Nobel ai? Lịch sử những thôn tin thú vị về
giải Nobel
1. Nobel ai?
Nobel (1833 - 1896), tên đầy đủ Alfred Bernhard Noble một nhà khoa
học, nhà phát minh đại tài người Thuỵ Điển. Ông người con trai thứ ba của
nhà khoa học Immanuel Nobel bà Karolina Andriette. Cha của ông một
kiêm nhà sáng chế - người đã tham gia y dựng nhiều cầu cao ốc
tại Stockholm. Tuy nhiên, do những rủi ro trong công trình xây dựng cha
của ông bị phá sản, vào đúng năm ông chào đời.
Năm 1737, Immanuel Nobel rời khỏi Stockholm đưa gia đình tới lập nghiệp
Phần Lan Nga. Để thêm tiền, m của Nobel đã mở một cửa hàng tạp
hoá nhỏ được một phần thu nhập khiêm tốn. Trong thời gian đó, cha
của Nobel cũng bắt đầu thành ng với một ởng cung cấp trang thiết b
cho quân đội Nga St. Petersburg. Ông cũng đã thuyết phục được Nga
hoàng cùng với các tướng lĩnh rằng nên ng thuỷ lôi để ngăn chặn hải quân
của kẻ thù xâm nhập vào thành phố. Ông chũng chính người tiên phong
trong chế tạo khí thiết kế các động hơi nước. Nhờ những thành
công trong kinh doanh công nghiệp, năm 1842 Immanuel Nobel đã đưa cả
gia đình tới St. Petersburg.
đây, các con trai của ông đã bắt đầu được học với các giáo viên thục
các môn bản như khoa học tự nhiên, ngôn ngữ văn học. Alfred Nobel
vào năm 17 tuổi đã thành thạo tiếng Thuỵ Điển, Nga, Pháp, Anh Đức.
Nobel đặc biệt thích văn học, nhưng bố của ông lại muốn ông học khoa học
bởi ông thiên phú về lĩnh vực này. Từ đó, Nobel bắt đầu nghiên cứu cùng
bố các anh về thuốc ng thuỷ lôi, địa lôi. Ít người biết rằng Nobel cũng
một nhà soạn kịch. Năm 1853, khi chiến tranh Krym n ra, nước Nga phải
đối đầu với liên quân 3 nước Anh - Pháp- Thổ Nhĩ Kỳ, nhà máy Nobel càng
bận rộn hơn. Tuy nhiên, sau khi Nga bại trận, nhà máy Nobel đã bị phá sản
nguồn nợ quá lớn cả gia đình phải trở về Thuỵ Điển.
Sau khi trở về Thuỵ Điển, Nobel đã nghiên cứu về nitroglycerin - một loại chất
nổ phân giải nhiệt độ 50- 70 độ C phát nổ rất mạnh nhiệt độ 218 độ C.
Mặc rất nguy hiểm nhưng Nobel vẫn miệt mài nghiên cứu. Sau vài lần
nghiên cứu với bố ông cũng đã tìm ra nguyên của thuốc nổ. Sau đó, Nobel
thành lập công ty làm ăn phát đạt, nhiều lúc nhà máy còn phải sản xuất
cấp tốc để giao hàng cho kịp. Em út của ông Emil Nobel cũng tham gia
nghiên cứu quyền tự do trong n máy. Tuy nhiên, Nobel đã chủ quan
về những tính năng an toàn nên vào ngày 3 tháng 9 năm 1864 n máy
Nobel đã bị phát nổ khiến cho 5 người thiệt mạng thật không may Emil
cũng một trong số đó. Sau tai nạn này, thuốc nổ hầu như đã bị mọi người
bác bỏ nhưng Nobel không từ bỏ ý định chế tạo thuốc nổ.
Thuốc nổ Dynamit phát minh nổi bật nhất trong số 350 bằng phát minh của
ông. Nobel bắt đầu nghiên cứu thuốc nổ từ năm 17 tuổi ông nhận ra rằng
nitroglycerin kết hợp với một số chất hấp thụ t như Kieselguhr (đất nhiều
tảo cát hay còn gọi đất mùn) sẽ giúp trở nên an toàn dễ sử dụng hơn.
Ông cũng được trao bằng sáng chế hỗn hợp đó vào năm 1867 với cái tên
Dynamit. Ông cũng đã quảng cáo thử nghiệm chất nổ của mình lần đầu tiên
trong năm đó tại một mỏ khai thác đá tại Redhiil (Vương quốc Anh). Sau đó,
ông kết hợp Nitroglycerion với chất Collodion thường được một chất
trong như thạch với sức công phá mạnh hơn cả Dynamit. Chất này được gọi
Gelignite được cấp bằng sáng chế vào năm 1876. Vài năm sau đó,
Nobel tạo ra Ballistite - một trong số những loại thuốc súng Nitroglycerin
chứa phần bông thuốc súng phần Nitroglycerin tương đương nhau. Đỉnh
điểm của việc chế tạo loại thuốc nổ này thuốc nổ mạnh không khói.
Từ việc chế tạo Dymamite các loại thuốc nổ khác, cùng việc khai thác các
giếng dầu Baku đã giúp cho ông được một gia i to lớn.
2. Lịch sử những thông tin thú vị v giải Nobel
Sau khi qua đời vào năm 1896, Alfred Nobel đã đ lại một bản di chúc gây
kinh ngạc khó hiểu cho mọi người khi ông chỉ dành một phần nhỏ gia tài
của mình cho bạn người thân để "khỏi tạo nên những kẻ lười biếng".
Còn gần như toàn bộ tài sản của mình ông đã đem bán thành tiền mặt gửi
ngân ng. S tiền lãi hằng năm được trích ra để làm năm giải thưởng trao
tặng cho những người đóng góp lớn nhất cho nhân loại trên các lĩnh vực:
Vật lý, Hoá học, Sinh học (hoặc Y học), Văn chương Hoà bình.
Giải Nobel một giải thưởng quốc tế được công bố hằng năm kể t năm
1901 để vinh danh những nhân đạt thàng tựu trong các nh vực: Vật lý,
Hóa học, Y học, Văn học Hoà bình; riêng giải Nobel Hoà bình th được
trao cho nhân hay một tổ chức. Đến năm 1968, Ngân hàng Thuỵ Điển đã
đưa thêm vào hệ thống giải một giải thưởng về lĩnh vực Kinh tế để tưởng nhớ
đến nhà khoa học Alfred Nobel - người đã sáng lập ra giải Nobel. Trong các
giải thưởng Nobel này t giải Vật lý, Hoá học, Văn học Kinh tế do Viện
hàn lâm khoa học hoàng gia Thuỵ Điển quyết định; giải Y học do Uỷ ban
Nobel của Viện Karolinska quyết định; Giải Hoà bình do Uỷ ban Nobel
thuộc Quốc hội Na Uy quyết định.
Về quy trình để bình xét giải, vào tháng 9 của m trước năm trao giải, Uỷ
ban Nobel mật gửi mẫu đề cử cho 3000 chuyên gia những người đã
từng được nhận giải Nobel, thành viên của đơn vị trao thưởng, c chuyên
gia trong lĩnh vực vật lí, h học, sinh học hoặc y học, các giáo đầu ngành
của nhiều trường đại hoc các viện nghiên cứu. Tới tháng 2 của năm trao
giải sec thời hạn cuối cùng để nộp hồ sơ. Uỷ ban Nobel sẽ sàng lọc lựa
ra các ứng cử viên. Sau đó hội đồng sẽ chọn ra khoảng 250 - 350 người lọt
vào vòng tiếp. Từ tháng 3 cho tới tháng 5, các chuyên gia đánh giá ng trình
của các ứng viên sau đó Uỷ ban Nobel sẽ tiến cử người đạt giải để Viện
Hàn lâm chọn trên đa số phiếu bầu. Từ tháng 6 đến tháng 8, Uỷ ban Nobel
tập hợp các báo cáo m theo danh sách tiến cử để gửi cho Viện Hàn lâm
bản báo cáo y được các thành viên hội đồng cùng tên. Từ tháng 9
đến đầu tháng 10, Uỷ ban Nobel đệ trình ý kiến lựa chọn của h lên Viện hàn
lâm khoa học hoàng gia Thuỵ Điển các tổ chức trao thưởng khác. Trên
thực tế, không phải lúc nào đơn vị trao giải cũng làm theo sự tiến cử của Uỷ
ban này. Vào đầu tháng 10, Viện hàm lâm chọn ra người đạt giải dựa trên đa
số phiếu bầu, sau đó sẽ chính thức ng bố tên của người đoạt giải. Việc bỏ
phiếu để chọn ra người đạt giải Nobel sẽ được giữ mật đến phút chót.
Hằng năm trước ngày 15/11 Ban tổ chức sẽ công bố danh sách những người
được nhận phần thưởng cao quý này. Theo quy định của Uỷ ban Nobel thì
những thông tin liên quan đến quá trình xét tặng giải thưởng sẽ phải được
giữ kín trong vòng 50 năm.
Một giải Nobel thường sẽ được trao tối đa cho 3 người. Nếu một giải thưởng
bị từ chối hoặc không được chấp nhận thì tiền thưởng sẽ được trả o quỹ.
Lễ trao giải Nobel Y học, Vật lí, Hoá học, Văn học, Kinh tế sẽ được trao o
tháng 12 tại Stockholm, Thuỵ Điển l trao giải Nobek Hoà bình sẽ diễn ra
tại Olso, Na Uy. Chủ nhân của giải thưởng Nobel sẽ nhận được giấy chứng
nhận, huy chương vàng cùng phần thưởng tiền mặt. Số tiền sẽ phụ thuộc vào
thu nhập của Uỷ ban Nobel. Năm 2017, quỹ Nobel đã quyết định tăng tiền
thưởng cho các hạng mục giải Nobel thêm 1 triệu krona so với mùa giải trước
đó. Đây lần điều chỉnh tiền thưởng đầu tiên kể từ năm 2012 khi qu Nobel
giảm giá trị tiền thưởng 20% mỗi hạng mục trong bối cảnh phải cân đối ngân
sách dàu hạn.
Tuy rằng đến nay vẫn còn những ý kiến khác nhau về cách xét giải, nhưng
phần lớn những người được nhận giải thưởng Nobel đều là những người
cống hiến đại cho nhân loại. Cùng với giải thưởng này, tấm lòng cao
thượng nhân đạo của Nobel - người sáng lập ra giải thưởng này sẽ mãi
được nhân loại ghi nhận.
3. Những nhà khoa học/ tổ chức nhận giải Nobel đáng nhớ
trong lịch sử
- Marie Curie: Đây người phụ nữ đầu tiên duy nhất trên thế giới đến nay
nhận 2 lần giải thưởng Nobel trong 2 lĩnh vực khác nhau. Năm 1903, vợ
chồng ông Pierre Marie Curie ng chia sẻ giải thưởng Nobel Vật với
nhà vật người Pháp Henri Becquerel. Ông Becquerel được trao giải phát
hiện ra hiện tượng phóng xạ tự nhiên, trong khi vợ chồng nhà Curie được ghi
nhận nghiên cứu về hiện tượng phóng xạ do Becquerel phát hiện ra. Năm
1911, Marie Curie đã đạt giải Nobel Hoá học với thành tựu khám phá ra 2
nguyên tố radium polonium
- Ivan Petrovich Pavlo: ông một nhà sinh học, tâm lý học thầy thuốc
người Nga nhận giải Nobel Y học o năm 1904 nhờ nghiên cứu công phu về
hệ thống tiêu hoá. Ông đã tìm hiểu về các chức năng dạ dày của chó bằng
các quan sát loài vật này khi tiết dịch vị, sau đó phân tích dich vị phản xạ
của chúng dưới nhiều điều kiện khác nhau. Kết quả cho thấy rằng mỗi khi
thức ăn, dịch vị của chó sẽ tiết ra nhiều hơn. Đây cũng chính tiền đề để
ông đưa ra định luật về phản xạ điều kiện.
- Albert Einstein: ông n khoa học đại nhất thế kỷ XX giành giải Nobel
Vật năm 1921 nhờ khám p ra hiệu ứng quang điện. Đây hiện tượng
các hạt electron bật ra khỏi miếng kim loại được chiếu sáng. Thông
thường, electron quay quanh các hạt nhân nguyên tử. Khi "va chạm" với ánh
sáng tần số thích hợp, electron sẽ hấp thụ ng lượng của photon rồi bật
ra khỏi nguyên tử kim loại. Phát hiện của Einstein đã mở đường cho ng
loạt lĩnh vực như phát thanh, truyền hình...và đặt nền móng cho vật hiện
đại.
- Alexander Fleming: nhà khoa học người Scotland này đã cùng với nhà
nghiên cứu bệnh học người Australia Howard Walter Florey nhà hoá sinh
người Anh Ernst Boris Chain đã được trao giải Nobel Y học năm 1945 nhờ
khám phá ra chất penicilin dùng trong thuốc kháng sinh. Khám p này đã
làm thay đổi ngành y tế bởi thuốc kháng sinh thể chữa được nhiều loại
bênh nguy hiểm, cứu sống nhiều người.
- Uỷ ban chữ thập đỏ quốc tế (ICRC): Tổ chức này một phần của Phong
trào chữ thập đỏ - Trăng lưỡi liềm đỏ quốc tế, trụ sở tại Geneve (Thuỵ Sĩ).
Uỷ ban chữ thập đỏ quốc tế được thành lập năm 1863 với mục tiên trợ giúp
nhân đạo cho những người bị ảnh hưởng bởi bạo lực trang, thúc đẩy pháp
luật, bảo vệ nạn nhân của chiến tranh, thiên tai. Tổ chức này được trao giải
Nobel Hoà bình vào các năm 1917, 1944 1963.
- Mẹ Teresa: Bà Agnes Gonxhe Bojaxhiu còn được gọi mẹ Teresa Calcutta,
nữ tu Công giáo người Albania - người sáng lập ra dòng Thừa sai Bác Ái
Calcutta, Ấn Độ năm 1950. Trong khoảng 40 năm hoạt động, đã chăm sóc
người nghèo, bệnh tật, trẻ mồ côi hoàn thành sứ mệnh truyền giáo n
Độ cũng như nhiều quốc gia khác. được trao tặng giải Nobel Hoà bình vào
năm 1979 vẫn tiếp tục hoạt động sau đó. qua đời vào năm 1979
được giáo hoàng phong danh hiệu chân phước.
- Martin Luther King: Ông n hoạt động nhân quyền nổi tiếng người Mỹ
gốc Phi, một trong số những nhà lãnh đạo ảnh hưởng lớn nhất trong lịch
sử Mỹ cũng như lịch sử đương đại thế giới, được trao giải Nobel Hoà bình
năm 1964. Martin Luther King được nhiều người trên khắp hành tinh ngưỡng
mộ như một anh hùng, nhà kiến tạo h bình. Ông lãnh đạo các phong trào
đấu tranh đòi bình đẳng cho người da u, công nhân trong các nhà máy
nhiều đối tượng khác trong hội.

Preview text:

Nobel là ai? Lịch sử và những thôn tin thú vị về giải Nobel 1. Nobel là ai?
Nobel (1833 - 1896), tên đầy đủ là Alfred Bernhard Noble là một nhà khoa
học, nhà phát minh đại tài người Thuỵ Điển. Ông là người con trai thứ ba của
nhà khoa học Immanuel Nobel và bà Karolina Andriette. Cha của ông là một
kĩ sư kiêm nhà sáng chế - người đã tham gia xây dựng nhiều cầu và cao ốc
tại Stockholm. Tuy nhiên, do những rủi ro trong công trình xây dựng mà cha
của ông bị phá sản, vào đúng năm mà ông chào đời.
Năm 1737, Immanuel Nobel rời khỏi Stockholm và đưa gia đình tới lập nghiệp
ở Phần Lan và Nga. Để có thêm tiền, mẹ của Nobel đã mở một cửa hàng tạp
hoá nhỏ và có được một phần thu nhập khiêm tốn. Trong thời gian đó, cha
của Nobel cũng bắt đầu thành công với một xưởng cung cấp trang thiết bị
cho quân đội Nga ở St. Petersburg. Ông cũng đã thuyết phục được Nga
hoàng cùng với các tướng lĩnh rằng nên dùng thuỷ lôi để ngăn chặn hải quân
của kẻ thù xâm nhập vào thành phố. Ông chũng chính là người tiên phong
trong chế tạo vũ khí và thiết kế các động cơ hơi nước. Nhờ những thành
công trong kinh doanh và công nghiệp, năm 1842 Immanuel Nobel đã đưa cả
gia đình tới St. Petersburg.
Ở đây, các con trai của ông đã bắt đầu được học với các giáo viên tư thục
các môn cơ bản như khoa học tự nhiên, ngôn ngữ và văn học. Alfred Nobel
vào năm 17 tuổi đã thành thạo tiếng Thuỵ Điển, Nga, Pháp, Anh và Đức.
Nobel đặc biệt thích văn học, nhưng bố của ông lại muốn ông học khoa học
bởi ông có thiên phú về lĩnh vực này. Từ đó, Nobel bắt đầu nghiên cứu cùng
bố và các anh về thuốc súng và thuỷ lôi, địa lôi. Ít người biết rằng Nobel cũng
là một nhà soạn kịch. Năm 1853, khi chiến tranh Krym nổ ra, nước Nga phải
đối đầu với liên quân 3 nước Anh - Pháp- Thổ Nhĩ Kỳ, nhà máy Nobel càng
bận rộn hơn. Tuy nhiên, sau khi Nga bại trận, nhà máy Nobel đã bị phá sản vì
nguồn nợ quá lớn và cả gia đình phải trở về Thuỵ Điển.
Sau khi trở về Thuỵ Điển, Nobel đã nghiên cứu về nitroglycerin - một loại chất
nổ phân giải ở nhiệt độ 50- 70 độ C và phát nổ rất mạnh ở nhiệt độ 218 độ C.
Mặc dù rất nguy hiểm nhưng Nobel vẫn miệt mài nghiên cứu. Sau vài lần
nghiên cứu với bố ông cũng đã tìm ra nguyên lý của thuốc nổ. Sau đó, Nobel
thành lập công ty và làm ăn phát đạt, nhiều lúc nhà máy còn phải sản xuất
cấp tốc để giao hàng cho kịp. Em út của ông là Emil Nobel cũng tham gia
nghiên cứu và có quyền tự do trong nhà máy. Tuy nhiên, Nobel đã chủ quan
về những tính năng an toàn nên vào ngày 3 tháng 9 năm 1864 nhà máy
Nobel đã bị phát nổ và khiến cho 5 người thiệt mạng và thật không may Emil
cũng là một trong số đó. Sau tai nạn này, thuốc nổ hầu như đã bị mọi người
bác bỏ nhưng Nobel không từ bỏ ý định chế tạo thuốc nổ.
Thuốc nổ Dynamit là phát minh nổi bật nhất trong số 350 bằng phát minh của
ông. Nobel bắt đầu nghiên cứu thuốc nổ từ năm 17 tuổi và ông nhận ra rằng
nitroglycerin kết hợp với một số chất hấp thụ trơ như Kieselguhr (đất nhiều
tảo cát hay còn gọi là đất mùn) sẽ giúp nó trở nên an toàn và dễ sử dụng hơn.
Ông cũng được trao bằng sáng chế hỗn hợp đó vào năm 1867 với cái tên là
Dynamit. Ông cũng đã quảng cáo thử nghiệm chất nổ của mình lần đầu tiên
trong năm đó tại một mỏ khai thác đá tại Redhi l (Vương quốc Anh). Sau đó,
ông kết hợp Nitroglycerion với chất Col odion và thường có được một chất
trong như thạch với sức công phá mạnh hơn cả Dynamit. Chất này được gọi
là Gelignite và được cấp bằng sáng chế vào năm 1876. Vài năm sau đó,
Nobel tạo ra Bal istite - một trong số những loại thuốc súng Nitroglycerin có
chứa phần bông thuốc súng và phần Nitroglycerin tương đương nhau. Đỉnh
điểm của việc chế tạo loại thuốc nổ này là thuốc nổ mạnh và không có khói.
Từ việc chế tạo Dymamite và các loại thuốc nổ khác, cùng việc khai thác các
giếng dầu ở Baku đã giúp cho ông có được một gia tài to lớn.
2. Lịch sử và những thông tin thú vị về giải Nobel
Sau khi qua đời vào năm 1896, Alfred Nobel đã để lại một bản di chúc gây
kinh ngạc và khó hiểu cho mọi người khi ông chỉ dành một phần nhỏ gia tài
của mình cho bạn bè và người thân để "khỏi tạo nên những kẻ lười biếng".
Còn gần như toàn bộ tài sản của mình ông đã đem bán thành tiền mặt và gửi
ngân hàng. Số tiền lãi hằng năm được trích ra để làm năm giải thưởng trao
tặng cho những người có đóng góp lớn nhất cho nhân loại trên các lĩnh vực:
Vật lý, Hoá học, Sinh học (hoặc Y học), Văn chương và Hoà bình.
Giải Nobel là một giải thưởng quốc tế được công bố hằng năm kể từ năm
1901 để vinh danh những cá nhân đạt thàng tựu trong các lĩnh vực: Vật lý,
Hóa học, Y học, Văn học và Hoà bình; riêng giải Nobel Hoà bình có thể được
trao cho cá nhân hay một tổ chức. Đến năm 1968, Ngân hàng Thuỵ Điển đã
đưa thêm vào hệ thống giải một giải thưởng về lĩnh vực Kinh tế để tưởng nhớ
đến nhà khoa học Alfred Nobel - người đã sáng lập ra giải Nobel. Trong các
giải thưởng Nobel này thì giải Vật lý, Hoá học, Văn học và Kinh tế do Viện
hàn lâm khoa học hoàng gia Thuỵ Điển quyết định; giải Y học do Uỷ ban
Nobel của Viện Karolinska quyết định; và Giải Hoà bình do Uỷ ban Nobel
thuộc Quốc hội Na Uy quyết định.
Về quy trình để bình xét giải, vào tháng 9 của năm trước năm trao giải, Uỷ
ban Nobel bí mật gửi mẫu đề cử cho 3000 chuyên gia là những người đã
từng được nhận giải Nobel, thành viên của đơn vị trao thưởng, các chuyên
gia trong lĩnh vực vật lí, hoá học, sinh học hoặc y học, các giáo sư đầu ngành
của nhiều trường đại hoc và các viện nghiên cứu. Tới tháng 2 của năm trao
giải sec là thời hạn cuối cùng để nộp hồ sơ. Uỷ ban Nobel sẽ sàng lọc và lựa
ra các ứng cử viên. Sau đó hội đồng sẽ chọn ra khoảng 250 - 350 người lọt
vào vòng tiếp. Từ tháng 3 cho tới tháng 5, các chuyên gia đánh giá công trình
của các ứng viên và sau đó Uỷ ban Nobel sẽ tiến cử người đạt giải để Viện
Hàn lâm chọn trên đa số phiếu bầu. Từ tháng 6 đến tháng 8, Uỷ ban Nobel
tập hợp các báo cáo có kèm theo danh sách tiến cử để gửi cho Viện Hàn lâm
và bản báo cáo này được các thành viên hội đồng cùng kí tên. Từ tháng 9
đến đầu tháng 10, Uỷ ban Nobel đệ trình ý kiến lựa chọn của họ lên Viện hàn
lâm khoa học hoàng gia Thuỵ Điển và các tổ chức trao thưởng khác. Trên
thực tế, không phải lúc nào đơn vị trao giải cũng làm theo sự tiến cử của Uỷ
ban này. Vào đầu tháng 10, Viện hàm lâm chọn ra người đạt giải dựa trên đa
số phiếu bầu, sau đó sẽ chính thức công bố tên của người đoạt giải. Việc bỏ
phiếu để chọn ra người đạt giải Nobel sẽ được giữ bí mật đến phút chót.
Hằng năm trước ngày 15/11 Ban tổ chức sẽ công bố danh sách những người
được nhận phần thưởng cao quý này. Theo quy định của Uỷ ban Nobel thì
những thông tin liên quan đến quá trình xét tặng giải thưởng sẽ phải được
giữ kín trong vòng 50 năm.
Một giải Nobel thường sẽ được trao tối đa cho 3 người. Nếu một giải thưởng
bị từ chối hoặc không được chấp nhận thì tiền thưởng sẽ được trả vào quỹ.
Lễ trao giải Nobel Y học, Vật lí, Hoá học, Văn học, Kinh tế sẽ được trao vào
tháng 12 tại Stockholm, Thuỵ Điển và lễ trao giải Nobek Hoà bình sẽ diễn ra
tại Olso, Na Uy. Chủ nhân của giải thưởng Nobel sẽ nhận được giấy chứng
nhận, huy chương vàng cùng phần thưởng tiền mặt. Số tiền sẽ phụ thuộc vào
thu nhập của Uỷ ban Nobel. Năm 2017, quỹ Nobel đã quyết định tăng tiền
thưởng cho các hạng mục giải Nobel thêm 1 triệu krona so với mùa giải trước
đó. Đây là lần điều chỉnh tiền thưởng đầu tiên kể từ năm 2012 khi quỹ Nobel
giảm giá trị tiền thưởng 20% mỗi hạng mục trong bối cảnh phải cân đối ngân sách dàu hạn.
Tuy rằng đến nay vẫn còn có những ý kiến khác nhau về cách xét giải, nhưng
phần lớn những người được nhận giải thưởng Nobel đều là những người có
cống hiến vĩ đại cho nhân loại. Cùng với giải thưởng này, tấm lòng cao
thượng và nhân đạo của Nobel - người sáng lập ra giải thưởng này sẽ mãi
được nhân loại ghi nhận.
3. Những nhà khoa học/ tổ chức nhận giải Nobel đáng nhớ trong lịch sử
- Marie Curie: Đây là người phụ nữ đầu tiên và duy nhất trên thế giới đến nay
nhận 2 lần giải thưởng Nobel trong 2 lĩnh vực khác nhau. Năm 1903, vợ
chồng ông Pierre và Marie Curie cùng chia sẻ giải thưởng Nobel Vật lý với
nhà vật lý người Pháp Henri Becquerel. Ông Becquerel được trao giải vì phát
hiện ra hiện tượng phóng xạ tự nhiên, trong khi vợ chồng nhà Curie được ghi
nhận vì nghiên cứu về hiện tượng phóng xạ do Becquerel phát hiện ra. Năm
1911, Marie Curie đã đạt giải Nobel Hoá học với thành tựu khám phá ra 2
nguyên tố radium và polonium
- Ivan Petrovich Pavlo: ông là một nhà sinh lý học, tâm lý học và thầy thuốc
người Nga nhận giải Nobel Y học vào năm 1904 nhờ nghiên cứu công phu về
hệ thống tiêu hoá. Ông đã tìm hiểu về các chức năng dạ dày của chó bằng
các quan sát loài vật này khi tiết dịch vị, sau đó phân tích dich vị và phản xạ
của chúng dưới nhiều điều kiện khác nhau. Kết quả cho thấy rằng mỗi khi có
thức ăn, dịch vị của chó sẽ tiết ra nhiều hơn. Đây cũng chính là tiền đề để
ông đưa ra định luật về phản xạ có điều kiện.
- Albert Einstein: ông là nhà khoa học vĩ đại nhất thế kỷ XX giành giải Nobel
Vật lý năm 1921 nhờ khám phá ra hiệu ứng quang điện. Đây là hiện tượng
mà các hạt electron bật ra khỏi miếng kim loại được chiếu sáng. Thông
thường, electron quay quanh các hạt nhân nguyên tử. Khi "va chạm" với ánh
sáng có tần số thích hợp, electron sẽ hấp thụ năng lượng của photon rồi bật
ra khỏi nguyên tử kim loại. Phát hiện của Einstein đã mở đường cho hàng
loạt lĩnh vực như phát thanh, truyền hình.. và đặt nền móng cho vật lý hiện đại.
- Alexander Fleming: nhà khoa học người Scotland này đã cùng với nhà
nghiên cứu bệnh học người Australia Howard Walter Florey và nhà hoá sinh
người Anh Ernst Boris Chain đã được trao giải Nobel Y học năm 1945 nhờ
khám phá ra chất penicilin dùng trong thuốc kháng sinh. Khám phá này đã
làm thay đổi ngành y tế bởi thuốc kháng sinh có thể chữa được nhiều loại
bênh nguy hiểm, cứu sống nhiều người.
- Uỷ ban chữ thập đỏ quốc tế (ICRC): Tổ chức này là một phần của Phong
trào chữ thập đỏ - Trăng lưỡi liềm đỏ quốc tế, có trụ sở tại Geneve (Thuỵ Sĩ).
Uỷ ban chữ thập đỏ quốc tế được thành lập năm 1863 với mục tiên trợ giúp
nhân đạo cho những người bị ảnh hưởng bởi bạo lực vũ trang, thúc đẩy pháp
luật, bảo vệ nạn nhân của chiến tranh, thiên tai. Tổ chức này được trao giải
Nobel Hoà bình vào các năm 1917, 1944 và 1963.
- Mẹ Teresa: Bà Agnes Gonxhe Bojaxhiu còn được gọi là mẹ Teresa Calcutta,
là nữ tu Công giáo người Albania - người sáng lập ra dòng Thừa sai Bác Ái ở
Calcutta, Ấn Độ năm 1950. Trong khoảng 40 năm hoạt động, bà đã chăm sóc
người nghèo, bệnh tật, trẻ mồ côi và hoàn thành sứ mệnh truyền giáo ở Ấn
Độ cũng như nhiều quốc gia khác. Bà được trao tặng giải Nobel Hoà bình vào
năm 1979 và vẫn tiếp tục hoạt động sau đó. Bà qua đời vào năm 1979 và
được giáo hoàng phong danh hiệu chân phước.
- Martin Luther King: Ông là nhà hoạt động nhân quyền nổi tiếng người Mỹ
gốc Phi, một trong số những nhà lãnh đạo có ảnh hưởng lớn nhất trong lịch
sử Mỹ cũng như lịch sử đương đại thế giới, được trao giải Nobel Hoà bình
năm 1964. Martin Luther King được nhiều người trên khắp hành tinh ngưỡng
mộ như một anh hùng, nhà kiến tạo hoà bình. Ông lãnh đạo các phong trào
đấu tranh đòi bình đẳng cho người da màu, công nhân trong các nhà máy và
nhiều đối tượng khác trong xã hội.
Document Outline

  • Nobel là ai? Lịch sử và những thôn tin thú vị về g
    • 1. Nobel là ai?
    • 2. Lịch sử và những thông tin thú vị về giải Nobel
    • 3. Những nhà khoa học/ tổ chức nhận giải Nobel đán