Tạp chí Khoa học 2011:18a 251-257 Trường Đại học Cần Thơ
251
MỐI QUAN HỆ GIỮA CON NGƯỜI VÀ MÔI TRƯỜNG
TRONG SỰ PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG Ở NƯỚC TA
NHÌN TỪ GÓC ĐỘ XÃ H I H C
Phan Văn Thạng1
ABSTRACT
The environment, including natural and social ones, is directly or indirectly related to
human beings ‘lives. It is created around people, governing their lives, and ensuring their
development. In their relation with the natural environment and the social one, human
beings always create positive and negative impacts. The relation between human beings
and environments is considered a dialectical one between nature and society in the firm
development of our country, This development still maintains the quality of the
environment and keeps the balance between the environment and progress.
Keywords: Firm
Title: Relationship between people and environment in the sustainable development in
Vietnam observed under sociology
TÓM TẮT
Môi trường bao g ng t i có liên quan trồm môi trườ ự nhiên và môi trường xã hộ ực tiếp
hoặc gián tiếp đến cuộc sống con người. Nó được tạo lập xung quanh con người, chi phối
đờ đả i số ng con người, b o m s t n t i và phát triển c a con người. Trong mố i quan h
với môi trường tự nhiên và môi trường xã hội, con người luôn tạo ra nh ng tác động tích
cực và tiêu cực. Mối quan hệ giữa con người – môi trường được xem là mối quan hệ biện
chứng t i trong sự nhiên – xã hộ ự phát triển b n v ững ở nước ta. Đó là phát triển trong
mức độ duy trì chất lượng môi trường, gi ng giữ cân bằ ữa môi trường và sự phát triển.
Từ khóa: Con người và môi trường
1 ĐẶT VẤN ĐỀ
Vấn đề môi trường có vị trí quan trọng trong quá trình t n t n c ại và phát triể ủa con
người. Môi trường là tập h p t u t ất cả các yế ố tự nhiên và xã hộ i cần thiết cho s
sinh sống và sản xuất của con người. “Môi trường bao gồm các yếu tố tự nhiên và
yếu tố v t ch t nhân t o quan hệ m t thiết v i nhau, bao quanh con người, có ảnh
hưởng t ng, sới đời số ản xuất, sự t n t i, phát triển c a con người và thiên nhiên”
(Theo Điều 1, Luật Bảo v ng cệ Môi trườ ủa Việt Nam). Với tư cách là m t thực th
tự nhiên – xã hội, con người sống trong môi tr ng t n t i trong ườ ự nhiên và luôn tồ
môi tr i. Mường xã hộ ọi s n vự xáo trộ ề môi trường tự nhiên cũnh như môi trường
xã h c ti n chội sẽ tác động trự ếp đế ất lượng s ng c ủa con người. Để xử lý mối
tương tác đó, con người ph i v ận d ng v n tri th ức và kinh nghiệm của mình để
tìm được “tiếng nói chung” với môi trường. Tuy nhiên, trong bối cảnh hi n nay
đ đề ang xuất hiện những vấn phức tạp trong việ ếc gi i quy t m i quan hệ giữa con
người và môi tr ng. Nh ng c i liên hườ ảnh báo khoa học đã giúp chỉ rõ mố ệ nhân
quả gi ng sinh thái, gi n kinh tữa của con người với môi trườ ữa phát triể ế - xã hội
với bảo t n tài nguyên thiên nhiên. T ó b u hình thành nh ng t ừ đ ắt đầ ư tưởng cơ
1 Khoa Khoa học Chính trị , Trường Đại h c C n Thơ
Tạp chí Khoa học 2011:18a 251-257 Trường Đại học Cần Thơ
252
bản v n b n về phát triể ững ở nước ta – một sự phát triển hài hòa cả v ế kinh t , xã
hội, tài nguyên môi tr ng nhu c u v ng v t, tinh ường để đáp ứng nhữ ề đời số ật chấ
thần của các thế h hiệ n t i mà không làm tổn h i hoặ c gây tr ng n khại đế ả năng
cung c phát triấp tài nguyên để ển kinh t i mai sau, không làm giế - xã hộ ảm chất
lượng s ng c ủa các thế h t ương lai.
2 ĐỐI TƯƠNG VÀ MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
Bài vi p trung nghiên c u m giết tậ ối quan hệ ữa con người và môi trường (môi
trường t i) trong s phát tri n b n vự nhiên và môi tr ng xã hườ ững ở nước ta hiện
nay. Qua đ ó, giúp cho m i ng i thườ ấy rõ hơn những tác động tích cực và tiêu cực
của con người đối với môi trường, cùng với những ảnh hưởng vô cùng to lớn của
môi tr i vường đố ới cuộc sống con người.
3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Để phục vụ bài viế t này, tác gi sử d đồng phương pháp luận triết h c mácxít, ng
thời còn sử dụng phương pháp phân tích tài liệu, phươ ương pháp quan sát, ph ng
pháp kết hợ p l ch sử - lôgic.
4 NỘI DUNG
4.1 Mối quan hệ giữa con người và môi tr phát triường tự nhiên trong sự ển
bền vững ở n c ta hiướ ện nay
Môi tr t cường tự nhiên là tấ ả nh ng gì t o nên môi tr ng s ườ ống quanh con người.
Đó là tổ h p c a các yếu t như: tài nguyên thiên nhiên, không khí, c, khí đất, nướ
hậu, ánh sáng, cảnh quan… Cơm ăn, n ng, thu nh, quước uố ốc chữa bệ ần áo mặc
đề độ u là sản phẩm từ thiên nhiên thông qua quá trình lao ng c a chính con người.
Con người và môi tr ng tườ ự nhiên có mối quan hệ r t ch t ch . Con người lựa
chọn, tạo dựng môi trường s ng t nhiên. Môi tr ng tống cho mình từ môi trườ ườ
nhiên quy định cách thức tồn tại và phát triển của con người. Con người tác động
vào môi tr ng t hườ ự nhiên theo cả ướng tích cực và tiêu cực.
Sự tác động tích cực của con người vào môi trường t hiự nhiên được thể ện qua
việc tận d u t ng nhụng khai thác tài nguyên thiên nhiên, các yế ố môi trườ ằm phục
vụ cuộc sống c ng thủa mình. Đồ ời, con người bi t lế ựa chọn cho mình không gian
sống thích h p nh ất, từ chỗ lệ thuộ c b độ đế ng n cả i t o chinh ph c tự nhiên. Sự
tác độ ng c a con người tăng theo s ng quy mô dân s và theo hình thái kinh ự gia tă
tế (Từ nền nông nghi n nông nghiệp s n năn bắt hái lượm đế ệp truyền thống và nền
nông nghiệp công nghi p hóa). Tuy nhiên, s ự tác động tiêu cực của con người vào
môi trường t n cho môi tr ng tự nhiên khiế ườ ự nhiên bị tàn phá và ô nhiễm, lúc đó
con ng nh lo âu v thiên tai, dười s i sẽ luôn phả ống trong cả ịch bệnh... Do vậy, môi
trường tự nhiên phải được bảo vệ m t cách t t nhất, phả ế i ti t ki m các ngu n tài
nguyên, nâng cao tỷ lệ sử dụng các ngu n lực m t cách hiệu quả , làm cho h sinh
thái được tái sinh thường xuyên. Đặc biệt, các hoạt động kinh tế của con người
phải được coi là một bộ ph n c n kinh t ph ấu thành của hệ sinh thái và phát triể ế ải
bảo toàn sự cân bằng c sinh thái. ủa hệ
Tạp chí Khoa học 2011:18a 251-257 Trường Đại học Cần Thơ
253
Vấn đề nóng bỏng, gây bức xúc trong dư luận xã hội nước ta hiện nay là tình trạng
ô nhi ng s t và sinh hoễm môi trường sinh thái do các hoạt độ ản xu ạt của con người
gây ra. Vấn đề này ngày càng trầm trọng, p n đe dọa trực tiế đến s n bự phát triể
vững, sự t n tại và phát tri n c a các thế h ă Vi t Nam. Trong một vài n m trở lại
đ ây, chúng ta luôn phải gánh ch u những hậu qu ng nả nặ ề do thiên tai gây ra và do
công tác bảo vệ môi trường còn nhiều b ng vất c p. Môi tr ườ ẫn từng ngày, từng giờ
bị chính các hoạt động s n xu i làm ô nhi ất và sinh hoạt của con ngườ ễm nghiêm
trọ ơ ng h n, s phát triển b n v ng v ng tr ng th ẫn đứ ước nhữ ử thách lớn lao. Đó
cũng chính là những kết quả t ế ết y u của sự thi u ý thức tôn trọng tự nhiên và sự
lúng túng trong việc tìm ra một lời giải cho bài toán phát triển bền vững. Có điều
là, n ng hành vi cếu nhữ ủa con người phù h p v nhiên thì t ới quy lu t c ủa tự ự nhiên
sẽ là người bạn tốt, đầy thi n chí, ngược lại những hành vi trái với quy lu t tự
nhiên thì s thù cức trả ủa tự nhiên sẽ l ơn h n bất cứ l ếc lượng xã h i nào. Thực t
đ ơã chứng minh, không khí ô nhiễm có thể giế ết ch t nhiều c thể s đng trong ó có
con ng ch, viêm ười. Ô nhi ng hô h p, bễm ozone có thể gây bệnh đườ ệnh tim mạ
vùng h . Ô nhi i do ọng, đau ngực, tức thở ễm nước gây ra cái chết cho con ngườ ăn
u iống b ng n lý. Ô nhi ước b c xẩn chưa đượ ễm tiếng ồn gây đ ếc, cao huyết áp,
bệnh tr nh m u h u quầm c m, b ất ngủ và gây nhiề ả khác.
Chúng ta ng trong thđang số ời đại cách mạng khoa học kỹ thuật và công nghệ phát
triển m nh m ẽ, cuộc sống con người có những bước tiến rõ rệt, nhân lo o ra ại tạ
ngày càng nhiều và phong phú nh ng c ủa cải v t, tinh thật chấ ần cho con người.
Điề u này dã phần nào thỏa mãn nhu c u ngày càng cao của con người và đưa đến
sự phát triển nhanh nền v n minh nhân lo i. Nhă ưng do sự gia tăng dân số và nhu
cầu đòi h i không gi ới hạn của con người đã làm cho nguồn tài nguyên thiên nhiên
ngày càng cạn ki ng b ô nhi u không thệt, môi trườ ễm là điề ể tránh khỏi. t, Đặc biệ
những tác hại của chất thải công nghi ng nghiêm trệp gây ra làm ảnh hưở ọng đến
môi trường sinh thái và sức khỏe con người. Theo Báo cáo của Bộ Tài nguyên và
Môi trường, tính đến ngày 20/4/ 2008 cả nước có 185 khu công nghiệp được Thủ
tướng Chính ph quy nh, thành ph ết định thành l p trên địa bàn 56 tỉ ố trực thuộc
Trung ương. Đến h m 2008, cết nă ả nước có khoảng 200 khu công nghiệp. Ngoài
ra, còn có hàng tr m công nghi y ban nhân dân c nh, thành ăm cụm, điể ệp được Ủ ấp tỉ
phố trực thuộc Trung ương quyết định thành lập. Theo báo cáo giám sát của Ủy
ban khoa học, công ngh và môi tr ường của Quốc hội, tỷ l các khu công nghi p
có h c thệ th lý nống xử ướ ải tập trung ở m đị ơ đạt s a phương rấ t th p, có n i ch t
15 – 20% nh nh Phúc. M khu công nghiư Bà Rịa – Vũng Tàu, ột số ệp có xây
dựng h lý n p trung nh ng h u nh không v giệ thống xử ước thải tậ ư ư ận hành vì để ảm
chi phí. Đến nay, mới có 60 khu công nghiệp đã hoạt động có trạm xử lý nước thải
tập trung (chi m 42% sế ố khu công nghiệp đã vận hành) và 20 khu công nghiệp
đ đang xây d ng trạ m xử lý nước th i. Bình quân m i ngày, các khu, c m, iểm
công nghi i ra khoệp thả ảng 30.000 t n, lấn chất th i r ỏng, khí và chất thải độc hại
khác. Tại H môi tr th ng sông i ngh tri n khai Đề án bảo vệ ường l u vư ực hệ
Đồng Nai ngày 26/2/2008, các cơ quan chuyên môn đều có chung đánh giá: nguồn
nước thuộc lưu v c sông Sài Gòn – ô nhi ng, không Đồng Nai hiện đang bị ễm nặ
đạ t chất lượ ướng mặt n c dùng làm ngu n cung cấp nước sinh hoạt. Theo s li u
khảo sát do Chi c o v ng ph p vục Bả ệ môi trườ ối hợ i Công ty Cấp nước Sài Gòn
thực hiện năm 2008 cho thấy, lượng NH3 (amoniac), chấ t r n lơ lửng, ô nhiễm hữu
cơ (đặ c biệt là ô nhiễm dầu và vi sinh) tă ng cao tại h u hế t các r ch, c ng và các
Tạp chí Khoa học 2011:18a 251-257 Trường Đại học Cần Thơ
254
đ độiểm xả. Có khu vực, hàm lượng n ng NH3 trong nước vượt gấp 30 lần tiêu
chuẩn cho phép (nh Tính, Thư sông Th Vải); hàm lượng chì trong nước vượt tiêu
chuẩn quy nh nhi u lđị ần; chất rắn lơ l ng vượt tiêu chuẩn t 3 – 9 lần. Bình quân
mỗi ngày, lưu v p nh n kho ng 48.000mực sông ng Nai phĐồ ải tiế 3 nước thải từ
các cơ s ơ độ sản xuất này. Có n i, hoạt ng c a các nhà máy trong khu công nghiệp
đ ã phá v h th ng th y l i, tạo ra những cánh đồng hạn hán, ng t và ô nhiập lụ ễm
nguồn n n xu t nông nghi p cước tưới, gây trở ngại r t l ớn cho sả ủa bà con nông
dân. Thực trạ đng ó làm cho môi trường sinh thái ở m đị t s a phương b ô nhi m
nghiêm trọng. Cộ đồng ng dân cư, nhất là các cộng đồng dân cư lân cận với các
khu công nghiệp, đang phải đối m t v ới th m h ọa về môi trường. Họ phải sống
chung vớ i khói b i, u ng nước từ ngu i công nghi p. T ồn ô nhiễm chất thả đó, gây
bất bình, d n nh ng ph ng quyẫn đế ản ứ ết liệt của người dân, có khi bùng phát thành
các xung đột xã hội gay gắt đối những hoạt động gây ô nhiễm môi trường.
Để t n tại và phát triển, con người luôn cần m t khoả ng không gian dành cho nh
, sản xu t lương thực và tái tạo môi trường. Con người có thể gia tăng không gian
sống c n thi ng vi ng s ết cho mình bằ ệc khai thác và chuyển đổi chức nă ử d ng c a
các loại không gian khác như khai hoang, phá rừng, cải tạo các vùng đất và nước
mới. Nh ng viư ệc khai thác quá mức không gian và các dạng tài nguyên thiên nhiên
sẽ d n đến những h u quả n ng nề mà con người ph i gánh chị đ đểu. Do ó, vừa
đượ được hưở ượng cuộ c s ng có chất l ng cao vừa bả o v c môi tr ng là cường số
một vấn đề r t lớn và phức t p, không chỉ gi i h n trong vi c sử d ng những s n
phẩm tiêu th t nhiụ mà còn liên quan rấ ều đến cách cư xử c a chính con người v i
thiên nhiên. Điều đó có thể nhận thấy qua việc chặt phá mở đấ r ng diện tích t r ng
canh tác hoặc lấy đất để ở đang di phát, không tuân theo quy ễn ra một cách tự định
của pháp luật. Diện tích rừng ngày một giảm dần dẫn đến nạn ô nhiễm môi sinh,
nạn trái đất ấm dần lên, nạn đói kém, h n hán, l ũ lụt ngày một tăng cả v t ng su t
và cường độ, nạn voi bỏ rừng v buôn làng gi ế t hại con người, phá ho i tài sản
không ph n hi ng n ng ngải là chuyệ ếm. Nhữ ăm gần đây, chủ trươ ăn p đê, đắ đập chủ
độ ng ngu n nướ ước t i tiêu ph c v s n xu t, làm thủy đi n ở m địt s a phương
nước ta đã gây nên tình trạng ô nhi n n p lễm nguồ ước sinh hoạt và ngậ t cục bộ
làm ảnh h ng tr ng, sưở ực tiếp n đế đời số ức khỏe con người và các cơ thể sống
khác. Trường h p ô nhi m ngu n n ng b ước sinh hoạt ở đồ ằng sông Cửu Long, lũ
lụt ở miền Trung… đã cho thấy rõ đ điều ó.
Đáp ứng nhu cầ u lương thực, thực ph m hàng ngày, con người không th chỉ dựa
dẫm vào thiên nhiên và sử d ng các phương pháp canh tác c xưa mà phải đưa tiến
bộ khoa học - kỹ thu n xu ng nh ng xu ng ật vào sả ất và đời số ằm nâng cao nă ất lao độ
và chất lượng cuộc sống. Tuy nhiên, ở nước ta hiệ n nay trong các s n ph m tiêu
thụ hàng ngày còn tồ ưn d quá nhiều hóa chất độc hại gây ra nhữ ng v ng độc
nghiêm trọng. Bên cạnh những ảnh hưởng trực tiếp các vụ ngộ độc lên s c kh ỏe
con người, những hóa chất độc hại đó còn để l i nhữ ng di ch ng ti m n lâu dài,
gây ra nhiều chứng bệnh nan y mà con người phải gánh chịu. Theo thống kê của
Bộ y tế, hàng năm cả nướ ườc ta có gần 200.000 ng i bị ư bệnh ung th mới phát hiện
và có 70.000 người chết vì căn b t trong nh ng nguyên nhân cệnh này. Mộ ơ bn
dẫn đến tình trạng b nh ung th ư ngày càng gia tăng, theo đánh giá tổ ng h p c a Bộ
Y tế và Bộ Tài nguyên – Môi trường là do môi trường s ng cống ngày càng xuố ấp
nghiêm trọng.
Tạp chí Khoa học 2011:18a 251-257 Trường Đại học Cần Thơ
255
Một trong nh ng gi ng m ải pháp lớn cho vấn đề trên là c n áp d ột cách triệt để
hơn các quy định c o vủa Nhà nước nh Luư ật Bả ệ Môi trường, Luật Bảo vệ và Phát
triển r nh h n thi hành luừng. Các Nghị đị ướng dẫ ật mà Nhà nước đã ban hành.
Muốn phát huy ý thức về b o v môi trường của mọi người, mọi nhà, m địi a
phương trong cả nước phải thường xuyên cùng nhau nỗ lực gi c hiải quyết và thự ện
nghiêm pháp lu t. Lu c ta ghi rõ trong ật B Môi trảo vệ ường nướ Điều 6: “Bảo vệ
môi trường là s nghi p c a toàn dân. T i có trách nhi ổ chức, cá nhân phả ệm bảo
vệ môi trường, thi hành pháp luật về bảo vệ môi trường, có quyền và có trách
nhiệm phát hi n, t m pháp lu ố cáo hành vi vi phạ ật về bảo vệ môi trường”. Có như
vậy, chúng ta mới có th ng vào mể hy vọ ột tương lai với môi trường s ng ngày
càng trong lành và thân thi i hện với con ngườ ơn.
4.2 Mối quan hệ giữa con người và môi trường xã hội trong s phát tri ển bền
vững ở nước ta hiện nay
Môi tr ng thường xã hội là tổ ể các quan hệ giữa con người với con người, định
hướng ho ng c t khuôn kh nh nh, tạt độ ủa con người theo mộ ất đị ạo nên sức mạnh
tập th thu ận lợi cho s phát tri n, làm cho con ng ười khác với các sinh v t khác.
Môi trường xã h i là môi tr ng mà con ng i là nhân t trung tâm, tham gia và ườ ườ
chi ph ng xã hối môi tr ng. Môi trườ ườ ội bao gồ m: chính tr , kinh tế, văn hóa, giáo
dục, thể thao, lịch sử…xoay quanh con người và con ng ó làm nguười lấy đ ồn
sống, làm m c tiêu cho mình. Con ng ười tồn t i trong môi tr u s ường xã hội và chị
tác động qua lại của cộng đồng và luật pháp. Trong một xã hội văn minh, có luật
pháp n d nh con ng n phát tri ng và nười sẽ có điều kiệ ển b n v ăng n. động hơ
Trong c ng, bên c t pháp c ng đồng truyền th ạnh hệ th ng lu ủa Nhà nước, nhiều
làng xã có h t ra và ương ước riêng do dân làng đặ được th c hi ện nghiêm ngặt
trong phạm vi luật lệ c đa làng. Có thể xem môi trường xã h i là iều kiện vậ t ch t
và tinh th n c o l i, chi ph ủa xã hội được tạ ập xung quanh con ngườ đờ i i s ng con
người, bảo đảm sự t ĩ n tại và phát triển c a con người. V i ý ngh a tầm vĩ mô,
môi trường xã h i là c ả m t hệ th ng kinh tế - xã h i trong tính t ng thể của nó.
Đó là các lực lượng sản xuất, các quan hệ xã hội, các thi xã hết chế ội, ý thức xã hội
và văn hóa. Vớ ĩi ý ngh a ở tầm vi mô, môi trường xã hội bao gồ đm: gia ình, các
nhóm, các tập thể h độ đ c tập, lao ng, các tập oàn…t n tại xung quanh con người
với các quá trình hoạt động giao ti p cế ủa con người.
Môi tr i v i sường xã h nh mội tác động mạ ẽ đố ự hình thành và phát triển của nhân
cách của con người. Trong ó, phát triđ ến kinh t - xã hội là quá trình nâng cao đ i u
kiện s ng v t và tinh th n c i thông qua vi n xu ề vật chấ ủa con ngườ ệc sả ất ra của cải
vật chất, cải tiến quan hệ xã hội, nâng cao chất lượng văn hóa. Trong quá trình tìm
kiếm con đường phát triển, loài ng ng và sười đã nhận ra giữa môi trườ ự phát triển
có mối quan hệ hế t sức chặt ch : môi trườ ượng là đị đốa bàn và i t ng của sự phát
triển, còn phát triển là nguyên nhân t a môi trạo nên các biến đổi củ ường.
Môi tr i cường xã h i trong b ảnh hiện nay ở nước ta đang phát triển theo chiều
hướng c ng h p. Lực kỳ sôi động và cũ ết sức phức tạ ĩnh vực đáng quan tâm trước
hết là những diễn bi u kinh tến của quá trình giao lư ế, văn hóa và hội nhập. Trong
đ đ ó, giao lưu văn hóa ang tr thành chiế c c u n i ti m ẩn nh ng s ắc thái văn hóa
mới, nh ng c n nh ng m ng trong môi trư ũng đã xuất hiệ ặt trái đáng báo độ ường xã
hội. Sự pha trộn các sắc thái văn hóa khác nhau trong m đốt không gian i tượng
hưởng thụ có trình độ dân trí chưa cao và chưa đồng u ng đề đã làm nảy sinh nhữ
Tạp chí Khoa học 2011:18a 251-257 Trường Đại học Cần Thơ
256
khuynh hướng không có lợi trong quá trình hình thành nhân cách con người. Các
giá trị đạo đức truyền thống, l ng, v i Viối số ăn hóa của con ngườ ệt Nam đang đối
mặt một cách gay gắt với nh i sững tác động tiêu cực của lố ống, văn hóa ngo i lai.
Đó là lối sống thực dụng, thác loạ n, tự do cá nhân, tôn thờ đồng tiền, b t chấp đạo
lý, coi thường các giá trị thuần phong mỹ t c c a dân t c, chà đạp lên tình nghĩa
gia đình, quan hệ th i s đồy trò, tình ng chí, đồ ng nghi p. L ống thực dụng, vị k
đ đế độ ơ đồang dẫn n thái bàng quan, s ng th , lạnh nhạt v i c ng ng và những
ng iười xung quanh. Đ ều ng đó làm cho mối liên kết giữa các nhân và cộ đồng, giữa
con ng i con người vớ ười trở nên lỏng l đo, i ngược lại truyền thống “tương thân,
tương ái” của dân tộc. Đây là một trong những thách thức lớn đối môi trường sống
của con người Việt Nam trong bối cảnh hiện nay. Do vậy, v n đề đặt ra trong hi n
tại và tương lai cho các thế hViệ t Nam là c n đặc biệt quan tâm giữ gìn, nâng cao
bản s n thắc văn hóa dân tộc, kế thừa và phát huy truyề ống o đạ đức, tập quán tốt
đẹp, ý thức về c i ngu n và lòng tự hào dân tộc, có khả năng đề kháng chống lại
những c n b nh do să ự “ô nhiễm” của môi tr ng xã hườ ội gây ra.
Bên c a môi tr n hóa Viạnh sự “xuống cấp” củ ường vă ệt Nam trong tiến trình giao
lưu và hội nhập, đó là sự phá vỡ c a môi trường xã h i b i các lo i tệ nạn xã hội
về mại dâm, ma túy, cờ bạc, số đề, mê tín dị đoan…cùng với các loại tội phạm giết
người, cướp của, xâm h c tr em… Hại tình dụ ậu quả là cấu trúc gia đình, làng xã
bị phá vỡ, xã hội rơi vào tâm tr ng b ất an. Tệ n n xã hộ i và t i ph m nh hưởng
xấu o đến sức khỏe và đạ đức con người, làm tan vỡ hạnh phúc gia đ ình, làm r i
loạn tr t t ự xã hộ i, suy thoái gi ng nòi, dân t c. Môi trường xã hộ i Việt Nam th t
sự bất ổn v nhi ều m u s kiặt qua nhiề ện gần đây như vụ m t người ph nữ nghèo
đ Buôn Ma Thu c i mót hạt cà phê trong m t trang trại b người quản lý c a trang
trại bỏ mặc cho đàn chó dữ cắ ế n xé đến ch t, cho đế n v án hi u trưởng một trường
trung h thông ọc phổ ở t nh Hà Giang, ông Sầ m Đức Xương mua dâm hàng lo t n
sinh đang còn ở tu i v ị thành niên…
Hiện nay, tệ nạn xã hộ i và t i phạm ở nướ ước ta đang có chiều h ng gia tăng trên
quy mô l nhóm ngớn, có tổ chức tinh vi. Đáng lưu ý là tội phạm ười có chức
quyền, tội tham nhũng trong bộ máy của Đảng và Nhà nước từ Trung ương đến cơ
sở khi thực hiện chức năng, chức quyền được giao đã tìm cách lợi dụng, chức
năng, chức quyền đó để tự cho phép làm trái pháp luật, chính sách, chế độ của Nhà
nước và bằng cách đó thu lợi bất chính cho b n thân ho ặc cho t chức mà họ
thành viên. Ngoài ra, còn có nhóm t m do buôn gian bán lội phạ ận, buôn l u, tr ốn
thuế, qu , biỵch nợ ển th n thủ, làm hàng giả hàng dỏm, nạ ất nghi ói, lệp, nghèo đ ười
lao động, thích ăn chơi, đua đ òi, b sa đà, bị lôi kéo… Nếu để các nhóm này tiếp
tục tồn tại và phát triển thì t tai h t nguy cđó sẽ là mộ ọa, mộ ơ củ đạa s suy thoái o
đứ c, l i s ng con người Việ t Nam hi n nay.
Do đời sống kinh tế nước ta còn khó khă ến, cùng vớ độ i sự tác ng c a kinh t thị
trường, trong xã h i còn xu ất hiện khuynh h ng “th ng m u lướ ươ ại hóa” trên nhiề ĩnh
v t…nhực giáo dục, y tế, văn hóa, nghệ thuậ ằm mục đích thu lợi, không bảo đảm
chất l i nhượng và không mang lạ ững giá tr ích th n làm tị đ ực. Điều này góp phầ ổn
hại nặng n ng s phề đến môi trườ ư ạm và s c kh ỏe cộng đồng, làm hoen ố các quan
hệ con người, làm tha hóa đạo đức và nhân cách, làm suy giảm và l ch h ướng mức
độ và khả nă ng h p th các giá tr tinh th n c a con người.
Tạp chí Khoa học 2011:18a 251-257 Trường Đại học Cần Thơ
257
5 K ẾT LUẬN
Con người và môi trường có mối quan hệ chặt chẽ. Con ng i sườ ống trong môi
trường nào thì ch ng qua lịu sự tác độ ại của môi trường đó. Trong mối quan hệ với
môi tr i lường tự nhiên, con ngườ ựa chọn tạo dựng môi trường s ng c ủa mình từ
môi trường tự nhiên, tận dụng khai thác tài nguyên thiên nhiên, các yếu tố môi
trường nh ng c a mình. Môi tr ng tằm phục vụ cuộc số ườ ự nhiên quy định cách thức
tồn t n cại và phát triể ủa con người. Con người tác động vào môi tr ng tườ ự nhiên
theo h ng tích c i quan hướ ực và tiêu cực. Trong mố ệ tương tác, môi trường tự nhiên
làm nền tảng cho cuộc sống của con người. N i bi t giếu con ngườ ế ới hạn để vừa sử
dụng v ng t nhiên thì m n từa bảo vệ môi trườ ối quan hệ ngày càng bền chặt và tồ ại
lâu dài. Ngược lại, môi trường tự nhiên sẽ tiếp tục bị tàn phá nếu con người không
có biện pháp cụ thể để b o v nó. Trong mối quan hệ v i môi trường xã h i, con
người là nhân tố trung tâm, tham gia và chi phối môi trường xã hội. Ngược lại, môi
trường xã h i là n phát tri ền t n b n trong sảng că ển nhân cách con người. Môi
trường xã hội t i sốt, con ngườ ống sẽ được hòa nhập vào môi trường, ng được hưở
đầ đủ y các giá tr do môi trường xã h i mang lại. Mặt trái c a môi trường xã h i
đ đạ ó là sự suy thoái về o đức, l i s ng, sự tiêm nhiễ ă m v n hóa ngo i lai, các lo i tệ
nạn xã hội, tội phạm và các biểu hi n l ệch lạc khác. Để bảo đảm cho sự phát triển
bền v i duy trì m n giững, đòi hỏi phả i quan hệ thân thiệ ữa con người và môi
trường, ng n nhăn chặ ững tác động tiêu cực của con ngườ ười tới môi tr ng tự nhiên
và xã hội.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Bảo Vũ, “Nạn phá rừng”, tochucgiaodiem@yahoo.com&giaodiem@giaodiem.com
Đinh Hùng Tuấn, “Sự suy giảm giá trị đạo đức hiện nay”, http://www.chung
ta.com/Desktop.aspx
Mai Huỳnh Nam, “Những v n qu đề xã hội học trong công cuộc đổi mới”, Nxb. Chính trị ốc
gia, HN.2006
Nguyễn Duy Quý, “Đạo n n đức xã hội ở ước ta hiện nay - Vấ đề và giải pháp”, Tạp chí Giáo
dục thời đại, http://www.gdtd.vn/channel/3004/2009/06/1711162.
Trần Đắc Hiến, “Ô nhiễm môi trường n ước ta hiện nay - Thực trạng và giải pháp”, Tạp chí
Khu công nghiệp Việt Nam.

Preview text:

Tạp chí Khoa học 2011:18a 251-257
Trường Đại học Cần Thơ
MỐI QUAN HỆ GIỮA CON NGƯỜI VÀ MÔI TRƯỜNG
TRONG SỰ PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG Ở NƯỚC TA
NHÌN TỪ GÓC ĐỘ XÃ HỘI HỌC Phan Văn Thạng1 ABSTRACT
The environment, including natural and social ones, is directly or indirectly related to
human beings ‘lives. It is created around people, governing their lives, and ensuring their
development. In their relation with the natural environment and the social one, human
beings always create positive and negative impacts. The relation between human beings
and environments is considered a dialectical one between nature and society in the firm
development of our country, This development still maintains the quality of the
environment and keeps the balance between the environment and progress. Keywords: Firm
Title: Relationship between people and environment in the sustainable development in
Vietnam observed under sociology TÓM TẮT
Môi trường bao gồm môi trường tự nhiên và môi trường xã hội có liên quan trực tiếp
hoặc gián tiếp đến cuộc sống con người. Nó được tạo lập xung quanh con người, chi phối
đời sống con người, bảo đảm sự tồn tại và phát triển của con người. Trong mối quan hệ
với môi trường tự nhiên và môi trường xã hội, con người luôn tạo ra những tác động tích
cực và tiêu cực. Mối quan hệ giữa con người – môi trường được xem là mối quan hệ biện
chứng tự nhiên – xã hội trong sự phát triển bền vững ở nước ta. Đó là phát triển trong
mức độ duy trì chất lượng môi trường, giữ cân bằng giữa môi trường và sự phát triển.
Từ khóa: Con người và môi trường 1 ĐẶT VẤN ĐỀ
Vấn đề môi trường có vị trí quan trọng trong quá trình tồn tại và phát triển của con
người. Môi trường là tập hợp tất cả các yếu tố tự nhiên và xã hội cần thiết cho sự
sinh sống và sản xuất của con người. “Môi trường bao gồm các yếu tố tự nhiên và
yếu tố vật chất nhân tạo quan hệ mật thiết với nhau, bao quanh con người, có ảnh
hưởng tới đời sống, sản xuất, sự tồn tại, phát triển của con người và thiên nhiên”
(Theo Điều 1, Luật Bảo vệ Môi trường của Việt Nam). Với tư cách là một thực thể
tự nhiên – xã hội, con người sống trong môi trường tự nhiên và luôn tồn tại trong
môi trường xã hội. Mọi sự xáo trộn về môi trường tự nhiên cũnh như môi trường
xã hội sẽ tác động trực tiếp đến chất lượng sống của con người. Để xử lý mối
tương tác đó, con người phải vận dụng vốn tri thức và kinh nghiệm của mình để
tìm được “tiếng nói chung” với môi trường. Tuy nhiên, trong bối cảnh hiện nay
đang xuất hiện những vấn đề phức tạp trong việc giải quyết mối quan hệ giữa con
người và môi trường. Những cảnh báo khoa học đã giúp chỉ rõ mối liên hệ nhân
quả giữa của con người với môi trường sinh thái, giữa phát triển kinh tế - xã hội
với bảo tồn tài nguyên thiên nhiên. Từ đó bắt đầu hình thành những tư tưởng cơ 12 5
K 1hoa Khoa học Chính trị, Trường Đại học Cần Thơ
Tạp chí Khoa học 2011:18a 251-257
Trường Đại học Cần Thơ
bản về phát triển bền vững ở nước ta – một sự phát triển hài hòa cả về kinh tế, xã
hội, tài nguyên môi trường để đáp ứng những nhu cầu về đời sống vật chất, tinh
thần của các thế hệ hiện tại mà không làm tổn hại hoặc gây trở ngại đến khả năng
cung cấp tài nguyên để phát triển kinh tế - xã hội mai sau, không làm giảm chất
lượng sống của các thế hệ tương lai.
2 ĐỐI TƯƠNG VÀ MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
Bài viết tập trung nghiên cứu mối quan hệ giữa con người và môi trường (môi
trường tự nhiên và môi trường xã hội) trong sự phát triển bền vững ở nước ta hiện
nay. Qua đó, giúp cho mọi người thấy rõ hơn những tác động tích cực và tiêu cực
của con người đối với môi trường, cùng với những ảnh hưởng vô cùng to lớn của
môi trường đối với cuộc sống con người.
3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Để phục vụ bài viết này, tác giả sử dụng phương pháp luận triết học mácxít, đồng
thời còn sử dụng phương pháp phân tích tài liệu, phương pháp quan sát, phương
pháp kết hợp lịch sử - lôgic. 4 NỘI DUNG
4.1 Mối quan hệ giữa con người và môi trường tự nhiên trong sự phát triển
bền vững ở nước ta hiện nay
Môi trường tự nhiên là tất cả những gì tạo nên môi trường sống quanh con người.
Đó là tổ hợp của các yếu tố như: tài nguyên thiên nhiên, không khí, đất, nước, khí
hậu, ánh sáng, cảnh quan… Cơm ăn, nước uống, thuốc chữa bệnh, quần áo mặc
đều là sản phẩm từ thiên nhiên thông qua quá trình lao động của chính con người.
Con người và môi trường tự nhiên có mối quan hệ rất chặt chẽ. Con người lựa
chọn, tạo dựng môi trường sống cho mình từ môi trường tự nhiên. Môi trường tự
nhiên quy định cách thức tồn tại và phát triển của con người. Con người tác động
vào môi trường tự nhiên theo cả hướng tích cực và tiêu cực.
Sự tác động tích cực của con người vào môi trường tự nhiên được thể hiện qua
việc tận dụng khai thác tài nguyên thiên nhiên, các yếu tố môi trường nhằm phục
vụ cuộc sống của mình. Đồng thời, con người biết lựa chọn cho mình không gian
sống thích hợp nhất, từ chỗ lệ thuộc bị động đến cải tạo chinh phục tự nhiên. Sự
tác động của con người tăng theo sự gia tăng quy mô dân số và theo hình thái kinh
tế (Từ nền nông nghiệp săn bắt hái lượm đến nền nông nghiệp truyền thống và nền
nông nghiệp công nghiệp hóa). Tuy nhiên, sự tác động tiêu cực của con người vào
môi trường tự nhiên khiến cho môi trường tự nhiên bị tàn phá và ô nhiễm, lúc đó
con người sẽ luôn phải sống trong cảnh lo âu về thiên tai, dịch bệnh... Do vậy, môi
trường tự nhiên phải được bảo vệ một cách tốt nhất, phải tiết kiệm các nguồn tài
nguyên, nâng cao tỷ lệ sử dụng các nguồn lực một cách hiệu quả, làm cho hệ sinh
thái được tái sinh thường xuyên. Đặc biệt, các hoạt động kinh tế của con người
phải được coi là một bộ phận cấu thành của hệ sinh thái và phát triển kinh tế phải
bảo toàn sự cân bằng của hệ sinh thái. 252
Tạp chí Khoa học 2011:18a 251-257
Trường Đại học Cần Thơ
Vấn đề nóng bỏng, gây bức xúc trong dư luận xã hội nước ta hiện nay là tình trạng
ô nhiễm môi trường sinh thái do các hoạt động sản xuất và sinh hoạt của con người
gây ra. Vấn đề này ngày càng trầm trọng, đe dọa trực tiếp đến sự phát triển bền
vững, sự tồn tại và phát triển của các thế hệ Việt Nam. Trong một vài năm trở lại
đây, chúng ta luôn phải gánh chịu những hậu quả nặng nề do thiên tai gây ra và do
công tác bảo vệ môi trường còn nhiều bất cập. Môi trường vẫn từng ngày, từng giờ
bị chính các hoạt động sản xuất và sinh hoạt của con người làm ô nhiễm nghiêm
trọng hơn, sự phát triển bền vững vẫn đứng trước những thử thách lớn lao. Đó
cũng chính là những kết quả tất yếu của sự thiếu ý thức tôn trọng tự nhiên và sự
lúng túng trong việc tìm ra một lời giải cho bài toán phát triển bền vững. Có điều
là, nếu những hành vi của con người phù hợp với quy luật của tự nhiên thì tự nhiên
sẽ là người bạn tốt, đầy thiện chí, ngược lại những hành vi trái với quy luật tự
nhiên thì sức trả thù của tự nhiên sẽ lớn hơn bất cứ lực lượng xã hội nào. Thực tế
đã chứng minh, không khí ô nhiễm có thể giết chết nhiều cơ thể sống trong đó có
con người. Ô nhiễm ozone có thể gây bệnh đường hô hấp, bệnh tim mạch, viêm
vùng họng, đau ngực, tức thở. Ô nhiễm nước gây ra cái chết cho con người do ăn
uống bằng nước bẩn chưa được xử lý. Ô nhiễm tiếng ồn gây điếc, cao huyết áp,
bệnh trầm cảm, bệnh mất ngủ và gây nhiều hậu quả khác.
Chúng ta đang sống trong thời đại cách mạng khoa học kỹ thuật và công nghệ phát
triển mạnh mẽ, cuộc sống con người có những bước tiến rõ rệt, nhân loại tạo ra
ngày càng nhiều và phong phú những của cải vật chất, tinh thần cho con người.
Điều này dã phần nào thỏa mãn nhu cầu ngày càng cao của con người và đưa đến
sự phát triển nhanh nền văn minh nhân loại. Nhưng do sự gia tăng dân số và nhu
cầu đòi hỏi không giới hạn của con người đã làm cho nguồn tài nguyên thiên nhiên
ngày càng cạn kiệt, môi trường bị ô nhiễm là điều không thể tránh khỏi. Đặc biệt,
những tác hại của chất thải công nghiệp gây ra làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến
môi trường sinh thái và sức khỏe con người. Theo Báo cáo của Bộ Tài nguyên và
Môi trường, tính đến ngày 20/4/ 2008 cả nước có 185 khu công nghiệp được Thủ
tướng Chính phủ quyết định thành lập trên địa bàn 56 tỉnh, thành phố trực thuộc
Trung ương. Đến hết năm 2008, cả nước có khoảng 200 khu công nghiệp. Ngoài
ra, còn có hàng trăm cụm, điểm công nghiệp được Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, thành
phố trực thuộc Trung ương quyết định thành lập. Theo báo cáo giám sát của Ủy
ban khoa học, công nghệ và môi trường của Quốc hội, tỷ lệ các khu công nghiệp
có hệ thống xử lý nước thải tập trung ở một số địa phương rất thấp, có nơi chỉ đạt
15 – 20% như Bà Rịa – Vũng Tàu, Vĩnh Phúc. Một số khu công nghiệp có xây
dựng hệ thống xử lý nước thải tập trung nhưng hầu như không vận hành vì để giảm
chi phí. Đến nay, mới có 60 khu công nghiệp đã hoạt động có trạm xử lý nước thải
tập trung (chiếm 42% số khu công nghiệp đã vận hành) và 20 khu công nghiệp
đang xây dựng trạm xử lý nước thải. Bình quân mỗi ngày, các khu, cụm, điểm
công nghiệp thải ra khoảng 30.000 tấn chất thải rắn, lỏng, khí và chất thải độc hại
khác. Tại Hội nghị triển khai Đề án bảo vệ môi trường lưu vực hệ thống sông
Đồng Nai ngày 26/2/2008, các cơ quan chuyên môn đều có chung đánh giá: nguồn
nước thuộc lưu vực sông Sài Gòn – Đồng Nai hiện đang bị ô nhiễm nặng, không
đạt chất lượng mặt nước dùng làm nguồn cung cấp nước sinh hoạt. Theo số liệu
khảo sát do Chi cục Bảo vệ môi trường phối hợp với Công ty Cấp nước Sài Gòn
thực hiện năm 2008 cho thấy, lượng NH3 (amoniac), chất rắn lơ lửng, ô nhiễm hữu
cơ (đặc biệt là ô nhiễm dầu và vi sinh) tăng cao tại hầu hết các rạch, cống và các 253
Tạp chí Khoa học 2011:18a 251-257
Trường Đại học Cần Thơ
điểm xả. Có khu vực, hàm lượng nồng độ NH3 trong nước vượt gấp 30 lần tiêu
chuẩn cho phép (như sông Thị Tính, Thị Vải); hàm lượng chì trong nước vượt tiêu
chuẩn quy định nhiều lần; chất rắn lơ lửng vượt tiêu chuẩn từ 3 – 9 lần. Bình quân
mỗi ngày, lưu vực sông Đồng Nai phải tiếp nhận khoảng 48.000m3 nước thải từ
các cơ sở sản xuất này. Có nơi, hoạt động của các nhà máy trong khu công nghiệp
đã phá vỡ hệ thống thủy lợi, tạo ra những cánh đồng hạn hán, ngập lụt và ô nhiễm
nguồn nước tưới, gây trở ngại rất lớn cho sản xuất nông nghiệp của bà con nông
dân. Thực trạng đó làm cho môi trường sinh thái ở một số địa phương bị ô nhiễm
nghiêm trọng. Cộng đồng dân cư, nhất là các cộng đồng dân cư lân cận với các
khu công nghiệp, đang phải đối mặt với thảm họa về môi trường. Họ phải sống
chung với khói bụi, uống nước từ nguồn ô nhiễm chất thải công nghiệp. Từ đó, gây
bất bình, dẫn đến những phản ứng quyết liệt của người dân, có khi bùng phát thành
các xung đột xã hội gay gắt đối những hoạt động gây ô nhiễm môi trường.
Để tồn tại và phát triển, con người luôn cần một khoảng không gian dành cho nhả
ở, sản xuất lương thực và tái tạo môi trường. Con người có thể gia tăng không gian
sống cần thiết cho mình bằng việc khai thác và chuyển đổi chức năng sử dụng của
các loại không gian khác như khai hoang, phá rừng, cải tạo các vùng đất và nước
mới. Nhưng việc khai thác quá mức không gian và các dạng tài nguyên thiên nhiên
sẽ dẫn đến những hậu quả nặng nề mà con người phải gánh chịu. Do đó, để vừa
được hưởng cuộc sống có chất lượng cao vừa bảo vệ được môi trường sống là cả
một vấn đề rất lớn và phức tạp, không chỉ giới hạn trong việc sử dụng những sản
phẩm tiêu thụ mà còn liên quan rất nhiều đến cách cư xử của chính con người với
thiên nhiên. Điều đó có thể nhận thấy qua việc chặt phá mở rộng diện tích đất rừng
canh tác hoặc lấy đất để ở đang diễn ra một cách tự phát, không tuân theo quy định
của pháp luật. Diện tích rừng ngày một giảm dần dẫn đến nạn ô nhiễm môi sinh,
nạn trái đất ấm dần lên, nạn đói kém, hạn hán, lũ lụt ngày một tăng cả về tầng suất
và cường độ, nạn voi bỏ rừng về buôn làng giết hại con người, phá hoại tài sản
không phải là chuyện hiếm. Những năm gần đây, chủ trương ngăn đê, đắp đập chủ
động nguồn nước tưới tiêu phục vụ sản xuất, làm thủy điện ở một số địa phương
nước ta đã gây nên tình trạng ô nhiễm nguồn nước sinh hoạt và ngập lụt cục bộ
làm ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống, sức khỏe con người và các cơ thể sống
khác. Trường hợp ô nhiễm nguồn nước sinh hoạt ở đồng bằng sông Cửu Long, lũ
lụt ở miền Trung… đã cho thấy rõ điều đó.
Đáp ứng nhu cầu lương thực, thực phẩm hàng ngày, con người không thể chỉ dựa
dẫm vào thiên nhiên và sử dụng các phương pháp canh tác cổ xưa mà phải đưa tiến
bộ khoa học - kỹ thuật vào sản xuất và đời sống nhằm nâng cao năng xuất lao động
và chất lượng cuộc sống. Tuy nhiên, ở nước ta hiện nay trong các sản phẩm tiêu
thụ hàng ngày còn tồn dư quá nhiều hóa chất độc hại gây ra những vụ ngộ độc
nghiêm trọng. Bên cạnh những ảnh hưởng trực tiếp các vụ ngộ độc lên sức khỏe
con người, những hóa chất độc hại đó còn để lại những di chứng tiềm ẩn lâu dài,
gây ra nhiều chứng bệnh nan y mà con người phải gánh chịu. Theo thống kê của
Bộ y tế, hàng năm cả nước ta có gần 200.000 người bị bệnh ung thư mới phát hiện
và có 70.000 người chết vì căn bệnh này. Một trong những nguyên nhân cơ bản
dẫn đến tình trạng bệnh ung thư ngày càng gia tăng, theo đánh giá tổng hợp của Bộ
Y tế và Bộ Tài nguyên – Môi trường là do môi trường sống ngày càng xuống cấp nghiêm trọng. 254
Tạp chí Khoa học 2011:18a 251-257
Trường Đại học Cần Thơ
Một trong những giải pháp lớn cho vấn đề trên là cần áp dụng một cách triệt để
hơn các quy định của Nhà nước như Luật Bảo vệ Môi trường, Luật Bảo vệ và Phát
triển rừng. Các Nghị định hướng dẫn thi hành luật mà Nhà nước đã ban hành.
Muốn phát huy ý thức về bảo vệ môi trường của mọi người, mọi nhà, mọi địa
phương trong cả nước phải thường xuyên cùng nhau nỗ lực giải quyết và thực hiện
nghiêm pháp luật. Luật Bảo vệ Môi trường nước ta ghi rõ trong Điều 6: “Bảo vệ
môi trường là sự nghiệp của toàn dân. Tổ chức, cá nhân phải có trách nhiệm bảo
vệ môi trường, thi hành pháp luật về bảo vệ môi trường, có quyền và có trách
nhiệm phát hiện, tố cáo hành vi vi phạm pháp luật về bảo vệ môi trường”. Có như
vậy, chúng ta mới có thể hy vọng vào một tương lai với môi trường sống ngày
càng trong lành và thân thiện với con người hơn.
4.2 Mối quan hệ giữa con người và môi trường xã hội trong sự phát triển bền
vững ở nước ta hiện nay
Môi trường xã hội là tổng thể các quan hệ giữa con người với con người, định
hướng hoạt động của con người theo một khuôn khổ nhất định, tạo nên sức mạnh
tập thể thuận lợi cho sự phát triển, làm cho con người khác với các sinh vật khác.
Môi trường xã hội là môi trường mà con người là nhân tố trung tâm, tham gia và
chi phối môi trường. Môi trường xã hội bao gồm: chính trị, kinh tế, văn hóa, giáo
dục, thể thao, lịch sử…xoay quanh con người và con người lấy đó làm nguồn
sống, làm mục tiêu cho mình. Con người tồn tại trong môi trường xã hội và chịu sự
tác động qua lại của cộng đồng và luật pháp. Trong một xã hội văn minh, có luật
pháp ổn dịnh con người sẽ có điều kiện phát triển bền vững và năng động hơn.
Trong cộng đồng truyền thống, bên cạnh hệ thống luật pháp của Nhà nước, nhiều
làng xã có hương ước riêng do dân làng đặt ra và được thực hiện nghiêm ngặt
trong phạm vi luật lệ của làng. Có thể xem môi trường xã hội là điều kiện vật chất
và tinh thần của xã hội được tạo lập xung quanh con người, chi phối đời sống con
người, bảo đảm sự tồn tại và phát triển của con người. Với ý nghĩa ở tầm vĩ mô,
môi trường xã hội là cả một hệ thống kinh tế - xã hội trong tính tổng thể của nó.
Đó là các lực lượng sản xuất, các quan hệ xã hội, các thiết chế xã hội, ý thức xã hội
và văn hóa. Với ý nghĩa ở tầm vi mô, môi trường xã hội bao gồm: gia đình, các
nhóm, các tập thể học tập, lao động, các tập đoàn…tồn tại xung quanh con người
với các quá trình hoạt động giao tiếp của con người.
Môi trường xã hội tác động mạnh mẽ đối với sự hình thành và phát triển của nhân
cách của con người. Trong đó, phát triển kinh tế - xã hội là quá trình nâng cao điều
kiện sống về vật chất và tinh thần của con người thông qua việc sản xuất ra của cải
vật chất, cải tiến quan hệ xã hội, nâng cao chất lượng văn hóa. Trong quá trình tìm
kiếm con đường phát triển, loài người đã nhận ra giữa môi trường và sự phát triển
có mối quan hệ hết sức chặt chẽ: môi trường là địa bàn và đối tượng của sự phát
triển, còn phát triển là nguyên nhân tạo nên các biến đổi của môi trường.
Môi trường xã hội trong bối cảnh hiện nay ở nước ta đang phát triển theo chiều
hướng cực kỳ sôi động và cũng hết sức phức tạp. Lĩnh vực đáng quan tâm trước
hết là những diễn biến của quá trình giao lưu kinh tế, văn hóa và hội nhập. Trong
đó, giao lưu văn hóa đang trở thành chiếc cầu nối tiềm ẩn những sắc thái văn hóa
mới, nhưng cũng đã xuất hiện những mặt trái đáng báo động trong môi trường xã
hội. Sự pha trộn các sắc thái văn hóa khác nhau trong một không gian đối tượng
hưởng thụ có trình độ dân trí chưa cao và chưa đồng đều đã làm nảy sinh những 255
Tạp chí Khoa học 2011:18a 251-257
Trường Đại học Cần Thơ
khuynh hướng không có lợi trong quá trình hình thành nhân cách con người. Các
giá trị đạo đức truyền thống, lối sống, văn hóa của con người Việt Nam đang đối
mặt một cách gay gắt với những tác động tiêu cực của lối sống, văn hóa ngoại lai.
Đó là lối sống thực dụng, thác loạn, tự do cá nhân, tôn thờ đồng tiền, bất chấp đạo
lý, coi thường các giá trị thuần phong mỹ tục của dân tộc, chà đạp lên tình nghĩa
gia đình, quan hệ thầy trò, tình đồng chí, đồng nghiệp. Lối sống thực dụng, vị kỷ
đang dẫn đến thái độ bàng quan, sống thờ ơ, lạnh nhạt với cộng đồng và những
người xung quanh. Điều đó làm cho mối liên kết giữa các nhân và cộng đồng, giữa
con người với con người trở nên lỏng lẻo, đi ngược lại truyền thống “tương thân,
tương ái” của dân tộc. Đây là một trong những thách thức lớn đối môi trường sống
của con người Việt Nam trong bối cảnh hiện nay. Do vậy, vấn đề đặt ra trong hiện
tại và tương lai cho các thế hệ Việt Nam là cần đặc biệt quan tâm giữ gìn, nâng cao
bản sắc văn hóa dân tộc, kế thừa và phát huy truyền thống đạo đức, tập quán tốt
đẹp, ý thức về cội nguồn và lòng tự hào dân tộc, có khả năng đề kháng chống lại
những căn bệnh do sự “ô nhiễm” của môi trường xã hội gây ra.
Bên cạnh sự “xuống cấp” của môi trường văn hóa Việt Nam trong tiến trình giao
lưu và hội nhập, đó là sự phá vỡ của môi trường xã hội bởi các loại tệ nạn xã hội
về mại dâm, ma túy, cờ bạc, số đề, mê tín dị đoan…cùng với các loại tội phạm giết
người, cướp của, xâm hại tình dục trẻ em… Hậu quả là cấu trúc gia đình, làng xã
bị phá vỡ, xã hội rơi vào tâm trạng bất an. Tệ nạn xã hội và tội phạm ảnh hưởng
xấu đến sức khỏe và đạo đức con người, làm tan vỡ hạnh phúc gia đình, làm rối
loạn trật tự xã hội, suy thoái giống nòi, dân tộc. Môi trường xã hội Việt Nam thật
sự bất ổn về nhiều mặt qua nhiều sự kiện gần đây như vụ một người phụ nữ nghèo
ở Buôn Ma Thuộc đi mót hạt cà phê trong một trang trại bị người quản lý của trang
trại bỏ mặc cho đàn chó dữ cắn xé đến chết, cho đến vụ án hiệu trưởng một trường
trung học phổ thông ở tỉnh Hà Giang, ông Sầm Đức Xương mua dâm hàng loạt nữ
sinh đang còn ở tuổi vị thành niên…
Hiện nay, tệ nạn xã hội và tội phạm ở nước ta đang có chiều hướng gia tăng trên
quy mô lớn, có tổ chức tinh vi. Đáng lưu ý là tội phạm ở nhóm người có chức
quyền, tội tham nhũng trong bộ máy của Đảng và Nhà nước từ Trung ương đến cơ
sở khi thực hiện chức năng, chức quyền được giao đã tìm cách lợi dụng, chức
năng, chức quyền đó để tự cho phép làm trái pháp luật, chính sách, chế độ của Nhà
nước và bằng cách đó thu lợi bất chính cho bản thân hoặc cho tổ chức mà họ là
thành viên. Ngoài ra, còn có nhóm tội phạm do buôn gian bán lận, buôn lậu, trốn
thuế, quỵch nợ, biển thủ, làm hàng giả hàng dỏm, nạn thất nghiệp, nghèo đói, lười
lao động, thích ăn chơi, đua đòi, bị sa đà, bị lôi kéo… Nếu để các nhóm này tiếp
tục tồn tại và phát triển thì đó sẽ là một tai họa, một nguy cơ của sự suy thoái đạo
đức, lối sống con người Việt Nam hiện nay.
Do đời sống kinh tế nước ta còn khó khăn, cùng với sự tác động của kinh tế thị
trường, trong xã hội còn xuất hiện khuynh hướng “thương mại hóa” trên nhiều lĩnh
vực giáo dục, y tế, văn hóa, nghệ thuật…nhằm mục đích thu lợi, không bảo đảm
chất lượng và không mang lại những giá trị đích thực. Điều này góp phần làm tổn
hại nặng nề đến môi trường sư phạm và sức khỏe cộng đồng, làm hoen ố các quan
hệ con người, làm tha hóa đạo đức và nhân cách, làm suy giảm và lệch hướng mức
độ và khả năng hấp thụ các giá trị tinh thần của con người. 256
Tạp chí Khoa học 2011:18a 251-257
Trường Đại học Cần Thơ 5 KẾT LUẬN
Con người và môi trường có mối quan hệ chặt chẽ. Con người sống trong môi
trường nào thì chịu sự tác động qua lại của môi trường đó. Trong mối quan hệ với
môi trường tự nhiên, con người lựa chọn tạo dựng môi trường sống của mình từ
môi trường tự nhiên, tận dụng khai thác tài nguyên thiên nhiên, các yếu tố môi
trường nhằm phục vụ cuộc sống của mình. Môi trường tự nhiên quy định cách thức
tồn tại và phát triển của con người. Con người tác động vào môi trường tự nhiên
theo hướng tích cực và tiêu cực. Trong mối quan hệ tương tác, môi trường tự nhiên
làm nền tảng cho cuộc sống của con người. Nếu con người biết giới hạn để vừa sử
dụng vừa bảo vệ môi trường tự nhiên thì mối quan hệ ngày càng bền chặt và tồn tại
lâu dài. Ngược lại, môi trường tự nhiên sẽ tiếp tục bị tàn phá nếu con người không
có biện pháp cụ thể để bảo vệ nó. Trong mối quan hệ với môi trường xã hội, con
người là nhân tố trung tâm, tham gia và chi phối môi trường xã hội. Ngược lại, môi
trường xã hội là nền tảng căn bản trong sự phát triển nhân cách con người. Môi
trường xã hội tốt, con người sống sẽ được hòa nhập vào môi trường, được hưởng
đầy đủ các giá trị do môi trường xã hội mang lại. Mặt trái của môi trường xã hội
đó là sự suy thoái về đạo đức, lối sống, sự tiêm nhiễm văn hóa ngoại lai, các loại tệ
nạn xã hội, tội phạm và các biểu hiện lệch lạc khác. Để bảo đảm cho sự phát triển
bền vững, đòi hỏi phải duy trì mối quan hệ thân thiện giữa con người và môi
trường, ngăn chặn những tác động tiêu cực của con người tới môi trường tự nhiên và xã hội. TÀI LIỆU THAM KHẢO
Bảo Vũ, “Nạn phá rừng”, tochucgiaodiem@yahoo.com&giaodiem@giaodiem.com
Đinh Hùng Tuấn, “Sự suy giảm giá trị đạo đức hiện nay”, http://www.chung ta.com/Desktop.aspx
Mai Huỳnh Nam, “Những vấn đề xã hội học trong công cuộc đổi mới”, Nxb. Chính trị quốc gia, HN.2006
Nguyễn Duy Quý, “Đạo đức xã hội ở nước ta hiện nay - Vấn đề và giải pháp”, Tạp chí Giáo
dục thời đại, http://www.gdtd.vn/channel/3004/2009/06/1711162.
Trần Đắc Hiến, “Ô nhiễm môi trường ở nước ta hiện nay - Thực trạng và giải pháp”, Tạp chí
Khu công nghiệp Việt Nam. 257