






Preview text:
Mẫu bài thu hoạch về khu di tích K9 Đá Chông
cho giáo viên mới nhất
Mẫu bài thu hoạch về khu di tích K9 Đá Chông cho giáo viên mới nhất - Mẫu số 1
Sinh ra và lớn lên, con chưa có cơ hội một lần gặp Bác. Tuy nhiên, khi tìm về
lịch sử và lần theo dấu chân Người, lòng con không khỏi bồi hồi và xúc động.
Con nguyện học tập tấm gương đạo đức sáng ngời của Bác, nguyện trung
thành đi theo con đường mà Bác đã chọn.
Bác sống như trời đất của ta
Yêu từng ngọn cỏ mỗi nhành hoa
Tự do cho mỗi đời nô lệ
Sữa để em thơ, lụa tặng già.
K9 nằm trên núi U Rồng thuộc dãy Tản Viên, Đá Chông mang vẻ đẹp nguyên
sơ và tĩnh mịch, với những hàng thông xù xì, vạm vỡ và lá kim vi vút bốn mùa.
Xen kẽ là những cây gỗ lớn lá rộng có hàng trăm, hàng ngàn năm tuổi, từng
là căn cứ địa của Trung ương và Hồ Chủ Tịch. Địa phận này thuộc Đá Chông,
Ba Vì, tỉnh Hà Tây cũ (nay thuộc thành phố Hà Nội), cách trung tâm thủ đô Hà Nội khoảng 70km.
Tháng 5 năm 1957, trong một lần kiểm tra Trung đoàn 36, Sư đoàn 308 diễn
tập bên sông Đà, buổi trưa, Hồ Chủ Tịch nghỉ ăn cơm tại một khu đồi ở Đá
Chông. Người đã nhận ra linh khí trong thế núi hình sông của vùng đất này.
Dãy Tản Viên Sơn ở phía Đông, dãy Thiết Sơn ở phía Tây, và Đà giang độc
đáo liền kề, xét theo phong thủy, thật là đắc địa cho việc dựng căn cứ. Người
trao đổi với các đồng chí trong đoàn về ý định chọn nơi này làm khu căn cứ
của Trung ương, đề phòng đế quốc Mỹ mở rộng chiến tranh phá hoại bằng không quân ra miền Bắc.
Đây là khu vực ở độ cao chừng 250m, với diện tích rộng 234 ha, phần lớn là
đồi rừng, có hai hồ rộng. Nhiều đá nhọn như chông, như mác chĩa thẳng lên
tạo thế bên sông Đà, vì vậy nhân dân gọi là Đá Chông. K9 là tên biệt danh
đặt cho khu căn cứ để tránh tình báo dịch. Ngày nay, khu vực này được gọi là khu di tích K9 Đá Chông.
Khi khu căn cứ Đá Chông bắt đầu hình thành, Cục Doanh trại (Tổng cục Hậu
cần, Bộ Quốc phòng) xây dựng ngôi nhà này cùng hệ thống hầm hào, công
sự xung quanh từ những năm 1960 và gọi tên là công trường K9. Ngôi nhà
hai tầng được thiết kế theo kiểu nhà sàn, giống ngôi nhà quen thuộc của Chủ
tịch Hồ Chí Minh tại Hà Nội. Vì vậy, ngôi nhà còn được gọi với cái tên thân
mật là "Nhà sàn". Nhà được gắn biển "Nhà làm việc của Chủ tịch Hồ Chí
Minh từ 1960 đến 1969". Trước ngôi nhà làm việc của Bác có hai cây vàng
anh tỏa cành vươn lá xanh biếc. Đó là hai cây lưu niệm do Anh hùng vũ trụ
Liên Xô Giécman Titốp và phu nhân của Thủ tướng Trung Quốc Chu Ân Lai,
bà Đặng Dĩnh Siêu, trồng khi đến thăm Bác.
Trong những năm Mỹ đánh phá Hà Nội và các tỉnh miền Bắc, Hồ Chủ Tịch và
Trung ương đã nhiều lần lên K9 làm việc và nghỉ ngơi. Khu căn cứ có ba khu
vực: Khu A dành cho Bộ Chính trị họp và tiếp khách; khu B dành cho các
đồng chí lãnh đạo nghỉ; khu C dành cho các đồng chí bảo vệ và phục vụ.
Những kỷ vật trong phòng bếp, từ chiếc phin pha cà phê đến khay đựng đồ
ăn, dao ăn, bát đũa, đều được gìn giữ cẩn thận, hầu như không có sự thay
đổi gì nhiều so với trước đây. Căn bếp liền với phòng ăn rộng 25m2 gồm có
bếp gang, phía đối diện khu nấu ăn có vòi nước và chậu rửa. Tất cả các bức
tường trong khu bếp đều được ốp gạch men trắng.
Phòng của Hồ Chủ Tịch được bố trí những đồ dùng giản dị, quen thuộc, và có
chiếc đệm cỏ của đồng bào Thái (Sơn La). Khi đến làm việc và nghỉ ngơi tại
đây, Người đứng đầu đất nước vẫn thường căn dặn anh em phục vụ: Việt
Nam ta vốn có truyền thống hiếu khách, tôn trọng bạn bè, nên những thứ tốt,
đồ dùng khá hơn nên dành cho khách.
Trong khuôn viên nhà sàn có hai phòng khách được bố trí giống nhau. Căn
phòng ăn rộng 17m2, có bố trí một bộ bàn ăn cho sáu người và một chiếc giá
để chậu nước, khăn lau, phục vụ khách rửa tay trước và sau khi ăn. Tại căn
phòng này, năm 1961, Hồ Chủ Tịch đã tiếp bà Đặng Dĩnh Siêu (phu nhân Thủ
tướng Trung Quốc Chu Ân Lai) và năm 1962 đón tiếp Anh hùng vũ trụ Liên Xô G.Titop.
Từ "nhà sàn" xuống đồi, từng bậc và chiếu nghỉ được trải bằng sỏi cuội (có
81 bậc). Con đường này được làm cùng thời điểm với ngôi nhà hai tầng. Hồ
Chủ Tịch yêu cầu đổ sỏi cho mát khi anh em định lát gạch. Nhìn Người mỗi
lần leo dốc rèn luyện thân thể, anh em tự đặt tên cho đường là "Đường rèn
luyện sức khỏe". Cách con đường này không xa còn có cả bãi đỗ cho máy bay trực thăng.
Khi Hồ Chủ Tịch qua đời (2/9/1969), Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương
quyết định chọn Khu căn cứ Đá Chông (K9) để xây dựng thêm công trình
"Ngôi nhà kính" và "Hầm ngầm" nhằm phục vụ nhiệm vụ giữ gìn thi hài Bác,
do nơi đây đảm bảo được các yếu tố: yên tĩnh, bí mật và thuận tiện giao
thông. Nhà kính được các chuyên gia y tế Liên Xô sử dụng trong sáu năm
chiến tranh (1969 - 1975) để thực hiện nhiệm vụ giúp đỡ Việt Nam giữ gìn lâu
dài thi thể Hồ Chủ Tịch.
Khu di tích Đá Chông K9, mật danh K9, được đổi thành K84. Khi Bác của
chúng ta đi vào cõi vĩnh hằng, nơi đầu tiên ướp bảo quản thi hài Bác là Viện
quân y 108, cơ sở đó gọi là K75 A. Hội trường Ba Đình nơi tổ chức lễ viếng
Bác từ ngày 6 tới 9/9/1969 gọi là K75 B. Tới khi đưa Bác lên yên nghỉ ở Khu
di tích Đá Chông thì gọi là K84 (tức là K75 + K9 = K84).
Tầng trên: Là khu làm việc liên hoàn, thuận lợi, bảo đảm vệ sinh môi trường.
Đã được Bộ Tư lệnh công binh cải tạo có bệ, trong bệ có cáng, trên bệ có
lồng kính. Nơi để Bác nghỉ gần giống như quan tài kính ở tại Lăng, thuận
tiện cho việc phục vụ khi có các đoàn tới thăm viếng Bác và nghiên cứu để
phục vụ viếng ở Lăng sau này.
Tầng ngầm có kết cấu hầm kiên cố, kiến trúc của hầm có khả năng triệt tiêu
và cản các sóng chấn động do áp lực mạnh của vũ khí nổ gây ra, có hệ
thống phòng chống chất độc hóa học, chính đó là yếu tố đảm bảo tuyệt đối an toàn thi hài Bác.
Trong sáu năm chiến tranh chống Mỹ cứu nước, thi hài Bác được giữ gìn bảo
quản tại đây ba lần với tổng thời gian là 4 năm 4 tháng 19 ngày. Đó là các
thời gian sau: Đợt 1: Từ ngày 23/12/1969 tới ngày 03/12/1970 vì lúc đó cả
nước có chiến tranh, nên lưu giữ Bác ở căn cứ an toàn hơn ở Hà Nội.
Cuối năm 1970, do Mỹ - Ngụy tập kích bằng máy bay trực thăng xuống một vị
trí ở gần thị xã Sơn Tây, thi hài Bác lại được chuyển về Viện quân y 108.
Đợt 2: Từ ngày 19/8/1971 tới ngày 11/7/1972, khi đó ở miền Bắc mưa to liên
tiếp 10 ngày, nước sông Hồng dâng cao 12m80, có nguy cơ vỡ đê, nên thi
hài Bác lại được đưa trở về bảo quản tại khu căn cứ K84 này.
Tới gần cuối năm 1972, nhận định có nguy cơ Mỹ dùng máy bay B52 ném
bom Hà Nội, Hải Phòng mà K84 nằm trên đường bay của địch từ Thái Lan
sang, thi hài Bác lại được đưa trở lại Viện 108.
Đợt 3: Từ ngày 16/02/1973 tới ngày 18/8/1975, lúc đó miền Bắc hoàn toàn
giải phóng nhưng chưa xây dựng xong Lăng, thi hài Bác tiếp tục được đưa trở lại nơi đây.
Đá Chông - K9 thực sự trở thành căn cứ bảo vệ an toàn thi hài của Hồ Chủ
Tịch trong những năm tháng chiến tranh ác liệt. Bây giờ, Đá Chông - K9 trở
thành Khu di tích lịch sử đặc biệt gắn liền với cuộc đời hoạt động cách mạng của Bác Hồ kính yêu.
Mỗi lần đến với Đá Chông, các đoàn công tác, các vị khách quý trong nước
và quốc tế lại bồi hồi xúc động bởi sự giản dị và chu đáo mà Chủ tịch Hồ Chí
Minh đã thể hiện qua từng kỷ vật nơi đây, như một minh chứng cho tâm hồn
cao cả và tình yêu thương bao la của Người đối với đồng bào và đất nước.
Con sẽ mãi ghi nhớ và nguyện sống theo tấm gương đạo đức sáng ngời của
Người, không ngừng phấn đấu và cống hiến cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
Mẫu bài thu hoạch về khu di tích K9 Đá Chông cho giáo viên mới nhất - Mẫu số 2
Sinh ra và lớn lên trong hòa bình, con chưa từng có cơ hội được gặp Bác Hồ,
nhưng khi tìm hiểu về lịch sử và lần theo từng bước chân của Người, lòng
con luôn dâng trào những cảm xúc bồi hồi, xúc động. Con nguyện mãi học
theo tấm gương đạo đức sáng ngời của Bác, nguyện trung thành theo con
đường mà Bác đã chọn.
Bác sống như trời đất của ta
Yêu từng ngọn cỏ mỗi nhành hoa
Tự do cho mỗi đời nô lệ
Sữa để em thơ, lụa tặng già.
K9 nằm trên dãy núi U Rồng thuộc dãy Tản Viên, Đá Chông mang vẻ đẹp
nguyên sơ, tĩnh mịch với những hàng thông xù xì, vạm vỡ, lá kim vi vút bốn
mùa. Xen kẽ là những loài cây gỗ lớn lá rộng có tuổi thọ hàng trăm, hàng
ngàn năm. Đây từng là căn cứ địa của Trung ương và Hồ Chủ tịch, thuộc địa
phận Đá Chông (Ba Vì, tỉnh Hà Tây cũ, nay thuộc Hà Nội), cách trung tâm Thủ đô khoảng 70 km.
Tháng 5 năm 1957, trong một lần kiểm tra Trung đoàn 36, Sư đoàn 308 diễn
tập bên sông Đà, buổi trưa, Hồ Chủ tịch nghỉ ăn cơm tại một khu đồi ở Đá
Chông. Người đã nhận ra linh khí từ thế núi hình sông của vùng đất này. Dãy
Tản Viên Sơn ở phía Đông, dãy Thiết Sơn ở phía Tây, lại thêm dòng sông Đà
độc đáo liền kề, theo phong thủy thật đắc địa cho việc dựng căn cứ. Người đã
trao đổi với các đồng chí trong đoàn về ý định chọn nơi này làm căn cứ Trung
ương, đề phòng đế quốc Mỹ mở rộng chiến tranh phá hoại bằng không quân ra miền Bắc.
Đây là khu vực cao chừng 250 m, diện tích rộng 234 ha, phần lớn là đồi rừng
với hai hồ lớn, và nhiều đá nhọn như chông, như mác chĩa thẳng lên, tạo thế
bên sông Đà. Vì vậy, người dân gọi nơi này là Đá Chông. Còn K9 là mật
danh đặt cho khu căn cứ để tránh tình báo địch phát hiện. Ngày nay, nơi này
được gọi là Khu di tích K9 Đá Chông.
Khi khu căn cứ Đá Chông bắt đầu hình thành, Cục Doanh trại (Tổng cục Hậu
cần, Bộ Quốc phòng) xây dựng ngôi nhà cùng hệ thống hầm hào, công sự
xung quanh từ những năm 1960 và gọi tên là công trường K9. Ngôi nhà hai
tầng được thiết kế theo kiểu nhà sàn, ngôi nhà quen thuộc của Chủ tịch Hồ
Chí Minh tại Hà Nội, nên còn được gọi thân mật là "Nhà sàn". Nhà được gắn
biển "Nhà làm việc của Chủ tịch Hồ Chí Minh từ 1960 đến 1969". Trước ngôi
nhà làm việc của Bác có hai cây vàng anh tỏa cành vươn lá xanh biếc, là cây
lưu niệm do Anh hùng vũ trụ Liên Xô Giécman Titốp và phu nhân Thủ tướng
Trung Quốc Chu Ân Lai, bà Đặng Dĩnh Siêu, trồng khi đến thăm Bác.
Trong những năm Mỹ đánh phá Hà Nội và các tỉnh miền Bắc, Hồ Chủ tịch và
Trung ương đã nhiều lần lên K9 làm việc và nghỉ ngơi. Khu căn cứ có ba khu
vực: Khu A dành cho Bộ Chính trị họp và tiếp khách; khu B dành cho các
đồng chí lãnh đạo nghỉ; khu C dành cho các đồng chí bảo vệ và phục vụ.
Những kỷ vật trong phòng bếp, từ chiếc phin pha cà phê đến khay đựng đồ
ăn, dao ăn, bát đũa, đều được gìn giữ cẩn thận, hầu như không thay đổi so
với trước đây. Căn bếp liền với phòng ăn rộng 25 m² gồm bếp gang, bàn chế
biến thức ăn có vòi nước, chậu rửa. Tất cả các bức tường trong khu bếp đều ốp gạch men trắng.
Phòng của Hồ Chủ tịch được bố trí những đồ dùng giản dị quen thuộc và có
chiếc đệm cỏ của đồng bào Thái (Sơn La). Khi làm việc và nghỉ ngơi tại đây,
Người luôn dặn dò anh em phục vụ: Việt Nam ta vốn có truyền thống hiếu
khách, tôn trọng bạn bè nên những thứ tốt, đồ dùng khá hơn nên dành cho khách.
Trong khuôn viên nhà sàn có hai phòng khách được bố trí giống nhau. Phòng
ăn rộng 17 m², bố trí một bộ bàn ăn cho sáu người và một chiếc giá để chậu
nước, khăn lau, phục vụ khách rửa tay trước và sau khi ăn. Tại căn phòng
này, năm 1961, Hồ Chủ tịch đã tiếp bà Đặng Dĩnh Siêu và năm 1962 đón tiếp
Anh hùng vũ trụ Liên Xô G. Titốp.
Từ nhà sàn xuống đồi, từng bậc và chiếu nghỉ được trải bằng sỏi cuội (có 81
bậc). Con đường được làm cùng thời điểm với ngôi nhà hai tầng, Hồ Chủ tịch
yêu cầu đổ sỏi cho mát khi anh em định lát gạch. Nhìn Người mỗi lần leo dốc
rèn luyện thân thể, anh em tự đặt tên cho đường là "Đường rèn luyện sức
khỏe". Cách con đường này không xa còn có cả bãi đỗ cho máy bay trực thăng.
Khi Hồ Chủ tịch qua đời (2/9/1969), Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương
quyết định chọn Khu căn cứ Đá Chông (K9) để xây dựng thêm công trình
"Ngôi nhà kính", "Hầm ngầm" phục vụ nhiệm vụ giữ gìn thi hài Bác vì nơi đây
bảo đảm được các yếu tố: yên tĩnh, bí mật, thuận tiện giao thông. Nhà kính
được các chuyên gia y tế Liên Xô sử dụng trong sáu năm chiến tranh (1969 -
1975) để giúp Việt Nam giữ gìn thi hài Hồ Chủ tịch.
Khu di tích Đá Chông K9 được đổi mật danh thành K84. Khi Bác qua đời, nơi
đầu tiên ướp bảo quản thi hài Bác là Viện Quân y 108, cơ sở này gọi là K75 A.
Hội trường Ba Đình nơi tổ chức lễ viếng Bác từ ngày 6 đến 9/9/1969 gọi là
K75 B. Khi đưa Bác lên yên nghỉ ở Khu di tích Đá Chông, nơi này được gọi là
K84 (tức là K75 + K9 = K84).
Tầng trên: Là khu làm việc liên hoàn, thuận lợi, bảo đảm vệ sinh môi trường.
Bộ Tư lệnh Công binh cải tạo có bệ, trong bệ có cáng, trên bệ có lồng kính.
Nơi để Bác nghỉ gần giống như quan tài kính tại Lăng, thuận tiện cho việc
phục vụ khi có các đoàn tới thăm viếng Bác và nghiên cứu để phục vụ viếng ở Lăng sau này.
Tầng ngầm có kết cấu hầm kiên cố, kiến trúc của hầm có khả năng triệt tiêu
và cản các sóng chấn động do áp lực mạnh của vũ khí nổ gây ra, có hệ
thống phòng chống chất độc hóa học, chính đó là yếu tố đảm bảo an toàn tuyệt đối thi hài Bác.
Trong sáu năm chiến tranh chống Mỹ cứu nước, thi hài Bác được giữ gìn bảo
quản tại đây ba lần với tổng thời gian là bốn năm bốn tháng mười chín ngày.
Đó là các thời gian sau: Đợt 1: Từ ngày 23/12/1969 đến ngày 03/12/1970 vì
khi đó cả nước có chiến tranh, nên giữ thi hài Bác ở căn cứ an toàn hơn ở Hà Nội.
Cuối năm 1970, do Mỹ - Ngụy tập kích bằng máy bay trực thăng xuống gần
thị xã Sơn Tây, thi hài Bác lại được chuyển về Viện Quân y 108.
Đợt 2: Từ ngày 19/8/1971 đến ngày 11/7/1972, khi đó ở miền Bắc mưa to liên
tiếp mười ngày, nước sông Hồng dâng cao 12,8 m, có nguy cơ vỡ đê, nên thi
hài Bác lại được đưa về bảo quản tại khu căn cứ K84.
Tới gần cuối năm 1972, nhận định có nguy cơ Mỹ dùng máy bay B52 ném
bom Hà Nội, Hải Phòng mà K84 nằm trên đường bay của địch từ Thái Lan
sang, thi hài Bác lại được chuyển sang bảo quản tại H21.
Đợt 3: Từ ngày 08/02/1973 đến ngày 17/7/1975 sau khi Hiệp định Pa-ri được
ký kết, thi hài Bác lại được đưa trở lại K84 để bảo quản vì nơi đây có điều
kiện đảm bảo tốt hơn ở H21.
Ngày nay, Đá Chông - Khu di tích K9 là địa chỉ đỏ giáo dục truyền thống, di
tích thiêng liêng, biểu tượng cho lòng trung thành, sự kính trọng và biết ơn vô
hạn của dân tộc đối với Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại.
Hướng dẫn viên khu di tích Đá Chông cho biết, từ năm 1991, các đồng chí
lãnh đạo cấp cao và cán bộ thuộc diện Trung ương quản lý về nguồn Khu di
tích K9 đều vô cùng xúc động khi được nghe lại những câu chuyện xúc động
về những năm tháng Bác Hồ sống và làm việc tại căn cứ địa Đá Chông.
Được nghe về những câu chuyện xúc động như Bác Hồ sợ đau không dám
ăn cá vì sợ ăn xương cá. Người luôn nhắc nhở cán bộ chiến sĩ nơi đây phải
sống hòa đồng, kính trọng, yêu thương nhau như anh em ruột thịt trong gia đình.
Sau này, khi đã trở thành khu di tích lịch sử, Đá Chông được mở rộng cửa
đón tiếp nhân dân đến viếng thăm. Những ai đã từng đặt chân đến Đá Chông,
được nghe những câu chuyện về Bác Hồ, về những năm tháng hào hùng của
dân tộc, đều không khỏi xúc động. Những hình ảnh của Người, những kỷ vật
giản dị nhưng chứa đựng biết bao câu chuyện cảm động đã trở thành những
bài học quý giá về lòng yêu nước, sự hy sinh và tấm lòng nhân ái vô bờ bến
của Chủ tịch Hồ Chí Minh.
Document Outline
- Mẫu bài thu hoạch về khu di tích K9 Đá Chông cho g
- Mẫu bài thu hoạch về khu di tích K9 Đá Chông cho g
- Mẫu bài thu hoạch về khu di tích K9 Đá Chông cho g