



















Preview text:
lOMoAR cPSD| 58702377 Nguyễn Phương Thảo Vũ Hải Yến Nịnh Thị Thảo Nguyễn Thanh Xuân Nguyễn Thị Thanh Trần Thị Thu Trang Nguyễn Tuấn Vũ Nguyễn Thu Trà Trịnh Trọng Thắng Trần Như Quỳnh Vũ Hải Uyên Vũ Thị Mai Phạm Phan Anh Roãn Thị Hương Quỳnh Vũ Thị Thanh Thúy Trần Khương Thành Trần Lan Anh Nguyễn Thị Thi Thơ
BÀI NGHIÊN CỨU XÃ HỘI HỌC PHÁP LUẬT
NHÓM 1.1. Thực Trạng, vấn Nạn Giết Hại Động Và Những Hạn Chế, Bất Cập Tồn Đọng ( Nghiên
cứu được thực hiện ở 3 tỉnh thành lớn của Việt Nam: Hà Nội, TP.HCM và Hải Phòng từ 2020 – 2021 )
1. Lý do chọn đề tài?
- Vấn nạn giết hại động vật hiện nay là một trong những vấn đề gây “nhức nhối” trong dư luận.
- Vấn đề này đang diễn ra trên toàn thế giới nói chung, ở Việt Nam nói riêng và đem lại nhữnghậu
quả tiêu cực cho xã hội và môi trường.
2. Ý nghĩa khi tiến hành nghiên cứu đề tài này?
- Đề tài nghiên cứu có ý nghĩa khoa học
- Đề tài có tính thực tiễn
- Đề tài có tính giáo dục ý thức con người
- Đề tài phù hợp với xã hội
Vì những lí do này mà nhóm 1.1 chọn đề tài “Thực trạng, vấn nạn giết hại động vật và những
hạn chế, bất cập còn tồn đọng” để đưa vào nghiên cứu với mong muốn được nhiều người tiếp cận
sâu hơn và nâng cao nhận thức về vấn đề này. 1.
Tính cấp thiết của đề tài lý do chọn đề tài •
Quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước cùng với sự phát triển mạnh mẽ của nền
kinh tế thị trường đã làm thay đổi nhanh chóng bộ mặt xã hội và con người Việt Nam. Pháp
luật cũng không đứng ngoài dòng chảy của thời đại, cùng với việc tiếp thu tinh hoa của
nhân loại trên thế giới thì Pháp luật Việt Nam đã và đang dần hoàn thiện nhưng vẫn còn
một số bất cập cần được lưu ý. Điển hình trong đó là vấn nạn giết hại động vật đã và đang
diễn ra, thu hút sự quan tâm lớn của toàn xã hội và gây bức xúc dư luận. •
Tại Việt Nam,tình trạng buôn bán,săn bắt trái phép các loài động vật hoang dã trong những
năm gần đây vẫn diễn ra khá sôi động và phức tạp. Số liệu do cơ quan điều tra môi trường
công bố vào năm 2019 cho thấy vào khoảng 15 năm gần đây,trong số các vụ bắt giữ buôn
bán động vật hoang dã tại Việt Nam hoặc liên quan đến Việt Nam có ít nhất 105,72 tấn ngà lOMoAR cPSD| 58702377
voi (khoảng 15,779 cá thể voi);1,69 tấn sừng tê giác (khoảng 610 cá thể tê giác); da,xương
từ ít nhất 228 cá thể hổ, 65610 cá thể tê tê. •
Xuất phát từ vấn nạn trên, chúng tôi đã chọn đề tài nghiên cứu “Thực Trạng, Vấn Nạn Giết
Hại Động Và Những Hạn Chế, Bất Cập Tồn Đọng ”. Đề tài chủ yếu hướng hạn chế trong
việc xử lý chưa triệt để của nhà nước, và ý thức của người dân về vấn đề về vấn đề giết
hại động vật, cụ thể ở 3 thành phố: Hà Nội, Hải Phòng, TP. Hồ Chí Minh. 2.
Câu hỏi nguyên cứu: đặt sau phần ý nghĩa và đưa ra thêm câu hỏi nghiên cứu
Ảnh hưởng của vấn nạn giết hại động vật đối với toàn xã hội ?
- Lý do giết động vật? - …. •
Vấn nạn giết hại động vật đã được xử lý triệt để hay chưa ?
3. Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn 3.1 Ý nghĩa khoa học •
Trong phạm vi nghiên cứu, đề tài không có mục đích đưa ra ý nghĩa mới mà chủ yếu vận
dụng các lý thuyết xã hội học vào để nghiên cứu thực tiễn, để tìm hiểu, xác định những ảnh hưởng
của vấn nạn giết hại động vật đối với toàn xã hội. 3.2 Ý nghĩa thực tiễn •
Từ việc nghiên cứu thực trạng của vấn nạn giết hại động vật, từ đó chỉ ra những bất cập trong
việc xử lý của nhà nước. Qua đó, nâng cao nhận thức của người dân về thực trạng đáng báo động này.
4. Mục đích nghiên cứu •
Tìm hiểu thực trạng của vấn nạn giết hại động vật trong toàn xã hội. •
Tìm hiểu những bất cập trong việc xử lý vấn nạn giết hại động vật •
Giúp người dân nâng cao nhận thức về tầm quan trọng của vấn đề bảo vệ động vật.
5. Đối tượng, khách thể, phạm vi nghiên cứu
5.1 Đối tượng nghiên cứu •
Những thực trạng, vấn nạn giết hại động vật và những hạn chế, bất cập còn tồn đọng.
5.2 Khách thể nghiên cứu •
Người tiêu thụ sản phẩm giết mổ động vật • Lò mổ • Người săn, bắt • Người nuôi động vật 5.3 Phạm vi nghiên cứu •
Thời gian nghiên cứu: Tháng 10 - 11/2021 •
Tài liệu được sử dụng có thời gian từ: 2019 - 2021
6. Phương pháp nghiên cứu
Phân tích tài liệu: lOMoAR cPSD| 58702377
Là một trong những phương pháp thu thập thông tin xã hội học, dựa trên các thông tin có sẵn
trong các tài liệu để rút ra những thông tin cần thiết nhằm đáp ứng những mục tiêu nghiên cứu của
một đề tài nhất định. Đây là phương pháp được sử dụng chủ yếu trong nghiên cứu này.
Đề tài tham khảo một số tài liệu từ Internet báo cáo thực tập, tạp chí, báo,... có liên quan, có cái
nhìn tổng thể, toàn diện về vấn đề nghiên cứu. 7. Khung lý thuyết
Phần II: Nội dung chính
Chương I: Cơ sở lý luận và thực tiễn của đề tài 1.1 Cơ sở lý luận
1.1.1 Phương pháp luận
Trong quá trình nghiên cứu, đề tài đã vận dụng chủ nghĩa duy vật biện chứng để xem xét, đánh
giá các sự kiện xã hội, trong mối quan hệ biện chứng ở một hoàn cảnh cụ thể dựa trên việc kế thừa
quan điểm chủ nghĩa Mác. Đồng thời, chủ nghĩa duy vật lịch sử cũng được vận dụng với tư cách
là phương pháp luận khoa học về nhận thức và giải thích các hiện tượng xã hội. Từ đó chúng ta sẽ
nhìn nhận một cách khách quan các mặt của đời sống xã hội.
1.1.2 Lý thuyết áp dụng ( Chúng em cần sự trợ giúp của cô ạ ! )
Lý thuyết về cơ cấu xã hội của A. Comte
Lý thuyết về sinh học xã hội của H. Spener lOMoAR cPSD| 58702377
Lý thuyết về sự sai lệch xã hội của E. Durkheim
1.2 Tổng quan vấn đề nghiên cứu
Động vật không chỉ có vai trò quan trọng trong thiên nhiên mà còn cả với đời sống con người,
động vật hỗ trợ cho người dân dân trong lao động, giải trí, thể thao,an ninh. Bảo vệ động vật là
một trong những vấn đề cấp thiết hiện nay. Nhiều loại động vật nói chung và động vật hoang dã
nói riêng đang đứng trước bờ vực của sự tuyệt chủng. Chính vì vậy, có rất nhiều đề tài nghiên cứu
khoa học về động vật nhằm đưa ra những chính sách định hướng để bảo vệ chúng khỏi sự săn lùng
của con người. Đây là một thực trạng báo động hiện nay, nó diễn ra ngày càng phổ biến với tính
chất ngày càng phức tạp. Nhưng cho đến nay có rất ít công trình nghiên cứu cụ thể nào về thực
trạng và những bất cập của vấn nạn giết hại động vật. Nói về vấn đề này mới chỉ dừng lại ở những
bài viết qua báo, tạp chí và Internet như: Giải cứu chim trời Cát Bà - Bảo vệ Khu dự trữ sinh quyển thế giới
(Nguồn:https://www.vietnamplus.vn/giai-cuu-chim-troi-cat-ba-bao-ve-khu-du-tru-sinh-quyenthe-
gioi/679600.vnp) (03/12/2020 )
Thực trạng và giải pháp nhằm nâng cao trách nhiệm của cơ quan kiểm lâm trong đảm bảo chấp
hành pháp luật về quản lý, bảo vệ động vật hoang dã quý hiếm
Nguồn:https://tapchitoaan.vn/bai-viet/cong-dan-va-phap-luat-2/thuc-trang-va-giai-phap-
nhamnang-cao-trach-nhiem-cua-co-quan-kiem-lam-trong-dam-bao-chap-hanh-phap-luat-ve-
quan-lybao-ve-dong-vat-hoang-da-quy-hiem
Như vậy, có thể thấy các đề tài nghiên cứu về vấn nạn giết hại động vật còn ở mức độ khiêm
tốn. Trước thực trạng này, chúng tôi đã mạnh dạn lựa chọn đề tài: “Thực trạng về vấn nạn giết hại
động vật; hạn chế và bất cập tồn tại” (xét ở 3 thành phố: Hà Nội, Hải Phòng, TP Hồ Chí Minh).
Nét mới của đề tài này không chỉ làm rõ thực trạng về vấn nạn giết hại động vật mà còn chỉ ra một
số hạn chế, bất cập trong việc xử lý vấn nạn này. Từ đó nâng cao nhận thức người dân về bảo vệ động vật.
1.3 Những khái niệm công cụ: 1.3.1. Thực trạng
Là những gì phản ánh đúng tình trạng thực tế, về trạng thái đã và đang xảy ra của sự vật, sự việc
hay con người tại một khoảng thời gian và không gian nhất định, dùng để ám chỉ những gì đang
xảy ra mang chiều hướng tiêu cực thay vì tích cực. 1.3.2. Bất cập
Bất cập được hiểu là không phù hợp, còn hạn chế, còn nhiều hay những tồn tại, tồn đọng chưa được giải quyết,…
1.3.3. Vấn nạn giết hại động vật
Giết hại động vật hay còn gọi là sát sinh là việc con người tước đi mạng sống của một con vật bằng
nhiều cách thức khác nhau cho dù vô tình hay cố ý làm cho động vật chết đi. Trong nhiều giáo lý
của các tôn giáo cũng không ủng hộ việc giết hại bừa bãi động vật, thậm chí là cấm kỵ.
1.3.1. Giết hại động vật
1.3.2. Thực trạng vấn nạn giết hại động vật lOMoAR cPSD| 58702377 - - -
1.3.3. Bất cập tồn đọng?
1.3.4. Thực trạng và những bất cập còn tồn đọng trong vấn nạn giết hại động vật
NHÓM 1.2: KHÁI QUÁT VÀ THỰC TRẠNG VẤN ĐỀ XÂM HẠI TRẺ EM.
Khái niệm - Xâm hại: khái niệm; hành vi
- Xâm hại trẻ em: khái niệm; hành vi(?); đối tượng (nạn nhân, chủ thể hành vi…) -
Thực trạng xâm hại trẻ em…. A. KHÁI QUÁT
I . Lý do chọn đề tài
"Trẻ em hôm nay, thế giới ngày mai”:
Trẻ em là mầm non tương lai của đất nước, và cũng chính là tương lai của nhân loại, của thế giới,
của mỗi dân tộc, mỗi cộng đồng và mỗi gia đình… Vì vậy việc chăm sóc, giáo dục và bảo vệ trẻ
em là trách nhiệm của toàn xã hội. Để đảm bảo đầy đủ các quyền lợi cho trẻ em ngày 20/11/1989,
Đại hội đồng Liên Hợp Quốc đã phê chuẩn bản công ước về “Quyền trẻ em”.
Với tinh thần “gìn giữ tương lai của đất nước”, Việt Nam là nước đầu tiên ở châu Á và nước thứ
2 trên thế giới phê chuẩn công ước .Tuy nhiên tình trạng xâm hại trẻ em ngày càng gia tăng và
đáng sợ hơn chính là sự xâm hại đến từ các mối quan hệ tưởng chừng vô hại . Đây là hiện tượng
suy thoái về ĐẠO ĐỨC, suy đồi về nhân cách và sự lệch lạc trong nhận thức, lối sống. Hành vi
này không những làm tổn thương về thể xác mà còn khiến tinh thần của các em tổn thương nghiêm
trọng, khiến cuộc sống sau này của trẻ gặp nhiều khó khăn. Xâm hại diễn ra ở rất nhiều địa bàn,
với tất cả các độ tuôi nhưng đại đa số các nạn nhân thường còn quá nhỏ, không đủ nhận thức để
đề phòng nên có những trẻ bị xâm hại mà không thể nhận biết được hành vi sai trái ấy hay không
hoặc biết hành vi xâm hại nhưng có tâm lý sợ hãi, mặc cảm, không dám chia sẻ, tố giác.
Nhóm chọn đề tài bởi : Trẻ em là tương lai của một đất nước, chúng ta cần đặc biệt quan tâm, môi
trường nuôi dạy có lành mạnh, trẻ em có phát triển toàn diện thì đất nước mới có cơ hội trở nên
giàu mạnh. Nắm được đặc điểm này, nhóm chúng em đại diện cho một bộ phận của đất nước, thể
hiện những quan điểm đã được tìm hiểu được, qua đó nhằm đưa ra những giải pháp để khắc phục
những tồn tại không đáng có và đưa ra các hướng giải quyết sao cho phù hợp với hiện thực nhất.
Giúp trẻ em có một môi trường học tập và phát triển thật lành mạnh.
II. Xâm hại trẻ em :
Vậy thì xâm hại trẻ em là gì ?
Có lẽ để hiểu về xâm hại trẻ em, chúng ta cần biết rằng: lOMoAR cPSD| 58702377
Ở đất nước của chúng ta quy định, trẻ em là những người dưới 16 tuổi. Bất kể ai sinh sống trên
lãnh thổ Việt Nam ( người có quốc tịch Việt Nam, không có quốc tịch Việt Nam và không có quốc
tịch sinh sống tại Việt Nam) dưới 16 tuổi đều được coi là trẻ em và được luật pháp Việt Nam bảo vệ.
Xâm hại trẻ em là hành vi của một chủ thể sử dụng các hình thức khác nhau như bạo lực, bóc lột,
xâm hại tình dục gây tổn hại tới thể chất, tinh thần, tâm lý, danh dự, nhân phẩm đối với người dưới 16 tuổi. Từ đó suy ra:
Xâm hại trẻ trẻ em được hiểu là bất cứ hành động (hoặc không nhất thiết là hành động) có chủ ý
và làm tổn thương hoặc gây nguy hại cho trẻ.
Cụ thể xâm hại trẻ em bao gồm các hình thức ngược đãi về thể chất và tinh thần, xâm hại tình dục,
bóc lột gây ra những thương tổn về sức khỏe, tính mạng, khả năng phát triển hay phẩm giá bằng
cách lợi dụng chức phận, lòng tin hoặc quyền hạn.
Dưới góc độ pháp lý, xâm hại trẻ em là hành vi gây tổn hại về thể chất, tình cảm, tâm lý, danh dự,
nhân phẩm của trẻ em dưới các hình thức bạo lực, bóc lột, xâm hại tình dục, mua bán, bỏ rơi, bỏ
mặc trẻ em và các hình thức gây tổn hại khác (theo khoản 5 Điều 4 Luật Trẻ em năm 2016).
III. Các hình thức xâm hại ( đưa vào ppt)
Theo tìm hiểu, hiện nay trẻ em đang bị xâm hại bằng những hình thức: -
Thể chất như ép lao động trái với quy định của pháp luật hay sử dụng trẻ em để trục lợi… -
đây là những hình thức chúng ta có thể dễ dàng bắt gặp nhất. -
Tình dục- Dùng vũ lực, đe dọa dung vũ lực để ép buộc, lôi kéo nạn nhân tham gia các hành
vi liên quan đến tình dục, bao gồm hiếp dâm, cưỡng dâm, giao cấu, dâm ô với trẻ em và sử dụng
trẻ em vào mục đích mại dâm, khiêu dâm với mọi hình thức ( Xâm hại tình dục hiện nay được coi là một vấn nạn) -
Tinh thần: Bạo lực về tinh thần thông qua việc người lớn thường nặng lời, chửi mắng, vô
tâm, không giành tình yêu thương cho trẻ, nói chuyện thô bạo thông qua lời nói có tính chất sỉ
nhục, gào thét, đe doạ, bắt nạt, bắt trẻ chứng kiến những hành vi bạo lực như giết hại động vật, thú cưng, bla bla.... -
Xao nhãng : hành vi xao nhãng là hành vi bỏ mặc, vô tâm, hời hợt của cha mẹ, bắt gặp nhiều
hơn ở những gia đình có cha mẹ làm kinh doanh, sẽ tập trung nhiều vào công việc, đến khi quay
lại thì con cái của họ đã có thời gian dài tiếp xúc với những thứ độc hại trên internet. Những thành
phần xấu nhận được điểm yếu của con trẻ là ít quan tâm, chúng sẽ tạo niềm tin với trẻ bằng nhiều
cách để rồi mua chuộc, dụ dỗ…
IV.Nạn nhân chịu ảnh hưởng của xâm hại trẻ em
-Xâm hại trẻ em gây ra những tổn thương nghiêm trọng và lâu dài cả về thể chất và tâm lý đối với
nạn nhân trẻ em, những tổn thương mà nạn nhân, gia đình nạn nhân phải gánh chịu cụ thể như sau:
- Trẻ em bị xâm hại tình dục hiện đang là một vấn đề đáng lo ngại đối với toàn thể các bậc làm lOMoAR cPSD| 58702377
cha làm mẹ, những gia đình có trẻ nhỏ. Gần đây xuất hiện rất nhiều vụ việc liên quan đến hành vi
xâm hại tình dục đối với những bé gái nhỏ. Những kẻ biến thái đã lợi dụng sự ngây thơ, khờ
dại của các bé để thực hiện hành vi đồi bại, gây ảnh hưởng rất xấu đến đời sống tinh thần của các cháu.
Sau khi bị xâm hại, trẻ em sẽ có xu hướng thu mình lại, và không muốn chia sẻ với bất cứ ai, bên
cạnh đó nạn nhân sẽ bị ảnh hưởng trực tiếp tới tâm lý, sức khỏe như hoảng loạn, suy nhược thần
kinh và nhiều trường hợp đã tự kết liệu mạng sống của mình. -
Trẻ em bị xâm hại đến các quyền cơ bản B. THỰC TRẠNG I.
Trên Thế Giới •
phân tích tổng hợp của WHO từ 65 nghiên cứu tại 22 quốc gia năm 2018 cho thấy, tỷ lệ
xâm hại tình dục cao nhất xảy ra ở châu Phi (34,4%) và châu Á (23,9%), trong khi ở
châu Mỹ và châu Âu lần lượt là 10,1% và 9,2%. Nam Phi là quốc gia có tỷ lệ xâm hại tình
dục ở cả bé gái (43,7%) và bé trai (60,9%) cao nhất thế giới. •
Trên toàn cầu, cứ 7 phút lại có 1 trẻ vị thành niên tử vong do bạo lực. •
Trên toàn thế giới, khoảng 15 triệu trẻ em gái vị thành niên độ tuổi 15-19 từng bị ép quan
hệ tình dục hoặc bị ép tham gia hành vi tình dục. •
Tại 28 quốc gia có dữ liệu, trung bình 90% trẻ em gái vị thành niên từng bị ép quan hệ tình
dục nói rằng thủ phạm của vụ xâm hại đầu tiên là người quen của các em. Dữ liệu từ 6 quốc
gia cho thấy thủ phạm của bạo lực tình dục với trẻ em trai vị thành niên thường là bạn bè,
bạn cùng lớp và bạn tình. II. Việt Nam
-Tại Việt Nam, dù có tiến bộ trong thay đổi quan niệm và thực hành chăm sóc và bảo vệ trẻ em,
nhiều hình thức bạo lực đối với trẻ em như bạo lực thân thể, xâm hại tình dục và lạm dụng lao động vẫn phổ biến.
- Theo báo cáo của Chính phủ, từ ngày 1/1/2015 đến ngày 30/6/2019, có 8.442 vụ xâm hại trẻ em
được phát hiện, xử lý với 8.709 trẻ em bị xâm hại. Trong đó, có 6432 trẻ bị xâm hại tình dục; 857
trẻ bị bạo lực; 106 trẻ bị mua bán, bắt cóc, chiếm đoạt; 1.31 4 trẻ bị xâm hại bằng các hình thức khác.
III. Tình trạng xâm hại trẻ em
1, Tình trạng xâm hại tình dục ở trẻ em:
-Số liệu thống kê năm 2016 của Tổng cục Cảnh sát - Bộ Công an cho thấy, lực lượng Cảnh sát
điều tra tội phạm về trật tự xã hội trên toàn quốc đã phát hiện hơn 1373 vụ xâm hại tình dục trẻ
em, với hơn 1352 đối tượng; trong đó đã khởi tố hàng trăm vụ án hiếp dâm trẻ em (chiếm 30,1%),
với 438 bị can (chiếm 32,3%); 465 vụ án giao cấu với trẻ em (chiếm 33,8%), với 461 bị can (chiếm 34,1%). lOMoAR cPSD| 58702377
- Theo báo cáo tại phiên họp thứ 44 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, trong các vụ xâm hại thì phổ
biến nhất, để lại hậu quả nặng nề, gây bức xúc dư luận nhất là xâm hại tình dục, chiếm 75,4% tổng
số vụ xâm hại trẻ em. Nhiều địa phương, số vụ xâm hại tình dục trẻ em chiếm trên 90% như: Cần
Thơ, Hậu Giang, Kiên Giang, Đồng Nai...
-Năm 2021 trong các ca bị xâm hại tình dục, có 71 ca hiếp dâm trẻ em, chiếm 58,2% (tăng 16 ca
so với cùng kỳ 2020), 51 ca dâm ô trẻ em, chiếm 25,4% (tăng 21 ca so với cùng kỳ năm 2020).
-Năm 2021, tỉ lệ trẻ em bị xâm hại tình dục bởi bạn bè, người quen chiếm 31,1%; bởi người thân
trong gia đình vẫn tương đối cao, chiếm 23,8% (tăng 5,4% so với cùng kỳ năm 2020).
2, Bạo lực gia đình
Trong những năm gần đây tình trạng bạo lực trẻ em trong gia đình ngày một gia tăng cả về số
lượng lẫn mức độ. Đây không còn là một vấn đề của riêng gia đình mà là vấn nạn của xã hội.
-Gia đình vốn được xem là môi trường an toàn nhất với trẻ em, song vừa qua xảy ra nhiều vụ xâm
hại trẻ em ngay tại gia đình. Nhiều địa phương, trẻ em bị xâm hại bởi chính người ruột thịt,
người thân thích chiếm tỷ lệ cao như: Hà Tĩnh 67,6%, Hà Nội 51,9%, Bà Rịa Vũng Tàu
33%... Theo thống kê của Tổng đài 111 (trong tổng số các cuộc gọi đến), số vụ bạo lực trẻ em
do người thân trong gia đình gây ra chiếm tới 65,88%.
- Tỷ lệ trẻ em bị bạo lực trong gia đình tăng 3% so với cùng kỳ năm 2020, đây là điều khiến
chúng ta cần phải xem xét lại về phương pháp giáo dục của cha mẹ/người chăm sóc đối với trẻ em.
3, Bạo lực trẻ em trên không gian mạng
Hiện nay ,hành vi xâm hại trẻ em trên không gian mạng ngày càng nghiêm trọng. •
Như tình trạng các học sinh lợi dụng MXH để công kích, gây sự, thách thức nhau, dùng
bạo lực giải quyết mâu thuẫn. Thậm chí còn quay clip đánh nhau để đăng lên MXH nhằm làm
nhục, bạo hành tinh thần, cô lập đối phương . •
Hình ảnh trẻ em bị xâm hại và bóc lột được ghi, được quay, được chụp và phát tán, tiếp xúc
với nội dung bạo lực, nội dung nhạy cảm, tiếp xúc với nội dung xúi giục tự tử và hành vi tiêu cực khác. •
Dẫn số liệu của Bộ Công an, đại biểu Hoàng Thị Hoa cho biết, trong ba năm vừa qua, lực
lượng công an đã phát hiện và xử lý 156 vụ xâm hại trẻ em trên môi trường mạng. Tuy nhiên, theo
đại biểu, số liệu này chưa phản ánh thực sự bức tranh mà trẻ em bị lạm dụng, bị ảnh hưởng trên môi trường mạng.
*Ngoài các hình thức trẻ em bị xâm hại nêu trên, theo Báo cáo của Chính phủ, từ 1/1/2015 đến
30/6/2019 có 790.518 trẻ em lao động trái pháp luật. Tỷ lệ lao động trẻ em tập trung đông nhất
chủ yếu ở các thành phố lớn, trong đó có Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh. C.
Nguyên nhân và phân tích I.
Nguyên nhân dẫn đến xâm hại trẻ em: lOMoAR cPSD| 58702377 1.
Nguyên nhân khách quan: Yếu tố Xã hội: •
Luật pháp chưa hoàn thiện: Các quy định trong hệ thống luật pháp còn chưa
được đồng bộ. Một số tội danh chế tài xử lý chưa đủ sức răn đe tội phạm, nhiều
khi không tương xứng với hành vi bạo lực cần xử lý. Ví dụ: Luật chưa đưa ra
và xử lý các hành vi xâm hại tình dục trẻ em (không có quy định những hành vi
như nhìn, ngắm, vuốt ve, sờ mó, ôm ấp… là hành vi xâm hại tình dục đối với trẻ em). •
Nhận thức về pháp luật hạn chế: Nhận thức của một bộ phận người dân chưa
đủ về Luật Trẻ em (quyền của trẻ em) và Bộ Luật hình sự 2015. •
Công tác phát hiện, tố giác tội phạm hiện nay còn gặp nhiều khó khăn: một số
trường hợp nạn nhân và gia đình nạn nhân có thái độ bất hợp tác. •
Công tác tuyên truyền phổ biến giáo dục pháp luật cũng như bảo vệ, hỗ trợ trẻ
em ở nhiều nơi chưa đạt hiệu quả tốt. Các chính sách và pháp luật về bảo vệ trẻ
em chưa được tuyên truyền thường xuyên, kịp thời đến với quần chúng nhân dân. •
Mặt trái của sự phát triển, đạo đức xã hội xuống cấp,công nghệ số ngày càng
phát triển, việc tiếp cận với những văn hóa đồi trụy, bạo lực, khiêu dâm là rất
dễ dàng đối với trẻ em. •
Do bất bình đẳng giới, từ định kiến giới và một số quan niệm truyền thống dẫn
đến hành vi bạo lực tên cơ sở giới đối với trẻ em nhất là trẻ em gái. •
Các gia đình có hoàn cảnh khó khăn, vùng dân tộc thiểu số do điều kiện kinh
tế-xã hội, trình độ nhận thức bị hạn chế, vì lợi ích trước mắt mà ép con em phải
nghỉ học đi làm thêm, bán hàng. • Yếu tố Gia đình: •
Thiếu sự quan tâm, xao nhãng bỏ mặc con cái, không giáo dục con nhỏ từ khi
còn bé, tâm lý nhiều bậc phụ huynh còn ê ngại khi nói cho con biết về những
vấn đề liên quan đến giáo dục giới tính. •
Thiếu hiểu biết và nhận thức chưa đủ: do các bậc cha mẹ, gia đình, người chăm
sóc trẻ thiếu hiểu biết về đặc điểm tâm sinh lý trẻ em, thiếu nhận thức về nguy
cơ của vấn đề giới tính với trẻ em.
Thiếu sự quan tâm, chia sẻ: Việc cha mẹ, người chăm sóc trẻ sao nhãng, bỏ mặc con cái ở một số
gia đình cũng là tiền đề của các hành vi xâm hại đối với trẻ em. Ví dụ: Cha mẹ, người chăm sóc
trẻ thường không lắng nghe và tôn trọng mỗi khi con có thái độ bất thường với 1 số người xung quanh. •
Thiếu kỹ năng về bảo vệ trẻ em, thực hành quyền trẻ em: thiếu kỹ năng phòng
ngừa, kỹ năng giải quyết về pháp lý, kỹ năng chăm sóc và phục hồi cho trẻ bị
xâm hại về thể chất và tâm lý. •
Hoàn cảnh gia đình khó khăn: cha mẹ phải đi làm ăn xa (cha mẹ không có thời
gian quan tâm, chăm sóc, gần gũi con cái); những rạn vỡ trong gia đình (tình
trạng cha mẹ ly hôn, ly thân hoặc tái hôn…) và sự xói mòn những giá trị truyền
thống (cha mẹ vướng phải các tệ nạn xã hội, vi phạm pháp luật…) đã dẫn tới
con số trẻ em bị bỏ rơi, bị sao nhãng, bị lạm dụng và bóc lột ngày càng tăng. lOMoAR cPSD| 58702377
Bên cạnh đó, sự phân hóa giàu nghèo với những chênh lệch về điều kiện sống
cũng là một trong số những yếu tố dẫn đến việc trẻ bị xâm hại. •
Ví dụ: Trẻ em bị xâm hại thường xảy ra nhiều ở phường có nhiều dân nhập
cư, phòng cho thuê, khu vực có đông người lao động nghèo và địa bàn vắng; •
Ở địa bàn nông thôn vùng sâu, vùng xa, cha mẹ thường chủ quan ít để ý đến
con em mình. cha mẹ ly hôn, ly thân; cha mẹ mắc các tệ nạn xã hội, vi phạm
pháp luật… cũng là nguyên nhân dẫn đến việc trẻ em bỏ học, lang thang kiếm
sống và bị bạo lực, xâm hại tình dục 2.
Nguyên nhân chủ quan:
+) Người bị xâm hại: Do trẻ em thiếu kiến thức về tình dục, giáo dục giới tính, trẻ thiếu hiểu biết
về đặc điểm tâm, sinh lý, chưa tìm hiểu về các bộ phận trên cơ thể của bản thân dẫn đến không
nhận thức sự nghiêm trọng, thiếu những kỹ năng cơ bản về phòng chống xâm hại. Trẻ được tiếp
xúc sớm với internet những nội dung không lành mạnh…vv. Trẻ không được quan tâm thiếu thốn
về vật chất ( bóc lột sức lao động)
+) Người xâm hại : Lợi dụng sự thiếu quản lý của gia đình các cháu, lợi dụng sự thật thà, ngây
thơ, non nớt, thiếu hiểu biết các đối tượng, dụ dỗ các cháu đến nơi hoang vắng để thực hiện hành
vi hiếp dâm; sự thiếu nhận thức, lạm dụng tình dục, bất chấp đạo lý để thỏa mãn dục vọng của một
số đối tượng đã thực hiện hành vi hiếp dâm ngay con em của chính họ. Lợi dụng lỗ hổng pháp luật
bất chấp lạm dụng, ép buộc trẻ em làm việc kiếm tiền bóc lột sức lao động II. Phân tích: •
Hành vi được coi là xâm hại tình dục trẻ nhỏ: •
Xâm hại trẻ em là bất cứ hành động (hoặc không nhất thiết là hành động) có chủ ý và làm
tổn thương hoặc gây nguy hại cho trẻ. •
Xâm hại trẻ nhỏ qua các hình thức: Thể chất, tình dục, tinh thần, xao nhãng •
Xâm hại tình dục trẻ em thể hiện qua các hành vi như: Hiếp dâm trẻ em, cưỡng dâm trẻ
em, giao cấu với trẻ em, dâm ô với trẻ em… Các tội phạm này đều có đặc điểm chung là
xâm phạm đến sức khỏe, sự phát triển bình thường về sinh lý, thể chất, danh dự, phẩm giá,
đồng thời xâm phạm đến quyền bất khả xâm phạm về tình dục của trẻ em. Trong nhiều
trường hợp, xâm hại tình dục trẻ em còn gây ảnh hưởng xấu đến trật tự, an toàn xã hội. •
1. Hành vi hiếp dâm trẻ em: hành vi hiếp dâm là hành vi dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực
hoặc lợi dụng tình trạng không thể tự vệ được của nạn nhân hoặc thủ đoạn khác giao cấu
với nạn nhân trái với ý muốn của họ. Đối với nạn nhân là trẻ em chưa đủ 16 tuổi thì mọi
trường hợp giao cấu với những trẻ em này (dù nạn nhân có đồng ý hay không đồng ý) đều
bị coi là hành vi hiếp dâm trẻ em. Mọi hành vi hiếp dâm trẻ em đều bị pháp luật hình sự xử
lý nghiêm khắc, người phạm tội bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo Điều 112 Bộ luật hình
sự năm 1999. Người phạm tội có thể bị phạt tù có thời hạn từ 7 năm đến 10 năm, tù chung thân hoặc tử hình 2.
Hành vi cưỡng dâm trẻ em: hành vi cưỡng dâm là hành vi dùng mọi thủ đoạn khiến người
lệthuộc mình hoặc người đang ở trong tình trạng quẫn bách phải miễn cưỡng giao cấu. Hành vi
cưỡng dâm trẻ em cũng bị pháp luật hình sự xử lý nghiêm khắc. Điều 114 Bộ Luật hình sự năm lOMoAR cPSD| 58702377
1999 quy định người nào cưỡng dâm trẻ em có thể bị phạt tù có thời hạn từ 5 đến 20 năm hoặc tù chung thân 3.
Hành vi giao cấu với người chưa thành niên từ đủ 13 đến dưới 16 tuổi:Điều 115 Bộ luật
hìnhsự năm 1999 quy định, người nào đã thành niên mà giao cấu với trẻ em từ đủ 13 đến dưới 16
tuổi ( khác với trường hợp hiếp dâm hoặc cưỡng dâm, trong trường hợp này nạn nhân không bị ép
buộc, cưỡng ép), thì bị phạt tù từ một năm đến năm năm, trong trường hợp nghiêm trọng, rất
nghiêm trọng, đặc biệt nghiêm trọng thì có thể bị phạt tù từ 3 đến 10 năm hoặc từ 7 đến 15 năm. 4.
Hành vi dâm ô với trẻ em: được hiểu là hành vi sinh hoạt tình dục dưới dưới các dạng
khácnhau nhưng không phải ở dạng hành vi giao cấu (như hành vi kích thích, khêu gợi nhu cầu
tình dục….). Hành vi dâm ô với trẻ em cũng bị xử lý hình sự, Điều 116 Bộ luật hình sự năm 1999
quy định người nào đã thành niên mà có hành vi dâm ô đối với trẻ em thì bị phạt tù từ 6 tháng đến
3 năm, trong trường hợp nghiêm trọng, rất nghiêm trọng, đặc biệt nghiêm trọng thì có thể bị phạt
tù từ 3 đến 7 năm hoặc từ 7 đến 20 năm. 5.
Ngoài ra, các hành vi sau cũng đều bị coi là hành vi xâm hại tình dục trẻ em như: dùng tiền,vật
chất, uy tín hoặc lợi ích khác để dụ dỗ, lôi kéo trẻ em hoạt động mại dâm; dùng thủ đoạn nói dối,
gian lận để trẻ em hoạt động mại dâm; dẫn, chỉ dẫn, môi giới, tổ chức xúi giục trẻ em hoạt động
mại dâm; che giấu, cho thuê, mượn hoặc bố trí nơi để trẻ em hoạt động mại dâm; dùng vũ lực, đe
dọa dùng vũ lực hoặc dùng uy quyền để ép buộc trẻ em hoạt động mại dâm; cho trẻ em tiếp xúc
với văn hóa phẩm, sản phẩm có nội dung khiêu dâm hoặc tác động vào cơ thể trẻ em nhằm kích
động tình dục trẻ em… •
Vì sao tỉ lệ xâm hại trẻ em ngày càng tăng •
Xâm hại trẻ em là vấn đề hết sức nhậy cảm không giống các hành vi phạm tội khác. Việc
đưa vụ án xâm hại trẻ em ra ánh sáng ảnh hưởng rất nhiều đến nạn nhân đặc biệt ở đây là
các em nhỏ. Là bậc cha mẹ thường không muốn con cái mình ảnh hưởng cuộc sống sau
này nên thường có xu hướng che dấu chốn tránh -> Tội phạm vẫn nhởn nhơ ngoài vòng
pháp luật tiếp tục phạm tội •
Thứ 2: Cuộc sống ngày càng phát triển hiện đại con người chúng ta cuốn vào công việc
dẫn đến không còn thời gian tâm sự chăm sóc con cái, trẻ em thường phải ở nhà một mình
ngày càng nhiều dẫn đến xâm hại tình dục tăng •
Thứ ba: Kiểm tra nội dung trên internet còn hạn chế chính việc những video đăng chàn
lan không gắn định độ tuổi. Nội dung giành cho trẻ em không phù hợp nhưng lại vẫn được
đăng tải. Kiến cho trẻ em có những nhận thức không đúng đắn hiểu biết sai lệch dẫn đến
bị xâm hại. Hoặc có hành vi không đúng lứa tuổi Số liệu •
Mức độ xâm hại trẻ em ngày tăng thậm trí đến mức báo động trong khi đây là vấn đề được
quan tâm từ rất sớm vậy nguyên nhân là do đâu khiến cho nó ngày càng tăng cao. •
Theo báo cáo của Chính phủ, từ ngày 1/1/2015 đến ngày 30/6/2019, cả nước đã phát hiện, xử
lý về hình sự và xử lý hành chính: 8.442 vụ xâm hại trẻ em với 8.709 trẻ em bị xâm hại. Trong đó:
Xâm hại tình dục: 6.432 trẻ em, chiếm 73,85% tổng số trẻ em bị xâm hại; Bạo lực trẻ em: 857 trẻ
em (giết trẻ em: 191 trẻ, cố ý gây thương tích: 666 trẻ), chiếm 9,84% tổng số trẻ em bị xâm hại;
Mua bán, bắt cóc, chiếm đoạt trẻ em: 106 trẻ em, chiếm 1,22% tổng số trẻ em bị xâm hại.... Ngoài
số trẻ em bị xâm hại bởi các hình thức nêu trên, còn có 790.518 trẻ em lao động không đúng quy lOMoAR cPSD| 58702377
định của pháp luật về lao động; 156.932 trẻ bị bỏ rơi, bỏ mặc và khoảng 13.489 trẻ em 15 tuổi tảo hôn. •
Theo đại biểu: “Những con số đau lòng sau đây cho thấy ‘mảng tối’ của công tác phòng chống
xâm hại trẻ em là đáng báo động. Khi mỗi ngày trung bình có 7 trẻ em bị xâm hại, 1 năm có 38 trẻ
em bị giết hại, 133 trẻ em bị thương tích, 1286 trẻ em bị xâm hại và 84 trẻ em mang thai. • ( Nguồn :
https://kiemsat.vn/moi-ngay-trung-binh-co-7-tre-em-bi-xam-hai-tai-viet- nam57379.html ) I.
Pháp luật VN bảo vệ trẻ em bị xâm hại -
Năm 1979, Nhà nước ta đã ban hành Pháp lệnh Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em. Đây
được coi là văn bản pháp luật đầu tiên về công tác bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em. -
Ngày 12/8/1991, tại Kỳ họp thứ 8, Quốc hội khóa IX đã thông qua Luật Bảo vệ, chăm sóc
và giáo dục trẻ em (có hiệu lực thi hành từ ngày 16/8/1991). Đến ngày 15/6/2004, Quốc
hội thông qua Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em (sửa đổi) tạo ra hành lang pháp lý
quan trọng trong công tác bảo vệ và giáo dục trẻ em, quy định tương đối đầy đủ các quyền
và bổn phận của trẻ em, trách nhiệm của gia đình và ban, ngành, đoàn thể, tổ chức xã hội
cùng tham gia thực hiện các quyền cơ bản của trẻ em. -
37 Hiến pháp năm 2013 khẳng định: “Trẻ em được Nhà nước, gia đình và xã hội bảo vệ,
chăm sóc và giáo dục, được tham gia vào các vấn đề về trẻ em. Nghiêm cấm xâm hại, hành
hạ, ngược đãi, bỏ mặc, lạm dụng, bóc lột sức lao động và những hành vi khác vi phạm quyền trẻ em” -
Luật Trẻ em năm 2016 cũng quy định: “Bảo vệ trẻ em là việc thực hiện các biện pháp phù
hợp để bảo đảm trẻ em được sống an toàn, lành mạnh; phòng ngừa, ngăn chặn và xử lý các
hành vi xâm hại trẻ em; trợ giúp trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt” (Điều 4). -
Ngoài ra, các điều 142, 143, 145, 146, 147 bộ luật Hình sự 2015 cũng đề cập đến xử phạt
hình sự hành vi xâm hại tình dục bằng án tù có thời hạn, tù chung thân và cao nhất là tử hình.
Về khung hình phạt và hình phạt bổ sung. Cụ thể như sau:
+ Khoản 3, Điều 143, BLHS 2015 tội cưỡng dâm người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi quy định
mức hình phạt tù là 10 năm đến 18 năm thay cho mức phạt từ 7 năm đến 18 năm tại khoản 3, Điều 113, BLHS 1999.
+ So với Điều 155, BLHS 1999, Điều 145, BLHS 2015 bổ sung thêm khoản 4 quy định về hình
phạt bổ sung là người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm
công việc nhất định từ 01 đến 05 năm. Sự thay đổi này thể hiện mức độ nguy hiểm của hành vi đã
tăng lên dẫn đến quy định mức răn đe đối với hành vi phạm tội cũng phải có sự tăng tiến tương xứng. -
Điều 147 (BLHS 2003 không quy định): Tội sử dụng người dưới 16 tuổi vào mục đích
khiêudâm: “Người nào đủ 18 tuổi trở lên mà lôi kéo, dụ dỗ, ép buộc người dưới 16 tuổi
trình diễn khiêu dâm hoặc trực tiếp chứng kiến việc trình diễn khiêu dâm dưới mọi hình
thức, thì bị phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm...”). lOMoAR cPSD| 58702377 -
Pháp luật Việt Nam: Dựa theo tinh thần của Công ước Quốc tế, theo Hiến pháp Việt Nam,
Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã ban hành Luật trẻ em qua đó nêu ra
quyền, bổn phận của trẻ em và cùng với đó nêu ra những biện pháp trừng phạt nghiêm khắc
với hành vi xâm hại, bạo hành, lạm dụng trẻ em. -
VN liên kết với quốc tế để bảo vệ trẻ em : UNICEF : quỹ nhi đồng liên hợp quốc . -
Dù cho có nhiều văn kiện, công ước quốc tế về quyền trẻ em, nhưng nổi tiếng và được công
nhận rộng rãi nhất vẫn là Công ước Quốc tế về Quyền Trẻ em của UNICEF (UNCRC) năm
được ký năm và lưu hành năm 11/1989. Trong đó quy định tất cả các nước tham gia phải
có luật, bộ luật ban hành phù hợp với Công ước để bảo vệ quyền Trẻ em gồm 54 điều và
thỏa mãn cả 5 yếu tố cơ bản trong việc bảo vệ và đảm bảo sự phát triển lành mạnh của trẻ,
đó là o Sống và phát triển o Được bảo vệ khỏi bạo lực, xâm hại o Một nền giáo dục giúp
trẻ phát huy tối đa tiềm năng của mình o Được nuôi dưỡng hoặc có mối quan hệ với cha mẹ o
Được bày tỏ ý kiến và được lắng nghe
Sau này, Liên Hợp Quốc đã bổ sung thêm 3 yếu tố vào trong công ước, cụ thể: •
Đảm bảo trẻ em dưới 18 tuổi không bị ép buộc tuyển dụng vào lực lượng vũ trang (Bổ sung năm 2000) •
Cấm mại dâm trẻ em, khiêu dâm trẻ em và bán trẻ em làm nô lệ (Bổ sung năm 2000) •
Trẻ em bị vi phạm quyền có thể trực tiếp khiếu nại lên UNCRC - Một số điều đáng chú
ý trong công ước quốc tế UNICEF : -
Điều 19 (Bảo vệ trẻ em khỏi bạo lực, lạm dụng, xâm hại): Nhà nước phải làm tất cả những
gì có thể để bảo vệ trẻ em khỏi bạo lực, lạm dụng, bỏ rơi, đối xử tồi tệ hoặc bóc lột bởi cha mẹ của
họ hoặc bất cứ ai khác chăm sóc họ. -
Điều 33 (Lạm dụng ma túy): Trẻ em nên được bảo vệ khỏi việc sử dụng, phân phối, sản xuất ma túy bất hợp pháp. -
Điều 34 (Bóc lột và lạm dụng tình dục): Tất cả trẻ em phải được bảo vệ khỏi mọi hình thức
bóc lột và lạm dụng tình dục, bao gồm cả bất hợp pháp và hoạt động tình dục, mại dâm và khiêu dâm. -
Điều 39 (Phục hồi hậu chấn thương và tái hòa nhập): Các quốc gia nên làm tất cả những gì
có thể để giúp trẻ tái hòa nhập sau khi bị bóc lột, lạm dụng, tra tấn, hay tham gia vào các cuộc
xung đột vũ trang để phục hồi sức khỏe, lòng tự trọng và danh dự của trẻ. - II.
Các biện pháp hướng giải quyết vấn đề xâm hại trẻ em -
Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, phổ biến về phòng ngừa, hỗ trợ can thiệp đối với bạo lực
học đường, xâm hại tình dục trẻ em: Đẩy mạnh tuyên truyền, giáo dục kỹ năng sống, kỹ
năng tự bảo vệ, kỹ năng phòng ngừa bạo lực học đường, xâm hại tình dục trẻ em; Tăng
cường quảng bá Tổng đài điện thoại Quốc gia bảo vệ trẻ em (số 111) trong các trường học,
cơ sở giáo dục: trên sách giáo khoa và các ấn phẩm dành cho người học, giáo viên...(đối lOMoAR cPSD| 58702377
với các nhà trường cần tổ chức nói chuyện chuyên đề về sức khoẻ sinh sản,... Thường
xuyên thầy cô cần quan tâm những học sinh có biểu hiện bất an, không tập trung, cần lắng
nghe và quan tâm đén học sinh yếu kém, ít chơi đùa cùng bạn. Thầy cô cần sẵn sàng lắng
nghe, nói chuyện, trao đổi riêng cùng học sinh về tình yêu và tình bạn.) -
Hãy dạy cho trẻ biết về ranh giới cá nhân và vùng nhạy cảm trên cơ thể: Điều quan trọng
nhất chính là: không ai được phép sờ chạm vào bộ phận sinh dục của trẻ, và ngược lại.
Hướng dẫn cho trẻ biết ai là người có thể chạm vào cơ thể, vào những khu vực nhạy cảm
của trẻ như bố mẹ, ông bà, bác sỹ trong trường hợp cụ thể; không để người khác nhìn hay
chạm vào vùng nhạy cảm của trẻ cũng như bản thân trẻ không chạm vào của các bạn khác hay của người lớn. -
Tăng cường thiết lập mối quan hệ phối hợp giữa các cơ quan bảo vệ pháp luật với các cơ
quan liên quan đến việc bảo vệ quyền lợi trẻ em để ngăn ngừa một cách hiệu quả tình hình
xâm hại tình dục trẻ em. -
¬ Hình thành mạng lưới xã hội về bảo vệ trẻ em, phòng chống bạo lực, xâm hại trẻ em.
(-Nâng cao năng lực và trách nhiệm cho tổ chức, cá nhân người tham gia phòng chống bạo lực
xâm hại trẻ em ở các cấp.theo đó cần kiện toàn lại độ ngũ các cán bộ, cộng tác viên làm công tác
truyền thông về dân số, gia đình và trẻ em tại cơ sở. Quy định cụ thể và nâng cao trách nhiệm của
các ban, ngành, đoàn thể và đặc biệt cần quy định trách nhiệm của ủy ban dân tộc và miền núi theo
hướng:ủy ban dân tộc và miền núi có trách nhiệm phối hợp với bộ tư pháp, các ban ngành liên
quan trong việc tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật về hình sự, hôn nhân và gia đình, pháp
luật về chăm sóc giáo dục, bảo vệ trẻ em, pháp luật về bình đẳng giới và pháp luật về phòng chống
xâm hại tình dục cho đồng bào vùng dân tộc thiểu số, vùng sâu vùng xa. -bên cạnh đó việc xây
dựng các thiết chế gia đình bền vững cũng cần được xem là giải pháp nội lực để phòng tránh bạo
lực gia đình. Giải pháp này đòi hỏi vai trò lãnh đạo của các tổ chức đảng, cùng sự phối hợp của
chính quyền, mặt trận tổ quốc và các đoàn thể, tùy theo từng đặc điểm văn hóa của từng địa phương
để phối hợp xây dựng các quy chế, quy ước về các chuẩn mực của mô hình gia đình văn hóa, hạnh
phúc nhằm hạn chế nguyên nhân có thể làm phát sinh bạo lực trong gia đình.
-gia đình cần quản lí con cái chặt chẽ hơn, đặc biệt ;là nâng cao trách nhiệm của người mẹ. Trong
gia đình người mẹ vừa là mẹ vừa là bạn với con gái, việc quan tâm, gần gũi, quản lí chặt chẽ của
người mẹ sẽ giúp tạo ra hàng rào bảo vệ con gái từ các cạm bẫy của tội phạm xâm hại trẻ em.
-cơ quan điều tra khi điều tra vụ án xâm hại trẻ em cần có biện pháp bảo vệ bí mật cho các em.
Tòa án tuyệt đối không được triệu tập các em là người bị hại đến phiên tòa dù đó là phiên tòa xử
kín( trừ trường hợp không thể không triệu tập). Tất cả các vụ xâm hại trẻ em đều phải được xử kín,
các cơ quan ngôn luận nên hạn chế đưa tin cụ thể về những vụ án xâm hại trẻ em, nhất là việc đưa
ảnh, nêu tên các em trên báo chí.
-cần nghiên cứu và đề xuất với quốc hội, chính phủ sửa đổi, bổ sung các văn bản pháp luật có liên
qua đến hành vi xâm hại trẻ em. Có thể học tập kinh nghiệm một số nước sử dụng hình phạt thiến
hóa học, nâng mức phạt tù,.. Đối với tội phạm xâm hại trẻ em.
-nếu tất cả xã hội đều vào cuộc, lên án mạnh mẽ hành vi xâm hại trẻ em, các cơ quan bảo vệ pháp
luật xử lí thật nghiêm tội phạm xâm hại trẻ em thì chắc chắn số nạn nhân sẽ giảm.) lOMoAR cPSD| 58702377
NHÓM 2.1: BẠO LỰC HỌC ĐƯỜNG
1.Nghiên cứu vấn đề gì?
Thực trạng và giải pháp hoàn thiện chính sách, pháp luật trong việc phòng chống bạo lực học
đường tuổi vị thành niên ở Việt Nam
2. Lý do chọn đề tài
Trong thời kỳ phát triển công nghiệp hóa – hiện đại hóa hiện nay với sự phát triển của đất nước
trong giai đoạn mới sẽ tạo ra nhiều cơ hội, đồng thời cũng đặt ra những thách thức không nhỏ đối
với sự nghiệp phát triển giáo dục, đào tạo của nước ta.
Bối cảnh mới tạo cơ hội thuận lợi để giáo dục, đào tạo nước ta tiếp cận với các xu thế mới, tri thức
mới, những mô hình giáo dục hiện đại, tranh thủ các nguồn lực bên ngoài, tạo thời cơ để phát triển
giáo dục, đào tạo; tạo điều kiện để đổi mới căn bản, toàn diện. Tuy nhiên, bối cảnh mới cũng đặt
ra nhiều thách thức mới đối với sự nghiệp phát triển giáo dục, đào tạo, như: khoảng cách phát triển
kinh tế, khoảng cách về giáo dục, đào tạo giữa nước ta và các nước ngày càng mở rộng; hội nhập
quốc tế và phát triển kinh tế thị trường làm nảy sinh những vấn đề mới, như nguy cơ xâm nhập
của văn hóa và lối sống không lành mạnh làm xói mòn dần bản sắc văn hóa dân tộc, sự thâm nhập
của các loại dịch vụ game online, trò chơi điện tử, phim ảnh đầy những pha bắn giết, phim kích
động từ bên ngoài đã kích động đến tâm lý học sinh dẫn đến các em có những biểu hiện: sự hung
bạo, hành xử theo kiểu xã hội đen hay có hành động sai lệch, khủng hoảng tâm lý.
Lứa tuổi học sinh THCS bao gồm những em có độ tuổi từ 11 đến 15 tuổi. Lứa tuổi này còn gọi là
lứa tuổi thiếu niên và nó có một vị trí đặc biệt trong quá trình phát triển của con người.
Đây là thời kỳ quá độ từ tuổi thơ sang tuổi trưởng thành, người ta còn gọi là thời kỳ “ngã ba đường”
của sự phát triển. Trong thời kỳ này, nếu sự phát triển được định hướng đúng, được tạo thuận lợi
trẻ sẽ phát triển trở thành cá nhân, công dân tốt. Ngược lại, nếu không được định hướng, hoặc định
hướng sai, tác động xấu, tiêu cực thì sẽ xuất hiện những nguy cơ dẫn trẻ đến bên bờ của sự phát
triển lệch lạc về nhận thức, thái độ, hành vi và nhân cách.
+Trường học là nơi trang bị kiến thức, là một nơi để phát triển. Tuy nhiên, bạo lực học đường xuất
hiện ở nhiều nơi, đang bộc phát ở mức báo động và cần được giải quyết
Pháp luật vẫn được áp dụng nhưng bạo lực học đường vẫn xảy ra
Cho nên việc nghiên cứu bạo lực học đường là một vấn đề cấp bách
Đặc biệt, vị thành niên là đối tượng của nhiều bộ môn khoa học quan tâm nghiên cứu.
Kết luận: Thực tế vấn đề về thực trạng, hoàn thiện pháp luật về bạo lực học đường tuổi vị thành
niên ở Việt Nam cần sự quan tâm nghiên cứu một cách hệ thống và khoa học. Bên cạnh đó chủ đề
này là mối quan tâm chung của nhóm em.
3.Ý nghĩa khi tiến hành nghiên cứu vần đề bạo lực trẻ em lOMoAR cPSD| 58702377 2.1. Ý nghĩa lý luận
Báo cáo này tìm hiểu thực trạng, nguyên nhân, và những giải pháp đã được đưa ra nhằm hạn chế
hành vi bạo lực học đường, những ý kiến của học sinh và phụ huynh về những biện pháp đó. Đề
tài còn sử dụng một số lý thuyết xã hội học để làm sáng tỏ vấn đề nghiên cứu: lý thuyết xã hội hóa
cá nhân, lý thuyết mâu thuẫn. 2.2. Ý nghĩa thực tiễn
Cuộc khảo sát này mang lại những thông tin về thực trạng, nguyên nhân cũng như những giải pháp
đã được thực hiện tại trường. Chúng tôi hy vọng báo cáo này sẽ đem lại những nguồn thông tin
hữu ích, một hình thức truyền thông về phòng chống bạo lực trong trường học hiện nay tại các tỉnh trên cả nước.
4. Đối tượng nghiên cứu
+Người: Trẻ vị thành niên
+Vấn đề: chính sách, pháp luật trong phòng chống bạo lực học đường
5.Khách thể nghiên cứu (Phạm vi nghiên cứu)
Khách thể nghiên cứu
Học sinh từ tuổi 10 đến 18 trên toàn quốc Phạm vi nghiên cứu Không gian: Việt Nam
Thời gian: Ngày 3-11 đến ngày 17-11
6. Mục đích nghiên cứu
-Đánh giá được thực trạng, nguyên nhân của hành vi bạo lực học đường ở trẻ vị thành niên, -Làm
rõ được: Pháp luật trong việc phòng chống bạo lực học đường tuổi vị thành niên ở Việt Nam
-Đưa ra được giải pháp để hoàn thiện chính sách, pháp luật trong phòng chống bạo lực học đường vị thành niên
7.Mô hình lý luận thao tác khái niệm và xác định chỉ báo nghiên cứu
Những phạm trù, khái niêm cần làm rõ và thống nhất a, Bạo lực học đường là gì?
Dưới góc độ pháp luật quy định tại Khoản 5 Điều 2 Nghị định 80/2017/NĐ-CP quy định Quy định
về môi trường giáo dục an toàn, lành mạnh, thân thiện, phòng, chống bạo lực học đường “Bạo lực
học đường” là hình thức khá phổ biến ở lứa tuổi vị thành niên trong môi trường giáo dục. “Bạo
lực học đường” là bạo lực về tinh thần, ngôn ngữ, thân thể thi hành có ý đồ giữa các học sinh trong
và ngoài trường hay giữa thầy với trò hoặc ngược lại. Cho dù là những hành động thiếu tôn trọng
hay giễu cợt đã làm cho người bị hại cảm thấy bất tiện được xem là Bạo lực học đường.
+Bạo lực học đường là hành vi hành hạ, ngược đãi, đánh đập; xâm hại thân thể, sức khỏe; lăng
mạ, xúc phạm danh dự, nhân phẩm; cô lập, xua đuổi và các hành vi cố ý khác gây tổn hại về thể
chất, tinh thần của người học xảy ra trong cơ sở giáo dục hoặc lớp độc lập”. b, Vị thành niên là gì? lOMoAR cPSD| 58702377
+Tại Việt Nam quy định trẻ em là dưới 16 tuổi (luật bảo vệ trẻ em 2016), thanh niên là từ 16 - 30
tuổi, ngoài ra vị thành niên được xem là lứa tuổi từ 10 đến 18 tuổi. Trẻ em được luật pháp bảo
vệ chăm sóc giáo dục là dưới 16 tuổi. Về mặt luật pháp vị thành niên là dưới 18 tuổi. Trong đề
tài này, thuật ngữ “Vị thành niên” được dùng để chỉ nhóm đối tượng là lớp người từ 16-18 tuổi.
Đây nhóm đối tượng diễn ra rất nhiều thay đổi về tâm sinh lý lứa tuổi dậy thì, đồng thời chịu sự
chi phối của các mối quan hệ trong cuộc sống và những tác động mạnh mẽ của những yếu tố xã
hội. Điều đặc biệt là các em có tâm lý muốn làmngười lớn, thích sống độc lập, thích tự khẳng định mình.
+ Tuổi vị thành niên là lứa tuổi thiếu niên nhưng đây là giai đoạn phát triển rất cao về thể chất và
có những chuyển biến tâm lý hết sức phức tạp.
Chính yếu tố tâm lý cũng như thể chất và nhân cách chưa hoàn thiện đầy đủ đã khiến cho trẻ em
trong tuổi vị thành niên hay bị khủng hoảng về tâm lý, dẫn đến những suy nghĩ và hành động sai
lệch. Một trong số đó chính là tình trạng bạo lực học đường.
Đưa ra các chỉ báo nghiên cứu:
Tại Việt Nam, số liệu được Bộ Giáo dục và đào tạo (GD- ĐT) đưa ra gần đây nhất, trong một năm
học, toàn quốc xảy ra gần 1.600 vụ việc học sinh đánh nhau ở trong và ngoài trường học (khoảng
5 vụ/ngày). Cũng theo thống kê của Bộ GD-ĐT, cứ khoảng trên 5.200 học sinh (HS) thì có một vụ
đánh nhau; cứ hơn 11.000 HS thì có một em bị buộc thôi học vì đánh nhau; cứ 9 trường thì có một
trường có học sinh đánh nhau. Đáng lo ngại hơn, theo thống kê của Bộ Công an mỗi tháng có hơn
1.000 thanh thiếu niên phạm tội. Trước kia: tội phạm giết người trong độ tuổi từ 30 đến dưới 45
chiếm số lượng cao nhất. Bây giờ giảm còn 34% so với 41% của độ tuổi 18 đến dưới 30 (độ tuổi
từ 14 đến dưới 18 chiếm đến 17%).
8.Giả thuyết nghiên cứu hoặc câu hỏi nghiên cứu?
Nếu như bạo lực học đường được chúng ta nhìn nhận một cách nghiêm túc, khắc phục kịp thời thì
thế hệ tương lai của chúng ta sẽ phát triển một cách toàn diện cả về thể chất lẫn tinh thần Trong
điều kiện gia đình, nhà trường và xã hôi giáo dục trẻ một cách bài bản, hướng dẫn các em những
kỹ năng mền đồng thời quyết liệt ngăn chặn bạo lực ngay từ đầu thì bạo lực học đường sẽ giảm tối
thiểu cả về số lượng lẫn mức độ nguy hại
9. Phương pháp nghiên cứu
PP Phân tích: Những năm trở lại đây số vụ bạo lực học đường ngày càng tăng và có mức độ nguy
hiểm báo động. Theo sự pháp triển của mạng xã hội, bạo lực họ đường đã có nhiều biến tướng,
không chỉ còn dừng lại ở việc ẩu đả thông thường giữa các em mà hiện nay phổ biến loại hình tấn
công qua mạng- đây là loại bạo lực khó quản lý bậc nhất vì lý do hậu quả của nó không hiện hữu
ngay mà âm ỉ gây tổn thương tinh thần cho trẻ. Không những thế tình trang xô xát trực tiếp tại lớp
học vẫn ở ngưỡng cao báo động dù gia đình, nhà trường, xã hội đã quan tâm hơnđiều này cho thấy
tư duy của chúng ta vẫn tồn tại hạn chế và cách khắc phục còn chưa linh hoạt PP Quan sát: Về
phía trẻ vị thành niên- đây là độ tuổi hiếu động chưa có cái nhìn đúng về quan hệ học đường, đời
sống xã hội nên các em dễ là chủ thể của bạo lực học đường. Về phía gia đình và nhà trường vài
năm gần đây đã có những lỗ lực đẩy lui bạo lực học đường nhưng hiệu quả chưa cao, các bên cần
đẩy mạnh giáo dục trẻ ngay từ ban đầu, phòng còn hơn chống. Cần có nhưng khoảng thời gian để
chia sẻ với trẻ… Chúng tôi nghĩ bạo lực học đường sẽ giảm đi đáng kể. lOMoAR cPSD| 58702377
Đánh giá: Ở đây chúng tôi đưa ra những số liệu đã qua kiểm chứng để nhận xét về tình trạng bạo
lực học đường, từ đó giúp người nghe hiểu hơn về nó - chung tay biến bạo lực học đường không
còn là mỗi ám ảnh của các em.
NHÓM 2.2: BẠO LỰC GIA ĐÌNH
Phần giới thiệu nhóm : Tên nhóm : Nhóm viên : Vai trò : •
Điều hành nhóm : Vũ Thị Mai • Slide : Uyên – Yến •
Thuyết trình : Trà – Mai – Yến •
Dựng nội dung : Cả nhóm ngoại trừ Trịnh Trọng Thắng
Lý do chọn đề tài nghiên cứu
BLGĐ từ trước đến nay vốn là một đề tài nóng trong xã hội. Thế nhưng để có một cái nhìn sâu sắc
về vấn đề này, ta cần tìm hiểu sâu hơn.
Phụ nữ đang dần đứng lên lấy lại vị thế của mình. Thế nhưng vẫn còn rất nhiều hoàn cảnh là nạn
nhân của BLGĐ, bị chà đạp cả thể xác lẫn tinh thần. -
Đây là vấn đề bức thiết, chà đạp quyền con người của các nạn nhân vì thế nên cần phải lên
án và có các biện pháp loại trừ vấn nạn này. -
Hàng ngàn trẻ em – tương lai của đất nước - bị mất đi một phần tuổi thơ hạnh phúc vì bạo
lực đè trên vai. Bởi vậy ta cần phải bảo vệ -
Vì một xã hội văn minh giàu đẹp hơn. -
Vì hạnh phúc của người dân và xa hơn là hạnh phúc của cả xã hội. -
Đem tới những tư tưởng tích cực đến cho mọi người.
B2. Mục đích nghiên cứu - Mục đích tổng quát
Mục đích nghiên cứu của đề tài là đưa những giải pháp cụ thể và thiết thực nhằm phòng chống bạo
lực gia đình tại Việt Nam -Mục đích cụ thể
Nâng cao nhận thức cho cán bộ và người dân địa phương, làm thay đổi lối sống và lối tư duy
cũ rích, bảo thủ, lạc hậu từ đó giúp họ có cái nhìn đúng đắn hơn về vấn đề bình đẳng giới và bạo lực gia đình - Nhiệm vụ nghiên cứu
Khảo sát thực trạng bạo lực gia đình tại địa bàn các tỉnh thông qua phương pháp tìm hiểu trên
các phương tiện truyền thông đại chúng.
Tìm và phân tích nguyên nhân dẫn đến bạo lực gia đình tại Việt Nam
Nêu và phân tích những hậu quả của bạo lực gia đình tại Việt Nam
Đưa ra một số giải pháp thích hợp nhằm phòng chống bạo lực gia đình tại Việt Nam lOMoAR cPSD| 58702377
Đề xuất một số kiến nghị để ngăn chặn nạn bạo lực gia đình
Bước 3: Giả thuyết nghiên cứu và câu hỏi nghiên cứu - Giả thuyết
+ Thực trạng vấn đề Bạo lực gia đình đang diễn ra và gây hậu quả tiêu cực đến xã hội hiện nay.
+ Vấn đề Bạo lực gia đình chưa nhận được sự quan tâm đúng mực, chưa có văn bản hiến pháp,
pháp luật ban hành và triển khai chưa hiệu quả
+ Tại (…..) hiện nay việc vận dụng công tác xã hội để giải quyết các vấn đề hôc trợ nạn nhân bạo
lực gia đình đã được triển khai hay còn trong trạng thái “ vùng trắng”
+ Các tổ chức cá nhân ở (…) chưa có hiểu biết đầy đủ về công tác xã hội hỗ trợ nạn nhân bị bạo lực gia đình - Câu hỏi?
+ Có phải nếu cuộc sống của người dân đầy đủ hơn, bớt cực khổ thì bạo lực gia đình sẽ giảm đi
hay nói cách khác là ít hơn?
(các bước sau sẽ nói về ví dụ: trong tác phẩm Chiếc thuyền ngoài xa)
+Những hệ luỵ từ vấn đề bạo lực gia đình là gì?
+Những tồn đọng trong việc thi hành hiến pháp/ pháp luật là gì? BƯỚC 4 Các khái niệm
Bạo lực gia đình là gì?
Bạo lực gia đình là hành vi cố ý của các thành viên trong gia đình gây tổn haị hoặc có khả năng
gây tổn hại về thể chất, tinh thần, kinh tế đối với các thành viên khác trong gia đình( Khoản 2 điều
1 Luật phòng, chống bạo lực gia đình, 2007 ) Gia đình là gì? lOMoAR cPSD| 58702377
Gia đình là tập hợp những người gắn bó với nhau do quan hệ hôn nhân, huyết thống hoặc do quan
hệ nuôi dưỡng , làm phát sinh các nghĩa vụ và quyền lợi giữa họ với nhau( khoản 10 điều 8, Luật
Hôn nhân và gia đình năm 2000). Bạo lực trẻ em là gì?
Bạo lực trẻ em trong gia đình là hành vi cố ý cảu các thành viên trong gia đình gây tổn hại hoặc
có khả năng gây tổn hại về thể chất, tinh thần, nhân cách đối với đối tượng là những người dưới
16 tuổi ( theo Luật pháp Việt Nam). Bình đẳng giới là gì?
Bình đẳng giới là sự thừa nhận và coi trọng như nhau các đặc điểm giống và khác nhau giữa phụ
nữ va nam giới. Nam giới và phụ nữ có cùng điều kiện bình đẳng để phát huy hết khả năng và thực
hiện các mong muốn của mình, có cơ hội để tham gia, đóng góp, hưởng thụ từ các nguồn lực của
xã hội và sự phát triển. Được hưởng tự do và cuộc sống bình đẳng, được hưởng thành quả bình
đẳng trong mọi lĩnh vực của xã hội. CHỈ BÁO NGHIÊN CỨU
Bước 5. lựa chọn phương pháp thu nhập thông tin 1.
Căn cứ vào mục đích của cuộc điều (là nghiên cứu của đề tài là đưa những giải pháp cụ thể
và thiết thực nhằm phòng chống bạo lực gia đình tại Việt Nam). 2.
Và căn cứ vào khả năng về tài chính, các trang thiết bị kỹ thuật và các thông tin có sẵn.( Sử
dụng tài liệu có sẵn, ít tốn kém về công sức, thời gian kinh phí, không cần sử dụng nhiều người.) 3.
Quyết định lựa chọn phương pháp nghiên cứu tài liệu (liệt kê, tổng hợp, phân tích tài liệu có sẵn) 1. Dữ liệu khảo sát -
Các dữ liệu mà chúng tôi dùng để khảo sát bao gồm: -
Tài liệu viết gồm: tài liệu viết, tài liệu thống kê, tài liệu báo chí và các tài liệu khác… -
Tài liệu khác gồm: Tranh ảnh, ca dao, tục ngữ, phim ảnh, băng ghi âm, băng video, tài liệu
điện quang, tài liệu mạng…