Năng lực hành vi pháp luật gì? Năng lực hành
vi người chưa thành niên
1. Quy định về năng lực hành vi nhân
Năng lực hành vi của các tổ chức xuất hiện cùng lúc với năng lực pháp luật
vào thời điểm quyết định thành lập hoặc thừa nhận tổ chức đó của
quan n nước thẩm quyền. Năng lực hành vi của các nhân xuất hiện
muộn hơn so với năng lực pháp luật. Nếu năng lực pháp luật nói chung xuất
hiện từ khi con người mới sinh ra, thì năng lực hành vi xuất hiện khi con
người đạt tới độ tuổi nhất định.
Năng lực hành vi chia làm hai loại: năng lực hành vi đầy đủ năng lực hành
vi hạn chế. Năng lực hành vi đầy đủ xuất hiện khi con người đủ 18 tuổi. Tuy
nhiên, khái niệm đầy đủ đây được hiểu theo nghĩa tương đối. Nghĩa vào
lứa tuổi 18 con người thể tham gia vào hầu hết các loại quan hệ pháp luật,
trừ một số quan hệ pháp luật đặc biệt.
dụ: 20 tuổi nam giới mới quyền đăng kết hôn, 21 tuổi công dân mới
quyền ứng cử vào quan quyền lực nhà nước. Nhiều nước quy định 35
tuổi ng dân mới quyền ứng cử tổng thống.
Theo quy định của Bộ luật dân sự năm 2005, người chưa thành niên từ đủ 06
tuổi đến chưa đủ 18 tuổi năng lực hành vi dân sự hạn chế: khi xác lập,
thực hiện các giao dịch dân sự phải được người đại diện theo pháp luật đồng
ý, trừ giao dịch nhằm - phục vụ nhu cầu sinh hoạt hàng ngày phù hợp với lứa
tuổi. Trong trường hợp người từ đ 15 tuổi đến chưa đủ 18 tuổi tài sản
riêng đủ để bảo đảm việc thực hiện nghĩa vụ, thì thể tự mình xác lập, thực
hiện giao dịch dân sự không đòi hỏi sự đồng ý của người đại diện theo
pháp luật, trừ trường hợp pháp luật quy định khác (đó những trường
hợp được quy định tại Điều 22 Bộ luật dân sự năm 2005).
Ngoài lí do chưa đạt độ tuổi pháp luật quy định, công dân từ 18 tuổi trở
lên ng thể b hạn chế năng lực hành vi pháp luật hoặc mất năng lực
hành vi dân sự như trường hợp một người do bị bệnh tâm thần hoặc người
mắc những bệnh khác, Toà án ra quyết định tuyên bố mất năng lực hành vi
dân sự trên sở kết luận của tổ ch Me giám định thẩm quyền. Khi không
còn căn cụ tuyên bố người đó mất năng lực hành vi dân sự tr theo u cầu
của chính người đó, hoặc người quyển, lợi ích liên quan, Toà án ra quyết
định huỷ bẻ quyết định tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự.
Pháp luật ghi nhận các quyền, nghĩa vụ cụ thể cho nhân (năng lực khách
quan) phụ thuộc vào khả năng của mỗi nhân thì mức độ thực hiện các
quyền, nghĩa vụ này cũng khác nhau. Yếu tố này chính năng lực hành vi
dân sự của nhân. Năng lực hành vi dân sự của nhân được luật hoá tại
Điều 19 Bộ luật Dân sự năm 2015 với định nghĩa: "năng lực hành vi khả
năng của nhân bằng hành vi của mình c lập, thực hiện quyền, nghĩa vụ
dân sự'" .
Yếu tố quan trọng nhất của năng lực hành vi của nhân chính khả năng
của chính nhân bằng nh vi của mình thực hiện các quyền, nghĩa vụ
pháp luật ghi nhận cho mình. Khả năng của nhân bằng nh vi của chính
mình lại được thể hiện thông qua sự nhận thức, làm chủ điều khiển nh
vi của nhân đó. Khả năng nhận thức, làm chủ điều khiển hành vi của
nhân thì dựa vào sự phát triển thể chất của nhân. Chính thế, khi quy
định về năng lực hành vi của nhân, các quốc gia thường dựa trên độ tuổi
khả năng nhận thức, làm chủ hành vi. Thông thường, theo sự phát triển độ
tuổi thì thể chất của nhân ngày càng hoàn thiện kéo theo nhận thức,
làm ch hành vi của nhân cũng vậy. Tuy nhiên, nhiều trường họp về
nguyên tắc đã hoàn thiện về nhận thức, tức nhân đã trên 18 tuổi nhưng
do mắc một số bệnh hoặc một nguyên nhân khách quan làm nhân mất
hoặc giảm đi khả năng nhận thức, làm chủ hành vi. Chính vậy, khi xem xét
đến năng lực hành vi của nhân, các nhà làm luật đều xem xét trên hai yếu
tố độ tuổi khả năng nhận thức, làm chủ hành vi.
nhân được chia thành hai nhóm bản: Người thành niên người chưa
thành niên.
2. Năng lực hành vi của người thành niên
Lần đầu tiên, B luật Dân sự ghi nhận các nhân từ đủ 18 tuổi trở lên thuộc
nhóm người thành niên. Người từ đủ 18 tuổi được xác định với mốc nhân
này đã qua sinh nhật tròn 18 tuổi nếu thêm một ngày sau ngày sinh nhật
thì được hiểu đã bước vào độ tuổi 19. Người thành niên đương nhiên suy
đoán người năng lực hành vi dân sự đầy đủ. về nguyên tắc chung,
người năng lực hành vi dân sự đầy đủ sẽ bằng hành vi của chính mình, t
mình xác lập, thực hiện chịu trách nhiệm trong các quan hệ pháp luật dân
sự mình tham gia. Tuy vậy, một số quan hệ pháp luật dân sự ghi nhận
riêng về ng lực pháp luật dẫn đến năng lực hành vi cũng sự khác biệt.
Điển hình quy định độ tuổi được đăng kết hôn dành cho nam giới. Nam
giới từ đủ 20 tuổi trở lên mới quyền kết hôn (Khoản 1 Điều 8 Luật Hôn
nhân gia đình năm 2014).
Người thành niên sẽ không năng lực hành vi n sự đầy đủ nếu thuộc o
các trường hợp riêng biệt theo quy định pháp luật.

Preview text:

Năng lực hành vi pháp luật là gì? Năng lực hành
vi người chưa thành niên
1. Quy định về năng lực hành vi cá nhân
Năng lực hành vi của các tổ chức xuất hiện cùng lúc với năng lực pháp luật
vào thời điểm có quyết định thành lập hoặc thừa nhận tổ chức đó của cơ
quan nhà nước có thẩm quyền. Năng lực hành vi của các cá nhân xuất hiện
muộn hơn so với năng lực pháp luật. Nếu năng lực pháp luật nói chung xuất
hiện từ khi con người mới sinh ra, thì năng lực hành vi xuất hiện khi con
người đạt tới độ tuổi nhất định.
Năng lực hành vi chia làm hai loại: năng lực hành vi đầy đủ và năng lực hành
vi hạn chế. Năng lực hành vi đầy đủ xuất hiện khi con người đủ 18 tuổi. Tuy
nhiên, khái niệm đầy đủ ở đây được hiểu theo nghĩa tương đối. Nghĩa là vào
lứa tuổi 18 con người có thể tham gia vào hầu hết các loại quan hệ pháp luật,
trừ một số quan hệ pháp luật đặc biệt.
Ví dụ: 20 tuổi nam giới mới có quyền đăng kí kết hôn, 21 tuổi công dân mới
có quyền ứng cử vào cơ quan quyền lực nhà nước. Nhiều nước quy định 35
tuổi công dân mới có quyền ứng cử tổng thống.
Theo quy định của Bộ luật dân sự năm 2005, người chưa thành niên từ đủ 06
tuổi đến chưa đủ 18 tuổi có năng lực hành vi dân sự hạn chế: khi xác lập,
thực hiện các giao dịch dân sự phải được người đại diện theo pháp luật đồng
ý, trừ giao dịch nhằm - phục vụ nhu cầu sinh hoạt hàng ngày phù hợp với lứa
tuổi. Trong trường hợp người từ đủ 15 tuổi đến chưa đủ 18 tuổi mà có tài sản
riêng đủ để bảo đảm việc thực hiện nghĩa vụ, thì có thể tự mình xác lập, thực
hiện giao dịch dân sự mà không đòi hỏi có sự đồng ý của người đại diện theo
pháp luật, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác (đó là những trường
hợp được quy định tại Điều 22 Bộ luật dân sự năm 2005).
Ngoài lí do chưa đạt độ tuổi mà pháp luật quy định, công dân từ 18 tuổi trở
lên cũng có thể bị hạn chế năng lực hành vi pháp luật hoặc mất năng lực
hành vi dân sự như trường hợp một người do bị bệnh tâm thần hoặc người
mắc những bệnh khác, Toà án ra quyết định tuyên bố mất năng lực hành vi
dân sự trên cơ sở kết luận của tổ ch Me giám định có thẩm quyền. Khi không
còn căn cụ tuyên bố người đó mất năng lực hành vi dân sự trị theo yêu cầu
của chính người đó, hoặc người có quyển, lợi ích liên quan, Toà án ra quyết
định huỷ bẻ quyết định tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự.
Pháp luật ghi nhận các quyền, nghĩa vụ cụ thể cho cá nhân (năng lực khách
quan) và phụ thuộc vào khả năng của mỗi cá nhân thì mức độ thực hiện các
quyền, nghĩa vụ này cũng khác nhau. Yếu tố này chính là năng lực hành vi
dân sự của cá nhân. Năng lực hành vi dân sự của cá nhân được luật hoá tại
Điều 19 Bộ luật Dân sự năm 2015 với định nghĩa: "năng lực hành vi là khả
năng của cá nhân bằng hành vi của mình xác lập, thực hiện quyền, nghĩa vụ dân sự'"
.
Yếu tố quan trọng nhất của năng lực hành vi của cá nhân chính là khả năng
của chính cá nhân bằng hành vi của mình thực hiện các quyền, nghĩa vụ mà
pháp luật ghi nhận cho mình. Khả năng của cá nhân bằng hành vi của chính
mình lại được thể hiện thông qua sự nhận thức, làm chủ và điều khiển hành
vi của cá nhân đó. Khả năng nhận thức, làm chủ và điều khiển hành vi của cá
nhân thì dựa vào sự phát triển thể chất của cá nhân. Chính vì thế, khi quy
định về năng lực hành vi của cá nhân, các quốc gia thường dựa trên độ tuổi
và khả năng nhận thức, làm chủ hành vi. Thông thường, theo sự phát triển độ
tuổi thì thể chất của cá nhân ngày càng hoàn thiện và kéo theo nhận thức,
làm chủ hành vi của cá nhân cũng vậy. Tuy nhiên, nhiều trường họp về
nguyên tắc đã hoàn thiện về nhận thức, tức là cá nhân đã trên 18 tuổi nhưng
do mắc một số bệnh hoặc một sô nguyên nhân khách quan làm cá nhân mất
hoặc giảm đi khả năng nhận thức, làm chủ hành vi. Chính vì vậy, khi xem xét
đến năng lực hành vi của cá nhân, các nhà làm luật đều xem xét trên hai yếu
tố là độ tuổi và khả năng nhận thức, làm chủ hành vi.
Cá nhân được chia thành hai nhóm cơ bản: Người thành niên và người chưa thành niên.
2. Năng lực hành vi của người thành niên
Lần đầu tiên, Bộ luật Dân sự ghi nhận các cá nhân từ đủ 18 tuổi trở lên thuộc
nhóm người thành niên. Người từ đủ 18 tuổi được xác định với mốc cá nhân
này đã qua sinh nhật tròn 18 tuổi và nếu thêm một ngày sau ngày sinh nhật
thì được hiểu đã bước vào độ tuổi 19. Người thành niên đương nhiên suy
đoán là người có năng lực hành vi dân sự đầy đủ. về nguyên tắc chung,
người có năng lực hành vi dân sự đầy đủ sẽ bằng hành vi của chính mình, tự
mình xác lập, thực hiện và chịu trách nhiệm trong các quan hệ pháp luật dân
sự mà mình tham gia. Tuy vậy, một số quan hệ pháp luật dân sự có ghi nhận
riêng về năng lực pháp luật dẫn đến năng lực hành vi cũng có sự khác biệt.
Điển hình là quy định độ tuổi được đăng ký kết hôn dành cho nam giới. Nam
giới từ đủ 20 tuổi trở lên mới có quyền kết hôn (Khoản 1 Điều 8 Luật Hôn
nhân và gia đình năm 2014).
Người thành niên sẽ không có năng lực hành vi dân sự đầy đủ nếu thuộc vào
các trường hợp riêng biệt theo quy định pháp luật.
Document Outline

  • Năng lực hành vi pháp luật là gì? Năng lực hành vi
    • 1. Quy định về năng lực hành vi cá nhân
    • 2. Năng lực hành vi của người thành niên