Những vấn đề bản về ơng tác hội ?
1. Khái niệm tương tác hội
Hành động hội sở, tiền đề của tương c hội, không hành động
hội thì không tương tác hội. Tương tác hội được xem quá tình
tiến hành các hành vi hành động trong quá trình trao đổi giữa chủ thể này
với chủ thể khác. Tương tác hội hình thức giao tiếp hội hay trao đổi
giữa nhân VỚỊ cộng đồng trong đó mối quan hệ qua lại của chúng được
thực hiện. Nhờ sự tác động qua lại giữa nhân, đoàn thể, cộng đồng mới
tồn tại hoạt động. Trong hội chính những tác động ảnh hưởng lẫn nhau
với nhiều hình thức, hoạt động, dáng vẻ tạo ra một hệ thống tương quan
hội con người chịu ảnh hưởng, tác động lẫn nhau bởi những vai trò, chức
năng, nhiệm vụ cụ thể của mình trong môi trường.
Do vậy, tương tác hội được định nghĩa như sau:
Tương tác hội được dùng để chỉ quá trình liên hệ tác động lẫn nhau
giữa hai hay nhiều hơn hai nhân, nhóm người'
Dấu hiệu bản của tương tác hội giữa hai nhân sự thay đổi trong
nhận thức, thái đ hay hành vi của cả hai nhân.
2. Đặc điểm tương tác hội
- Tương tác hội chính quá trình giao tiếp của ít nhất hai ch thể hành
động.
- Con người vừa chủ thể vừa khách thể trong quá trình tưong tác đều
chịu ảnh hưởng của các giá trị, chuẩn mực hội, của những tiểu văn hóa,
thậm chí các phần văn hóa khác nhau. Tức là, mức độ nh hưởng của các
chuẩn mực, giá trị đến họ không giống nhau. Vì vậy, các chủ thể hành
động thường khó khăn trong giao tiếp, nhiều khi dẫn tới sự tranh luận để tìm
ra tiếng nói chung trong một tình huống hoàn cảnh xác định.
- Trong quá trình tương tác, mỗi người đều chịu những lực tương tác khác
nhau, ý nghĩa khác nhau đều sự tác động khác nhau. Như vậy,
tương tác hội vừa tạo nên những khuôn dáng mỗi người, vừa tạo nên sự
hợp tác bất họp c mỗi người.
- Thông qua tương tác chủ thể sẽ biến đổi tự động điều chỉnh hành vi
hành động sao cho phù hợp với chủ thể kia.
3. thuyết tương tác biểu trưng
thuyết tương tác hội một quan điểm hội học ảnh hưởng trong
nhiều lĩnh vực của ngành hội học. Các tác giả nổi bật của thuyết tương tác
biểu trưng Charles Horton Cooley, George Herbert Mead, Herbert Bluner.
Thuyết tương tác tượng trưng được bắt nguồn t chủ nghĩa thực dụng Mỹ
đặc biệt từ các c phẩm của George Herbert Mead. Mead người tìm
cách biến những nhận thức của các nhà tưởng dụng nh thành một
thuyết phương pháp cho các khoa học hội.
Luận điểm chung của thuyết tương tác biểu trưng, các nhân trong quá
trình tương tác qua lại với nhau trên sở các ý nghĩa họ nhận biết phải
giải những hành động, cử chỉ, sự vật, của người khác (các biểu tượng). Đe
thể hiểu được những hành động, cử chỉ của người đó chúng ta phải nhập
vào vai của người đó, tức phải đặt mình vào vị trí người đó. Ch khi đặt
mình vào vị trí của đối tượng tương tác, chúng ta mới thể hiểu hết ý nghĩa
phát ngôn, cử chỉ, hành động của họ mới giải được những kiểu hành
động của họ. Đây chính quá trình quan trọng trong sự hình thành nhân
cách nhân.
Mead coi khả năng của con người đặt mình o vị trí, vai trò đối tác nhìn
nhận mình như một đối tác hành động chế quan trọng trong sự tương
tác của họ với môi trường hội xung quanh. Chính chế này giúp con
người tạo ý nghĩa cho sự vật, hiện tượng, hành động xung quanh- tức hình
thành các biểu tượng... tất cả những vật thể, hình ảnh, hành động, cử chỉ
xung quanh chúng ta thể được con người gắn cho những ý nghĩa trở
thành các biểu tượng trong giao tiếp.
Các biểu tượng một đặc điểm chung chúng mang những ý nghĩa nhất
định tạo ra sự phàn ứng giống nhau c nhân. nghĩa của biểu
tượng không trùng với ý nghĩa trực tiếp của những cái th hiện chung.
Để hình thành các biểu tượng tương tác, các nhân phải ý thức ràng về
một hành động, cử chỉ, phát ngôn, chữ viết hay hình ảnh o đó. Nhờ sự ý
thức về sự vật, hiện tượng hoặc hành động, cử chỉ... sẽ được tách biệt phân
lập ra khỏi môi trường xung quanh. Sau đỏ các nhân sẽ qui gán cho ý
nghĩa xác định. Dần dần ý nghĩa qui gán thể được đông đào các nhân
khác thừa nhận. Khi đó chúng ta một biểu tượng tương tác. Trước khi trở
thành một biểu tượng chúng chung một nền vãn hóa hay của cả nhân loại,
các biểu tượng thường chỉ biểu tượng tương tác của một tiểu văn hóa.
Thực tế cùng một sự vật, hiện tượng, hành động, cử chỉ... các tiểu văn hóa
khác nhau, được qui gán những ý nghĩa khác nhau. Điều này dẫn đến khó
khăn trong quá trình tương tác. Các biểu tượng khác với tác nhân chỗ
không thể y ra phản ứng trực tiếp. Bởi các đối tác cần phải xác định ý
nghĩa được gửi. Hơn nữa, không th xác định được biểu tượng độc lập với
nhân, chính các nhân những người tạo ý nghĩa cho các biểu tượng.
Trong quá trình tương tác giữa c nhân thì ngôn ngữ nói viết hai
ngôn ngữ quan trọng nhất con người sử dụng. Mỗi người không những
phải sử dụng ngôn ngữ nói chữ viết được qui n cho âm thanh các
tự để diễn đạt ý nghĩa của hành động còn ng ngôn ngữ nói chữ viết
để ra quyết định hành động hướng vào người khác. Các quy tắc, các giá trị
các chuẩn mực của hành động tương tác cũng được biểu hiện qua các
hiệu các biểu tượng. nhân chỉ thế tương tác với nhau khi mỗi
người nắm bắt hiểu được ý nghĩa của các hiệu biểu tượng được
dùng. Do đó, tương tác hội gắn liền với ngôn ngữ, với hệ thống các
hiệu biểu tượng.
Mặc một thuyết quan trọng, nhưng thuyết tương tác biểu trưng
những hạn chế như: Quy tất cả các tương tác hội về hành các tương tác
nhân điều này không phù họp bởi trong thực tế quá trình tương tác không
chỉ các nhân với nhau mà còn nhân với nhóm, tương tác nhóm với
nhóm.
4. thuyết trao đổi hội
thuyết trao đổi hội được giới thiệu vào những năm 1960 bởi n hội
học George Homans (1910-1989), sau khi Homans thành lập thuyết thì
nhiều nhà khoa học như Richard Emerson, John Thibaut, Harold Kelley
Peter Blau tiếp tục phát triển viết về thuyết.
Theo George Homans Peter Blau các nhà hội học đã áp dụng các
nguyên về trao đổi vào giải thích các hiện tượng hội, nhất tương tác
hội. Tương tác hội thể được hiểu sự trao đổi hội giữa người với
người với nghĩa thông qua hành vi của nhau người này, đạt được
những gì họ không người kia. Qua quá trình tương tác nhân phải
hành động tuân theo nguyên tắc trao đổi các giá tr vật chất tinh thần thông
qua sự ủng hộ, tán dương hay danh dự... Ông cũng cho rằng những người
trao nhiều cho người khác xu hướng nhận lại nhiều lần, những người
nhận lại nhiều từ người khác sẽ cảm thấy sự tác động, áp lực từ phía họ.
Chính điều này giúp cho những người cho nhiều thể được nhận lại từ phía
những người họ đã trao đó xu hướng cân bằng giữa cho nhận hay
còn gọi cân bằng chi phí lợi ích.
G. Hommans đã đưa ra 4 nguyên tắc tương tác giữa các nhân:
Thứ nhất: Nếu một dạng hành vi được thưởng hay lợi thì hành vi đó xu
hướng lặp lại
Thứ hai: Hành vi được thưởng, được lợi trong hoàn cảnh o thì nhân đó
xu hướng lặp lại hành vi đó trong hoàn cảnh tương tự.
Thứ ba: Nếu như phần thưởng, mối lợi đủ lớn thì nhân sẽ sẵn sàng bỏ ra
nhiều chi phí vật chất tinh thần để đạt được.
Thứ tư: Khi nhu cầu của các nhân gần n hoàn toàn được thoả mãn thì
họ ít cố gắng hon trong việc nỗ lực tìm kiếm chúng.
Với nguyên tắc nêu trên G. Hommans cho rằng ngay cả với nhưng tưong tác
hội phức tạp như quan hệ quyền lực... cũng phải tuân theo.
Khác với Homans, Blau lại quan tâm nghiên cứu sự trao đổi hội trong mối
quan hệ với cấu trúc hội hội , Ông cho rằng trao đổi hội 2 chức
năng bản:
Thứ nhất: trao đổi hội tạo ra một mỗi quan hệ gắn kết, thiện chí, tin cậy,
nhất ưí trong hội
Thứ hai: Tạo ra mối quan hệ quyền lực giữa các bên tham gia trao đổi.
Ngoài sự khác nhau về chức năng, thuyết trao đổi hội còn nhấn mạnh một
số điểm quan trọng của tương tác hội:
-Trao đổi hội giá trị t thân c bên tham gia sẵn ng cho - nhận
không ngang giá nhau.
-Trao đổi hội các bên tham gia luôn xu hướng tạo ấn tượng tốt đẹp, tin
cậy thiện cảm
- Sự trao đổi hội ngang vị thế, Blau cho ràng quan hệ hội đem lại sự
thoải mãi, dễ chịu, tự nguyện chủ yếu diễn ra giữa những người ngang bằng
nhau về vị thế hội. ông cũng cho rằng, bất bình đẳng hội tức sự trao
đổi giữa các bên không ngang nhau về vị thế sẽ đ căng thẳng hơn nếu sự
bất bình đẳng là thật được nhận thức một cách ràng.
-Những thứ được trao đổi trong tương tác hội rất phong phú, đa dạng ch
không chỉ những thứ hữu hình thê cân đo đong đêm được.
Trong thực tế cuộc sống, quá trình tương tác theo hình trao đổi hội rất
phổ biến. Thông qua sự trao đổi các nhân nhận được sự ủng hộ từ nhiều
người khác nhau đổi lại các nhân phải thỏa hiệp chấp nhận những
giá trị, chuẩn mực chung của nhóm, t chức cộng đồng.
5. Phân loại tương tác hội
nhiều cách phân loại khác nhau về tương tác hội, việc phân loại này
dựa trên một căn cứ nhất định.
- Phân loại tương tác hội theo các cấp độ
Căn cứ vào câp độ nhân nhóm người, tương tác hội được phân
thành một số dạng như sau:
+ Tương tác nhân: mối tương tác hội giữa hai hay nhiều hơn hai
nhân với nhau. Trong mối tương tác này các nhân đều thể biết trực
tiếp quan hệ trao đổi với nhau.
+ Tương tác nhóm: Đây mối tương tác hội giữa hai hay nhiều nhóm với
nhau. Tương tác nhóm thể diễn ra thông qua nhân nhưng mỗi nhân
trong mối tương tác này hành động với cách người đại diện cho cả
nhóm họ thành viên.
+ Tương tác giữa nhân với nhóm: mối tương tác giữa một bên
nhân với một bên nhóm. Quan h quyền lực trong tương tác này không
hoàn toàn phụ thuộc vào số lượng người tham gia phụ thuộc vào vị thế,
vai trò của những người cụ thể.
-Dựa trên tính chất, mục tiêu, nghĩa của sự tương tác, chia thành các dạng:
+ Tương tác họp tác: Đây loại tương tác tích cực, mang tính chất xây dựng,
cùng chung sức làm việc giúp đỡ, hỗ trợ lẫn nhau trong một ng việc, một
lĩnh vực nào đó mục tiêu chung.
dụ: về sự hợp tác quốc tế trong vấn đề bảo vệ môi trưòng, chống đói
nghèo, phòng chống HIV/AIDS, đấu tranh chống khủng bố.
+ Tương tác cạnh tranh: Đây loại ơng tác mang tính tiêu cực, p hoại,
đối kháng, ngăn cản những chuẩn mực chung, trong đó các bên tham gia đều
ta sức m mọi cách để đạt được mục tiêu nhất định nếu bên này đạt
được nhiều thì bên kia đạt được ít.
dụ: Cạnh tranh trong lĩnh vực n kinh tế, thương mại, luật, chính trị, quân
sự, thể thao.
+ Tương tác xung đột: sự đối lập nhau về nhu cầu, giá trị lợi ích giữa
các nhân, nhóm tổ chức. Trong đó các bên phá vỡ những nguyên tắc
hợp tác hòa bình những hành vi, hoạt động bạo lực gây tổn hại tới
quyền lợi ích của nhau thể dẫn tới cuộc đấu tranh hay xung đột
trang nếu không sự điều hòa hòa giải thỏa đáng xung đột thể xảy ra.
-Dựa trên mức độ tương tác trực tiếp hay giản tiếp của hoạt động: Chia ra
thành 2 loại
+ Tương tác trực tiếp: Chủ thể hành động tương tác trực tiếp với nhau.
+ Tương tác gián tiếp: Chủ thể hành động tương tác với nhau thông qua các
phương tiện trung gian như: Fax, máy tính, điện thoại, internet, thư...
Tóm lại: Trong cuộc sống con người luôn luôn các mối tương tác hội,
thông qua tương tác hội giúp nhân thực hiện được những hành động
nhằm o mục đích xác định còn tạo ra mối liên hệ, quan hệ làm sở
cho sự ổn định, trật tự hội. Thông qua tương c hội, con người tạo ra
các khuôn mẫu nh vi hoạt động, tạo ra các hệ giá trị, chuẩn mực quy
tắc hành động.

Preview text:

Những vấn đề cơ bản về tương tác xã hội ?
1. Khái niệm tương tác xã hội
Hành động xã hội là cơ sở, tiền đề của tương tác xã hội, không có hành động
xã hội thì không có tương tác xã hội. Tương tác xã hội được xem là quá tình
tiến hành các hành vi và hành động trong quá trình trao đổi giữa chủ thể này
với chủ thể khác. Tương tác xã hội là hình thức giao tiếp xã hội hay trao đổi
giữa cá nhân VỚỊ cộng đồng trong đó mối quan hệ qua lại của chúng được
thực hiện. Nhờ có sự tác động qua lại giữa cá nhân, đoàn thể, cộng đồng mới
tồn tại và hoạt động. Trong xã hội chính những tác động ảnh hưởng lẫn nhau
với nhiều hình thức, hoạt động, dáng vẻ tạo ra một hệ thống tương quan xã
hội mà con người chịu ảnh hưởng, tác động lẫn nhau bởi những vai trò, chức
năng, nhiệm vụ cụ thể của mình trong môi trường.
Do vậy, tương tác xã hội được định nghĩa như sau:
Tương tác xã hội được dùng để chỉ quá trình liên hệ và tác động lẫn nhau
giữa hai hay nhiều hơn hai cá nhân, nhóm người'
Dấu hiệu cơ bản của tương tác xã hội giữa hai cá nhân là sự thay đổi trong
nhận thức, thái độ hay hành vi của cả hai cá nhân.
2. Đặc điểm tương tác xã hội
- Tương tác xã hội chính là quá trình giao tiếp của ít nhất là hai chủ thể hành động.
- Con người vừa là chủ thể vừa là khách thể trong quá trình tưong tác và đều
chịu ảnh hưởng của các giá trị, chuẩn mực xã hội, của những tiểu văn hóa,
thậm chí là các phần văn hóa khác nhau. Tức là, mức độ ảnh hưởng của các
chuẩn mực, giá trị đến họ là không giống nhau. Vì vậy, các chủ thể hành
động thường khó khăn trong giao tiếp, nhiều khi dẫn tới sự tranh luận để tìm
ra tiếng nói chung trong một tình huống hoàn cảnh xác định.
- Trong quá trình tương tác, mỗi người đều chịu những lực tương tác khác
nhau, có ý nghĩa khác nhau và đều có sự tác động khác nhau. Như vậy,
tương tác xã hội vừa tạo nên những khuôn dáng mỗi người, vừa tạo nên sự
hợp tác và bất họp tác mỗi người.
- Thông qua tương tác chủ thể sẽ biến đổi và tự động điều chỉnh hành vi và
hành động sao cho phù hợp với chủ thể kia.
3. Lý thuyết tương tác biểu trưng
Lý thuyết tương tác xã hội là một quan điểm xã hội học có ảnh hưởng trong
nhiều lĩnh vực của ngành xã hội học. Các tác giả nổi bật của thuyết tương tác
biểu trưng là Charles Horton Cooley, George Herbert Mead, Herbert Bluner.
Thuyết tương tác tượng trưng được bắt nguồn từ chủ nghĩa thực dụng Mỹ và
đặc biệt là từ các tác phẩm của George Herbert Mead. Mead là người tìm
cách biến những nhận thức của các nhà tư tưởng dụng hành thành một lý
thuyết và phương pháp cho các khoa học xã hội.
Luận điểm chung của thuyết tương tác biểu trưng, các cá nhân trong quá
trình tương tác qua lại với nhau trên cơ sở các ý nghĩa mà họ nhận biết phải
lý giải những hành động, cử chỉ, sự vật, của người khác (các biểu tượng). Đe
có thể hiểu được những hành động, cử chỉ của người đó chúng ta phải nhập
vào vai của người đó, tức là phải đặt mình vào vị trí người đó. Chỉ khi đặt
mình vào vị trí của đối tượng tương tác, chúng ta mới có thể hiểu hết ý nghĩa
phát ngôn, cử chỉ, hành động của họ và mới lý giải được những kiểu hành
động của họ. Đây chính là quá trình quan trọng trong sự hình thành nhân cách cá nhân.
Mead coi khả năng của con người đặt mình vào vị trí, vai trò đối tác và nhìn
nhận mình như một đối tác hành động là cơ chế quan trọng trong sự tương
tác của họ với môi trường xã hội xung quanh. Chính cơ chế này giúp con
người tạo ý nghĩa cho sự vật, hiện tượng, hành động xung quanh- tức là hình
thành các biểu tượng... tất cả những vật thể, hình ảnh, hành động, cử chỉ
xung quanh chúng ta có thể được con người gắn cho những ý nghĩa và trở
thành các biểu tượng trong giao tiếp.
Các biểu tượng có một đặc điểm chung là chúng mang những ý nghĩa nhất
định và tạo ra sự phàn ứng giống nhau ở các cá nhân. nghĩa của biểu
tượng không trùng với ý nghĩa trực tiếp của những cái thể hiện chung.
Để hình thành các biểu tượng tương tác, các cá nhân phải ý thức rõ ràng về
một hành động, cử chỉ, phát ngôn, chữ viết hay hình ảnh nào đó. Nhờ có sự ý
thức về sự vật, hiện tượng hoặc hành động, cử chỉ... sẽ được tách biệt phân
lập ra khỏi môi trường xung quanh. Sau đỏ các cá nhân sẽ qui gán cho ý
nghĩa xác định. Dần dần ý nghĩa qui gán có thể được đông đào các cá nhân
khác thừa nhận. Khi đó chúng ta có một biểu tượng tương tác. Trước khi trở
thành một biểu tượng chúng có chung một nền vãn hóa hay của cả nhân loại,
các biểu tượng thường chỉ là biểu tượng tương tác của một tiểu văn hóa.
Thực tế cùng một sự vật, hiện tượng, hành động, cử chỉ... ở các tiểu văn hóa
khác nhau, được qui gán những ý nghĩa khác nhau. Điều này dẫn đến khó
khăn trong quá trình tương tác. Các biểu tượng khác với tác nhân ờ chỗ nó
không thể gây ra phản ứng trực tiếp. Bởi vì các đối tác cần phải xác định ý
nghĩa được gửi. Hơn nữa, không thể xác định được biểu tượng độc lập với
cá nhân, chính các cá nhân là những người tạo ý nghĩa cho các biểu tượng.
Trong quá trình tương tác giữa các cá nhân thì ngôn ngữ nói và viết là hai
ngôn ngữ quan trọng nhất mà con người sử dụng. Mỗi người không những
phải sử dụng ngôn ngữ nói và chữ viết được qui gán cho âm thanh và các ký
tự để diễn đạt ý nghĩa của hành động mà còn dùng ngôn ngữ nói và chữ viết
để ra quyết định hành động hướng vào người khác. Các quy tắc, các giá trị
và các chuẩn mực của hành động và tương tác cũng được biểu hiện qua các
ký hiệu và các biểu tượng. Cá nhân chỉ có thế tương tác với nhau khi mỗi
người nắm bắt và hiểu được ý nghĩa của các ký hiệu và biểu tượng được
dùng. Do đó, tương tác xã hội gắn liền với ngôn ngữ, với hệ thống các ký hiệu và biểu tượng.
Mặc dù là một lý thuyết quan trọng, nhưng lý thuyết tương tác biểu trưng có
những hạn chế như: Quy tất cả các tương tác xã hội về hành các tương tác
cá nhân điều này không phù họp bởi trong thực tế quá trình tương tác không
chỉ có các cá nhân với nhau mà còn cá nhân với nhóm, tương tác nhóm với nhóm.
4. Lý thuyết trao đổi xã hội
Lý thuyết trao đổi xã hội được giới thiệu vào những năm 1960 bởi nhà xã hội
học George Homans (1910-1989), sau khi Homans thành lập lý thuyết thì có
nhiều nhà khoa học như Richard Emerson, John Thibaut, Harold Kel ey và
Peter Blau tiếp tục phát triển viết về lý thuyết.
Theo George Homans và Peter Blau các nhà xã hội học đã áp dụng các
nguyên lý về trao đổi vào giải thích các hiện tượng xã hội, nhất là tương tác
xã hội. Tương tác xã hội có thể được hiểu là sự trao đổi xã hội giữa người với
người với nghĩa là thông qua hành vi của nhau mà người này, đạt được
những gì mà họ không có ở người kia. Qua quá trình tương tác cá nhân phải
hành động tuân theo nguyên tắc trao đổi các giá trị vật chất và tinh thần thông
qua sự ủng hộ, tán dương hay danh dự... Ông cũng cho rằng những người
trao nhiều cho người khác có xu hướng nhận lại nhiều lần, những người
nhận lại nhiều từ người khác sẽ cảm thấy có sự tác động, áp lực từ phía họ.
Chính điều này giúp cho những người cho nhiều có thể được nhận lại từ phía
những người mà họ đã trao đó là xu hướng cân bằng giữa cho và nhận hay
còn gọi là cân bằng chi phí và lợi ích.
G. Hommans đã đưa ra 4 nguyên tắc tương tác giữa các cá nhân:
Thứ nhất: Nếu một dạng hành vi được thưởng hay có lợi thì hành vi đó có xu hướng lặp lại
Thứ hai: Hành vi được thưởng, được lợi trong hoàn cảnh nào thì cá nhân đó
có xu hướng lặp lại hành vi đó trong hoàn cảnh tương tự.
Thứ ba: Nếu như phần thưởng, mối lợi đủ lớn thì cá nhân sẽ sẵn sàng bỏ ra
nhiều chi phí vật chất và tinh thần để đạt được.
Thứ tư: Khi nhu cầu của các cá nhân gần như hoàn toàn được thoả mãn thì
họ ít cố gắng hon trong việc nỗ lực tìm kiếm chúng.
Với nguyên tắc nêu trên G. Hommans cho rằng ngay cả với nhưng tưong tác
xã hội phức tạp như quan hệ quyền lực... cũng phải tuân theo.
Khác với Homans, Blau lại quan tâm nghiên cứu sự trao đổi xã hội trong mối
quan hệ với cấu trúc xã hội hội vĩ mô, Ông cho rằng trao đổi xã hội có 2 chức năng cơ bản:
Thứ nhất: trao đổi xã hội tạo ra một mỗi quan hệ gắn kết, thiện chí, tin cậy, nhất ưí trong xã hội
Thứ hai: Tạo ra mối quan hệ quyền lực giữa các bên tham gia trao đổi.
Ngoài sự khác nhau về chức năng, thuyết trao đổi xã hội còn nhấn mạnh một
số điểm quan trọng của tương tác xã hội:
-Trao đổi xã hội có giá trị tự thân mà các bên tham gia sẵn sàng cho - nhận không ngang giá nhau.
-Trao đổi xã hội các bên tham gia luôn có xu hướng tạo ấn tượng tốt đẹp, tin cậy và thiện cảm
- Sự trao đổi xã hội ngang vị thế, Blau cho ràng quan hệ xã hội đem lại sự
thoải mãi, dễ chịu, tự nguyện chủ yếu diễn ra giữa những người ngang bằng
nhau về vị thế xã hội. ông cũng cho rằng, bất bình đẳng xã hội tức là sự trao
đổi giữa các bên không ngang nhau về vị thế sẽ đỡ căng thẳng hơn nếu sự
bất bình đẳng là có thật và được nhận thức một cách rõ ràng.
-Những thứ được trao đổi trong tương tác xã hội rất phong phú, đa dạng chứ
không chỉ là những thứ hữu hình có thê cân đo đong đêm được.
Trong thực tế cuộc sống, quá trình tương tác theo mô hình trao đổi xã hội rất
phổ biến. Thông qua sự trao đổi các cá nhân nhận được sự ủng hộ từ nhiều
người khác nhau và đổi lại các cá nhân phải thỏa hiệp và chấp nhận những
giá trị, chuẩn mực chung của nhóm, tổ chức và cộng đồng.
5. Phân loại tương tác xã hội
Có nhiều cách phân loại khác nhau về tương tác xã hội, việc phân loại này
dựa trên một căn cứ nhất định.
- Phân loại tương tác xã hội theo các cấp độ
Căn cứ vào câp độ cá nhân và nhóm người, tương tác xã hội được phân
thành một số dạng như sau:
+ Tương tác cá nhân: Là mối tương tác xã hội giữa hai hay nhiều hơn hai cá
nhân với nhau. Trong mối tương tác này các cá nhân đều có thể biết và trực
tiếp quan hệ và trao đổi với nhau.
+ Tương tác nhóm: Đây là mối tương tác xã hội giữa hai hay nhiều nhóm với
nhau. Tương tác nhóm có thể diễn ra thông qua cá nhân nhưng mỗi cá nhân
trong mối tương tác này hành động với tư cách là người đại diện cho cả
nhóm mà họ là thành viên.
+ Tương tác giữa cá nhân với nhóm: là mối tương tác giữa một bên là cá
nhân với một bên là nhóm. Quan hệ quyền lực trong tương tác này không
hoàn toàn phụ thuộc vào số lượng người tham gia mà phụ thuộc vào vị thế,
vai trò của những người cụ thể.
-Dựa trên tính chất, mục tiêu, ỷ nghĩa của sự tương tác, chia thành các dạng:
+ Tương tác họp tác: Đây là loại tương tác tích cực, mang tính chất xây dựng,
cùng chung sức làm việc giúp đỡ, hỗ trợ lẫn nhau trong một công việc, một
lĩnh vực nào đó vì mục tiêu chung.
Ví dụ: về sự hợp tác quốc tế trong vấn đề bảo vệ môi trưòng, chống đói
nghèo, phòng chống HIV/AIDS, đấu tranh chống khủng bố.
+ Tương tác cạnh tranh: Đây là loại tương tác mang tính tiêu cực, phá hoại,
đối kháng, ngăn cản những chuẩn mực chung, trong đó các bên tham gia đều
ta sức tìm mọi cách để đạt được mục tiêu nhất định mà nếu bên này đạt
được nhiều thì bên kia đạt được ít.
Ví dụ: Cạnh tranh trong lĩnh vực như kinh tế, thương mại, luật, chính trị, quân sự, thể thao.
+ Tương tác xung đột: là sự đối lập nhau về nhu cầu, giá trị và lợi ích giữa
các cá nhân, nhóm và tổ chức. Trong đó các bên phá vỡ những nguyên tắc
hợp tác hòa bình và có những hành vi, hoạt động bạo lực gây tổn hại tới
quyền và lợi ích của nhau có thể dẫn tới cuộc đấu tranh hay xung đột vũ
trang nếu không có sự điều hòa và hòa giải thỏa đáng xung đột có thể xảy ra.
-Dựa trên mức độ tương tác trực tiếp hay giản tiếp của hoạt động: Chia ra thành 2 loại
+ Tương tác trực tiếp: Chủ thể hành động tương tác trực tiếp với nhau.
+ Tương tác gián tiếp: Chủ thể hành động tương tác với nhau thông qua các
phương tiện trung gian như: Fax, máy tính, điện thoại, internet, thư...
Tóm lại: Trong cuộc sống con người luôn luôn có các mối tương tác xã hội,
thông qua tương tác xã hội giúp cá nhân thực hiện được những hành động
nhằm vào mục đích xác định mà còn tạo ra mối liên hệ, quan hệ làm cơ sở
cho sự ổn định, trật tự xã hội. Thông qua tương tác xã hội, con người tạo ra
các khuôn mẫu hành vi và hoạt động, tạo ra các hệ giá trị, chuẩn mực và quy tắc hành động.
Document Outline

  • Những vấn đề cơ bản về tương tác xã hội ?
    • 1. Khái niệm tương tác xã hội
    • 2. Đặc điểm tương tác xã hội
    • 3. Lý thuyết tương tác biểu trưng
    • 4. Lý thuyết trao đổi xã hội
    • 5. Phân loại tương tác xã hội