ở bộ đội trong B. Cho nên mới mua về treo.
- Anh ấy nói với chị thế? - Vâng.
- Hôm trước tôi đến cắt tóc ở đây có thấy một bà cụ...
- Là mẹ anh nhà tôi. Thế ra bác là khách quen?
- Vâng. Bà cụ bị tật lâu chưa?
- Thưa đã lâu. Đã chín năm nay. - Vì sao?
- Bà cụ lòa đi cũng vì anh nhà tôi. Ngày đó bỗng nhiên có tin ra nhà tôi hy sinh. Bà cụ
đâm ốm. Anh ấy là con một. Bà cụ nhớ anh ấy, nửa đêm cũng trở dậy đi lang thang. Cứ khóc hoài...
- Bà cụ lòa từ năm nào, chị biết không? - Từ 69. - Từ tháng mấy?
- Tôi cũng không nhớ thật rõ, có lẽ khoảng giữa năm.
Tôi ra đến Hà Nội vào đầu tháng ba năm ấy. Nếu tôi là một người tử tế ra thì không khéo
bà cụ không bị lòa, không những thế mà tôi còn có thể làm cho bà cụ khỏe ra! Chính tôi
đã làm cho bà mẹ anh trở thành mù lòa?
[…] Tôi quyết định phải trở lại cái quán kia. Tôi quyết định phải chường cái mặt mình
ra, chứ không được lẩn tránh. Tôi không cho phép tôi chạy trốn. Bà cụ lại ngước mắt lên
nhìn tôi như lần trước khuôn mặt đờ đẫn và hoan hỉ:
- Thưa ông đến cắt tóc? - Vâng ạ!
Anh thợ cắt tóc nghe mẹ lên tiếng mới quay người lại. Tôi vừa kịp nhận ra được từ
nơi cặp mắt vẫn còn trẻ của anh chiếu thẳng về phía tôi một cái nhìn ban đầu soi mói,
ngạc nhiên, rồi hơi nghiêm mặt lại. Nhưng những diễn biến phản ứng trên cái mặt người
thợ chỉ diễn ra nhanh như một cái chớp mắt. Ngay sau đó anh lại trở lại cái vẻ mặt và cử
chỉ từ tốn, điềm đạm, ân cần của một người thợ cắt tóc đứng đắn và yêu nghề.
Da mặt tôi tự nhiên dày cộm lên. Tailieugiangday.vn
- Mời bác ngồi!
Tôi cố trấn tĩnh để khỏi run lập cập, bước tới ngồi vào cái ghế gỗ như một cái ghế tra điện.
- Bác vẫn cắt như cũ? - Vâng. …
"Lần này anh lại đối xử với tôi như lần trước đây?" "Phải".
"Anh cũng không trách mắng, chỉ trán chỉ mặt tôi?"
"Không! Anh cứ yên tâm. Trước sau tôi vẫn coi anh là một nghệ sĩ tài năng đã có nhiều
cống hiến cho xã hội".
"Bây giờ anh nói với tôi một điều gì đi, khuyên tôi một nhời đi!" "Không".
"Tôi có phải cút khỏi đây không?"
"Không. Anh cứ đến đây. Tôi cắt cho anh kỹ lắm, anh biết đấy!"
Gần nửa năm, tôi đã để vào bức tranh sơn mài tất cả công sức và sự suy nghĩ, và
trong suốt thời gian ấy, một đôi lần tôi cũng gợi lại chuyện cũ nhưng người thợ vẫn một
mực cố tỏ ra chưa hề bao giờ quen biết tôi. Trở về làm một anh thợ cắt tóc cũng như lúc
ở bộ đội, anh vẫn lẳng lặng sống như vậy để cho người chung quanh tự phán xét lấy
những công việc đã làm. Lời đề nghị rụt rè của anh: Xin mọi người hãy tạm ngừng một
phút cái nhịp sống bận bịu, chen lấn, để tự suy nghĩ về chính mình.
Bây giờ thì cái tác phẩm mới của tôi đã hoàn thành. Tôi đang đối mặt với chính mình, để
viết những dòng này, như những lời chú giải cho một tác phẩm hội họa thể hiện một cái
mặt người rất lớn: những luồng ánh sáng hàng nghìn nến từ phía trước và trên đầu chiếu
thẳng xuống một nửa mái đầu tóc tốt rợp như một khu rừng đen bí ẩn, và một nửa mái
tóc đã cắt, thoạt trông như một phần bộ óc mầu xám vừa bị mổ phanh ra. Phần bên dưới
khuôn mặt như vẫn đang được giấu kín dưới một cái mặt nạ: dưới cằm và hai bên mép
phủ kín bọt xà phòng. Không trông rõ miệng, chỉ thấy một vệt mầu đen lờ mờ nổi bồng
bềnh trên những đám bọt xà phòng. Và nổi bật trên cái khuôn mặt là đôi mắt mở to, khắc
khoải, bồn chồn, đầy nghiêm khắc, đang nhìn vào nội tâm.
(Trích truyện ngắn Bức tranh, Nguyễn Minh Châu, tập Người đàn bà trên chuyến tàu tốc hành,1983) Chú thích:
1. Tác giả Nguyễn Minh Châu (1930-1989), quê ở huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An. Ông
là cây bút văn xuôi tài năng của văn học Việt Nam hiện đại. Trước những năm tám mươi,
ông sáng tác theo khuynh hướng sử thi thiên về trữ tình, lãng mạn. Sau đó, ông chuyển
sang cảm hứng thế sự với những vấn đề đạo đức, triết lý nhân sinh, ông được đánh giá là
người mở đường tinh anh, cây bút tiên phong trong văn học thời kì đổi mới. Các tác
phẩm chính của ông là: Sau một buổi tập (1960); Cửa sông (1966), Dấu chân người lính
(1972), Miền cháy (1977), Người đàn bà trên chuyến tàu tốc hành (1983), Bến quê
(1985), Phiên chợ Giát (1989),...
2. Truyện ngắn Bức tranh trích trong tập Người đàn bà trên chuyến tàu tốc hành (1983)
Trả lời câu hỏi/ Thực hiện các yêu cầu:
Câu 1. Đoạn trích được kể theo ngôi thứ mấy? Tailieugiangday.vn Câu 2.
a. Đoạn trích trên có sự xuất hiện của mấy nhân vật?
b. Xác định kiểu cốt truyện trong đoạn trích.
Câu 3. a. Từ “tranh sơn mài” được định nghĩa là: chất liệu hội hoạ, trong và bóng, chế
từ nhựa sơn, thường dùng vẽ tranh. Cách giải thích nghĩa của từ thuộc cách giải thích nào?
b. Xác định trợ từ trong các câu sau: Nhưng những diễn biến phản ứng trên cái mặt
người thợ chỉ diễn ra nhanh như một cái chớp mắt. Ngay sau đó anh lại trở lại cái vẻ mặt
và cử chỉ từ tốn, điềm đạm, ân cần của một người thợ cắt tóc đứng đắn và yêu nghề.
c. Giải thích nghĩa của từ khắc khoải trong câu: Và nổi bật trên cái khuôn mặt là đôi mắt
mở to, khắc khoải, bồn chồn, đầy nghiêm khắc, đang nhìn vào nội tâm.
Câu 4. Vì sao bà mẹ (bà cụ) bị mù lòa cả hai mắt?
Sau khi biết lí do mẹ của anh thợ cắt tóc bị mù, nhân vật “tôi” có thái độ như thế nào?
Câu 5. Nêu bài học ý nghĩa nhất mà em rút ra từ câu chuyện trên là gì? GỢI Ý TRẢ LỜI
Câu 1. Đoạn trích được kể theo ngôi thứ nhất. Câu 2.
a.Đoạn trích trên có sự xuất hiện của 4 nhân vật.
b. kiểu cốt truyện trong đoạn trích: đơn tuyến. Câu 3.
a.Từ “tranh sơn mài” được định nghĩa là: chất liệu hội hoạ, trong và bóng, chế từ nhựa
sơn, thường dùng vẽ tranh. Cách giải thích nghĩa của từ thuộc cách giải thích mêu định nghĩa.
b. Trợ từ trong các câu sau: Nhưng những diễn biến phản ứng trên cái mặt người thợ chỉ
diễn ra nhanh như một cái chớp mắt. Ngay sau đó anh lại trở lại cái vẻ mặt và cử chỉ từ
tốn, điềm đạm, ân cần của một người thợ cắt tóc đứng đắn và yêu nghề. chỉ, ngay
Câu 4. Bà mẹ (bà cụ) bị mù lòa cả hai mắt vì: tưởng người con duy nhất của mình đã hy sinh nên khóc quá nhiều.
Sau khi biết lí do mẹ của anh thợ cắt tóc bị mù, nhân vật “tôi” có thái độ rất ân hận, day dứt, hối lỗi.
Câu 5. Thông qua câu chuyện trên, em bài học ý nghĩa nhất mà em rút ra từ câu chuyện
trên là trong cuộc sống cần có lòng trung thực, nghiêm khắc với chính mình. Con người
cần sống cao thượng, biết giữ lời hứa….. ĐỀ 5 Đọc văn bản sau:
MÒ SÂM PANH (NAM CAO)
Chú bếp Tư rất thận trọng về vấn đề giữ vệ sinh. Ông thường nói rằng: Khí hậu ở
đây chẳng được lành; những người chưa quen với thủy thổ miền nhiệt đới, đến đây mà
chẳng biết giữ thân, khó khỏi chết vì nguy hiểm ấy truyền nhiễm phần nhiều do nước bẩn.
Bởi vậy nước ăn của ông phải coi giữ như thế nào cho thật sạch. Cái bể nước của ông,
ông coi quý gần bằng vợ ông. Mà có lẽ còn quý hơn vợ ông nữa. Bởi vì vợ ông ông có thể
để người khác bắt tay, chứ bể nước mà đứa nào dám nhúng tay bẩn hay cái "sô" bẩn vào
thì cứ liệu cái thần hồn với ông. Tailieugiangday.vn
Ở nhà chủ, bếp Tư thích nhất cái bể nước ăn này. Nó to bằng cả một căn nhà
rộng, nước mưa ở trên các mái nhà theo hai cái ống máng mà trút xuống. Mặt bể bưng
kín mít, trừ một máng vuông, mỗi bể chừng một thước, có nắp kín như nắp cống. Những
ngày nghỉ vợ chồng ông chủ về Hà nội, thằng Tề con bác bếp vẫn đậy nắp bể cho thật kín
rồi trèo lên mặt bể, co một chân lên bắt chước Lã Bố đi bài tẩu hoặc nhảy huỳnh huỵch
để bắt chước Võ Tòng sát tẩu. Cái mặt bể toàn xi măng cốt sắt, bốn mươi thằng Tề nhảy cũng không việc gì.
Tề là con một bác Tư. Mẹ nó chết mới xong tang. Bố nó tính hiền lành nên rất yêu
con. Chẳng như những bồi bếp khác, nay vợ này, mai vợ khác, hoặc nhân tình nhân ngãi
với bọn cô đầu, nhà thổ. Vợ chết quá ba năm rồi mà nghĩ đến lúc nào bác ta vẫn còn
thương. Có khi đang ngồi bác tự nhiên khóc hu hu. Hỏi bác thì bác bảo: cũng ngày này
năm nọ, bác xin được phép chủ về quê ra đón vợ ra ở đây luôn với bác, thế mà bây giờ
vợ bác đã nỡ bỏ bác mà đi cho đành! Chẳng ngày rằm, mùng một nào bác không thắp
hương cúng vợ. Cúng xong bác rơm rớm nước mắt, thở dài thở ngắn. Tề thấy thế cũng thương cha vô cùng.
Chỉ thương xuông cũng không thể gọi là thương. Cái lối thương để bụng vô ích
lắm. Phải tìm cách tỏ lòng thương ra ngoài mới được. Nghĩa là phải kính mến nghe lời,
giúp đỡ. Thầy giáo Tề bảo thế. Cũng vừa mới bảo lúc nãy thôi, khi giảng nghĩa bài luân
lý. Bởi vậy, cắp sách về đến nhà trông thấy bố, Tề nhớ lại. Và Tề có ý nhìn xem bố làm
gì. Làm gì? Bác Tư đang vắt cái bụng lên thành bể, hai chân đeo lủng lẳng ở bên ngoài,
phần trên người đang buông thõng xuống ở bên trong. Không có lý bác gội đầu bằng
cách ấy. Tề im im đứng đợi... Bỗng hai cái chân tụt xuống, bác bếp Tư rút đầu ra. Và bác
giật mình đánh thót. Ấy là bác thoáng trông thấy có người đứng cạnh mà không biết
người ấy là Tề. Tề mỉm cười, khẽ hỏi.
Bác Tư ấp úng một lát rồi mới nói ra lời được. - À! Mày... mày đấy à!
Bác nhe những cái răng đen lờ lờ ra cười khì khì. Bởi thật thà thì trống ngực bác
ta còn đập. Bác mới hơi định thần.
Tề hối hận vì đã làm cho cha hoảng sợ. Nó nhìn cha, ái ngại. Cha nó bảo :
- Mẹ nó! Tao đánh rơi chai " sâm banh " vào trong này rồi!
- Thì thầy thử thò tay vào mà quờ xem.
Có được chó người ta đấy! đầu ngón tay mới chỉ hơi nhúng nước. - Thế làm sao được?
- Vậy mới rầy rà chứ! Lát nữa không có rượu uống thì bỏ cha!
Tề nghĩ ngợi rồi nói nhỏ: - Hay để con lội vào?
Bác Tư lại nhe răng ra, khì khì: - Có được chó! - Được.
- Nhưng ghét mày nó ra, bẩn nước thì có mà vất đi.
- Không, thế này chứ lỵ! Con lấy xà phòng tắm rồi rửa chân thật sạch, rồi mới vào trong bể.
Thằng oắt này ranh thật. Nó có tài biến báo. Bác Tư nhìn con, ra dáng phục.
Nhưng bác vẫn chưa nhất định. Răng bác vẫn nhe ra để cười một cái cười do dự. Đây là Tailieugiangday.vn
một kẻ nhút nhát đang bị người ta xui làm liều nhưng Tề đã quyết. Nó chạy tọt vào nhà
để cất sách vở và cởi quần, cởi áo. Một lát sau, nó trần truồng chạy ra. - Con tắm nhé !
- Nhưng mà thôi, con ạ. Nhỡ bà ấy biết.
Bà ấy là bà chủ. Tề nhìn lên gác, hỏi: - Bà ấy thức hay ngủ?
- Ngủ, nhưng ngộ bà ấy dậy?...
- Không sợ! Thầy lên đóng cái cửa ở đầu cầu thang lại. Đóng lần ngoài, như vậy
bà ấy có dậy cũng không xuống được. Hễ bà ấy gọi thì con ra , chạy vào nhà, ta đóng
cửa lại rồi thầy hãy lên mở cửa cho bà ấy.
Sau mấy phút do dự nữa, bác Tư đành nghe con vậy. Cái mẹo của nó được đem ra thi hành.
Tề tắm rửa xong rồi, bác Tư cẩn thận giội cho con thật sạch. Rồi bác nhấc nó lên ,
từ từ thả vào trong bể. Thằng bé thấy cái trò ngộ nghĩnh, cười hi hí. Nó nghĩ đến cuộc
bơi lặn trong cái hồ kín như hang này.
- Khéo nhé! sâu lắm đấy !
- Được, con bơi giỏi lắm. Thầy cứ buông.
Tề rơi đánh thóm. Thì bỗng cửa ngoài lịch kịch rồi có tiếng giày tây cồm cộp đi vào.
- Chết rồi ông ấy về!
Bác Tư kêu lên, hoảng hồn. Bởi vì bác sơ ý, mới nghĩ đến việc ngăn bà chủ mà
quên ông chủ. Giờ này tan sở. Bác chưa kịp cài then cửa ngoài, bác giục Tề: - Ra đi! Ra đi!
Nhưng sao kịp? Ông ấy đã tiến vào đến sân. Bác Tư đứng thẳng người lên. Bác
hóa ra tượng đá. Ông chủ nhận thấy, sinh ngờ vực. Ông nhìn vào mắt bác. Bác thấy chân
tay bủn rủn , hơi thở gần bị tắc. Giấp luôn mấy tiếng bà chủ ở trên gác gọi : - Tư! Tư! - Bà đầm!
- La porte! La porte! (cái cửa! cái cửa!)
Và tay bà đập vào cái cửa kêu thình thịch. Bà vừa đập vừa nói một tràng những
tiếng gì choe choé. Bác Tư không nghe kịp nhưng cũng hiểu thế là bà bắt. Bác cuống
quít. Nhất là mắt ông chủ vẫn trừng trừng nhìn bá, nghiêm khắc và chế nhạo. Ông hất hàm.
Bác Tư cúi đầu bối rối. Ông đoán ngay là bác đang làm một việc gì vụng trộm. Ăn
cắp đồ chẳng hạn. Ông nhìn chung quanh bác. Không có đồ gì cả. Ông nhìn cái cửa
buồng của bác. Cánh cửa buồng hé mở. Ông mỉm cười. Bởi vì ông tưởng đã đoán được
cái việc dấu giếm của người bếp hiền lành ấy. Muốn cuộc gì ông cũng cuộc. Thế chết thế
nào cũng có, một con gái trong cái buồng nhỏ kia. Một cố gái đang luống cuống với
những áo quần vắt trên thành giường. Cái này không phải một tội. Khi vợ người ta chết
đã ba năm và mấy tháng!... Nhưng thấy bác bếp tỏ ra sợ hãi, ông muốn đùa một chút.
Ông nói to lên bảo vợ :
- Đợi một tí. Tôi mở cho. Bà vợ rú lên:
- Ồ! Vậy ra mình đấy ư? Tailieugiangday.vn
- Ừ, tôi đây! Tôi lên giờ.
Và ông cố chắp nối mấy tiếng thật rõ rệt, cho người bếp hiểu :
- Moi oublier Innettes bureau. Lunette (ông vừa nhắc lại tiếng ấy vừa lấy ngón tay
trỏ chung quanh mắt để vẽ hình cái kính) biếc? - Uẩy xừ! - Va chercher (đi tìm). - Uẩy xừ.
Tuy mồm "uẩy "mà bác Tư vẫn không nhúc nhích. Ông chủ tưởng người bếp của
ông không hiểu, ông lại nói, lại ra hiệu lại. Rồi lại nói: - Biếc?
Thì có gì mà chả biết? Tiếng tây bác Tư đã thạo.Ông nói thế là muốn bảo: Ông để
quên cái kính ở sở và sai bác đi lấy về. Hiểu lắm, nhưng còn thằng Tề trong cái bể?... Ông chủ giục: - A lê! Maoo!
Mồm nói, tay ông nắm vai bác mà đẩy ra phía cửa. - Uẩy xừ!
Bác đậy vội cái nắp bể lại để ông khỏi thấy, rồi chạy đi. Ông nhìn theo mỉm cười.
Ông định cho bác chạy một tua bở hơi tai để ông có thì giờ chạy vào buồng bác. Ông sẽ
nắm cổ người con gái kéo ra. Ông sẽ đeo cái kính của ông vào mắt y, rồi bắt y lên
giường ngồi chồm hổm như một pho tượng khỏa thân bằng đá trắng. Để người bếp của
ông lúc giở về trông thấy y mà cười. Mà chịu rằng ông chủ của bác ma-lanh.
Nhưng ông cụt hứng ngay. Bởi vì buồng bác Tư trống rỗng. Không con gái. Không
dấu vết một cuộc ái ân vụng trộm. Ông văng tục một tiếng rồi chạy lên với vợ.
Một lúc lâu sau, bác bếp về, nét mặt băn khoăn: bởi vì bác không tìm thấy kính.
Đó không phải là lỗi bác. Nhưng rất có thể rằng ông chủ gắt. Tính ông nóng lắm. Chắc
hẳn rằng ông sẽ quát ầm nhà lên... Bác rón rén lên cầu thang gác. Ông chủ đang ngồi
thụt hẳn người vào trong một cái ghế bành to, đọc báo. Mắt ông có kính. Bác bếp ngạc
nhiên rồi lại thêm lo sợ. Bây giờ thì bác sợ bác đã hiểu nhầm lời ông sai đi tìm cái khác.
Có lẽ ông sai bác đi tìm cái khác. Thế mới bỏ đời bác chứ! Ai bảo bác hấp ta hấp tấp?
Không chịu hỏi cho rõ rồi hãy đi!
Bác rụt rè một lúc rồi mới dám đánh liều lên tiếng : - Me-xừ.
Ông ngẩng đầu lên, hất hàm. Bác đọc như cái máy :
- Loong-toong diếc đa-na-ba-luy-nét.
Loong-toong bảo không có luy-nét! Ấy là một khoé ranh của bác. Bác cũng nhanh
trí khôn lắm đấy. Loong-toong bảo không có luy-nét. Vậy thì luy-net là cái gì cũng được.
Ông muốn gắt thì gắt với thằng loong-toong! Nhưng luy-nét chính là cái kính. Bởi vì ông
chủ trỏ tay lên kính mắt hỏi: - Xa? (ca)
Và ông nhún vai, mỉm cười. Thoát nạn! bác bếp Tư nhẹ lâng cả người. Một tảng
đá lớn tưởng đè lên người bác vừa trút đi. Bác chạy xuống cầu thang, bước hai bậc một.
Y như một hòn đá lăn trên sườn núi. Bác chạy thẳng lại cái bể. Nhìn trước nhìn sau một
thoáng rồi bác mở nắp ra, cúi đầu xuống. Tối om om. Một mảng nước loang loáng như
nước mực. Bác gọi con: Tailieugiangday.vn - Tề! Tề ơi!
Im lặng. Một nỗi nghi vụt đến. Tim bác nhảy lên một cái. Tiếng khàn khàn, bác gọi :
- Tề ơi! Ra đây thầy kéo lên.
Chẳng có gì đáp lại. Những đốm sáng lăn tăn nhẩy nhót trong bóng tối. Ấy là bác
bếp Tư hoa mắt. Bởi vì đầu óc bác đã nặng trĩu, quay quay, choáng váng. Người thì bủn
rủn. Bác nhoai lưng vào trong bể, vừa mếu máo vừa rên rỉ: - Con ơi! Tề con ơi...
Đầu ngón tay bác động phải một vật gì trơn nuồn nuột mà không còn động đậy.
Bác toan gào thật to. Nhưng có tiếng giầy tây cồm cộp trên thang gác. Ông chủ xuống!
Bác Tư sực tỉnh. Bác rút vội đầu ra khỏi bể. Bác đậy luôn nắp lại. Vừa kịp ông chủ không
trông thấy. Bác cố thản nhiên đi vào bếp, lau bát đãi để sắp sửa lên bày bàn. Nhưng nghĩ
đến bàn ăn, bác lại sinh lo lắng...
- Còn chai sâm banh!... Đào đâu ra một chai sâm-banh bây giờ?
Đêm hôm ấy, đợi vợ chồng ông chủ tắt đèn đi ngủ một lúc lâu, bác Tư mới rón rén
ra sân. Bác mở cái nắp bể thật êm. Bác quờ tay vào bể, loay hoay tìm cách vớt con ra.
Sáng hôm sau, bác vừa báo cho chủ biết con bác phải cảm chết đêm rồi. Ông chủ giật mình:
- Vì dịch tả phải không? - Bẩm ông không. - Thế vì bệnh gì? - Bẩm... bẩm...
Bác Tư ấp úng. Ông chủ lại càng sợ hãi:
- Đem chôn ngay đi! Bỏ vôi vào! Rồi lấy ca-re-lin rưới khắp nhà, hiểu không? - Bẩm hiểu. - Được rồi. Đi đi!
Ông xua bác Tư như xua đuổi một thằng hủi. Mũi ông chun lại. Ra khỏi cửa, bác
Tư nhẹ hẳn người. Bác lấy làm may. Nếu ông chủ xuống xem! Nếu ông chủ biết rằng
thằng bé đã ngâm mấy giờ đồng hồ trong bể nước!...
(Tuyển tập truyện ngắn Nam Cao, NXB Văn học)
Trả lời câu hỏi/ Thực hiện các yêu cầu:
Câu 1. Chủ đề chính của truyện ngắn trên là gì?
Câu 2. Trong truyện có xuất chi tiết phi lí, trái với lẽ thường, đó là chi tiết nào?
Câu 3. Tình huống nào dẫn đến cái kết đau buồn trong truyện?
Câu 4. Lí do khiến bác Tư sợ hãi lo lắng nhà chủ phát hiện ra con trai mình ở trong bể
nước hơn cả việc sự sống và cái chết của con là gì?
Câu 5. Hãy chia sẻ một vài hiểu biết của em về người nông dân Việt Nam trước Cách mạng tháng Tám. GỢI Ý TRẢ LỜI
Câu 1. Chủ đề chính của truyện ngắn trên là: Số phận của những người nông dân trước Cách mạng Tháng 8.
Câu 2. Trong truyện có xuất chi tiết phi lí, trái với lẽ thường, đó là chi tiết nào?
Chi tiết phi lí, trái với lẽ thường: Bác Tư lo lắng nhà chủ phát hiện ra con trai mình ở nhà
chủ hơn là việc con ở trong bể nước Tailieugiangday.vn
Câu 3. Tình huống dẫn đến cái kết đau buồn trong truyện là:
Thằng Tề bơi trong bể nước, bác Tư giấu con trong đó khi chủ nhà về và không dám để
nhà chủ phát hiện cho tới khi con ở đó quá lâu
Câu 4. Lí do khiến bác Tư sợ hãi lo lắng nhà chủ phát hiện ra con trai mình ở trong bể
nước hơn cả việc sự sống và cái chết của con là:
- Nguyên nhân trực tiếp: Nỗi lo lắng dùng nước bẩn của ông chủ người Tây: Khí hậu ở
đây chẳng được lành; những người chưa quen với thủy thổ miền nhiệt đới, đến đây mà
chẳng biết giữ thân, khó khỏi chết vì nguy hiểm ấy truyền nhiễm phần nhiều do nước
bẩn. Bởi vậy nước ăn của ông phải coi giữ như thế nào cho thật sạch. Cái bể nước của
ông, ông coi quý gần bằng vợ ông. Mà có lẽ còn quý hơn vợ ông nữa. Bởi vì vợ ông ông
có thể để người khác bắt tay, chứ bể nước mà đứa nào dám nhúng tay bẩn hay cái "sô"
bẩn vào thì cứ liệu cái thần hồn với ông.
- Nguyên nhân sâu xa: Số phận của những người ở tầng lớp dưới đáy xã hội, đi làm thuê
cho nhà chủ Tây, họ phải chịu đựng sự nóng nảy, lạnh lùng, xét nét của chủ nhà, họ làm
công nhưng luôn bị coi thường, khinh rẻ, nếu bị chủ nhà nổi giận hay phật ý thì công việc
cũng sẽ không còn, nơi mưu sinh kiếm sống qua ngày cũng không còn. Câu 5.
- Nghèo khổ, bần cùng và không lối thoát.
- Đánh đổi cả mạng sống con cái hay chính bản thân vì ý nghĩ bị đè nén, phải kiếm ăn qua ngày. ĐỀ 6 Đọc văn bản sau:
Một buổi tối mùa đông, chúng tôi ngồi trước lò sưởi, trong một căn buồng ấm áp.
Tự nhiên trong câu chuyện, một người nói đến những cơn giận tự nhiên đến tràn ngập cả
tâm hồn ta và có khi gây nên nhiều cái kết quả không hay. Rồi mỗi người đều bày tỏ ý
kiến riêng của mình. Anh Thanh, từ nãy đến giờ vẫn lặng yên có vẻ trầm ngâm, cất tiếng nói:
– Sự giận dữ có thể sai khiến ta làm những việc nhỏ nhen không ai ngờ. Tôi biết
hơn ai hết, vì chính tôi đã trải qua sự đó. Tôi sẽ kể các anh nghe một câu chuyện mà cái
kỷ niệm còn in sâu trong trí nhớ tôi.
Cũng một buổi chiều mùa đông như hôm nay, tôi ở tòa báo ra về, trong lòng chán
nản và buồn bực. Có những ngày mà tự nhiên không hiểu tại sao, ta thấy khó chịu, và
hay gắt gỏng, không muốn làm việc gì. Tôi đang ở vào một ngày như thế mà chiều trời
hôm ấy lại ảm đạm và rét mướt càng khiến cho cảm giác đó rõ rệt hơn. Tôi đi vài bước
trên con đường phố vắng người. Một cái xe tay dằng xa đi lại, anh phu xe co ro vì rét, hai
tay giấu dưới manh áo tơi tàn. Theo lệ như mọi khi, tôi mặc cả:
– Xe đi không? Bốn xu về gần nhà bò Yên Phụ. – Thầy cho sáu xu.
– Không, bốn xu là đúng giá rồi.
Tôi vừa nói vừa bước đi. Người phu xe đã có tuổi, cứ kéo cái xe theo sau tôi mà lẩm
bẩm: “Bốn đồng xu từ đây về nhà bò”. Cái tiếng nhà bò anh ta nhắc đi nhắc lại làm cho
tôi khó chịu. Tôi biết đó là một cách của các phu xe cứ đi theo sau khách để làm cho
người ta bực tức, tôi lại càng ghét và quay lại gắt:
– Có đi hay không thì thôi! Đừng có theo sau người ta mà lải nhải.
Thấy tôi gắt, người phu xe đứng lại, không dám theo nữa. Nhưng để tôi đi một
quãng xa, anh ta ới gọi: Tailieugiangday.vn
– Lại đây đi mà.
Rồi anh ta hạ càng xe xuống, cứ đứng yên chỗ ấy đợi chứ không kéo lại phía tôi.
Cái cử chỉ ấy làm tôi sinh ghét thêm, đã toan không đi, nhưng lúc ấy không có cái xe nào
khác. Tôi giận dữ bước mạnh lên xe, vừa mắng:
– Anh thật là lắm chuyện, không đi ngay lại còn vẽ. Anh xe cãi lại:
– Từ đây về đấy thầy cho được bốn đồng xu thật rẻ quá! – Thì ai bảo anh đi? Không
có tôi đã gọi xe khác.
Người phu xe khẽ thở dài, yên lặng nhấc xe lên. Lúc bấy giờ tôi mới ngả mình ra
phía sau, nhưng thấy cái đệm cứng như gỗ đập vào lưng, tôi cúi xuống bên nhìn cái tay
xe. Tôi đoán không sai, chính là một cái xe hiệu “con lợn”, cái tên hiệu cũng xứng đáng
một hạng xe tàng ở ngoại ô mà tôi vẫn phải đi. Anh xe này đã vào đây kéo trộm, vì xe
ngoại ô không được phép vào thành phố đón khách, nếu không tuân lệnh thì bị phạt từ ba
đến bốn đồng bạc. Sự tồi tàn của cái xe làm tôi càng ghét anh xe nữa.
– Xe khổ thế này mà anh lại còn đòi cao giá. – Xe thế mà thầy chê thì còn thế nào nữa!
Anh xe bướng bỉnh cũng không chịu kém. Tôi nói câu gì là anh ta đối lại liền. Sau
cùng, giận quá, tôi dẫm mạnh chân xuống sàn xe, gắt:
– Thôi, câm họng đi, đừng lải nhải nữa.
Sự giận dữ làm cho tôi quên rằng anh xe cũng chỉ có trả lời những câu mắng của
tôi mà thôi, và chính tại tôi gắt với anh ta nhiều quá. Nhưng lúc bấy giờ tôi chỉ thấy tức
người xe ấy đến cực điểm, vì hắn dám cãi lại tôi mà không sợ.
Xe đi khỏi nhà máy nước thì gặp một người đội xếp tây đi xe đạp lại, theo sau một
người đội xếp ta. Tôi nhận thấy anh xe kéo tôi có ý luống cuống và sợ hãi. Có lẽ vì thế mà
người cảnh sát để ý, đi giáp vào cái xe kéo để xem dấu hiệu.
– Ê! Đứng lại!
Người kéo xe dừng chân… Anh ta quay lại tôi hớt hải van xin: – Lạy thầy… thầy
nói giúp con… thầy làm ơn…
Dưới ánh đèn tôi thấy mặt anh xe tái mét. Những vết răn in sâu xuống trên mặt già
nua hốc hác, chân tay người khốn nạn ấy run bật lên và tôi thấy cái rung động chuyển cả vào chiếc thân xe.
Người cảnh sát tây đến, nói bằng tiếng ta hơi sõi: – Mày chết nhé! Mày sẽ bị phạt!
Người phu xe ấp úng nói thì ông ta khoát tay bảo im, rồi quay lại tôi hỏi, lần này bằng tiếng Pháp.
– Người này kéo ông từ trong phố ra hay ông đi khứ hồi?
Tôi liếc mắt nhìn anh kéo xe. Trong bóng tối của vành nón qua ngang mặt, tôi thấy
hai mắt anh ta long lanh nhìn tôi, như khẩn cầu van xin yên lặng. Tôi biết lời nói của tôi
sẽ làm anh ta bị bắt hay không. Những khi nói chuyện với các phu xe khác, tôi được biết
rằng nếu người khách nói là đi khứ hồi từ ngoại ô, thì người xe không việc gì. Nhưng lúc
ấy, lời van xin của anh xe kia không làm cho tôi động lòng, mà lại làm cho tôi ghét anh
thêm. Tôi trả lời người đội xếp:
– Tôi đi từ phố hàng Bún. – Vậy phiền ông xuống xe.
Rồi anh ta nhìn anh phu xe, cười một cách tinh quái: – Allez! Đi về bót! Tailieugiangday.vn
Khi anh phu xe run sợ và hai người cảnh sát đã khuất đầu phố, tôi mới quay đi
thong thả trên bờ hè. Cơn giận của tôi đã hết rồi. Sự hối hận dần thấm thía vào lòng tôi,
tôi thấy một cái chán nản bực tức rung động trong người.
Tôi rung mình nghĩ đến số phận của anh xe khốn nạn. Ba đồng bạc phạt! Anh ta
phải vay cai xe để nộp phạt; nhưng ba đồng bạc nợ ấy, bao giờ anh ta trả xong, sau
những ngày nhịn đói, bị cai xe hành hạ, đánh đập vì thù hằn?
Tôi càng nghĩ đến bao nhiêu lại càng khinh bỉ tôi bấy nhiêu. Qua ô Yên Phụ, nhìn
thấy những thợ thuyền tấp nập làm việc dưới ánh đèn trong những căn nhà lá lụp xụp, tôi
rảo bước đi mau, hình như trông thấy tôi họ sẽ biết cái hành vi khốn nạn và nhỏ nhen
đáng bỉ của tôi ban nãy.
Những ngày hôm sau thực là những ngày khổ cho tôi. Lòng hối hận không để tôi
yên. Hình như có một cái gì nặng nề đè nén trên ngực làm cho tôi khó thở, và lúc nào
hình ảnh anh phu xe cũng hiển hiện ra trước mắt. […]
(Một cơn giận, Thạch Lam, in trong tập Gió đầu mùa, Nxb Đời nay, Hà Nội, 1937)
(Gọi con – Bảo Ninh)
(Tóm lược phần đầu: Con cái thành đạt, hiếu thảo nhưng mẹ Tân lúc nào cũng “cứ
rầu rầu, lặng lặng và cứ thích thui thủi thế”. Sau khi mẹ mất, Tân mang chiếc rương – kỉ
vật của mẹ để lại về nhà mình.)
Tất cả những lá thư gói chung trong tờ báo cũ để dưới đáy rương đều là của mẹ gửi
cho em trai của Tân. Trên tất cả các phong bì, tên người nhận đều là Nghĩa, tất cả đều
được kiên nhẫn gửi tới một số hiệu hòm thư duy nhất, và tất cả đều là những lá thư do
bưu điện huyện Lương Sơn kiên nhẫn gửi trả lại. Tất cả còn để nguyên chưa được bóc ra.
[…] Sang Tiệp tròn một năm, Tân được thư của mẹ báo tin Nghĩa vào bộ đội. Nhận
giấy gọi vào Bách khoa trước giấy gọi nhập ngũ vậy mà Nghĩa nhất định không nghe
theo lời bàn của cha mẹ. […] Bà cho Tân số hòm thư của Nghĩa và hối thúc anh viết
ngay gửi sớm để em nó mừng. Bà kể là đã lên thăm Nghĩa ở trại luyện tân binh trên Bãi
Nai – Hòa Bình, thấy nó vất vả, gian khổ, thương lắm. Hồi đó, đọc biết thế, nhưng bây
giờ mở xem lá thư mẹ viết cho Nghĩa mới thấy thấu cái tình thương xót của mẹ đối với nó.
“Người ta bảo là ở rừng thì dù nhọc mệt thế nào cũng chớ có ngủ trưa, vì bị ngã
nước đấy con ạ. Hại sức lắm, mà mẹ thì ở xa chẳng lo được cho con… Mẹ lại thường hay
nghĩ đến cái tính liều của con. Con ơi, có báo động dù chưa tiếng tàu bay vẫn phải tăng
xê xuống ngay. Tránh voi chẳng xấu mặt nào. Thương mẹ thương cha con phải tự thương
xót lấy mình con nhé…”
Chỗ quà này mẹ gói ra hai mầu để con phân biệt. Gói bọc giấy xanh là kẹo, bánh,
thuốc lá thì con mời anh em bè bạn với cấp chỉ huy. Riêng thuốc lá mẹ mong con hút ít.
Nghe nói nơi các con đóng binh người dân tộc nấu rượu sắn nhiều lắm, mẹ lo. Uống
rượu, hút thuốc hỏng đời con ạ. Còn trong gói đỏ là kim chỉ, đá lửa, pin, cặp ba lá, con
phải cất kỹ. Các thức ấy không vặt vãnh đâu, ở Hà Nội đã khó kiếm, trong Khu Bốn với
bên Lào lại càng quý báu. Nặng thêm một chút nhưng con gắng mang. Phòng khi ốm đau
cảm cúm, nhất là chẳng may mà sốt rét thì đem đổi lấy thịt thà rau quả mà bồi dưỡng cho
chóng lại. Mấy bà trong khối phố có con đi bộ đội trước con họ bày kinh nghiệm cho mẹ như thế…”. Tailieugiangday.vn
Tân không hiểu gói quà ấy có đến tay Nghĩa không, bởi rõ ràng tất cả những phong
thư anh đang thấy đây mẹ anh đều đã gửi lên Lương Sơn khi mà đơn vị của Nghĩa đã rời
đi. Tất cả đều bị gửi ngược về hoàn trả, nhưng mẹ vẫn nhẫn nại viết và nhẫn nại gửi cầu
may tới cái hòm thư đã hoang phế đó. Mấy bức đầu mẹ anh viết ngắn như là viết vội để
gửi đi gấp. Không viết gì nhiều, những thư ấy chỉ hối Nghĩa mau biên thư về cho cha mẹ
hay số hòm thư mới với lại hiện đang ở đâu, sức khoẻ thế nào. Nhưng theo dần năm
tháng chiến tranh, thư của mẹ ngày một nhiều trang hơn và ngày một buồn bã hơn. Gửi
đi bao nhiêu nhận lại bấy nhiêu, những lá thư của mẹ càng về sau càng như nhật ký, như
là để gửi tới chính mình. Chữ mẹ nắn nót, dễ đọc dẫu mầu mực đã phai, dòng nối dòng
đều đều, miên man che giấu niềm vô vọng. Mẹ kể rằng đêm qua mẹ nhìn thấy Nghĩa
nhưng chưa kịp gọi thì đã tỉnh, tỉnh dậy thì đã chẳng còn lại gì, chẳng níu giữ được gì
nữa cả, trong phòng tối đen, ngoài trời còi báo động hú vang.Khác với mẹ, cha chưa bao
giờ thấy Nghĩa trong giấc ngủ, nhưng lại hay thoáng thấy con trai út của mình ngoài phố.
Lược một đoạn: Cha Tân mắc bệnh nặng, trước lúc qua đời vẫn cất tiếng gọi Nghĩa
trong niềm nhung nhớ, khắc khoải.
Tất cả những điều ấy chưa từng bao giờ mẹ viết trong thư gửi ra nước ngoài cho
Tân và anh chị của anh. Sau này cũng không bao giờ kể ra lời. […] “Khổ thân các con
sinh ra gặp thời loạn lạc …”, lá thư ấy mẹ viết vào ngày cuối tháng Chạp năm 72. Đất
trời bùng cháy, thành phố đổ vỡ, nhưng mẹ không rời Hà Nội. Hơi bom phá toang cửa
kính, mẹ vẫn đêm đêm yên lặng ngồi chỗ ngày trước cha vẫn thường ngồi, và vẫn như hồi
cha còn sống, mẹ pha một ấm trà để lên khay trên bàn giữa hai cái tách hạt mít.
[…] Mẹ biết chắc con còn sống, nhưng giờ đây con ở phương nào vậy con? Sao con
lại có thể im lặng lâu như thế hở con? Không một bức thư, không một tin tức nhắn nhe
nào cho mẹ, sao thế hở con, Nghĩa ơi? “.
Nghĩa ơi. Tiếng gọi ấy là lời cuối của lá thư cuối cùng mẹ của Tân viết gửi người
con trai út. Không còn lá thư nào viết vào những ngày tháng sau đó nữa. Có lẽ vì sau đó
là năm 73, hòa bình. Anh chị em Tân lần lượt đỗ đạt trở về.
Có những người con sáng giá như anh chị em Tân, mẹ là một bà mẹ hạnh phúc hơn
bao bà mẹ khác. Nào ngờ mẹ không hề biết thế là hạnh phúc. Gương mặt mẹ suốt bao
năm trời đến tận khi nhắm mắt xuôi tay luôn lẳng lặng một vẻ chờ đợi âm thầm, rụt rè và
vô vọng. May thay, cũng giống như những bức thư mãi mãi ở yên dưới đáy rương bên
đầu giường mẹ, nỗi đau lòng của mẹ không bao giờ thốt nên lời, người ta không biết tới.
Nông nỗi thương tâm bất động của một người già có cái đáng quý là không làm ai phải
để ý, bởi để ý tới thì không khỏi đau thắt trong lòng và không sao mà có thể bình tâm để
yên ổn sống một cách dễ chịu cho nổi.
Đọc văn bản sau và thực hiện yêu cầu:
Câu 1. Xác định mạch kể của truyện
Câu 2. Bối cảnh câu chuyện diễn ra vào thời gian nào?
Câu 3. Mẹ Tân hiện lên là người như thế nào?
Câu 4. Ý nghĩa chi tiết “cái rương” trong truyện là gì?
Câu 5. Thông điệp của truyện là gì?
Câu 6. Chỉ ra những nét đặc sắc về nghệ thuật của truyện? Tailieugiangday.vn GỢI Ý TRẢ LỜI
Câu 1. Xác định mạch kể của truyện: Từ thực tại hồi tưởng về những câu truyện
trong quá khứ rồi lại quay trở về thực tại.
– Tác giả bắt đầu từ thực tại khi Tân nhận chiếc rương – kỉ vật mà sau khi mẹ mất,
anh đã “miễn cưỡng chọn lấy” và “tha” từ Hà Nội về tận Sài Gòn.
– Tiếp đó, tác giả kể về cái rương của mẹ, từ những bức thư dưới đáy rương, câu
chuyện dẫn dắt người đọc giải mã những bí ẩn về mẹ, về người em được nhắc đến trong những bức thư.
– Trong quá khứ, Tân từng đi du học ở Tiệp lúc mười bảy tuổi. Sang Tiệp tròn một
năm, Tân nhận được thư của mẹ, báo tin Nghĩa vào bộ đội.
– Câu chuyện trở lại thực tại với những bức thư của mẹ gửi cho Nghĩa- cậu con trai
út. Nỗi đợi chờ khắc khoải của người mẹ dần đi vào cả những giấc chiêm bao.
Tiếp đó, mạch truyện trở lại quá khứ kể về việc cha đau ốm, cha mẹ vẫn ở lại Hà
Nội trong những ngày chiến tranh ác liệt. Trước khi chết người cha vẫn thì thầm gọi
Nghĩa trong niềm vô vọng. Chỉ khi lật giở những lá thư nơi đáy rương của mẹ, Tân mới
vỡ ra cái gốc của “vẻ đợi chờ âm thầm, rụt rè và vô vọng, lẳng lặng trên gương mặt mẹ
suốt bao năm trời đến tận khi nhắm mắt xuôi tay”. Tân càng hiểu hơn khi “nỗi đau lòng mẹ”.
Câu 2. Bối cảnh câu chuyện diễn ra vào thời gian:
Cuộc kháng chiến chống Mỹ (1954 -1975)
Sau khi thống nhất đất nước (1975)
Câu 3. Mẹ Tân hiện lên là người: Giàu tình yêu thương con, có đức hi sinh cao cả. Câu 4.
- Ý nghĩa của chi tiết “cái rương” trong truyện:
+ Biểu tượng cho tình cảm của gia đình, cho những kí ức đáng nhớ của một
thời khó khăn đã qua của một gia đình
+ Đây là chi tiết nghệ thuật đắt giá, góp phần thúc đẩy cốt truyện phát triển
Câu 5. Thông điệp:
Chiến tranh đã qua đi nhưng vẫn còn đó bao nỗi đau âm thầm vẫn dai dẳng in
hằn lên số phận của người mẹ có con hi sinh.
Truyện giúp ta thêm thấm thía, trân trọng tình cảm thiêng liêng sâu nặng của những
người thân yêu trong gia đình đặc biệt là tình yêu thương của cha mẹ dành cho con gái.
Từ đó cố gắng học tập, tu dưỡng để đền đáp công ơn của cha mẹ.
Câu 6. Những đặc sắc trong nghệ thuật của truyện ngắn “Gọi con”:
-Thời gian trần thuật: truyện được kể không theo trình tự thời gian, các sự kiện
được lồng ghép một cách uyển chuyển và sáng tạo: đan xen, đồng hiện giữa quá khứ, hiện tại
– Điểm nhìn trần thuật: Truyện được viết theo điểm nhìn chủ quan của tác giả, có
những đoạn lời người kể chuyện hòa vào lời nhân vật Tân. Cách trần thuật ngắn gọn,
cuốn hút, cách dẫn dắt tình tiết khéo léo làm cho mạch truyện phát triển và vận động liên tục. Tailieugiangday.vn
– Ngôn ngữ trần thuật: đa dạng, sinh động, lời văn kể chuyện, miêu tả từng trải, tinh tế, giàu chất thơ.
– Giọng điệu trần thuật: tâm tình, xót xa, thương cảm. Giọng điệu ấy tạo sự xúc
động sâu xa trong lòng người đọc và tập trung thể hiện nỗi đau đớn thắt lòng một người
mẹ của con hy sinh trong chiến tranh. ĐỀ 7 Đọc văn bản sau:
NGỌN ĐÈN KHÔNG TẮT
Người ta gửi tới nhà Tư Lai một lá thơ. Thơ đề “Kính gởi ông Hai Tương”. Cả nhà
bối rối không ít. Ông Hai Tương đã ra người thiên cổ lâu rồi, thấy có người nhắc lại
chồng, bà cụ Hai Tương nhớ quá ứa nước mắt. Khui lá thơ ra, thì ra là thơ mời nói chuyện khởi nghĩa.
Con Tươi ngồi chắt nước cơm ngoài sau bếp, than trong bụng: “Mấy chuyện đó kể
muốn thuộc lòng rồi, bắt kể hoài, bộ mấy ổng hổng chán sao”.
Cái khởi nghĩa đó xảy ra đã lâu lắm rồi. Dân xứ này có người nhớ, người không.
Cái người không nhớ thì cũng nhớ được hai ngày. Ngày thứ nhất là ngày giỗ chung
những người khởi nghĩa bị giặc bắn ngoài chợ. Ngày thứ hai là cái ngày kỷ niệm khởi
nghĩa. Xã tưng bừng dựng cờ đỏ chói, chạy xuồng máy rước mấy cụ lão thành lại đằng
chỗ ủy ban ngồi uống nước trà, ôn lại chuyện cũ. Những chuyện mà các cụ cất vô trong
tim, trong máu, buổi sáng nhớ, buổi chiều nhớ, buổi tối cũng nhớ.
(…) Hồi còn sống, ông nội thương con Tươi nhất. Tươi cũng thương ông nội, quấn
quít bên ông. Công việc của nó là nấu cơm, chở nước, quét dọn nhà cửa. Thời gian rảnh
ngồi nghe ông nội kể chuyện xưa, nghe bà nội kể chuyện còn xưa hơn nữa. Thằng Sáng
suốt ngày chạy nhảy, ăn chực ở nhà hàng xóm, trề môi như đưa đò:
-Ông nội khó thấy mồ.
Tươi không nghĩ ông nội khó, nhưng ông nội hơi lạ lùng. Ông nội dắt Tươi ra biển
đứng sục chân trong bùn, nghe nước biển lấp liếm đầu gối, nội chỉ hướng Hòn. -Bây coi kìa, Hòn đó. -Dạ, xa quá hen nội.
-Bây ơi – nội đột nhiên nghẹn ngào – tao nhớ Hòn quá.
(…) Má Tươi bảo: “Con Tươi đi theo ông nội riết nó… khùng”. Nó không khùng,
nhưng nó già trước tuổi, nó già theo những câu chuyện xưa. Ông nội ngộ lắm. Ông nói
cho nó biết sở dĩ bùn xứ nó mặn là vì có rất nhiều xương máu của chú, bác, cô, dì đã đổ
xuống, trong đó đương nhiên là có máu của Thầy, của mấy anh em khởi nghĩa. Ông nói
cho nó biết sống làm sao như cây đước thẳng tuột ưỡn ngực giữa sình lầy và còn nhóc
chuyện nữa. Tươi cảm thấy mình phải có nhiệm vụ ghi nhớ những gì mà ông nội nói. Vì
ba má nó lo làm ăn không có ở đây để nghe, vì thằng Sáng không muốn nghe. Rồi một
bữa khác, ông nội nó ra bãi ngồi tới chạng vạng không chịu vô nhà. Ngồi coi biển đục
ngầu, ngồi coi mặt trời lặn. Tươi năn nỉ ông vô nhà để ở ngoài này gió máy, cảm chết.
Ông nội nó không chịu vô, vò đầu nó than:
-Tao thương Thầy quá. Nhớ Thầy quá. Tao thèm gặp Thầy, gặp anh
Ðâu ngờ cái lần nội nói đó, nội đi gặp Thầy thiệt. Xóm Rạch vắng một người già
cỗi cằn ngồi hát Sử hận, mấy ông làm phim, viết sử tiếc đứt ruột ông già sống qua những
tháng năm biến động và nhứt là đã trải qua cuộc khởi nghĩa trên Hòn (…) Tailieugiangday.vn
(Trích Ngọn đèn không tắt, Tập truyện ngắn – In lần thứ 19, Nguyễn Ngọc Tư, NXB Trẻ, tr5-9)
Thực hiện các yêu cầu sau:
Câu 1. Xác định ngôi kể.
Câu 2. Chi tiết nào đóng vai trò là điểm mở đầu của câu chuyện?
Câu 3. Qua văn bản, em thấy nhân vật Tươi là người như thế nào?
Câu 4. Chủ đề của truyện ngắn trên là gì?
Câu 5. Qua lời của ông Hai Tương trong quá khứ được gợi lại từ dòng hồi tưởng của
nhân vật Tươi: “sở dĩ bùn xứ nó mặn là vì có rất nhiều xương máu của chú, bác, cô, dì
đã đổ xuống, trong đó đương nhiên là có máu của thầy, của mấy anh em khởi nghĩa”, em
rút ra bài học gì cho bản thân? GỢI Ý TRẢ LỜI Câu Nội dung
Ngôi kể: ngôi thứ 3 (toàn tri) 1
Chi tiết: “Người ta gửi tới nhà Tư Lai một lá thơ. Thơ đề “Kính gởi ông Hai
Tương”. Cả nhà bối rối không ít. Ông Hai Tương đã ra người thiên cổ lâu rồi”. 2
Qua văn bản, em thấy nhân vật Tươi là:
– Đứa cháu rất thương ông, thấu hiểu tình cảm của ông với những người đồng đội cũ.
– Biết trân trọng, ghi nhớ công ơn của những con người ngã xuống giữ gìn mảnh đất quê hương. 3
Chủ đề: Xoay quanh những dấu ấn còn sót lại của chiến tranh và ca ngợi
những người anh hùng đã chiến đấu vì đất nước. 4
– Đất nước đã phải hứng chịu nhiều đau thương mất mát do chiến tranh, để
có được hòa bình như ngày hôm nay, cha ông ta đã phải đánh đổi rất nhiều kể
cả xương máu, vì vậy ta phải biết ơn những người anh hùng đã hi sinh vì đất nước. 5 ĐỀ 8 Đọc văn bản sau:
Như bao bà mẹ khác, mẹ tiễn con gái về nhà chồng cũng sụt sịt lấy tay áo lau nước
mắt. Mọi người xúm lại kêu, gả con về chợ, mắc gì mà khóc. Trong lòng những bà dì bà
thím ở quê, về chợ nghĩa là ăn sung mặc sướng, đèn đóm sáng trưng, thiếu thứ chi chỉ
cần bước ngay ra cửa là có, “mãn năm móng chân không dính miếng sình”.
Nhưng chỉ bữa sau đám cưới, cô dâu mới đã phải xoắn tay áo hì hụi tát nước, kê
cao những vật dụng trong nhà. Sau trận mưa khuya đường sá biến thành sông, nước tràn