vietnam medical journal n
0
2 - SEPTEMBER - 2023
328
MỨC ĐỘ CĂNG THẲNG VÀ CÁC YẾU TỐ LIÊN QUAN
Ở PHỤ NỮ MẮC UNG THƯ ĐIỀU TRỊ Ở MỘT SỐ BỆNH VIỆN
TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HÀ NỘI
Nguyễn Thị Hoa Huyền
1
, Đỗ Thu Quyên
5
, Nguyễn Thị Thúy Hồng
3
,
Nguyễn Thị Hà
4
, Trần Thị Thanh Thuỷ
2
, Trần Thị Nhạn
2
,
Hồ Hoàng Thu Phương
2
, Bùi Khánh Linh
1,5
TÓM TẮT
78
Mục tiêu: (1) Mô tả tình trạng căng thẳng (2)
xác định một số yếu tố tương quan đến tình trạng
căng thẳng của phụ nữ mắc ung thư đang điều trị
một số bệnh viện trên địa bàn Thành phố Nội. Đối
tượng phương pháp nghiên cứu: t cắt
ngang trên 214 phụ nữ ung thư đang điều trị tại một
số bệnh viện trên địa bàn thành phố Nội, trong
khoảng thời gian từ tháng 8 đến tháng 10 năm 2022.
Sử dụng bộ câu hỏi perceived stress scale (PSS) để
đánh giá tình trạng căng thẳng của người bệnh. Kết
quả: Điểm trung bình về tình trạng căng thẳng của
phụ nữ mắc ung thư 14.37 với độ lệch chuẩn
5.16. Các yếu tố về trình độ học vấn và việc làm
mối liên quan với tình trạng căng thẳng phụ nữ mắc
ung thư, với p < 0.05. Kết luận: Phụ nữ mắc ung thư
tham gia trong nghiên cứu mức độ căng thẳng
trung bình cao hơn so với dân số nói chung. Một số
yếu tố như trình độ học vấn, việc làm có mối tương
quan tới trạng thái căng thẳng người bệnh. Các
chương trình can thiệp hỗ trợ nhằm giảm nguy
căng thẳng cho phụ nữ mắc ung thư hoàn toàn cần
thiết. Các chương trình này nên quan tâm hơn đến
nhóm phụ nữ trình độ học vấn tốt nghiệp trung
học cơ sở và lao động chân tay.
Từ khoá:
Tình trạng căng thẳng, yếu tố tương
quan, phụ nữ mắc ung thư.
SUMMARY
STRESS LEVEL AND RELATED FACTORS IN
WOMEN WITH CANCER TREATED IN SOME
HOSPITALS IN HANOI CITY
Objective: (1) To determine stress levels and (2)
to identify some factors associated with stress levels
among women with cancer. Method: A cross-
sectional study design was conducted on 214 women
with cancer being treated at some hospitals allocated
in Hanoi City, from August to October in 2023. The
Perceived Stress Scale (PSS) was used to assess
women's stress levels. Results: The average stress
1
Trường Đại học VinUni
2
Bệnh viện Vinmec Times City
3
Bệnh viện K
4
Bệnh viện Phụ sản Hà Nội
5
Trường Đại học Y Hà Nội
Chu trách nhim chính: Nguyễn Thị Hoa Huyền
Email: huyenqut@gmail.com
Ngày nhn bài: 4.7.2023
Ngày phn bin khoa hc: 21.8.2023
Ngày duyt bài: 11.9.2023
score of women with cancer was 14.37 with standard
deviation was 5.16. Education and employment factors
were associated with stress levels among women with
cancer, p < 0.05. Conclusion: The women with
cancer in the study had higher average stress levels
than the general population. Education, employment
factors were correlated with the stress state in women
with cancer. Supportive intervention programs aimed
at reducing stress for women with cancer are
absolutely needed. These programs should pay more
attention to the group of women with secondary
education and manual labor.
Keywords:
Stress,
related factors, women with cancer.
I. ĐẶT VẤN ĐỀ
Ung thư một bệnh không lây nhiễm sự
gia tăng về tỷ lệ mắc tỷ lệ tử vong ngày càng
cao, gây ra gánh nặng về sức khỏe kinh tế
không chỉ cho người bệnh gia đình còn
cho cả hội [1]. Theo quan nghiên cứu ung
thư quốc tế, ung thư vú, ung thư phụ khoa
huyết học những bệnh ung thư phổ biến nhất
phụ nữ với tỷ lệ lần lượt 20,6%, 16,3%
9% [2], chiếm 56% tất c các trường hợp mới
được chẩn đoán vào năm 2019 [1]. Trong mười
năm qua, tỷ lệ sống sót 5 năm sau điều trị ung
thư Hoa Kỳ, Châu Âu Việt Nam lần lượt
khoảng 83,9%, 79-93% và 80-90% [3]. Do đó,
việc hỗ trợ cho những người bệnh sống sót sau
ung thư cần thiết để giúp họ thích nghi với
trạng thái bình thường mới cải thiện tình
trạng sức khỏe của họ. Nghiên cứu trong
ngoài nước đã cho thấy, phụ nsau điều trị ung
thư đều nguy các rối loạn vsức khỏe
thể chất tinh thần do tác động của các liệu
pháp điều trị bệnh [4]. Trong đó, tác động
qua lại giữa căng thẳng tâm tình trạng sức
khoẻ đã được nhiều nhà nghiên cứu quan m
[4]. Mặc dù, phnữ sau điều trị ung thư thường
phải đối mặt với các nguy rối loạn sức khỏe
tinh thần cao n nam giới [5], chưa nhiều
nghiên cứu tại Việt Nam quan m đến sức khỏe
tinh thần nhóm người bệnh này. Nghiên cứu
này được tiến hành với mục tiêu: (1) tả tình
trạng căng thẳng (2) xác định một số yếu tố
tương quan đến nh trạng căng thẳng của phụ
nữ mắc ung thư đang điều trị một số bệnh
viện trên địa bàn Thành phố Hà Nội.
TP CHÍ Y häc viÖt nam tP 530 - th¸ng 9 - 2 - 2023
329
II. ĐI TƯNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CU
2.1. Đối tượng nghiên cứu: Phnữ sau
điều trị ung ttại các bệnh viện trên địa bàn
thành phố Hà Nội.
2.2. Phương pháp nghiên cứu: Nghiên
cứu mô tả cắt ngang.
2.3. Mẫu nghiên cứu. Chọn mẫu thuận
tiện trong khoảng thời gian từ tháng 8 đến tháng
10 năm 2022. Người bệnh được chẩn đoán ung
thư điều trị tại bệnh viện K, bệnh viện Ph
Sản Hà Nội, Bệnh viện Đại Học Y Nội bệnh
viện Đa Khoa Quốc tế Vinmec Times City.
2.4. Tiêu chí lựa chọn
- Đã kết thúc ít nhất 1 đợt điều trị ung thư
trong 6 tháng gần đây.
- Đồng ý tham gia nghiên cứu.
2.5. Tiêu chí loại trừ
- Phụ nữ bị khuyết tật hoặc/ được chẩn
đoán mắc bệnh tâm thần mãn tính.
2.6. Thu thập số liệu và phương pháp
đo lường, cách đánh giá
2.6.1. Thu thập số liệu:
Số liệu nghiên cứu
được thu thập bằng bộ u hỏi phỏng vấn trực
tiếp giữa điều tra viên đối tượng tham gia
nghiên cứu. Những người tham gia sẽ mất
khoảng 15 phút để hoàn thành.
2.6.2. Phương pháp đo lường, cách
đánh giá.
Mức đ căng thẳng được đánh giá
bằng thang đo t đánh giá về căng thẳng cảm
xúc - perceived stress scale 10 (PSS 10) được
phát triển bởi tác giả Cohen cộng sự, được
đánh giá tính giá trị, độ tin cậy cao với
Cronbach's Alpha 0.85 [13]. Thang đo đánh
giá mức độ căng thẳng cảm xúc (PSS 10) gồm
10 câu hỏi. Điểm của mỗi câu được đánh giá
theo thang đo Likert 5 mức độ, với 0 - không
bao giờ, 1 - hầu như không bao giờ, 2 - đôi khi,
3 - khá thường xuyên, 4 - rất thường xuyên. Để
tính tổng điểm PSS-10, chúng tôi đảo ngược các
câu trả lời của câu 4, 5, 7 8 theo hướng dẫn
tính điểm của c giả bộ câu hỏi này. Điểm s
được tính từ 0 đến 40, điểm càng cao cho thấy
mức độ căng thẳng càng cao.
2.7. Xử phân tích số liệu. Số liệu
được xử lý bằng phần mềm SPSS 28. Thống
đơn biến sử dụng thống tả, tần suất, tỷ lệ
phần trăm, giá trị trung nh, độ lệch chuẩn. Do
các biến liên tục đều phân bố chuẩn, để xác định
mối liên quan giữa biến liên tục biến phân
loại, phương pháp thống kê sử dụng gồm
kiểm định t - test kiểm định ANOVA. Các giả
định của các phép kiểm này được kiểm tra
nghiêm ngặt trước khi phân tích. Độ tin cậy các
test sử dụng là 95%.
2.8. Đạo đức nghiên cứu. Nghiên cứu
được thông qua bởi Hội đồng Khoa học, Hội
đồng Đạo đức trong Nghiên cứu Y sinh học
Bệnh viện Đa Khoa Quốc tế Vinmec Times City
(số 75/2022/QĐ-VMEC ngày 26 tháng 7 năm
2022). Các thông tin thu thập không định danh
đối tượng tham gia nghiên cứu, thông tin thu
thập được chỉ sử dụng cho mục đích nghiên cứu.
III. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
3.1. Đặc điểm của đối tượng nghiên cứu
Bảng 1: Đặc điểm của đối tượng nghiên
cứu (n = 214)
Đặc điểm
N
Tỉ lệ %
Tuổi (M ± SD)
50.61 ± 10.83
Khu vực sinh
sống
Thành thị
Nông thôn
121
56.5%
43.5%
Tôn giáo
Phật Giáo
Công Giáo
Tin Lành
Khác
187
87.4%
8.4%
3.3%
0.9%
Trình độ học
vấn cao nhất
Tiểu học
THCS
THPT
Đại học/Cao đẳng
6
2.8%
19.6%
25.7%
51.9%
Nghề nghiệp
Không đi làm
Lao động chân tay
Lao động trí óc
28
13.1%
41.6%
45.3%
Tình trạng
hôn nhân
Độc thân
Ly dị/Góa
Kết hôn/Sống cùng
như vợ chồng
10
4.7%
7.9%
87.4%
Thu nhập
trung bình
hàng tháng
(triệu đồng)*
< 2Tr
2 - 8Tr
8 - 24Tr
> 24Tr
113
52.8%
24.3%
20.6%
2.3%
Người hỗ trợ
chính trong
gia đình
Không ai cả
Chồng
Bố mẹ chồng
Bố mẹ đẻ
Người giúp việc
Khác
44
20.6%
44.4%
3.7%
2.8%
2.3%
26.2%
Có bảo hiểm y tế
211
98.6%
Không hút thuốc
212
99.1%
Không uống rượu/bia
212
99.1%
Có tập thể dục/vận động
171
79.9%
Gia đình có người mắc ung thư
58
27.1%
*Phân chia mức thu nhập theo bộ chiến lược và
chính sách tài chính Việt Nam
Nhận t:
Bảng 1 cho thấy, tuổi trung bình
của đối tượng nghiên cứu 50.61 ± 10.83. Hầu
hết, các đối tượng đến từ thành thị chiếm
56.4%. Đa số đối tượng theo đạo phật với tỷ lệ
87.6%. Về trình độ học vấn, 51.9% đối tượng
đã tốt nghiệp đại học, 25.7% tốt nghiệp THPT,
22.4% chỉ tốt nghiệp THCS trở xuống. Phần lớn
vietnam medical journal n
0
2 - SEPTEMBER - 2023
330
đối tượng có công việc chiếm 86.9%. Đối tượng
tham gia đã kết hôn chiếm 87.4%. Mức thu nhập
trung bình của đối tượng tham gia chủ yếu
mức dưới 2 triệu/ tháng chiếm 52.8%. Khi được
hỏi về người hỗ trợ chính trong gia đình, phần
lớn đối tượng trả lời chồng người hỗ trợ chính
chiếm tỷ lệ 50.0%. Đa số đối tượng tham gia
(98.6%) bảo hiểm y tế. Hầu hết, đối tượng
không hút thuốc không uống rượu/ bia với tỉ
lệ 99.1%. Đối tượng tham gia nghiên cứu
tập thể dục thường xuyên chiếm 79.9%. Tỷ lệ
đối tượng nghiên cứu gia đình tiền sử mắc
ung thư chiếm 27.1%.
3.2. Đặc điểm về thông tin bệnh
Biểu đồ 1: Phân loại ung thư
Nhận xét:
Ung thư loại ung thư phổ
biến nhất chiếm tỉ lệ 84.4%. Tiếp theo ung
thư ctử cung ung thư buồng trứng với tỉ lệ
lần lượt 2.8% 1.4%. Các loại ung thư khác
chiếm 11.7%.
Biểu đồ 2: Phân bố của các giai đoạn ung thư
Nhận xét:
Hơn 50% người tham gia nghiên
cứu cho biết họ đang giai đoạn đầu của bệnh.
Tiếp đó là giai đoạn 2 của bệnh ung thư chiếm tỷ
lệ 36.9%. c giai đoạn 3, giai đoạn 4 lần lượt
chiếm tỷ lệ là 9.8% và 2.8%.
3.3. nh trạng căng thẳng của phnữ
mắc ung thư
Bảng 2: Tình trạng căng thẳng của phụ nữ mắc ung thư
Nội dung
Khoảng
điểm
Trung
bình
Độ lệch
chuẩn
Buồn bã bởi vì điều gì đó xảy ra đột ngột không?
0-4
0.99
1.06
Cảm thấy không thể kiểm soát những điều quan trọng trong cuộc đời mình
không?
0-4
0.54
0.77
Cảm thấy hồi hộp và căng thẳng không?
0-4
1.2
1.03
Cảm thấy tự tin về khả năng xử lý vấn đề của mình không?
0-4
2.56
1.35
Cảm thấy sự việc diễn ra theo ý mình không?
0-4
2.48
1.2
Cảm thấy không thể đương đầu với những điều mà mình phải làm không?
0-4
0.67
0.88
Kiểm soát được những rắc rối của mình không?
0-4
2.41
1.45
Cảm thấy mọi thứ đang xảy ra rất tốt với mình không?
0-4
2.33
1.37
Giận dữ vì việc gì đó xảy ra ngoài tầm kiểm soát của mình không?
0-4
0.82
1.0
Cảm thấy quá khó khăn đến nỗi mình không thể vượt qua được không?
0-4
0.37
0.76
Trung bình
0-40
14.37
5.16
Nhận xét:
Bảng 2 cho thấy, điểm trung bình
cho tình trạng căng thẳng ở phụ nữ mắc ung thư
mức độ thấp với giá trị trung bình 14.37 ±
5.16. Trong đó, điểm cao nhất (77.6%) thuộc về
mục "cảm thấy khó khăn tới mức không thể vượt
qua được" với đa số đối tượng tham gia không
cảm thấy khó khăn (0.37 ± 0.76). Điểm số thấp
nhất (10.3%) thuộc về mục "cảm thấy tự tin về
khả năng xử vấn đề của mình" với đa số đối
tượng thường xuyên cảm thấy điều này (2.56 ±
1.35).
3.4. Sự khác biệt giữa tình trạng căng
thẳng của người bệnh các đặc điểm
chung
Bảng 3: Mối tương quan giữa tình trạng căng thẳng và đặc điểm của người bệnh
Đặc điểm chung
N
Tình trạng căng thẳng
Hệ số tương
quan
p
Trung bình
Độ lệch chuẩn
Tuổi
dưới 50
trên 50
116
98
10.33
11.37
7.67
6.1
0.015
****c
0.828
TP CHÍ Y häc viÖt nam tP 530 - th¸ng 9 - 2 - 2023
331
Khu vực sinh
sống
Thành thị
Nông thôn
121
93
14.35
14.4
4.8
5.63
-0.071
**a
0.943
Tôn giáo
Phật Giáo
Công Giáo
Tin Lành
Khác
187
17
7
2
14.55
13.72
10.43
17.00
5.14
4.85
6.21
2.82
1.72
***b
0.164
Trình độ học vấn
Tiểu học
THCS
THPT
Đại học/Cao đẳng
6
42
55
111
17.00
15.64
14.76
13.55
2.45
4.17
4.70
13.55
2.46
***b
0.022
Nghề nghiệp
Không đi làm
Lao động chân tay
Lao động trí óc
28
89
97
14.11
15.42
13.48
4.55
4.42
5.8
3.36
***b
0.037
Tình trạng hôn
nhân
Độc thân
Ly dị/ Góa
Kết hôn/ Sống cùng
như vợ chồng
10
17
187
13.8
14.59
14.38
4.8
5.69
5.16
0.076
***b
0.927
Thu nhập trung
bình tháng
< 2Tr
2 - 8Tr
8 - 24Tr
> 24Tr1
113
52
44
5
14.93
14.77
12.7
12.2
4.55
4.89
6.43
6.72
2.41
***b
0.226
Người hỗ trợ
trong gia đình
Không ai cả
Chồng
Bố mẹ chồng
Bố mẹ đẻ
Người giúp việc
Khác
44
95
8
6
5
56
14.43
13.57
14.25
13.67
14.2
15.79
5.34
5.7
3.32
5.43
7.53
3.76
1.335
***b
0.213
Bảo hiểm y tế
Không
3
211
20.00
14.29
2.00
5.15
1.914
**a
0.057
Hút thuốc
Không
212
2
14.35
16.00
5.19
-0.448
**a
0.655
Uống rượu/ bia
Không
212
2
14.35
16.5
5.18
0.71
-0.585
**a
0.559
Tập thể dục/ vận
động
Không
43
171
15.16
14.17
4.49
5.31
1.248
**a
0.216
Tiền sử gia đình
mắc ung thư
Không
156
58
14.34
14.45
5.19
5.14
-0.136
**a
0.892
Đặc điểm bệnh
Loại ung thư
Ung thư vú
Ung thư cổ tử cung
Ung thư buồng trứng
Khác
180
6
3
25
14.46
14.5
7.67
14.52
4.97
7.45
10.02
5.21
1.73
***b
0.163
Giai đoạn bệnh
Giai đoạn 1
Giai đoạn 2
Giai đoạn 3
Giai đoạn 4
108
79
21
6
14.72
13.58
14.52
17.83
4.91
5.37
5.72
3.54
1.702
**b
0.168
**a
kiểm định t-test,
***b
kiểm định one-way anova,
****c
kiểm định pearson
Nhận xét:
Bảng 3 cho thấy, trình độ học
vấn có mối tương quan với tình trạngng thẳng
phụ nữ (p< 0.05). Phân tích post hoc test cho
thấy, sự khác biệt ý nghĩa thống giữa
nhóm đối tượng trình độ học vấn mức THCS
với đối tượng hình độ học vấn mức cao đẳng/
đại học với đối tượng trình độ THCS mức
độ căng thẳng cao hơn so với nhóm đối tượng
trình độ học vấn mức cao đẳng/ đại học với điểm
trung bình lần lượt 15.64 13.55 (p = 0.09).
Nghề nghiệp cũng mối tương quan với mức
độ căng thẳng phụ nữ với p = 0.037. Đối
vietnam medical journal n
0
2 - SEPTEMBER - 2023
332
tượng lao động chân tay mức căng thẳng cao
hơn đối tượng lao động t óc với giá trị trung
bình 15.42 và 13.48. Không mối tương
quan giữa mức độ căng thẳng với nơi sinh sống,
tôn giáo, tình trạng hôn nhân, lối sống, tiền s
gia đình, loại bệnh và giai đoạn bệnh (p > 0.05).
IV. BÀN LUẬN
Nghiên cứu về tình trạng căng thẳng của ph
nữ được tiến hành trên 214 phụ nmắc ung thư
đang điều trị tại một số bệnh viện trên địa n
Tp. Nội. Kết quả cho thấy, độ tuổi trung bình
của đối tượng nghiên cứu 50,66 ± 10,8 tuổi.
Đối tượng chủ yếu trong nghiên cứu này đến từ
thành thvới 56,54% có trình độ học vấn tốt
nghiệp đại học trở nên với 51,9%, điều này giải
thích cho công việc, 45,3% người tham gia
lao động trí óc. Loại ung t phổ biến nhất
ung thư chiếm 84,1%. Nghiên cứu cũng cho
thấy, hầu hết người tham gia đang giai đoạn 1
và 2 chiếm 87.4%. Do khác bối cảnh nghiên cứu,
nghiên cứu của Alagizy cho kết quả, người bệnh
ở giai đoạn muộn chiếm 67.2% [7].
Nghiên cứu này cho thấy, điểm trung bình về
tình trạng căng thẳng của phụ nữ mắc ung thư
14.37 điểm. Kết quả này thấp hơn so với nghiên
cứu phụ nữ ung thư vú được thực hiện bởi
Soria Reyes cho kết quả với điểm căng thẳng
19.15 [8]. Sự khác biệt này thể do đối
tượng phụ nữ tham gia khảo sát trong nghiên
cứu của chúng tôi được điều trị ngoại trú, không
trực tiếp nằm viện nên chịu áp lực căng thẳng ít
hơn. Tuy nhiên, kết quả của nghiên cứu này cao
hơn so với báo cáo của Cohen Williamson
trong dân số nói chung với điểm căng thẳng
trung nh 13,02 điểm [6]. Mặc dù, kết quả
này cho thấy phụ nmắc ung tnói chung
mức độ ng thẳng thấp hơn so với phụ nmắc
ung thư nói riêng. Nhưng mức độ căng thẳng
trung bình cao hơn so với dân số nói chung; cho
thấy việc hỗ trợ phụ nữ mắc ung thư trong quản
lý các căng thẳng nói riêng và sức khỏe tâm thần
nói chung là hoàn toàn cần thiết.
Nghiên cứu này cho thấy, các yếu tố về trình
độ học vấn và việc làm mối liên quan với tình
trạng căng thẳng ở phụ nmắc ung thư, với p <
0.05. Trong đó, phụ nữ trình độ học vấn mức
THCS mức độ căng thẳng cao hơn những ph
nữ trình độ học vấn mức cao đẳng/ đại học
(15.64 và 13.55, p = 0.09). Kết quả này phù hợp
với nghiên cứu phụ nữ ung thư được thực
hiện bởi Alagizy cho kết quả phụ nữ trình độ
học vấn tốt nghiệp cao đẳng/ đại học mức độ
căng thẳng thấp hơn so với phụ nữ trình độ
học vấn mức thấp (p < 0.05) [7]. Điều này
cũng thể được giải thích bởi trên thực tế
những bệnh nhân có trình độ học vấn cao hơn
hội nhận thức n về bệnh của họ các
khía cạnh liên quan đến tình trạng sức khỏe [7].
Kết quả cũng chỉ ra rằng phụ nữ lao động trí óc
ít gặp phải tình trạng căng thẳng hơn so với phụ
nữ lao động chân tay với giá trị trung bình 15.42
và 13.48 (p < 0.05). Nghiên cứu này cho kết quả
khác so với nghiên cứu ở phụ nữ mắc ung thư vú
được thực hiện bởi Hassan Alagizyl, cho thấy
những phụ nữ không việc làm/ không đi làm
gặp phải các vấn đề về căng thẳng cao hơn so
với phụ nữ việc m (p = 0.001, p = 0.003)
[7-9]. Cho thấy, việc tiếp tục thực hiện nghiên
cứu trên diện rộng nhằm c định mối tương
quan giữa việc làm tình trạng căng thẳng
phụ nữ mắc ung thư là hoàn toàn cần thiết.
V. KẾT LUẬN
Kết quả nghiên cứu của chúng tôi cho thấy,
giá trị trung bình về mức độ căng thẳng phụ
nữ mắc ung t cao hơn so với dân số nói
chung. Một syếu tố như trình độ học vấn, việc
làm mối tương quan tới trạng thái căng thẳng
phụ nữ mắc ung thư. Do đó việc xây dựng
những chương trình hỗ tr chăm sóc sức khỏe
tinh thần quản các vấn đề căng thẳng nên
được xây dựng chú trọng đến nhóm phụ nữ
mắc ung thư trình độ học vấn mức THCS
lao động chân tay nhằm hỗ trợ họ giảm các nguy
căng thẳng các vấn đề sức khỏe tinh thần
sau điều trị ung thư.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Teo, I., et al., The relationship between
symptom prevalence, body image, and quality of
life in Asian gynecologic cancer patients.
Psycho‐oncology, 2018. 27(1): p. 69-74.
2. Salama, M., A. Anazodo, and T. Woodruff,
Preserving fertility in female patients with
hematological malignancies: a multidisciplinary
oncofertility approach. Annals of Oncology, 2019.
30(11): p. 1760-1775
3. Tính, N.T. and L.T.T. Hiền, Kết quả sống thêm
một số yếu tố liên quan trên bệnh nhân ung
thư vú bộ ba âm tính được điều trị bổ trợ phác
đồ 4AC-4 TAXANE. TNU Journal of Science and
Technology, 2019. 197(04): p. 183-190.
4. N., Ironson, G., & Siegel, S. D. (2005). Stress
and health: psychological, behavioral, and
biological determinants. Annual review of clinical
psychology, 1, 607628.
5. Roy, K., Riba, M.B. (2020). Cancer in Women
and Mental Health. In: Chandra, P., Herrman, H.,
Fisher, J., Riecher-Rössler, A. (eds) Mental Health
and Illness of Women. Mental Health and Illness
Worldwide. Springer, Singapore. https:// doi.org/
10.1007/978-981-10-2369-9_19
TP CHÍ Y häc viÖt nam tP 530 - th¸ng 9 - 2 - 2023
333
6. Cohen S, Kessler RC, Gordon LU. Measuring
stress: A guide for health and social scientists.
Oxford; New York: 1995.
7. Alagizy, H.A., Soltan, M.R., Soliman, S.S. et
al. Anxiety, depression and perceived stress
among breast cancer patients: single institute
experience. Middle East Curr Psychiatry 27, 29 (2020).
8. Soria-Reyes, L. M., Cerezo, M. V., Alarcón,
R., & Blanca, M. J. (2023). Psychometric
properties of the perceived stress scale (pss-10)
with breast cancer patients. Stress and health :
journal of the International Society for the
Investigation of Stress, 39(1), 115124. https://
doi.org/ 10.1002/ smi.3170
KHO SÁT NỒNG ĐỘ ĐƯNG HUYT VÀ YU T LIÊN QUAN
ĐẾN NỒNG ĐỘ ĐƯNG HUYT BỆNH NHÂN ĐỘT QU NÃO NNG
Nguyn Th Ngc Hân
1
, Phm Thu Thùy
1
Đoàn Thị Kim Châu
1
, Ngô Đức Lc
1
, Hà Tấn Đức
2
TÓM TT
79
Mc tiêu: Kho sát nồng độ đưng huyết yếu
t liên quan đến nồng đ đưng huyết bnh nhân
đột qu não nng. Đối tượng phương pháp
nghiên cu: Nghiên cu t ct ngang thc hin
trên 72 bệnh nhân đột qu não nng vào vin ti khoa
Đột qu, Bnh viện Đa khoa Trung ương Cần Thơ từ
tháng 06/2020 đến tháng 04/2022. Kết qu: Tui
trung bình ca bnh nhân trong nghiên cu
65,1±16,1, trong đó tlệ nhồi máu não chiếm đa số
với 55,6%. Trung vị điểm GCS NIHSS lần lượt 8
24 điểm. đến 59,7% bệnh nhân đột qu o
nặng có tăng đưng huyết và có 19 bệnh nhân là tăng
đưng huyết cn kim soát vi insulin truyền tĩnh
mạch. Chưa ghi nhận được mi liên quan gia nng
độ đưng huyết và GCS cùng thời điểm (p = 0,063).
Nồng độ đưng huyết liên quan vi tình trạng đái
tháo đường sn (p = 0,029). Kết lun: Tăng
đưng huyết tình trạng thường gp nhng bnh
nhân đột qu não nng. Nng độ đưng huyết mi
liên quan vi tình trạng đái tháo đường sn có.
T khóa:
đưng huyết, đột qu não nng.
SUMMARY
INVESTIGATION OF BLOOD GLUCOSE
LEVEL AND RELATED FACTORS AMONG
SEVERE STROKE PATIENTS
Objectives: To investigate blood glucose levels
and factors related to blood glucose concentration
among severe stroke patients. Materials and
methods: A cross-sectional study was performed on
72 patients with severe stroke admitted to the Stroke
Department, Can Tho Central General Hospital from
June 2020 to April 2022. Results: The average age of
patients was 65.1±16.1, in which the percentage of
ischemic stroke accounted for the majority at 55.6%.
The median GCS and NIHSS scores were 8 and 24
1
Trường Đại học Y Dược Cần Thơ
2
Bnh viện Đa khoa Trung ương Cần Thơ
Chu trách nhim chính: Nguyn Th Ngc Hân
Email: ntngochan@ctump.edu.vn
Ngày nhn bài: 3.7.2023
Ngày phn bin khoa hc: 16.8.2023
Ngày duyt bài: 8.9.2023
points, respectively. Up to 59.7% of patients with
severe stroke had hyperglycemia, and 19 patients had
to be controlled with insulin infusion. There was no
statistically significant association between blood
glucose levels and GCS (p = 0.063). Blood glucose
levels were related to pre-existing diabetes status (p =
0.029). Conclusion: Hyperglycemia is a common
condition in patients with severe stroke. Blood glucose
concentration was significantly associated with
diabetes status.
Keywords:
blood glucose level, severe stroke.
I. ĐẶT VẤN ĐỀ
Tăng đưng huyết tình trng tương đi
ph biến trong giai đon cp tính của đột qu,
xy ra c nhng bnh nhân hay không
đái tháo đường trước đó, với tn sut khong
30-40% nhng bnh nhân nhi máu não
43-59% nhng bnh nhân xut huyết não
[1],[3]. Nghiên cu in vivo nhn thấy, tăng
đưng huyết làm tăng cường s phá v hàng rào
máu não, thúc đy quá trình chết ca tế bào
thn kinh din tiến phù não [7]. Cùng vi
tui, gii, tình trạng đái tháo đường sn
mức độ nghiêm trng của đột qu, nhiu nghiên
cu ghi nhn, nồng đ đưng huyết tăng khi
nhp viện liên quan đến ng tỷ l t vong,
kết cc xấu sau đt qu đt qu tái phát
[4],[5]. Tuy nhiên, kết qu này còn chưa đng
nht gia các nghiên cu khác nhau. tác gi
li cho rng, nồng độ đường huyết lúc nhập viện
càng tăng không đồng nghĩa với đột quỵ mức độ
càng nặng mà nồng độ đường huyết lúc chỉ đơn
thuần phản ánh sự đáp ứng của thể đối với
stress. vậy, chúng tôi tiến hành thực hiện đ
tài này với mục tiêu:
Kho sát nồng đ đưng
huyết yếu t liên quan đến nồng độ đưng
huyết bệnh nhân đột qu não nng”.
II. ĐI TƯNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CU
2.1. Đối tượng nghiên cu. Tt c nhng
bệnh nhân đột qu não nng vào điu tr ti

Preview text:

vietnam medical journal n02 - SEPTEMBER - 2023
MỨC ĐỘ CĂNG THẲNG VÀ CÁC YẾU TỐ LIÊN QUAN
Ở PHỤ NỮ MẮC UNG THƯ ĐIỀU TRỊ Ở MỘT SỐ BỆNH VIỆN
TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HÀ NỘI
Nguyễn Thị Hoa Huyền1, Đỗ Thu Quyên5, Nguyễn Thị Thúy Hồng3,
Nguyễn Thị Hà4, Trần Thị Thanh Thuỷ2, Trần Thị Nhạn2,
Hồ Hoàng Thu Phương2, Bùi Khánh Linh1,5 TÓM TẮT
score of women with cancer was 14.37 with standard 78
Mục tiêu: (1) Mô tả tình trạng căng thẳng và (2)
deviation was 5.16. Education and employment factors
xác định một số yếu tố tương quan đến tình trạng
were associated with stress levels among women with
căng thẳng của phụ nữ mắc ung thư đang điều trị ở
cancer, p < 0.05. Conclusion: The women with
một số bệnh viện trên địa bàn Thành phố Hà Nội. Đối
cancer in the study had higher average stress levels
tượng và phương pháp nghiên cứu: Mô tả cắt
than the general population. Education, employment
ngang trên 214 phụ nữ ung thư đang điều trị tại một
factors were correlated with the stress state in women
số bệnh viện trên địa bàn thành phố Hà Nội, trong
with cancer. Supportive intervention programs aimed
khoảng thời gian từ tháng 8 đến tháng 10 năm 2022.
at reducing stress for women with cancer are
Sử dụng bộ câu hỏi perceived stress scale (PSS) để
absolutely needed. These programs should pay more
đánh giá tình trạng căng thẳng của người bệnh. Kết
attention to the group of women with secondary
quả: Điểm trung bình về tình trạng căng thẳng của
education and manual labor. Keywords: Stress,
phụ nữ mắc ung thư là 14.37 với độ lệch chuẩn là
related factors, women with cancer.
5.16. Các yếu tố về trình độ học vấn và việc làm có I. ĐẶT VẤN ĐỀ
mối liên quan với tình trạng căng thẳng ở phụ nữ mắc
ung thư, với p < 0.05. Kết luận: Phụ nữ mắc ung thư
Ung thư là một bệnh không lây nhiễm có sự
tham gia trong nghiên cứu có mức độ căng thẳng
gia tăng về tỷ lệ mắc và tỷ lệ tử vong ngày càng
trung bình cao hơn so với dân số nói chung. Một số
cao, gây ra gánh nặng về sức khỏe và kinh tế
yếu tố như trình độ học vấn, việc làm có mối tương
không chỉ cho người bệnh và gia đình mà còn
quan tới trạng thái căng thẳng ở người bệnh. Các
cho cả xã hội [1]. Theo Cơ quan nghiên cứu ung
chương trình can thiệp hỗ trợ nhằm giảm nguy cơ
thư quốc tế, ung thư vú, ung thư phụ khoa và
căng thẳng cho phụ nữ mắc ung thư là hoàn toàn cần
thiết. Các chương trình này nên quan tâm hơn đến
huyết học là những bệnh ung thư phổ biến nhất
nhóm phụ nữ có trình độ học vấn tốt nghiệp trung
ở phụ nữ với tỷ lệ lần lượt là 20,6%, 16,3% và
học cơ sở và lao động chân tay.
9% [2], chiếm 56% tất cả các trường hợp mới
Từ khoá: Tình trạng căng thẳng, yếu tố tương
được chẩn đoán vào năm 2019 [1]. Trong mười
quan, phụ nữ mắc ung thư.
năm qua, tỷ lệ sống sót 5 năm sau điều trị ung SUMMARY
thư ở Hoa Kỳ, Châu Âu và Việt Nam lần lượt là
STRESS LEVEL AND RELATED FACTORS IN
khoảng 83,9%, 79-93% và 80-90% [3]. Do đó,
WOMEN WITH CANCER TREATED IN SOME
việc hỗ trợ cho những người bệnh sống sót sau
ung thư là cần thiết để giúp họ thích nghi với
HOSPITALS IN HANOI CITY
Objective: (1) To determine stress levels and (2)
trạng thái bình thường mới và cải thiện tình
to identify some factors associated with stress levels
trạng sức khỏe của họ. Nghiên cứu trong và
among women with cancer. Method: A cross-
ngoài nước đã cho thấy, phụ nữ sau điều trị ung
sectional study design was conducted on 214 women
thư đều có nguy cơ có các rối loạn về sức khỏe
with cancer being treated at some hospitals allocated
thể chất và tinh thần do tác động của các liệu
in Hanoi City, from August to October in 2023. The
pháp điều trị và bệnh [4]. Trong đó, tác động
Perceived Stress Scale (PSS) was used to assess
women's stress levels. Results: The average stress
qua lại giữa căng thẳng tâm lý và tình trạng sức
khoẻ đã được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm
[4]. Mặc dù, phụ nữ sau điều trị ung thư thường
1Trường Đại học VinUni
phải đối mặt với các nguy cơ rối loạn sức khỏe
2Bệnh viện Vinmec Times City
tinh thần cao hơn nam giới [5], chưa nhiều 3Bệnh viện K
nghiên cứu tại Việt Nam quan tâm đến sức khỏe
4Bệnh viện Phụ sản Hà Nội
tinh thần ở nhóm người bệnh này. Nghiên cứu
5Trường Đại học Y Hà Nội
này được tiến hành với mục tiêu: (1) Mô tả tình
Chịu trách nhiệm chính: Nguyễn Thị Hoa Huyền Email: huyenqut@gmail.com
trạng căng thẳng và (2) xác định một số yếu tố Ngày nhận bài: 4.7.2023
tương quan đến tình trạng căng thẳng của phụ
Ngày phản biện khoa học: 21.8.2023
nữ mắc ung thư đang điều trị ở một số bệnh Ngày duyệt bài: 11.9.2023
viện trên địa bàn Thành phố Hà Nội. 328
TẠP CHÍ Y häc viÖt nam tẬP 530 - th¸ng 9 - sè 2 - 2023
II. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.8. Đạo đức nghiên cứu. Nghiên cứu
2.1. Đối tượng nghiên cứu: Phụ nữ sau được thông qua bởi Hội đồng Khoa học, Hội
điều trị ung thư tại các bệnh viện trên địa bàn đồng Đạo đức trong Nghiên cứu Y sinh học
thành phố Hà Nội.
Bệnh viện Đa Khoa Quốc tế Vinmec Times City
2.2. Phương pháp nghiên cứu: Nghiên (số 75/2022/QĐ-VMEC ngày 26 tháng 7 năm
cứu mô tả cắt ngang.
2022). Các thông tin thu thập không định danh
2.3. Mẫu nghiên cứu. Chọn mẫu thuận đối tượng tham gia nghiên cứu, thông tin thu
tiện trong khoảng thời gian từ tháng 8 đến tháng thập được chỉ sử dụng cho mục đích nghiên cứu.
10 năm 2022. Người bệnh được chẩn đoán ung III. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
thư và điều trị tại bệnh viện K, bệnh viện Phụ
3.1. Đặc điểm của đối tượng nghiên cứu
Sản Hà Nội, Bệnh viện Đại Học Y Hà Nội và bệnh
Bảng 1: Đặc điểm của đối tượng nghiên
viện Đa Khoa Quốc tế Vinmec Times City. cứu (n = 214)
2.4. Tiêu chí lựa chọn Đặc điểm N Tỉ lệ %
- Đã kết thúc ít nhất 1 đợt điều trị ung thư Tuổi (M ± SD) 50.61 ± 10.83 trong 6 tháng gần đây. Khu vực sinh Thành thị 121 56.5%
- Đồng ý tham gia nghiên cứu. sống Nông thôn 93 43.5%
2.5. Tiêu chí loại trừ Phật Giáo 187 87.4%
- Phụ nữ bị khuyết tật hoặc/ và được chẩn Công Giáo 18 8.4%
đoán mắc bệnh tâm thần mãn tính. Tôn giáo Tin Lành 7 3.3%
2.6. Thu thập số liệu và phương pháp Khác 2 0.9%
đo lường, cách đánh giá Tiểu học 6 2.8%
2.6.1. Thu thập số liệu: Số liệu nghiên cứu Trình độ học THCS 42 19.6%
được thu thập bằng bộ câu hỏi phỏng vấn trực vấn cao nhất THPT 55 25.7%
tiếp giữa điều tra viên và đối tượng tham gia
Đại học/Cao đẳng 111 51.9%
nghiên cứu. Những người tham gia sẽ mất Không đi làm 28 13.1%
khoảng 15 phút để hoàn thành.
Nghề nghiệp Lao động chân tay 89 41.6%
2.6.2. Phương pháp đo lường, cách Lao động trí óc 97 45.3%
đánh giá. Mức độ căng thẳng được đánh giá Độc thân Tình trạng Ly dị/Góa 10 4.7%
bằng thang đo tự đánh giá về căng thẳng cảm
hôn nhân Kết hôn/Sống cùng 17 7.9%
xúc - perceived stress scale 10 (PSS 10) được như vợ chồng 187 87.4%
phát triển bởi tác giả Cohen và cộng sự, được Thu nhập < 2Tr 113 52.8%
đánh giá tính giá trị, độ tin cậy cao với trung bình 2 - 8Tr 52 24.3%
Cronbach's Alpha là 0.85 [13]. Thang đo đánh hàng tháng 8 - 24Tr 44 20.6%
giá mức độ căng thẳng cảm xúc (PSS 10) gồm (triệu đồng)* > 24Tr 5 2.3%
10 câu hỏi. Điểm của mỗi câu được đánh giá Không ai cả 44 20.6%
theo thang đo Likert 5 mức độ, với 0 - không Người hỗ trợ Chồng 95 44.4%
bao giờ, 1 - hầu như không bao giờ, 2 - đôi khi, chính trong Bố mẹ chồng 8 3.7%
3 - khá thường xuyên, 4 - rất thường xuyên. Để gia đình Bố mẹ đẻ 6 2.8%
tính tổng điểm PSS-10, chúng tôi đảo ngược các Người giúp việc 5 2.3%
câu trả lời của câu 4, 5, 7 và 8 theo hướng dẫn Khác 56 26.2%
tính điểm của tác giả bộ câu hỏi này. Điểm số Có bảo hiểm y tế 211 98.6%
được tính từ 0 đến 40, điểm càng cao cho thấy Không hút thuốc 212 99.1%
mức độ căng thẳng càng cao. Không uống rượu/bia 212 99.1%
Có tập thể dục/vận động 171 79.9%
2.7. Xử lý và phân tích số liệu. Số liệu
Gia đình có người mắc ung thư 58 27.1%
được xử lý bằng phần mềm SPSS 28. Thống kê
*Phân chia mức thu nhập theo bộ chiến lược và
đơn biến sử dụng thống kê mô tả, tần suất, tỷ lệ
chính sách tài chính Việt Nam
phần trăm, giá trị trung bình, độ lệch chuẩn. Do
Nhận xét: Bảng 1 cho thấy, tuổi trung bình
các biến liên tục đều phân bố chuẩn, để xác định của đối tượng nghiên cứu là 50.61 ± 10.83. Hầu
mối liên quan giữa biến liên tục và biến phân
loại, phương pháp thống kê sử dụng gồm có hết, các đối tượng đến từ thành thị chiếm
kiểm định t - test và kiểm định ANOVA. Các giả 56.4%. Đa số đối tượng theo đạo phật với tỷ lệ
định của các phép kiểm này được kiểm tra là 87.6%. Về trình độ học vấn, 51.9% đối tượng
nghiêm ngặt trước khi phân tích. Độ tin cậy các đã tốt nghiệp đại học, 25.7% tốt nghiệp THPT,
test sử dụng là 95%.
22.4% chỉ tốt nghiệp THCS trở xuống. Phần lớn 329
vietnam medical journal n02 - SEPTEMBER - 2023
đối tượng có công việc chiếm 86.9%. Đối tượng
Nhận xét: Ung thư vú là loại ung thư phổ
tham gia đã kết hôn chiếm 87.4%. Mức thu nhập biến nhất chiếm tỉ lệ 84.4%. Tiếp theo là ung
trung bình của đối tượng tham gia chủ yếu ở thư cổ tử cung và ung thư buồng trứng với tỉ lệ
mức dưới 2 triệu/ tháng chiếm 52.8%. Khi được lần lượt là 2.8% và 1.4%. Các loại ung thư khác
hỏi về người hỗ trợ chính trong gia đình, phần chiếm 11.7%.
lớn đối tượng trả lời chồng là người hỗ trợ chính
chiếm tỷ lệ 50.0%. Đa số đối tượng tham gia
(98.6%) có bảo hiểm y tế. Hầu hết, đối tượng
không hút thuốc và không uống rượu/ bia với tỉ
lệ là 99.1%. Đối tượng tham gia nghiên cứu có
tập thể dục thường xuyên chiếm 79.9%. Tỷ lệ
đối tượng nghiên cứu có gia đình có tiền sử mắc ung thư chiếm 27.1%.
3.2. Đặc điểm về thông tin bệnh
Biểu đồ 2: Phân bố của các giai đoạn ung thư
Nhận xét: Hơn 50% người tham gia nghiên
cứu cho biết họ đang ở giai đoạn đầu của bệnh.
Tiếp đó là giai đoạn 2 của bệnh ung thư chiếm tỷ
lệ 36.9%. Các giai đoạn 3, giai đoạn 4 lần lượt
chiếm tỷ lệ là 9.8% và 2.8%.
3.3. Tình trạng căng thẳng của phụ nữ mắc ung thư
Biểu đồ 1: Phân loại ung thư
Bảng 2: Tình trạng căng thẳng của phụ nữ mắc ung thư Nội dung
Khoảng Trung Độ lệch điểm bình chuẩn
Buồn bã bởi vì điều gì đó xảy ra đột ngột không? 0-4 0.99 1.06
Cảm thấy không thể kiểm soát những điều quan trọng trong cuộc đời mình không? 0-4 0.54 0.77
Cảm thấy hồi hộp và căng thẳng không? 0-4 1.2 1.03
Cảm thấy tự tin về khả năng xử lý vấn đề của mình không? 0-4 2.56 1.35
Cảm thấy sự việc diễn ra theo ý mình không? 0-4 2.48 1.2
Cảm thấy không thể đương đầu với những điều mà mình phải làm không? 0-4 0.67 0.88
Kiểm soát được những rắc rối của mình không? 0-4 2.41 1.45
Cảm thấy mọi thứ đang xảy ra rất tốt với mình không? 0-4 2.33 1.37
Giận dữ vì việc gì đó xảy ra ngoài tầm kiểm soát của mình không? 0-4 0.82 1.0
Cảm thấy quá khó khăn đến nỗi mình không thể vượt qua được không? 0-4 0.37 0.76 Trung bình 0-40 14.37 5.16
Nhận xét: Bảng 2 cho thấy, điểm trung bình nhất (10.3%) thuộc về mục "cảm thấy tự tin về
cho tình trạng căng thẳng ở phụ nữ mắc ung thư khả năng xử lý vấn đề của mình" với đa số đối
ở mức độ thấp với giá trị trung bình là 14.37 ± tượng thường xuyên cảm thấy điều này (2.56 ±
5.16. Trong đó, điểm cao nhất (77.6%) thuộc về 1.35).
mục "cảm thấy khó khăn tới mức không thể vượt
3.4. Sự khác biệt giữa tình trạng căng
qua được" với đa số đối tượng tham gia không thẳng của người bệnh và các đặc điểm
cảm thấy khó khăn (0.37 ± 0.76). Điểm số thấp chung
Bảng 3: Mối tương quan giữa tình trạng căng thẳng và đặc điểm của người bệnh Đặc điểm chung N
Tình trạng căng thẳng Hệ số tương quan p
Trung bình Độ lệch chuẩn Tuổi dưới 50 116 10.33 7.67 trên 50 98 11.37 6.1 0.015****c 0.828 330
TẠP CHÍ Y häc viÖt nam tẬP 530 - th¸ng 9 - sè 2 - 2023 Khu vực sinh Thành thị 121 14.35 4.8 sống Nông thôn 93 14.4 5.63 -0.071**a 0.943 Phật Giáo 187 14.55 5.14 Tôn giáo Công Giáo 17 13.72 4.85 Tin Lành 7 10.43 6.21 1.72***b 0.164 Khác 2 17.00 2.82 Tiểu học 6 17.00 2.45 Trình độ học vấn THCS 42 15.64 4.17 THPT 55 14.76 4.70 2.46***b 0.022 Đại học/Cao đẳng 111 13.55 13.55 Không đi làm 28 14.11 4.55 Nghề nghiệp Lao động chân tay 89 15.42 4.42 3.36***b 0.037 Lao động trí óc 97 13.48 5.8 Độc thân 10 13.8 4.8 Tình trạng hôn Ly dị/ Góa 17 14.59 5.69 nhân Kết hôn/ Sống cùng 187 14.38 5.16 0.076***b 0.927 như vợ chồng < 2Tr 113 14.93 4.55 Thu nhập trung 2 - 8Tr 52 14.77 4.89 bình tháng 8 - 24Tr 44 12.7 6.43 2.41***b 0.226 > 24Tr1 5 12.2 6.72 Không ai cả 44 14.43 5.34 Chồng 95 13.57 5.7 Người hỗ trợ Bố mẹ chồng 8 14.25 3.32 trong gia đình Bố mẹ đẻ 6 13.67 5.43 1.335***b 0.213 Người giúp việc 5 14.2 7.53 Khác 56 15.79 3.76 Bảo hiểm y tế Không 3 20.00 2.00 Có 211 14.29 5.15 1.914**a 0.057 Hút thuốc Không 212 14.35 5.19 Có 2 16.00 — -0.448**a 0.655 Uống rượu/ bia Không 212 14.35 5.18 Có 2 16.5 0.71 -0.585**a 0.559 Tập thể dục/ vận Không 43 15.16 4.49 động Có 171 14.17 5.31 1.248**a 0.216 Tiền sử gia đình Không 156 14.34 5.19 mắc ung thư Có 58 14.45 5.14 -0.136**a 0.892 Đặc điểm bệnh Ung thư vú 180 14.46 4.97 Loại ung thư Ung thư cổ tử cung 6 14.5 7.45 Ung thư buồng trứng 3 7.67 10.02 1.73***b 0.163 Khác 25 14.52 5.21 Giai đoạn 1 108 14.72 4.91 Giai đoạn bệnh Giai đoạn 2 79 13.58 5.37 Giai đoạn 3 21 14.52 5.72 1.702**b 0.168 Giai đoạn 4 6 17.83 3.54
**a kiểm định t-test, ***b kiểm định one-way anova, ****c kiểm định pearson
Nhận xét: Bảng 3 cho thấy, trình độ học đại học với đối tượng có trình độ THCS có mức
vấn có mối tương quan với tình trạng căng thẳng độ căng thẳng cao hơn so với nhóm đối tượng có
ở phụ nữ (p< 0.05). Phân tích post hoc test cho trình độ học vấn mức cao đẳng/ đại học với điểm
thấy, có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa trung bình lần lượt là 15.64 và 13.55 (p = 0.09).
nhóm đối tượng có trình độ học vấn mức THCS Nghề nghiệp cũng có mối tương quan với mức
với đối tượng có hình độ học vấn mức cao đẳng/ độ căng thẳng ở phụ nữ với p = 0.037. Đối 331
vietnam medical journal n02 - SEPTEMBER - 2023
tượng lao động chân tay có mức căng thẳng cao học vấn ở mức thấp (p < 0.05) [7]. Điều này
hơn đối tượng lao động trí óc với giá trị trung cũng có thể được giải thích bởi trên thực tế
bình là 15.42 và 13.48. Không có mối tương những bệnh nhân có trình độ học vấn cao hơn có
quan giữa mức độ căng thẳng với nơi sinh sống, cơ hội nhận thức rõ hơn về bệnh của họ và các
tôn giáo, tình trạng hôn nhân, lối sống, tiền sử khía cạnh liên quan đến tình trạng sức khỏe [7].
gia đình, loại bệnh và giai đoạn bệnh (p > 0.05).
Kết quả cũng chỉ ra rằng phụ nữ lao động trí óc
ít gặp phải tình trạng căng thẳng hơn so với phụ IV. BÀN LUẬN
nữ lao động chân tay với giá trị trung bình 15.42
Nghiên cứu về tình trạng căng thẳng của phụ và 13.48 (p < 0.05). Nghiên cứu này cho kết quả
nữ được tiến hành trên 214 phụ nữ mắc ung thư khác so với nghiên cứu ở phụ nữ mắc ung thư vú
đang điều trị tại một số bệnh viện trên địa bàn được thực hiện bởi Hassan và Alagizyl, cho thấy
Tp. Hà Nội. Kết quả cho thấy, độ tuổi trung bình những phụ nữ không có việc làm/ không đi làm
của đối tượng nghiên cứu là 50,66 ± 10,8 tuổi. gặp phải các vấn đề về căng thẳng cao hơn so
Đối tượng chủ yếu trong nghiên cứu này đến từ với phụ nữ có việc làm (p = 0.001, p = 0.003)
thành thị với 56,54% và có trình độ học vấn tốt [7-9]. Cho thấy, việc tiếp tục thực hiện nghiên
nghiệp đại học trở nên với 51,9%, điều này giải cứu trên diện rộng nhằm xác định mối tương
thích cho công việc, có 45,3% người tham gia là quan giữa việc làm và tình trạng căng thẳng ở
lao động trí óc. Loại ung thư phổ biến nhất là phụ nữ mắc ung thư là hoàn toàn cần thiết.
ung thư vú chiếm 84,1%. Nghiên cứu cũng cho
thấy, hầu hết người tham gia đang ở giai đoạn 1 V. KẾT LUẬN
và 2 chiếm 87.4%. Do khác bối cảnh nghiên cứu,
Kết quả nghiên cứu của chúng tôi cho thấy,
nghiên cứu của Alagizy cho kết quả, người bệnh giá trị trung bình về mức độ căng thẳng ở phụ
ở giai đoạn muộn chiếm 67.2% [7].
nữ mắc ung thư cao hơn so với dân số nói
Nghiên cứu này cho thấy, điểm trung bình về chung. Một số yếu tố như trình độ học vấn, việc
tình trạng căng thẳng của phụ nữ mắc ung thư là làm có mối tương quan tới trạng thái căng thẳng
14.37 điểm. Kết quả này thấp hơn so với nghiên ở phụ nữ mắc ung thư. Do đó việc xây dựng
cứu ở phụ nữ ung thư vú được thực hiện bởi những chương trình hỗ trợ chăm sóc sức khỏe
Soria Reyes cho kết quả với điểm căng thẳng là tinh thần và quản lý các vấn đề căng thẳng nên
19.15 [8]. Sự khác biệt này có thể là do đối được xây dựng và chú trọng đến nhóm phụ nữ
tượng phụ nữ tham gia khảo sát trong nghiên mắc ung thư có trình độ học vấn mức THCS và
cứu của chúng tôi được điều trị ngoại trú, không lao động chân tay nhằm hỗ trợ họ giảm các nguy
trực tiếp nằm viện nên chịu áp lực căng thẳng ít cơ căng thẳng và các vấn đề sức khỏe tinh thần
hơn. Tuy nhiên, kết quả của nghiên cứu này cao sau điều trị ung thư.
hơn so với báo cáo của Cohen và Williamson
trong dân số nói chung với điểm căng thẳng TÀI LIỆU THAM KHẢO
trung bình là 13,02 điểm [6]. Mặc dù, kết quả 1. Teo, I., et al., The relationship between
symptom prevalence, body image, and quality of
này cho thấy phụ nữ mắc ung thư nói chung có
life in Asian gynecologic cancer patients.
mức độ căng thẳng thấp hơn so với phụ nữ mắc
Psycho‐oncology, 2018. 27(1): p. 69-74.
ung thư vú nói riêng. Nhưng mức độ căng thẳng 2. Salama, M., A. Anazodo, and T. Woodruff,
trung bình cao hơn so với dân số nói chung; cho
Preserving fertility in female patients with
hematological malignancies: a multidisciplinary
thấy việc hỗ trợ phụ nữ mắc ung thư trong quản
oncofertility approach. Annals of Oncology, 2019.
lý các căng thẳng nói riêng và sức khỏe tâm thần 30(11): p. 1760-1775
nói chung là hoàn toàn cần thiết.
3. Tính, N.T. and L.T.T. Hiền, Kết quả sống thêm
Nghiên cứu này cho thấy, các yếu tố về trình
và một số yếu tố liên quan trên bệnh nhân ung
thư vú có bộ ba âm tính được điều trị bổ trợ phác
độ học vấn và việc làm có mối liên quan với tình
đồ 4AC-4 TAXANE. TNU Journal of Science and
trạng căng thẳng ở phụ nữ mắc ung thư, với p <
Technology, 2019. 197(04): p. 183-190.
0.05. Trong đó, phụ nữ có trình độ học vấn mức 4. N., Ironson, G., & Siegel, S. D. (2005). Stress
THCS có mức độ căng thẳng cao hơn những phụ
and health: psychological, behavioral, and
biological determinants. Annual review of clinical
nữ có trình độ học vấn ở mức cao đẳng/ đại học psychology, 1, 607–628.
(15.64 và 13.55, p = 0.09). Kết quả này phù hợp 5. Roy, K., Riba, M.B. (2020). Cancer in Women
với nghiên cứu ở phụ nữ ung thư vú được thực
and Mental Health. In: Chandra, P., Herrman, H.,
hiện bởi Alagizy cho kết quả phụ nữ có trình độ
Fisher, J., Riecher-Rössler, A. (eds) Mental Health
học vấn tốt nghiệp cao đẳng/ đại học có mức độ
and Illness of Women. Mental Health and Illness
Worldwide. Springer, Singapore. https:// doi.org/
căng thẳng thấp hơn so với phụ nữ có trình độ 10.1007/978-981-10-2369-9_19 332
TẠP CHÍ Y häc viÖt nam tẬP 530 - th¸ng 9 - sè 2 - 2023
6. Cohen S, Kessler RC, Gordon LU. Measuring
8. Soria-Reyes, L. M., Cerezo, M. V., Alarcón,
stress: A guide for health and social scientists.
R., & Blanca, M. J. (2023). Psychometric Oxford; New York: 1995.
properties of the perceived stress scale (pss-10)
7. Alagizy, H.A., Soltan, M.R., Soliman, S.S. et
with breast cancer patients. Stress and health :
al. Anxiety, depression and perceived stress
journal of the International Society for the
among breast cancer patients: single institute
Investigation of Stress, 39(1), 115–124. https://
experience. Middle East Curr Psychiatry 27, 29 (2020). doi.org/ 10.1002/ smi.3170
KHẢO SÁT NỒNG ĐỘ ĐƯỜNG HUYẾT VÀ YẾU TỐ LIÊN QUAN
ĐẾN NỒNG ĐỘ ĐƯỜNG HUYẾT Ở BỆNH NHÂN ĐỘT QUỴ NÃO NẶNG
Nguyễn Thị Ngọc Hân1, Phạm Thu Thùy1
Đoàn Thị Kim Châu1, Ngô Đức Lộc1, Hà Tấn Đức2 TÓM TẮT
points, respectively. Up to 59.7% of patients with 79
Mục tiêu: Khảo sát nồng độ đường huyết và yếu
severe stroke had hyperglycemia, and 19 patients had
tố liên quan đến nồng độ đường huyết ở bệnh nhân
to be controlled with insulin infusion. There was no
đột quỵ não nặng. Đối tượng và phương pháp
statistically significant association between blood
nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cắt ngang thực hiện
glucose levels and GCS (p = 0.063). Blood glucose
trên 72 bệnh nhân đột quỵ não nặng vào viện tại khoa
levels were related to pre-existing diabetes status (p =
Đột quỵ, Bệnh viện Đa khoa Trung ương Cần Thơ từ
0.029). Conclusion: Hyperglycemia is a common
tháng 06/2020 đến tháng 04/2022. Kết quả: Tuổi
condition in patients with severe stroke. Blood glucose
trung bình của bệnh nhân trong nghiên cứu là
concentration was significantly associated with
65,1±16,1, trong đó tỷ lệ nhồi máu não chiếm đa số diabetes status.
với 55,6%. Trung vị điểm GCS và NIHSS lần lượt là 8
Keywords: blood glucose level, severe stroke.
và 24 điểm. Có đến 59,7% bệnh nhân đột quỵ não I. ĐẶT VẤN ĐỀ
nặng có tăng đường huyết và có 19 bệnh nhân là tăng
đường huyết cần kiểm soát với insulin truyền tĩnh
Tăng đường huyết là tình trạng tương đối
mạch. Chưa ghi nhận được mối liên quan giữa nồng
phổ biến trong giai đoạn cấp tính của đột quỵ,
độ đường huyết và GCS ở cùng thời điểm (p = 0,063).
xảy ra ở cả những bệnh nhân có hay không có
Nồng độ đường huyết có liên quan với tình trạng đái
đái tháo đường trước đó, với tần suất khoảng
tháo đường sẵn có (p = 0,029). Kết luận: Tăng
30-40% ở những bệnh nhân nhồi máu não và
đường huyết là tình trạng thường gặp ở những bệnh
nhân đột quỵ não nặng. Nồng độ đường huyết có mối
43-59% ở những bệnh nhân xuất huyết não
liên quan với tình trạng đái tháo đường sẵn có.
[1],[3]. Nghiên cứu in vivo nhận thấy, tăng
Từ khóa: đường huyết, đột quỵ não nặng.
đường huyết làm tăng cường sự phá vỡ hàng rào
máu não, thúc đẩy quá trình chết của tế bào SUMMARY
thần kinh và diễn tiến phù não [7]. Cùng với
INVESTIGATION OF BLOOD GLUCOSE
tuổi, giới, tình trạng đái tháo đường sẵn có và
LEVEL AND RELATED FACTORS AMONG
mức độ nghiêm trọng của đột quỵ, nhiều nghiên SEVERE STROKE PATIENTS
cứu ghi nhận, nồng độ đường huyết tăng khi
Objectives: To investigate blood glucose levels
and factors related to blood glucose concentration
nhập viện có liên quan đến tăng tỷ lệ tử vong,
among severe stroke patients. Materials and
kết cục xấu sau đột quỵ và đột quỵ tái phát
methods: A cross-sectional study was performed on
[4],[5]. Tuy nhiên, kết quả này còn chưa đồng
72 patients with severe stroke admitted to the Stroke
nhất giữa các nghiên cứu khác nhau. Có tác giả
Department, Can Tho Central General Hospital from
lại cho rằng, nồng độ đường huyết lúc nhập viện
June 2020 to April 2022. Results: The average age of
patients was 65.1±16.1, in which the percentage of
càng tăng không đồng nghĩa với đột quỵ mức độ
ischemic stroke accounted for the majority at 55.6%.
càng nặng mà nồng độ đường huyết lúc chỉ đơn
The median GCS and NIHSS scores were 8 and 24
thuần phản ánh sự đáp ứng của cơ thể đối với
stress. Vì vậy, chúng tôi tiến hành thực hiện đề
tài này với mục tiêu: “Khảo sát nồng độ đường
1Trường Đại học Y Dược Cần Thơ
2Bệnh viện Đa khoa Trung ương Cần Thơ
huyết và yếu tố liên quan đến nồng độ đường
Chịu trách nhiệm chính: Nguyễn Thị Ngọc Hân
huyết ở bệnh nhân đột quỵ não nặng”. Email: ntngochan@ctump.edu.vn Ngày nhận bài: 3.7.2023
II. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Ngày phản biện khoa học: 16.8.2023
2.1. Đối tượng nghiên cứu. Tất cả những Ngày duyệt bài: 8.9.2023
bệnh nhân đột quỵ não nặng vào điều trị tại 333