1. Nguyên nhân xuất hiện độc quyền
- Là kết quả của quá trình cạnh tranh. Những doanh nghiệp nào có những quyết định
kinh doanh sai lầm sẽ bị những doanh nghiệp khác làm ăn hiệu quả hơn thôn tính,
chiếm lĩnh thị phần và rốt cuộc sẽ bị đào thải. Trong trường hợp cực đoan nhất, cạnh
tranh tự do đã để lại một doanh nghiệp duy nhất trên thị trường và doanh nghiệp đó
đương nhiên có được vị thế độc quyền.
- Do được chính phủ nhượng quyền khai thác thị trường. Với những ngành được coi
là chủ đạo của quốc gia (quốc phòng hay công nghiệp sản xuất vũ khí), chính phủ
thường tạo cho nó một cơ chế có thể tồn tại dưới dạng độc quyền nhà nước
. - Do chế độ bản quyền đối với phát minh, sáng chế và sở hữu trí tuệ. Những qui định
này đã tạo cho người có bản quyền một vị thế độc quyền lớn.
- Do sở hữu được một nguồn lực đặc biệt. Chẳng hạn, Nam Phi có một lợi thế gần
như độc quyền về khai thác và bán kim cương vì những mỏ kim cương lớn nhất chủ
yếu tập trung tại đây.
- Do có khả năng giảm giá thành khi mở rộng sản xuất.
Tại sao khi xuất hiện độc quyền lại gây ra tổn thất phúc lợi xã hội?
Do tối đa hóa doanh thu nên doanh nghiệp chiếm đoạt sẽ sản hàng hóa ở quyền xuất
mức sản phẩm mà đó doanh thu biên bằng với thu nhập biên thay vì sản tại xuất
mức sản lượng mà ở đó giá sản phẩm cao hơn nhiều chi phí biên như trong thị trường
(cân bằng cung cầu).
2. Các giải pháp can thiệp của chính phủ đối với độc quyền thường:
Ban hành luật pháp và chính sách chống độc quyền.
Kiểm soát giá cả đối với các hàng hóa và dịch vụ do hãng độc quyền cung cấp
Đánh thuế được sử dụng để giảm bớt lợi nhuận siêu ngạch do độc quyền, góp phần
phân phối lại của cải trong xã hội
Các giải pháp can thiệp của chính phủ đối với độc quyền tự nhiên:
Định giá bằng chi phí trung bình
Định giá bằng chi phí biên cộng với một khoản thuế khoán
Định giá hai phần. Định giá hai phần sẽ gồm một khoản phí để được quyền sử dụng
dịch vụ của hãng độc quyền, cộng với mức giá bằng chi phí biên với mỗi đơn vị dịch
vụ mà người tiêu dùng sử dụng.
3.thông tin không đối xứng là tình trạng xuất hiện trên thị trường khi một bên nào đó
tham gia giao dịch thị trường có được thông tin đầy đủ hơn bên kia về các đặc tính
của sản phẩm.
-Mức độ nghiêm trọng của thất bại về thông tin không đối xứng đối với các loại hàng
hóa
Hàng hóa có thể thẩm định trước: nếu chi phí thẩm định trước tương đối nhỏ so với
giá bán hoặc các cặp giá – chất lượng rất đồng nhất hoặc mức độ mua sắm tương đối
cao so với sự thay đổi các cặp giá – chất lượng thì thông tin không đối xứng ít có khả
năng dẫn đến phi hiệu quả cao và ngược lại.
Hàng hóa chỉ thẩm định được khi dùng: đối với loại hàng hóa này người tiêu dùng chỉ
có thể thẩm định được chất lượng của nó khi dùng. Nếu các yếu tố khác như nhau thì
chi phí thẩm định đối với loại hàng hóa này lớn hơn so với loại hàng hóa có thể thẩm
định trước
Hàng hóa khôn g thể thẩm định được: loại hàng hoá này thì việc tiêu dùng không thể
cho biết một cách hoàn hảo về chất lượng, vì cá nhân từng người tiêu dùng rất khó
nhận biết được mối quan hệ nhân quả giữa việc tiêu dùng và hiệu ứng của nó, Chính
vì thế, nguy cơ thất bại do thông tin không đối xứng trong trường hợp này là lớn nhất.
4. Các yếu tố ảnh hưởng đến mức độ nghiêm trọng của thông tin không đối xứng?
Chi phí thẩm định hàng hoá: Chi phí tiềm tàng của thông tin không đối xứng đến
người tiêu dùng tùy thuộc vào mức độ hiểu biết của họ về chi phí đầy đủ của hàng
hóa, bao gồm cả chi phí ước định khi phải chịu thiệt hại do tiêu dùng hàng hóa
Mức độ đồng nhất trong mối quan hệ giữa giá cả và chất lượng: thể hiện ở chỗ với
chất lượng cho trước thì giá cả có dao động mạnh hay không, hoặc với mức giá như
nhau thì chất lượng có sự khác biệt lớn hay không.
Mức độ thường xuyên mua sắm: Mức độ thường xuyên mua sắm cũng đóng vai trò
quan trọng để quyết định có hiện trung thông tin thông đối vửng hay không.
5. Các giải pháp can thiệp của chính phủ khắc phục thông tin không đối xứng
Chính phủ có thể tăng cường thêm độ tin cậy và hiệu lực cho các giải pháp tư nhân
như ban hành các điều luật qui định tính trung thực của quảng cáo, xây dựng và đảm
bảo hiệu lực thực thi của luật về bản quyền và sở hữu trí tuệ nhằm qua đó bảo vệ
thương hiệu của các doanh nghiệp làm ăn chân chính, chống hàng giả, hàng nhái...
Các qui định về bao bì, nhãn mác sản phẩm cũng là một phần trong những nỗ lực của
chính phủ để giúp phân biệt và đảm bảo chất lượng của hàng hoá trên thị trường.
Chính phủ cũng có thể hỗ trợ cho những cơ quan, tổ chức đóng vai trò “bên thứ ba”
của tư nhân hoạt động có hiệu quả, hoặc trực tiếp đứng ra đảm nhận vai trò đó. Với uy
tín và tính trung lập của mình. các tổ chức giám định chất lượng hàng hoá. cấp chứng
chỉ tư vấn tiêu dùng... của chính phủ thường được người tiêu dùng coi là những địa
chỉ đáng tin cậy để tham khảo.
Bên cạnh việc bảo vệ người sản xuất, chính phủ cũng có những biện pháp bảo vệ
quyền lợi người tiêu dùng. Thí dụ, chính phủ khuyến khích và đỡ đầu cho sự hoạt
động của các hiệp hội người tiêu dùng, thành lập các toà án xét xử các tranh chấp
thương mại giữa người mua và người bán..

Preview text:

1. Nguyên nhân xuất hiện độc quyền
- Là kết quả của quá trình cạnh tranh. Những doanh nghiệp nào có những quyết định
kinh doanh sai lầm sẽ bị những doanh nghiệp khác làm ăn hiệu quả hơn thôn tính,
chiếm lĩnh thị phần và rốt cuộc sẽ bị đào thải. Trong trường hợp cực đoan nhất, cạnh
tranh tự do đã để lại một doanh nghiệp duy nhất trên thị trường và doanh nghiệp đó
đương nhiên có được vị thế độc quyền.
- Do được chính phủ nhượng quyền khai thác thị trường. Với những ngành được coi
là chủ đạo của quốc gia (quốc phòng hay công nghiệp sản xuất vũ khí), chính phủ
thường tạo cho nó một cơ chế có thể tồn tại dưới dạng độc quyền nhà nước
. - Do chế độ bản quyền đối với phát minh, sáng chế và sở hữu trí tuệ. Những qui định
này đã tạo cho người có bản quyền một vị thế độc quyền lớn.
- Do sở hữu được một nguồn lực đặc biệt. Chẳng hạn, Nam Phi có một lợi thế gần
như độc quyền về khai thác và bán kim cương vì những mỏ kim cương lớn nhất chủ yếu tập trung tại đây.
- Do có khả năng giảm giá thành khi mở rộng sản xuất.
Tại sao khi xuất hiện độc quyền lại gây ra tổn thất phúc lợi xã hội?
Do tối đa hóa doanh thu nên doanh nghiệp chiếm đoạt quyền sẽ sản xuất hàng hóa ở
mức sản phẩm mà tại đó doanh thu biên bằng với thu nhập biên thay vì sản xuất
mức sản lượng mà ở đó giá sản phẩm cao hơn nhiều chi phí biên như trong thị trường (cân bằng cung cầu).
2. Các giải pháp can thiệp của chính phủ đối với độc quyền thường:
Ban hành luật pháp và chính sách chống độc quyền.
Kiểm soát giá cả đối với các hàng hóa và dịch vụ do hãng độc quyền cung cấp
Đánh thuế được sử dụng để giảm bớt lợi nhuận siêu ngạch do độc quyền, góp phần
phân phối lại của cải trong xã hội
Các giải pháp can thiệp của chính phủ đối với độc quyền tự nhiên:
Định giá bằng chi phí trung bình
Định giá bằng chi phí biên cộng với một khoản thuế khoán
Định giá hai phần. Định giá hai phần sẽ gồm một khoản phí để được quyền sử dụng
dịch vụ của hãng độc quyền, cộng với mức giá bằng chi phí biên với mỗi đơn vị dịch
vụ mà người tiêu dùng sử dụng.
3.thông tin không đối xứng là tình trạng xuất hiện trên thị trường khi một bên nào đó
tham gia giao dịch thị trường có được thông tin đầy đủ hơn bên kia về các đặc tính của sản phẩm.
-Mức độ nghiêm trọng của thất bại về thông tin không đối xứng đối với các loại hàng hóa
Hàng hóa có thể thẩm định trước: nếu chi phí thẩm định trước tương đối nhỏ so với
giá bán hoặc các cặp giá – chất lượng rất đồng nhất hoặc mức độ mua sắm tương đối
cao so với sự thay đổi các cặp giá – chất lượng thì thông tin không đối xứng ít có khả
năng dẫn đến phi hiệu quả cao và ngược lại.
Hàng hóa chỉ thẩm định được khi dùng: đối với loại hàng hóa này người tiêu dùng chỉ
có thể thẩm định được chất lượng của nó khi dùng. Nếu các yếu tố khác như nhau thì
chi phí thẩm định đối với loại hàng hóa này lớn hơn so với loại hàng hóa có thể thẩm định trước
Hàng hóa khôn g thể thẩm định được: loại hàng hoá này thì việc tiêu dùng không thể
cho biết một cách hoàn hảo về chất lượng, vì cá nhân từng người tiêu dùng rất khó
nhận biết được mối quan hệ nhân quả giữa việc tiêu dùng và hiệu ứng của nó, Chính
vì thế, nguy cơ thất bại do thông tin không đối xứng trong trường hợp này là lớn nhất.
4. Các yếu tố ảnh hưởng đến mức độ nghiêm trọng của thông tin không đối xứng?
Chi phí thẩm định hàng hoá: Chi phí tiềm tàng của thông tin không đối xứng đến
người tiêu dùng tùy thuộc vào mức độ hiểu biết của họ về chi phí đầy đủ của hàng
hóa, bao gồm cả chi phí ước định khi phải chịu thiệt hại do tiêu dùng hàng hóa
Mức độ đồng nhất trong mối quan hệ giữa giá cả và chất lượng: thể hiện ở chỗ với
chất lượng cho trước thì giá cả có dao động mạnh hay không, hoặc với mức giá như
nhau thì chất lượng có sự khác biệt lớn hay không.
Mức độ thường xuyên mua sắm: Mức độ thường xuyên mua sắm cũng đóng vai trò
quan trọng để quyết định có hiện trung thông tin thông đối vửng hay không.
5. Các giải pháp can thiệp của chính phủ khắc phục thông tin không đối xứng
Chính phủ có thể tăng cường thêm độ tin cậy và hiệu lực cho các giải pháp tư nhân
như ban hành các điều luật qui định tính trung thực của quảng cáo, xây dựng và đảm
bảo hiệu lực thực thi của luật về bản quyền và sở hữu trí tuệ nhằm qua đó bảo vệ
thương hiệu của các doanh nghiệp làm ăn chân chính, chống hàng giả, hàng nhái...
Các qui định về bao bì, nhãn mác sản phẩm cũng là một phần trong những nỗ lực của
chính phủ để giúp phân biệt và đảm bảo chất lượng của hàng hoá trên thị trường.
Chính phủ cũng có thể hỗ trợ cho những cơ quan, tổ chức đóng vai trò “bên thứ ba”
của tư nhân hoạt động có hiệu quả, hoặc trực tiếp đứng ra đảm nhận vai trò đó. Với uy
tín và tính trung lập của mình. các tổ chức giám định chất lượng hàng hoá. cấp chứng
chỉ tư vấn tiêu dùng... của chính phủ thường được người tiêu dùng coi là những địa
chỉ đáng tin cậy để tham khảo.
Bên cạnh việc bảo vệ người sản xuất, chính phủ cũng có những biện pháp bảo vệ
quyền lợi người tiêu dùng. Thí dụ, chính phủ khuyến khích và đỡ đầu cho sự hoạt
động của các hiệp hội người tiêu dùng, thành lập các toà án xét xử các tranh chấp
thương mại giữa người mua và người bán..