



















Preview text:
NỘI DUNG ÔN TẬP
HỌC PHẦN: CƠ SỞ VĂN HOÁ VIỆT NAM
Câu 1: Văn hóa, các đặc trưng và chức năng của văn hóa? Trả lời:
• Khái niệm: Văn hoá là một hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng
tạo và tích luỹ qua các quá trình hoạt động thực tiễn, trong sự tương tác giữa con người với
môi trường tự nhiên và xã hội của mình.
• Đặc trưng của văn hoá:
ü Tính hệ thống là đặc trưng hàng đầu của văn hóa. Đặc trưng tính hệ thống giúp phân biệt
văn hóa với tập hợp các biểu hiện riêng lẻ, các bộ phận cấu thành của văn hóa; nó giúp phát
hiện những mối liên hệ mật thiết giữa các hiện tượng, sự kiện thuộc một nền văn hóa; phát
hiện các đặc trưng, những quy luật hình thành và phát triển của văn hóa.
ü Tính giá trị. Văn hóa theo nghĩa đen nghĩa là “trở thành đẹp, thành có giá trị”. Tính giá trị
cần để phân biệt giá tri với phi giá trị (ví dụ: thiên tai, trộm cướp). Nó là thước đo mức độ
nhân bản của xã hội và con người. Sự phân biệt các giá trị theo thời gian cho phép ta có
được cái nhìn biện chứng và khách quan trong việc đánh giá tính giá trị của sự vật, hiện
tượng; tránh được những xu hướng cực đoan - tán dương hết lời hoặc phủ nhận sạch trơn.
ü Tính nhân sinh (nhân tạo). Tính nhân sinh cho phép phân biệt văn hóa như một hiện
trượng xã hội (do con người sáng tạo) với các giá trị tự nhiên (thiên tạo). Phần lớn các giá
trị văn hóa chính là cái tự nhiên được biển đổi bởi con người. Sự tác động của con người
vào tự nhiên có thể mang tính vật chất (như luyện quặng, đẽo gộ...) hoặc mang tính tinh
thần (như đặt tên; sáng tạo truyền thuyết đề giải thích hình dáng, tên gọi của vạn vật...).
ü Tính lịch sử: Tính lịch sử cho phép phân biệt văn hóa như sản phẩm của một quá trình và
được tích lũy qua nhiều thế hệ với văn minh như sản phẩm cuối cùng, chỉ ra trình độ phát
triển của từng giai đoạn. Tính lịch sử tạo cho văn hóa một bể dày, một chiêu sâu; nó buộc
văn hoa phải thường xuyên tự điều chỉnh, tiền hành phân loại và phân bố lại các giá trị.
• Chức năng của văn hoá:
ü Văn hoá có tính hệ thống và nhờ có tính hệ thống mà văn hoá, với tư cách là một thực thể
bao trùm mọi hoạt động của xã hội, thực hiện được chức năng tổ chức xã hội. Chính văn
hoá làm tang độ ổn định của xã hội, cung cấp cho xã hội mọi phương tiện cần thiết để ứng
phó với môi trường tự nhiên và xã hội của mình. Nó là nền tảng của xã hội - có lẽ chính vì
vậy mà người Việt dùng loại từ “nền” để định loại khái niệm văn hoá (nền văn hoá).
ü Nhờ thường xuyên xem xét các giá trị mà văn hoá thực hiện được chức năng quan trọng
thứ 2 là điều chỉnh xã hội, giúp cho xã hội duy trì được trạng thái cân bằng động, không
ngừng tự hoàn thiện và thích ứng với những biến đổi của môi trường tự nhiên và xã hội;
giúp định hướng các chuẩn mực, làm động lực cho sự phát triển của xã hội.
ü Do mang tính nhân sinh, văn hoá trở thành sợi dây nối liền con người với con người; văn
hoá thực hiện chức năng giao tiếp. Nếu ngôn ngữ là hình thức của giao tiếp thì văn hóa là
nội dung của nó; điều đó đúng với giao tiếp giữa các cá nhân trong một dân tộc, lại càng
đúng với giao tiếp giữa những người thuộc các dân tộc khác nhau và giao tiếp giữa các nền văn hóa.
ü Chức năng giáo dục: văn hóa thực hiện chức năng giáo dục không chỉ bằng những giá trị
đã ổn định (truyền thống), mà còn bằng cả những giá trị đang hình thành. Các giá trị đã ổn
định và những giá trị đang hình thành tạo thành một hệ thống chuẩn mực mà con người
hướng tới. Nhờ nó mà văn hóa đóng vai trò quyết định trong việc hình thành nhân cách ở
con người, trồng người (dưỡng dục nhân cách). Từ chức năng giáo dục, văn hóa có chức
năng phái sinh là đảm bảo tính kế tục của lịch sử.
Câu 2: Mối liên hệ giữa điều kiện tự nhiên và văn hóa Việt Nam? Trả lời:
Môi trường tự nhiên là tổng thể các nhân tố ngoại cảnh xung quanh chúng ta như: bầu khí quyển,
thổ nhưỡng, nước, thực vật, động vật, khoáng sản... Con người tồn tại trong môi trường tự nhiên, cùng
phát triển với môi trường tự nhiên nên mối quan hệ giữa con người với tự nhiên cũng là một mặt cơ
bản của đời sống văn hóa. Không khí con người hít thở, đồ ăn, nước uống... đều lấy từ môi trường tự
nhiên. èì vậy, những gì có lợi cho mình thì con người sẽ thích nghi, tận dụng; còn những gì có hại thì
con người sẽ cải tạo, ứng phó. Cụ thể như:
- Địa lý và địa hình:
• Địa hình phong phú: Với hệ thông núi non, sông ngòi và bờ biên dài, Việt Nam có một
địa hình đa dạng. Điều này đã góp phần tạo ra sự đa dạng văn hóa trong cả nền kiến trúc,
nghệ thuật và lối sống của cộng đồng dọc theo các khu vực khác.
• Sự ảnh hưởng của biển: Với hơn 3.000 km bờ biển, biển cả đã ảnh hưởng lớn đến lối
sống, nghệ thuật, văn hóa ẩm thực và tình cảm của người Việt Nam với biển.
- Khí hậu nhiệt đới: Khí hậu ẩm và nhiệt đới ảnh hưởng đến lối sống và sinh hoạt hàng ngày
của người Việt Nam. Nó cũng tạo điều kiện cho sự phát triển của nông nghiệp và văn hóa ẩm thực đặc trưng.
- Tài nguyên tự nhiên:
• Nông nghiệp và đất đai: Việt Nam là một đất nước nông nghiệp, và điều này đã hình thành
lối sống cộng đồng và giao thoa với văn hóa nông dân, từ lễ hội đến nghệ thuật dân cư.
• Rừng và nguồn nước: Sự hiện diện của rừng và nguồn nước phong phú đã tạo ra các nền
văn hóa dựa vào việc bảo vệ và sử dụng tài nguyên này.
Câu 3: Các đặc điểm của loại hình văn hóa Việt Nam? Trả lời:
Khái niệm loại hình văn hóa được hình thành trên cơ sở về sự khác biệt của các yếu tố: môi
trường tự nhiên, phương thức sản xuất kinh tế, lối cư trú. Từ ba yếu tố cơ bản này, giới nghiên cứu
quy văn hóa nhân loại vào hai loại hình: văn hoá gốc nông nghiệp và văn hóa gốc du mục (tương ứng
là các nền văn hóa phương Đông và phương Tây).
• Văn hóa gốc nông nghiệp: chủ yếu ứng với môi trường sống của các cộng đồng cư dân ở phương Đông.
ü Môi trường tự nhiên: là xứ nóng sinh ra mưa nhiều (ẩm), tạo nên nhiều con sông lớn
và các vùng đồng bằng trù phú.
ü Nghề mưu sinh: sinh sống bằng nghề trồng trọt là chính, do đó hình thành lối sống định cư.
ü Tổ chức đời sống: lo tạo dựng cuôc sống ổn định lâu dài, không xáo trộn nên mang
tính chất trọng tĩnh (cuộc sống yên bình, ít di chuyển).
ü Ứng xử với môi trường tự nhiên: tôn trọng, hòa hợp với thiên nhiên. Người dân sống
phụ thuộc nhiều vào thiên nhiên, ở cố định môt chỗ với cái nhà, cái cây của mình nên
có ý thức tôn trọng, không dám ganh đua với tự nhiên; sống hòa hợp với tự nhiên là
mong muốn của cư dân; tận dụng tự nhiên: ăn thực vật là chủ yếu; ưu điểm: con người
giữ gìn được môi trường sống tự nhiên; nhược điêm: rụt rè, e ngại thậm chí tôn sùng tự nhiên.
ü Lối nhận thức, tư duy: tổng hợp - biện chứng. Hệ thống tri thức thu được bằng con
đường kinh nghiêm, chủ quan, cảm tính. Sức thuyết phục thấp, nhưng bao giờ cũng diễn
đạt ngắn gọn, súc tích, thâm thúy. Do được hình thành môt cách tự nhiên (không bị giới
hạn đối tượng) và được kiểm chứng bằng kinh nghiêm của nhiều thế hệ nên tính đúng
của tư duy tổng hợp - biện chứng thường khá cao; ưu điểm: nhìn nhận vấn đề toàn diện,
luôn thấy mối quan hệ giữa chúng; nhược điểm: thiếu triệt để, sâu sắc.
ü Xu hướng khoa học: thiên về thiên văn, triết học tâm linh và tôn giáo.
ü Ứng xử xã hội: con người nông nghiệp trọng tình, đến thái độ trọng đức, trọng văn,
trọng phụ nữ. Lối sống trọng tình đã tác động đến cách thức tổ chức cộng đồng theo lối
linh hoạt, luôn biến báo cho thích hợp với từng hoàn cảnh cụ thể. Con người cư xử bình
đẳng (dân chủ) với nhau (dân chủ làng mạc). Lối sống trọng tình và cách cư xử dân chủ
tác động đến đăc trưng quan trọng bậc nhất là tâm lý coi trọng tâp thể, công đồng; ưu
điểm: lối sống hiếu hòa, nhân nghĩa trong quan hệ xã hội; nhược điểm: mặt trái của linh
hoạt, dân chủ là tùy tiện, tâm lý hòa cả làng, bệnh coi thường phép nước.
ü Đặc trưng văn hóa: dung hợp trong tiếp nhân và mềm dẻo, hiếu hòa trong đối phó.
ü Tôn giáo: tín ngưỡng đa thần cố xưa được kế tục bằng đa tôn giáo.
ü Văn học nghệ thuật: thiên về thơ, nhạc trữ tình.
• Văn hóa gốc du mục: chủ yếu ứng với môi trường sống của các cộng đồng cư dân ở phương Tây.
ü Môi trường tự nhiên: là xứ lạnh với khí hậu khô, không thích hợp cho thực vật sinh
trưởng, trừ những vùng đồng cỏ rộng:
ü Nghề mưu sinh: sinh sống bằng chăn nuôi là chính, do đó hình thành lối sống du cư.
ü Tổ chức đời sống: lo tổ chức để thường xuyên di chuyển gọn gàng, nhanh chóng, thuận
tiện nên mang tính chất trọng đông (cuộc sống năng động, di chuyển nhiều).
ü Ứng xử với môi trường tự nhiên: coi thường và luôn muốn chinh phục, chế ngự tự
nhiên. Cư dân du mục nếu thấy ở nơi này không thuận tiện, có thể dễ dàng bỏ đi nơi
khác, do vậy tác động đến tâm lý coi thường tự nhiên. Bởi vậy, người phương Tây luôn
có tham vọng chinh phục và chế ngự tự nhiên; tận dụng tự nhiên: chủ yếu ăn động vật;
ưu điểm: khuyến khích con người dũng cảm đối mắt với tự nhiên, khuyến khích khoa
học phát triển; nhược điểm: hủy hoại môi trường.
ü Lối nhận thức, tư duy: phân tích - siêu hình. Khoa học hình thành theo con đường
thực nghiêm, khách quan, lý tính; tính chặt chẽ và sức thuyết phục cao. Đây là lí do
khiến khoa học phát triển nhanh - tư tưởng trước sai sẽ có tư tưởng sau thay thế; ưu
điểm: có sự sâu sắc, phát triển mạnh các ngành khoa học chuyên sâu; nhược điểm: thiếu toàn diện.
ü Xu hướng khoa học: thiên về khoa học tự nhiên và kỹ thuật.
ü Ứng xử xã hội: con người du mục trọng lý trí, tác động đến trọng sức mạnh, trọng tài,
trọng ve, trọng nam giới. Cuôc sống du cư tác động đến cách thức tổ chức cộng đồng
theo nguyên tắc với tính tổ chức cao (nếp sống theo pháp luật); quyền lực tuyêt đối nằm
trong tay người cai trị - quân chủ. Tư duy phân tích, cách tổ chức cộng đồng theo nguyên
tắc tác động đến môt đặc điểm quan trọng của văn hóa du mục là tâm lý trọng cá nhân;
ưu điểm: mọi vấn đề đều theo một nguyên tắc khách quan với các chuẩn mực cố định,
văn minh; nhược điểm: mặt trái của nguyên tắc là máy móc, rập khuôn, cứng nhắc, áp
đặt, thiếu bình đẳng.
ü Đặc trưng văn hóa: độc tôn trong tiếp nhân và cứng rắn, hiếu thắng trong đối phó.
ü Tôn giáo: tín ngưỡng đa thần sơ khai nhanh chóng chuyển sang nhất thần giáo và tôn giáo độc tôn.
ü Văn học nghệ thuật: thiên về truyện, kịch, múa sôi động.
Câu 4: Tiến trình văn hóa Việt Nam (giai đoạn văn hóa bản địa)? Trả lời:
Tiến trình văn hóa Việt Nam có thế chia thành 6 giai đoạn: văn hóa tiền sử, văn hóa Văn Lang -
Âu Lạc, văn hóa thời chống Bắc thuộc, văn hóa Đại Việt, văn hóa Đại Nam và văn hóa hiện đại. Sáu
giai đoạn này tạo thành ba lớp: lớp văn hóa bản địa, lớp văn hóa giao lưu với Trung Hoa và khu vực,
lớp văn hóa giao lưu với phương Tây.
Lớp văn hóa bản địa Lớp văn hóa bản địa được hình thành qua hai giai đoạn: giai đoạn
văn hóa tiền sử và giai đoạn văn hóa Văn Lang - Âu Lạc.
• Thành tựu lớn nhất ở giai đoạn văn hóa tiền sử của cư dân Nam - Á là sự hình thành
nghề nông nghiệp lúa nước:
ü Trong năm trung tâm xuất hiện cây trồng, Đông Nam Á chính là trung tâm nông nghiệp
cô xưa nhất. Còn theo các tài liệu cô thực vật học thì việc cây lúa có nguôn gôc từ đây là
điêu không còn nghi ngờ gì: trung tâm thuân dưỡng lúa là vùng đông nam Himalaya và
khu vực sông nước Đông Nam Á. Các tác giả Lịch sử Việt Nam khẳng định: “Trên cơ sở
kinh tế hái lượm phát triển ở vùng rừng nhiệt đới, các bộ lạc Hòa Bình đã thực hiện một
bước nhảy có ý nghĩa lớn lao trong đời sống nhân loại: phát minh nông nghiệp... Đông
Nam Á là một trong những trung tâm phát sinh nông nghiệp sớm nhất”.
ü Ngoài cây lúa và kĩ thuật trồng lúa, còn phải kể đến một số thành tựu đặc biệt khác của Đông Nam Á cổ đại:
o Việc trồng dâu nuôi tằm để làm đồ mặc và tục uống chè;
o Việc thuần dưỡng một số gia súc đặc thù như trâu, gà (trong cuốn Nguồn gốc các loài,
E. Darwin đã khẳng định rằng nguồn gốc của con gà nuôi là xuất phát từ con gà rừng Đông Nam Á);
o Viêc làm nhà sàn đế ở và dùng các cây thuốc để chữa bệnh. Truyền thuyết phương
Nam đã đánh dấu giai đoạn văn hóa này bằng hình ảnh Thân Nông, nhân vật thần
thoại này đã đươc bổ sung vào kho tàng văn hóa Trung Hoa.
• Giai đoạn văn hóa Văn Lang - Âu Lạc kế tục giai đoạn tiền sử cả về không gian văn hóa,
thời gian văn hóa và thành tựu văn hóa. Nếu dựa vào thư tịch cổ và truyền thuyết thì có thể
hình dung giai đoạn này khởi đầu từ khoảng giữa thiên niên kỉ III trước Công nguyên.
ü Mặt không gian, bờ cõi nước Xích Quỷ theo truyền thuyết trải dài từ Bắc Trung Bộ đến
hồ Động Đình chính là địa bàn cư trú của người Nam-Á - Bách Việt, là khu vực tam giác
không gian gốc của văn hóa Việt Nam. Bờ cõi nước Văn Lang của các vua Hùng sau này
là một bộ phận của không gian gốc đó, cũng như người Lạc Việt là một bộ phận của khối
cư dân Nam-Á - Bách Việt.
ü Về mặt thời gian, thiên niên kỉ thứ III trước Công nguyên ứng với giai đoạn đầu thời đại
đồ đồng, cũng chính là thời điểm hình thành chủng Nam-Á (Bách Việt). Thành tựu văn
hóa chủ yếu của giai đoạn Văn Lang - Âu Lạc, sau nghề nông nghiệp lúa nước, chính là
nghề luyện kim đồng. Cả trên phương diện này, vai trò của vùng văn hóa Nam-Á đối với
khu vực cũng hết sức to lớn; đồ đồng Đông Sơn và ảnh hưởng của nó đã tìm thấy khắp
nơi - từ nam Trung Hoa, Thái Lan đến toàn bộ vùng Đông Nam Á hải đảo.
Câu 5: Triết lý Âm dương, Ngũ hành trong đời sống văn hóa của người Việt? Trả lời:
• Triết lý Âm Dương: là sản phẩm trừu tượng hóa từ ý niệm và ước mơ của cư dân nông nghiệp
về sự sinh sản của hoa màu và con người. Từ hai cấp đối lập gốc “mẹ–cha” và “đất–trời” người
xưa dần dần suy ra hàng loạt cặp đối lập như những thuộc tính của âm dương.
• Biểu hiện của Triết lý âm dương trong đời sống văn hoá người Việt Nam: Ngày xưa cũng
như ngày nay, thuyết tương đối âm dương vẫn gắn bó mật thiết và sâu sắc với văn hóa phương
Đông, trong đó có Việt Nam. Nó được biểu hiện cụ thể dưới nhiều góc độ khác nhau.
ü Thứ nhất, âm dương là bản chất giới tự nhiên: Trong đời sống, dân tộc nào cũng va
chạm với các cặp đối lập "đực - cái", "nóng - lạnh", "cao - thấp"...
o Với người nông dân, họ chú trọng sự sinh sôi, nảy nở của hoa màu và con người với hai
cặp đối lập Mẹ - Cha và Đất - Trời. Như vậy, Đất được đồng nhất với Mẹ, còn trời được
đồng nhất với Cha. Việc hợp nhất của hai cặp "Mẹ - Cha" và "Đất - Trời" chính là sự
khái quát đầu tiên trên con đường dẫn tới triết lý âm dương.
o Từ cặp "Lạnh - Nóng' có thể suy ra: Về thời tiết thì mùa đông lạnh thuộc âm, mùa hè nóng thuộc dương.
o Về phương hướng, phương Bắc lạnh thuộc âm, phương Nam nóng thuộc dương
o Về thời gian, ban đêm lạnh thuộc âm, ban ngày nóng thuộc dương. Hay là, đêm thì tối
nên màu đêm thuộc âm, ngày thì đỏ nên màu đỏ thuộc dương.
ü Thứ hai, những biểu hiện triết lý âm dương trong xã hội xưa và nay:
o Về mặt tư duy, dân gian vẫn nhận thức theo kiểu: "Trong rủi có may", "Trong dở có
hay", "Trong họa có phúc" "Chim sa, cá nhảy chớ mừng; Nhện sa, xà đón xin đừng có
lo". Đây là cách diễn đạt quy luật "trong âm có dương" và "Trong âm có dương". Ngày
xưa, ông cha ta còn hình thành lối tư duy theo quan hệ nhân quả, chẳng hạn: "Sướng
lắm khổ nhiều" hay "Trèo cao ngã đau". Đây là cách diễn đạt kín đáo của quy luật "Âm dương chuyển hóa".
o Về mặt đời sống, triết lý âm dương được biểu hiện khá rõ từ ba nhu cầu cơ bản
nhất: Ăn, mặc và ở.
§ Với nhu cầu ăn, người Việt nhấn mạnh tính cộng đồng, tính mực thước truyền
thống. Trong đó, tính cộng đồng được phản ánh từ việc ăn tổng hợp, ăn chung; còn
tính mực thước là biểu hiện của khuynh hướng quân bình âm dương. Nó đòi hỏi
người ăn không ăn quá nhanh hay quá chậm, không ăn quá nhiều hay quá ít, không ăn hết hay ăn còn.
§ Với nhu cầu mặc, người Việt rất đề cao hai yếu tố "dương tính" và "âm tính". Trong
xã hội hiện đại đàn ông mặc Âu phục, phụ nữ mặc áo nhiều màu kể cả đỏ hoặc hồng.
Do giao thoa với văn hóa mới từ bên ngoài nên chiếc áo dài cổ truyền Việt Nam dần
được cải tiến thành áo dài tân thời. Bên cạnh những cải tiến theo hướng phô trương
cái đẹp hình thể một cách trực tiếp theo kiểu phương Tây (dương tính hóa) thì áo
dài tân thời vẫn tiếp tục kế thừa và phát triển cao độ phong cách kín đáo (âm tính
hóa). Chính sự khêu gợi một cách nhuần nhị, kín đáo đã tô điểm tính cách "Dương ở trong âm".
§ Với nhu cầu ở, người Việt đặc biệt chú trọng vấn đề "phong thủy". "Phong" và
"Thủy" là hai yếu tố quan trọng nhất tạo thành tạo thành vi khí hậu của một ngôi
nhà. Phong là gió (thuộc dương); Thủy là nước, tĩnh hơn, thuộc âm. Trong nhà, nếu
có gió quá nhiều hoặc nước tù quá đọng đều không tốt. Người ta vẫn xây dựng các
bình phong để lái gió hoặc dựng hòn non bộ để điều thủy (âm dương điều hòa) là vậy.
ü Thứ ba, những biểu hiện của tính âm dương trong tín ngưỡng xưa và nay: Với tín
ngưỡng phồn thực (phồn = nhiều, thực = nảy nở), người Việt tái khẳng định sự tồn tại của
triết lý âm dương. Thực tế, đây chỉ là hai mặt của một vấn đề. Ở Việt Nam, tín ngưỡng
phồn thực biểu hiện ở hai dạng: Thờ cơ quan sinh dục và thờ hành vi giao phối.
o Với tín ngưỡng sùng bái tự nhiên, ông cha ta coi trọng tín ngưỡng đa thần, lấy chất
âm tính làm căn bản. Chất âm tính của văn hóa nông nghiệp dẫn đến lối sống tình cảm,
trọng nữ; theo đó mà các nữ thần chiếm ưu thế (tục thờ Mẫu). Người Việt xưa còn thờ
cả động và thực vật.
o Với tín ngưỡng sung bái con người, người Việt đặc biệt coi trọng mối liên hệ giữa âm
và dương. Theo người xưa, chết là từ động thành tĩnh nên với lý âm dương thì hồn đi
từ cõi dương (trần gian) sang cõi âm (âm phủ). Với niềm tin chết là về với tổ tiên ("Sống
gửi thác về"), người Việt rất coi trọng tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên.
• Ngũ hành là 5 thành tố cơ bản: Kim, Mộc, Thỷ, Hoả, Thổ. Theo thuyết ngũ hành thì vạn vật
trên vũ trụ đều được tạo ra từ 5 thành tố này. Ngũ hành có nghĩa là sự vận động, chuyển hoá
các chất trong thiên nhiên và của phủ tạng trong cơ thể. Mỗi yếu tố này đều có sự tác động qua
lại lẫn nhau và có tính chất riêng.
• Biểu hiện của Ngũ hành trong đời sống văn hoá người Việt Nam:
ü Ẩm Thực: Người Việt Nam chúng ta phân biệt món ăn theo năm mức độ hay còn gọi là
năm mức âm dương ứng với ngũ hành, luật âm dương bù trừ và chuyển hóa được tuân thủ
nghiêm ngặt trong hầu hết các món ăn ngay từ khâu chế biến. Người Việt chia thức ăn ra
năm mức âm dương tương ứng với ngũ hành:
o Thực phẩm có tính Hàn (lạnh), âm thịnh ứng với hành Thuỷ
o Thực phẩm có tính Nhiệt (nóng), dương (thịnh) ứng với hành Hoả
o Thực phẩm có tính Ôn (âm), dương ít ứng với hành Mộc
o Thực phâm có tính Lương (mát), âm ít ứng với hành Kim
o Thực phẩm có tính Bình (trung tính) ứng với hành Thổ
o Người Việt chúng ta cũng thường có thói quen ăn uống theo khí hậu và theo mùa: Mùa
hè nóng nực mang tính nhiệt - hành hoa thì ăn các loại thức ăn tính hàn (mát), có nước
(âm - hành thuỷ), vị chua (âm) dễ ăn, dễ tiêu hoá, giải nhiệt. Mùa đông lạnh mang tính
hàn (âm) ăn các loại thức ăn khô, nhiều mỡ, cay nồng như các món chiên, xào để vừa
ngon vừa làm ấm cơ thể
è Theo quan niệm của người Việt, con người mắc bệnh là do sự mất cân bằng âm dương của cơ
thể, và thức ăn thường lại chính là liều thuốc hữu hiệu cho sự mất cân bằng âm dương ấy, giúp
cơ thể phục hồi nhanh chóng.
ü Trang phục: Theo phong thuỷ, màu sắc trang phục đóng một vai trò không nhỏ trong việc
cần bằng, hỗ trợ và điều hòa yếu tố âm dương - ngũ hành. Mỗi một hành theo phong thủy
sẽ mang một hành trong Ngũ hành (Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ) và mỗi hành ấy lại có một
màu sắc riêng cho mình, liên quan đến màu sắc của hành khác theo cơ chế sinh - khắc trong
Hai hành. Với việc hoạt động theo quy tắc khắc - sinh thì việc mặc đồ màu gì cũng sẽ ảnh
hưởng đến vận của mình có thể là xui xẻo, hoặc may mắn. Mặc dùng màu và hợp mệnh sẽ
gặp nhiều may mắn, tiền tài, thuận lợi trong công việc. Và ngược lại, sẽ kỵ các màu của
hành khắc hành bản mệnh, thứ hai là màu của hành được hành bản mệnh sinh cho, vì khi
sinh cho hành khác hành bản mệnh phải tiết khí nên bị suy yếu. ü Hôn nhân:
o Nhẫn cưới: là một vòng tròn khép kín, không có điểm dừng và điểm kết thúc. Nó biểu
hiện cho một thái cưc hoàn chỉnh có âm có dương, một dành cho nam, một dành cho
người nữ. Nhẫn cưới thường có màu vàng hoặc trắng, biểu thị cho một tình yêu luôn
vàng son, trong sáng và đẹp đẽ nhất.
o Sính lễ: Trầu cau là thứ lễ vật không thể thiếu trong các đám cưới của người Việt Nam
chúng ta. Miếng trầu thể hiện tín ngưỡng phồn thực, âm dương ngũ hành sâu sắc, có
cau ắt có trầu, có vôi có chay, có một thế giới màu sắc đẹp tươi, có ngọt có bùi có cay có nồng...
o Màu sắc trong lễ cưới: Màu đỏ màu của sự sống (dương), sự vui mừng, hạnh phúc.
Trang phục trong lễ cưới cũng như trong trang trí của người Á Đông thường chọn màu
đỏ làm chủ đạo. Theo quan niệm ngũ hành, màu đỏ là màu của phương Nam, màu của
niềm vui và mọi sự tốt lành.
ü Kiến trúc: Và trong kiến trúc nhà cửa cũng như thế, đặc biệt là với những gia đình làm ăn
lớn, kinh xe doanh mua bán, thì vấn đề phong thủy luôn là điều mà họ cân nhắc trước khi
mua nhà, xây nhà. Vì lẽ đó, một ngôi nhà mà làm cho gia chủ cảm thấy thoải mái, phát
triển bình thường và hài hòa trong cuộc sống thì ngôi nhà đây phải được đảm bảo sự cân
bằng giữa âm và dương. đó cũng chính là yếu tố cốt lõi cho một công trình kiến trúc thời nay.
ü Y học: Trong y học cổ truyền, học thuyết ngũ hành được ứng dụng rộng rãi và được xem
là kim chỉ nam cho hoạt động khám chữa bệnh. Liên hệ với thuyết âm dương thì từ đó cũng
sản sinh ra thuyết ngũ hành ứng dụng trong y học đặc biệt là y học cổ truyền, được áp dụng
nhiều nơi thuyết ngũ hành với năm đặc tính: kim, mộc, thuỷ, hoà, thô, qua đó cách chuẩn
đoán bệnh cũng dựa trên các đặc tính này, dựa vào đó mà căn cứ biểu hiện của sắc, vị,
mạch để chẩn đoàn tạng bị bệnh, sắc mặt xanh thì thích ấn độ chua, mạch huyền thì có thể
chẩn đoán can bệnh, mặt sắc đỏ thì miệng đặng, mạch hồng có thể chẩn đoán tầm hòa khang
thịnh...về cách xác định các nguyên tắc điều trị, ta căn cứ vào hai quy luật tương sinh, tương khắc trong ngũ hành.
ü Tín ngưỡng: Cùng với những tín ngưỡng dân gian đã có từ lâu đời, người Việt cổ đã đưa
thuyết ngũ hành vào trong thờ cúng với hình tượng đặc trưng là Chúa Bà Ngũ Hành, hay
còn gọi là năm mẹ ngũ hành: Đệ Nhất Chúa Bà Kim Tinh Thần Nữ, Đệ Nhị Chúa Bà Mộc
Tinh Thần Nữ, Đệ Tam Chúa Bà Thủy Tinh Thần Nữ, Đệ Tứ Chúa Bà Hỏa Phong Thần
Nữ, Đệ Ngũ Chúa Bà Thổ Đức Thần Nữ. Năm vị thần này biểu trưng cho Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ.
o Ngoài ra, theo truyền thống của người Việt, từ ngày Tết ông Công ông Táo. Các cụ xưa
đã có quan niệm mâm ngũ quả thường là số lẻ, gồm 5 hoặc 7 quả. Ngũ trong ngũ quả
tượng trưng cho ngũ phúc lâm môn gồm: Phú - Quý - Thọ - Khang - Ninh. Thông
thường, mâm ngũ quả được phối trí theo 5 màu sắc trong thuyết ngũ hành. Đó là: Kim
màu trắng, Mộc màu xanh, Thủy màu đen, Hỏa màu đỏ và Thố màu vàng".
ü Lễ hội: Trong tất cả các lễ hội ở Việt Nam, không khó để bắt gặp lá cờ ngũ sắc, nó xuất
hiện hàng ngàn năm nay nhưng không ai có thể xác định chính xác thời gian nó ra đời, tuy
nhiên dựa theo các bức tranh cổ, truyện dân gian thì ta có thể thấy cờ ngũ sắc xuất hiện từ
thời Hai Bà Trưng, tương ứng 5 màu của thuyết ngũ hành. Có thể khẳng định là ông cha ta
đã căn cứ vào các màu và các quy luật của ngũ hành để sáng tạo ra cờ ngũ sắc, theo các
nhà nghiên cứu, màu sắc trên cờ ngũ sắc xuất phát từ quan niệm ngũ hành trong triết lý phương đông.
ü Nghề nghiệp: Ngoài các lĩnh vực trên thì thuyết âm dương, ngũ hành còn tham gia vào
lĩnh vực chọn nghề nghiệp, tuỳ theo các đặc tính của các hành: Kim, Mộc, Thuỷ, Hoả, Thổ.
Câu 6: Lịch âm dương? Trả lời:
Lịch cổ truyền của Việt Nam và một số quốc gia Đông Á mà ta thường gọi là “lịch âm” thực
chất là một thứ lịch âm dương. Là sản phẩm của lối tư duy kết hợp, nó đã kết hợp được cả chu kỳ mặt
trăng lẫn mặt trời. Một cách đơn giản, việc xây dựng lịch này gồm ba giai đoạn:
• Định các ngày trong tháng theo mặt trăng bằng cách xác định trước hết là hai ngày sóc - vọng
(sóc = “bắt đầu” = ngày đầu tháng; vọng = “ngửa mặt nhìn lên” = ngày giữa tháng trăng
tròn). Do tầm quan trọng của hai mốc thời gian này trong tháng cho nên đến nay, hằng tháng
người dân Việt Nam thường vẫn đều đặn cúng hai tuần sóc - vọng. Căn cứ vào thời điểm
xuất hiện của trăng, hình dáng của trăng, dân gian đã tích lũy được kinh nghiệm xem trăng
mà xác định chính xác từng ngày.
• Định các tháng trong năm theo mặt trời bằng cách xác định các ngày tiết (tiết = mốc “thời
tiết”), trước hết là hai tiết đông chí và hạ chí (ngày lạnh nhất và nóng nhất, chí = “tột cùng):
thêm xuân phân và thu phân (ngày giữa xuân và giữa thu), Ta được tứ thời. Rồi thêm bốn
ngày khởi đầu cho bốn mùa (lập xuân, lập hạ, lập thu, lập đông), tổng cộng được tám mốc
gọi là bát tiết. Cứ tiếp tục như thể mà phân nhỏ ra nữa sẽ thu được kết quả là 24 tiết, mỗi
tháng có hai ngày tiết. Do tầm quan trọng của các mốc thời gian này trong năm cho nên nhân
dân ta thưởng định kỳ cúng bái vào các dịp này, rồi dần dần kết hợp với lịch lao động (cúng
vào những dịp công việc rãnh rỗi), tạo thành một hệ thống những ngày Tết.
• Do 12 tháng theo mặt trời dài hơn 12 tháng theo mặt trăng 11 ngày cho nên cứ sau gần ba
năm lại phải điều chỉnh cho hai chu kỳ này phù hợp với nhau bằng cách đặt tháng nhuận (nói
chính xác ra là cứ 19 năm thì có 7 năm nhuận). Tháng nhuận phản ánh sự phối hợp tự nhiên
giữa hai luồng ảnh hưởng của mặt trời và mặt trăng cùng đồng thời tác động lên trái đất, tạo
nên sự biến động thời tiết có tính chu kỳ của vũ trụ. Thiên văn học hiện đại đã xác định được
rằng cứ sau gần ba năm âm lịch thì trái đất lại phải chuyền động tiếp trên quỹ đạo một khoảng
thời gian bằng một tháng âm lịch thì mới về được điểm giao hội. Còn theo cách xác định lịch
âm dương như trên thì cứ sau gần ba năm sẽ có một tháng thiếu một ngày tiết, tháng đó sẽ
phải kéo dài ra để có đủ hai ngày tiết - đó chính là tháng nhuận.
• Những nghiên cứu gần đây cho thấy rằng “Đây là một thứ lịch rất khoa học, bởi tính âm lịch
của nó phản ánh rất tốt nhiều hiện tượng liên quan đến mặt trăng như thủy triều, khí triều, sự
sinh trưởng của sinh vật trong tháng”. Ngay từ năm 1930, nhà thiên văn học người Pháp L.
de Saussure đã mệnh danh hệ lịch này là “một nền lịch pháp thâm sâu nhất và đã là một danh
dự cho trí khôn con người”, nhiều lần ông gọi nó là kiệt tác, là tài tình.
• Giá trị của lịch âm dương còn ở hệ đếm can chi độc đáo có một không hai của nó.
Câu 7: Các nguyên tắc tổ chức nông thôn Việt Nam? Tính chất cơ bản của làng? Mối quan hệ
giữa làng và nước? Làng Nam Bộ? Trả lời:
• Các nguyên tắc tổ chức nông thôn Việt Nam:
ü Tổ chức nông thôn theo huyết thống: Gia đình và gia tộc
o Những người cùng quan hệ huyết thống gắn bó mật thiết với nhau thành đơn vị cơ sở
là gia đình và đơn vị cấu thành là gia tộc.
o Dấu vết hiện tượng “làng là nơi ở của một họ” còn lưu lại trong hàng loạt tên làng: Đặng
Xá (nơi ở của họ Đặng), Ngô Xá, Đỗ Xá, Trần Xá,...
o Trong làng, người Việt cho đến giờ vẫn thích sống theo lối đại gia đình: các cụ già rất
lấy làm hãnh diện nếu họ đứng đầu một gia đình quần tụ được 3, 4 thế hệ. Ở nhiều dân
tộc ít người phổ biến tình trạng các thể hệ của một đại gia đình, một gia tộc ở tập trung
dưới một mái nhà dài ở Tây Nguyên.
o Quan hệ huyết thống là quan hệ theo hàng dọc, theo thời gian. Nó là cơ sở của tính tôn
ti. Người Việt có hệ thống tôn ti trực tiếp rất chi li, phân biệt rạch rồi tới 9 thế hệ (kị/cố
- cụ - ông - cha - tôi - con - cháu - chắt - chút). Tôn ti giáp tiếp (con chú con bác, anh
em họ) cũng được quy định rất nghiêm ngặt.
ü Tổ chức nông thôn theo địa bàn cư trú: Xóm và Làng
o Những người sống gần nhau có xu hướng liên kết chặt chẽ với nhau, sản phẩm của lối
liên kết này là khái niệm Làng, Xóm.
o Để đối phó với môi trường tự nhiên, đáp ứng nhu cầu cần đông người của nghề trồng
lúa nước mang tính thời vụ, người dân Việt Nam truyền thống không chỉ cần đẻ nhiều
mà còn làm đổi công cho nhau.
o Để đối phó với môi trường xã hội (nạn trộm cướp,...), cả làng phải hợp sức mới có hiệu
quả. Người Việt Nam không thể thiếu được anh em họ hàng nhưng đồng thời cũng
không thể thiếu được bà con hàng xóm.
o Cách tổ chức nông thôn theo địa bàn cư trú dựa trên quan hệ hàng ngang, theo không
gian-nguồn gốc của tính dân chủ, bởi lẽ muốn giúp đỡ nhau, muốn có quan hệ lâu dài
thì phải tôn trọng, bình đẳng với nhau.
ü Tổ chức nông thôn theo nghề nghiệp và sở thích: Phường, Hội
o Phường là đơn vị gồm người dân của nhiều làng sinh sống bằng nghề không phải nông
nghiệp, họ liên kêt chạt chẽ với nhau khiên cho nông thôn Việt Nam có thêm một
nguyên tắc tổ chức thứ ba là tố chức theo nghề nghiệp.
o Hội là tổ chức nhằm liên kết những người cùng sở thích, thú vui, đẳng cấp.
o Phường và hội rất gần nhau, nhưng phường thì mang tính chất chuyên môn sâu hơn và
bao giờ cũng giới hạn trong quy mô nhỏ.
o Cũng giống như tổ chức nông thôn theo địa bàn cư trú, tổ chức theo nghề nghiệp và sở
thích là sự liên kết theo chiều nang, cho nên đặc trưng của phường hội là tính dân chủ.
ü Tổ chức nông thôn theo truyền thống nam giới: Giáp
o Đứng đầu Giáp là ông cai giáp (câu đương); giúp việc cho cai giáp là các ông lềnh -
lềnh nhất, lềnh hai, lềnh ba (từ chữ lệnh mà ra).
o Chi có đàn ông tham gia và mang tính chất “cha truyền con nối”, cha ở giáp nào thì con cũng vào giáp ấy.
o Chia làm 3 lớp tuổi chủ yếu: ti ấu (từ nhỏ đến 18 tuổi), đinh (hoặc tráng: đinh = đứa,
tráng - khỏe mạnh) và lão
o Vinh dự tối cao của thành viên hàng giáp là lên lão, thường tuổi lên lão là 60. Lên lão
là ngồi chiếu trên, được cả giáp, cá lăng trọng vọng.
o Cách tổ chức nông thôn theo giáp ra đời muộn, nhưng nó lại xây dựng trên nguyên tắc
trọng tuổi già là truyền thống rất lâu đời. Sở dĩ như vậy vì cư dân nông nghiệp sống phụ
thuộc nhiều vào thiên nhiên cần những người giàu kinh nghiệm - điều chỉ có được ở tuổi già.
o Giáp là một tổ chức mang tính hai mặt - nó vừa được tổ chức theo chiều dọc (theo lớp
tuổi), lại vừa được tô chức theo chiều ngang (những người cùng làng).
ü Tổ chức nông thôn theo đơn vị hành chính: Thôn và Xã
o Về mặt hành chính, làng được gọi là xã (đôi khi một xã cũng có thể gộm vài làng), xóm
được gọi là thôn (đôi khi một thôn cũng có thể gôm vài xóm). Nông thôn Nam Bộ còn
có ấp (ấp là xã thôn lập ra ở nơi mới khai khẳn hoặc thôn ở biệt lập).
o Trong xã, sự phân biệt rõ nhất là phân biệt dân chính cư và dân ngụ cư. Sự phân biệt
này hết sức gắt gao; dân chính cư có đủ mọi quyền lợi, còn dân ngụ cư luôn bị khinh rẻ
- sản phẩm của cơ chê văn hóa nông nghiệp, hạn chế việc bỏ làng đi.
o Cách tổ chức bộ máy hành chính xã thôn Việt Nam như vậy đã được hình thành dần
dần như một sản phẩm lịch sử của quá trình phát triển văn hóa dân tộc.
• Tính chất cơ bản của làng:
ü Tính cộng đồng và gắn kết: Làng Việt Nam là nơi cư dân có quan hệ chặt chẽ, giao lưu
thường xuyên, sống phụ thuộc vào nhau, cùng chung sống và làm việc, hỗ trợ nhau trong
các công việc đời sống và sản xuất. Mối quan hệ giữa các thành viên trong làng thường
xuyên xuyên qua các phong tục, tín ngưỡng và nghi lễ.
ü Kinh tế nông nghiệp: Làng Việt Nam thường có nền kinh tế chủ yếu là nông nghiệp, với
trồng trọt và chăn nuôi là các ngành nghề chủ yếu. Các nghề thủ công truyền thống, ngư
nghiệp, hay làm gốm, dệt vải cũng có mặt trong nhiều làng nghề.
ü Tổ chức xã hội: Trong làng có sự phân chia vai trò rõ ràng, với các chức vụ như trưởng
thôn, cụ già, gia trưởng… Các vị trí này không chỉ có trách nhiệm quản lý công việc hành
chính, mà còn giữ vai trò quan trọng trong việc duy trì trật tự xã hội, tổ chức các lễ hội, và
bảo vệ các giá trị văn hóa truyền thống của cộng đồng.
ü Tính tự chủ và khép kín: Mặc dù làng xã không hoàn toàn tách biệt khỏi các khu vực
xung quanh, nhưng trong nhiều trường hợp, làng xã ở Việt Nam mang tính tự cung tự cấp.
Các hoạt động trong làng như trồng trọt, chăn nuôi, sản xuất thủ công đều phục vụ nhu cầu
của cộng đồng trong chính làng xã đó, tạo ra sự khép kín trong nền kinh tế của làng.
ü Tính ổn định và bền vững: Làng xã truyền thống có tính ổn định cao, với các thế hệ cư
dân nối tiếp nhau sống và làm việc trong cùng một khu vực. Đây là nơi bảo tồn các giá trị
văn hóa truyền thống và cũng là chỗ để phát triển các mối quan hệ xã hội lâu dài.
• Mối quan hệ giữa làng và nước: Mối quan hệ giữa làng và nước là một yếu tố cực kỳ quan
trọng trong tổ chức nông thôn Việt Nam, đặc biệt đối với những vùng có nền nông nghiệp phát
triển mạnh mẽ như đồng bằng sông Hồng, đồng bằng sông Cửu Long hay các khu vực ven biển.
ü Đặc điểm địa lý: Làng thường được xây dựng dựa vào các yếu tố tự nhiên, đặc biệt là gần
các nguồn nước như sông, suối, ao hồ để thuận lợi cho việc tưới tiêu, nuôi trồng thủy sản,
hay vận chuyển nông sản. Hệ thống thủy lợi và nước ngọt từ các dòng sông giúp duy trì sản xuất nông nghiệp.
ü Chế độ thủy lợi: Nước có vai trò rất quan trọng trong việc phát triển sản xuất nông nghiệp.
Các làng xã ở Việt Nam đều chú trọng vào việc xây dựng và duy trì hệ thống thủy lợi, đê
điều, kênh mương để chủ động trong việc tưới tiêu cho các mùa vụ, đặc biệt là trong các vùng trồng lúa.
ü Phong thủy: Theo triết lý phong thủy truyền thống, nước còn có ý nghĩa lớn trong đời sống
tinh thần của người dân. Làng xã thường chú trọng việc xây dựng nhà cửa, chùa chiền, đền
miếu gần các nguồn nước để tạo sự thuận lợi về mặt phong thủy, mang lại sự an lành và
thịnh vượng cho người dân. • Làng Nam Bộ:
Đến thời Nguyễn, việc khai phá đồng bằng Nam Bộ đã đem lại thêm một khuôn mặt mới cho
làng xã Việt Nam. Nông thôn Nam bộ cũng tổ chia thành làng, nhưng nếu như làng xã Bắc Bộ cổ
truyền tự trị khép kín thì nét đặc trưng chung của thôn ấp Nam bộ là tính mở: Làng Nam Bộ không
có lũy tre dày đặc bao quanh với cái cổng làng sớm mở tối đóng như làng Bắc Bộ. Ở vùng đất cao
(gọi là miệt giồng), bờ tre chỉ còn là một biểu tượng đánh dấu ranh giới các ấp thôn; ở vùng sông
nước (miệt sông), thôn ấp trải dài dọc theo các kênh rạch. Thành phần dân cư của làng Nam Bộ
thường hay biến động, người dân không bị gắn chặt với quê hương như ở làng Bắc Bộ. Tính cách
người nông dân Nam Bộ do vậy cũng trở nên phóng khoáng hơn: Làm bao nhiêu ăn nhậu bấy
nhiêu, được đến đâu hay đến đó.
Mọi sự đổi thay đều có lí do của nó. Thành phần cư dân hay biến động vì nơi đây còn nhiều
miền đất chưa khai phá, người dân có thể rời làng tìm đến chỗ dễ làm ăn hơn. Việc tổ chức thôn
ấp theo các dòng kênh, các trục giao thông thuận tiện là sản phẩm của thời đại, khi kinh tế hàng
hóa đã bắt đầu phát triển. Tính cách phóng khoáng là do thiên nhiên Nam bộ ưu đãi khí hậu ổn
định, hầu như ít gặp thiên tai bắt thương. Vì làng Nam Bộ có cấu trúc mở, tính cách người Nam
Bộ phóng khoáng, nên vùng này dễ tiếp nhận hơn những ảnh hưởng từ bên ngoài của văn hóa
phương Tây (kể cả những ảnh hưởng tiêu cực thời Pháp, Mĩ).
Tuy nhiên, dù hay biến động, người Nam Bộ vẫn sống thành làng với thấp thoáng bóng tre,
mỗi làng vẫn có một ngôi đình với tín ngưỡng thờ thần Thành Hoàng (dù chỉ là “Thành Hoàng”
chung chung), hằng năm cư dân vẫn tụ họp nhau ở các lễ hội. Dù làm ăn dễ dãi, người Nam Bộ
vẫn giữ nếp cần cù. Dù kinh tế hàng hóa có phát triển, họ vẫn coi trọng tính cộng đồng, yếu tố
hàng xóm vẫn đứng thứ hai trong thang bậc ưu tiên khi chọn nơi cư trú: Nhất cận thị, nhị cận lân,
tam cận giang, tứ cận lộ, ngũ cận điền. Bức tranh đó của làng Nam Bộ đã góp phần làm nên tính
thống nhất của dân tộc Việt Nam, văn hóa Việt Nam.
Câu 8: Văn hóa tổ chức nhà nước Việt Nam trong truyền thống? Trả lời:
• Quyền lực và các mối quan hệ trong nhà nước phong kiến:
ü Vua là trung tâm quyền lực: Trong nhà nước phong kiến, quyền lực tập trung vào tay nhà
vua, người được coi là "Thiên tử", tức là con của trời. Các quan lại trong triều đình có vai
trò giúp vua điều hành công việc, tuy nhiên quyền lực của họ phụ thuộc vào sự tín nhiệm của vua.
ü Chế độ quân chủ chuyên chế: Vua không chỉ đứng đầu về chính trị mà còn là người quyết
định mọi vấn đề về quân sự, pháp luật, và đối ngoại. Dưới thời phong kiến, các nhà vua
thường có quyền tự do ra các quyết định mà không bị ràng buộc bởi các thể chế khác.
ü Đạo lý “trị dân”: Nhà nước phong kiến Việt Nam coi trọng việc "trị dân" theo các nguyên
tắc đạo đức (Nho giáo). Tư tưởng này nhấn mạnh vai trò của vua là người "cha" của nhân
dân, phải bảo vệ và chăm sóc dân chúng, đồng thời duy trì trật tự xã hội và công lý.
• Các giá trị đạo đức và văn hóa trong tổ chức nhà nước truyền thống:
ü Tư tưởng Nho giáo: Nho giáo, đặc biệt là các nguyên lý về "nhân", "nghĩa", "lễ", "trí" và
"tín" đã ảnh hưởng sâu sắc đến hệ thống tổ chức nhà nước trong truyền thống Việt Nam.
Các quan lại, vua chúa đều phải tuân theo các chuẩn mực đạo đức này trong việc hành xử và quản lý.
o Nhân (nhân ái, lòng nhân từ): Là giá trị quan trọng trong việc trị dân, vua phải yêu
thương và chăm lo cho dân.
o Lễ (tôn ti trật tự): Vua, quan, dân phải tuân thủ quy củ lễ nghĩa, thể hiện qua các nghi
thức, lễ tết và mối quan hệ giữa các tầng lớp xã hội.
o Nghĩa (đạo lý): Vua và quan phải hành động theo đúng đạo lý, lấy chính nghĩa để cai trị.
ü Mối quan hệ giữa nhà nước và nhân dân: Trong truyền thống Việt Nam, mối quan hệ
giữa nhà nước và nhân dân luôn được xây dựng trên nền tảng "dân vi quý" (dân là quý
nhất), "vua vi phụ" (vua là cha), thể hiện sự coi trọng sự chăm sóc và bảo vệ quyền lợi của
nhân dân. Dù quyền lực tập trung vào vua, nhưng trong thực tế, vua thường phải tìm cách
bảo vệ và mang lại lợi ích cho nhân dân để tránh việc mất lòng dân, điều này đã được thể
hiện rõ trong các chế độ phong kiến.
o Phát triển xã hội và giáo dục: Nhà nước trong các triều đại phong kiến cũng chú trọng
đến phát triển văn hóa, giáo dục, với việc thành lập các trường học, các kỳ thi cử để tìm
kiếm nhân tài, tạo ra hệ thống quan lại dựa trên năng lực và phẩm hạnh.
• Tổ chức hành chính trong nhà nước Việt Nam truyền thống:
ü Hệ thống quan lại và cơ cấu bộ máy: Bộ máy hành chính trong triều đình phong kiến
Việt Nam rất phức tạp và chia thành nhiều cấp bậc:
o Bộ máy trung ương: Do vua đứng đầu, được hỗ trợ bởi các quan lớn như tể tướng,
thượng thư. Các quan chức trong triều đình có nhiệm vụ quản lý các lĩnh vực cụ thể
như quân sự, chính trị, tài chính, ngoại giao.
o Hệ thống các cấp địa phương: Từ tỉnh, huyện, đến xã. Các quan lại ở địa phương chịu
trách nhiệm thực thi chính sách của triều đình, quản lý dân cư, thu thuế và duy trì trật tự xã hội.
ü Luật pháp trong nhà nước truyền thống: Hệ thống pháp luật trong nhà nước phong kiến
Việt Nam được xây dựng trên cơ sở các quy định trong các sách luật như Hình Thư (một
bộ luật rất có ảnh hưởng dưới triều đại Lê). Các luật lệ này quy định rõ ràng về quyền và
nghĩa vụ của công dân, phân chia các hình phạt đối với các hành vi phạm tội, bảo vệ trật tự xã hội.
• Nhà nước dưới các triều đại khác nhau:
ü Nhà nước Đại Việt dưới các triều đại Lý, Trần, Lê: Các triều đại này có hệ thống hành
chính rất rõ ràng với nhiều cấp bậc quan lại, chú trọng phát triển văn hóa và giáo dục. Đặc
biệt dưới triều đại Lê, luật pháp, các kỳ thi cử và sự phát triển văn hóa nở rộ.
ü Nhà nước Nguyễn: Nhà Nguyễn được tổ chức khá chặt chẽ với hệ thống quan lại có nhiều
cấp bậc, trong đó có sự phân biệt giữa các quan văn và quan võ. Tuy nhiên, nhà nước
Nguyễn cũng đối mặt với nhiều khó khăn khi đất nước bị xâm lược từ các cường quốc phương Tây.
Văn hóa tổ chức nhà nước Việt Nam trong truyền thống là sự kết hợp giữa các yếu tố chính trị,
xã hội và đạo đức. Các triều đại phong kiến Việt Nam đã xây dựng một hệ thống tổ chức chặt chẽ,
lấy vua làm trung tâm quyền lực, nhưng vẫn chú trọng đến lợi ích của nhân dân. Các giá trị văn hóa,
đạo đức và quan điểm về "trị dân" đã giúp duy trì sự ổn định và phát triển trong suốt lịch sử.
Câu 9: Các đặc điểm của đô thị truyền thống ở Việt Nam? Trả lời:
Đô thị truyền thống ở Việt Nam mang những đặc điểm riêng biệt, phản ánh sự phát triển của các
thành phố và khu vực đô thị trong lịch sử, đặc biệt là trong thời kỳ phong kiến. Các đặc điểm này
không chỉ gắn liền với các yếu tố vật lý như kiến trúc, kết cấu đô thị mà còn thể hiện qua các yếu tố
văn hóa, xã hội và kinh tế.
• Cấu trúc và tổ chức không gian đô thị:
ü Kết cấu không gian hình chữ nhật hoặc hình vuông: Nhiều đô thị truyền thống Việt
Nam, đặc biệt là các thành phố lớn như Hà Nội, Huế thường có kết cấu không gian mang
tính hệ thống với các tuyến phố chính tạo thành lưới hoặc hình vuông. Đây là đặc điểm của
những thành phố được hình thành dưới ảnh hưởng của các yếu tố phong thủy và các nguyên
lý tổ chức không gian truyền thống.
o Hà Nội (thời Lý và Trần): có các khu phố được bố trí theo hình chữ nhật, được chia
thành nhiều khu dân cư và phố chợ, với các khu phố như Hàng Ngang, Hàng Đào rất nổi tiếng.
o Huế - đô thị của triều Nguyễn: được xây dựng theo các tiêu chí phong thủy, với Kinh
Thành Huế (Thành Nội) và các khu vực ngoại thành được quy hoạch bài bản, bao quanh bởi hào nước.
ü Thành phố có "Kinh thành" và "Ngoại thành": Trong các đô thị truyền thống, thường
có sự phân chia rõ rệt giữa khu kinh thành (nội thành) - nơi trung tâm chính trị, kinh tế, văn
hóa và ngoại thành - nơi sinh sống của người dân lao động và sản xuất. Khu kinh thành là
nơi có các công trình kiến trúc quan trọng như cung điện, đền, chùa, các cơ quan hành
chính. Trong khi đó, ngoại thành là khu vực dân cư sinh sống, có các hoạt động sản xuất và chợ búa.
• Kiến trúc và công trình xây dựng:
ü Các công trình kiến trúc đặc trưng: Kiến trúc đô thị truyền thống Việt Nam có sự kết
hợp giữa các yếu tố phong thủy, tôn giáo và văn hóa. Các công trình xây dựng có thể kể đến như:
o Kinh đô: Là các thành phố cổ xưa như Thăng Long, Huế hay Champa. Các cung điện,
đền đài, chùa chiền, và cổng thành là những công trình nổi bật, thể hiện quyền lực và
uy nghi của triều đình. Cổng thành thường được xây dựng kiên cố, với các tường thành cao và hào bao quanh.
o Nhà ở: Trong các khu vực dân cư, nhà cửa thường được xây dựng theo dạng nhà dài,
nhà tranh hoặc nhà gỗ với mái ngói. Nhà thờ tổ, nghĩa trang và đình làng là các công
trình mang đậm ảnh hưởng văn hóa truyền thống.
ü Các công trình tôn giáo: Đô thị truyền thống Việt Nam cũng đặc biệt chú trọng đến các
công trình tôn giáo như chùa, đình, miếu và thánh đường. Những công trình này không chỉ
là nơi thờ cúng mà còn là những biểu tượng của văn hóa cộng đồng, giúp gắn kết mọi người trong làng xã.
o Chùa chiền và miếu thờ thường nằm ở vị trí trung tâm của các làng xã và đô thị, là nơi
người dân tụ tập và cầu nguyện.
o Đình làng là nơi tổ chức các lễ hội và các sự kiện cộng đồng
• Kinh tế và thương mại:
ü Kinh tế nông nghiệp và thủ công: Kinh tế đô thị truyền thống chủ yếu dựa vào nông
nghiệp và các nghề thủ công. Nhiều thành phố cổ Việt Nam như Hà Nội, Huế hay Hội An
đều có các khu vực chuyên làm nghề thủ công truyền thống như làm gốm, dệt vải, rèn, hay chế tác đồ gỗ.
o Chợ: Chợ là một phần quan trọng trong đời sống kinh tế và văn hóa đô thị truyền thống,
nơi buôn bán nông sản, thủ công mỹ nghệ, hàng hóa. Chợ ở các thành phố lớn thường
chia theo các mặt hàng chuyên biệt (chợ gạo, chợ cá, chợ hoa, v.v...).
ü Các tuyến phố và khu phố chuyên biệt: Các đô thị truyền thống có sự phân chia rõ ràng
giữa các khu phố và các tuyến đường theo nghề nghiệp. Chẳng hạn, khu phố Hàng Ngang,
Hàng Đào ở Hà Nội là nơi buôn bán các loại hàng hóa như vải vóc, đồ gia dụng, còn ở Hội
An, các tuyến phố như Hội An có những cửa hàng làm nghề thủ công, gia công sản phẩm
xuất khẩu như đèn lồng.
• Văn hóa và đời sống xã hội:
ü Tính cộng đồng và tổ chức xã hội: Đời sống đô thị truyền thống Việt Nam rất chú trọng
đến các mối quan hệ cộng đồng, đặc biệt là trong các khu phố, xóm làng. Mỗi làng xã
thường có một đình làng, chùa hoặc miếu để tổ chức các lễ hội, sự kiện cộng đồng. Người
dân trong làng xã sống gần nhau, hỗ trợ nhau trong sản xuất và các hoạt động cộng đồng
ü Các lễ hội và hoạt động văn hóa: Các đô thị truyền thống Việt Nam là nơi diễn ra các lễ
hội văn hóa lớn, đặc biệt là các lễ hội dân gian như Lễ hội đền Hùng, Lễ hội chùa Hương,
hay Tết Nguyên Đán. Những hoạt động này vừa là dịp để tôn vinh các giá trị văn hóa, tín
ngưỡng, vừa là cơ hội để mọi người trong cộng đồng giao lưu, gắn kết.
• Giao thông và vận tải: Giao thông trong các đô thị truyền thống ở Việt Nam chủ yếu dựa vào
thuyền, xe bò, xe ngựa và đi bộ. Hệ thống sông ngòi ở các thành phố như Hội An, Hà Nội, Sài
Gòn là các tuyến đường giao thông chính. Các con phố nhỏ và hẹp trong các đô thị cổ thường
khiến việc di chuyển trở nên hạn chế, nhưng mạng lưới sông và đường thủy đóng vai trò quan
trọng trong việc vận chuyển hàng hóa và đi lại.
• Chức năng chính trị và hành chính:
ü Các cơ quan hành chính truyền thống: Đô thị truyền thống Việt Nam cũng là nơi đặt các
cơ quan hành chính của nhà nước, như triều đình, nơi các quan lại hành chính làm việc.
Các đô thị lớn như Hà Nội (dưới thời Lý, Trần), Huế (dưới thời Nguyễn), Thăng Long đều
là trung tâm chính trị và hành chính quan trọng của đất nước.
ü Tính quân sự trong tổ chức đô thị: Ngoài các chức năng chính trị và hành chính, một số
đô thị truyền thống còn có các công trình quân sự như lũy, thành hay cổng thành để bảo vệ
đất nước trước các cuộc xâm lược hoặc bảo vệ trật tự xã hội.
Đô thị truyền thống Việt Nam không chỉ là trung tâm kinh tế và chính trị mà còn là nơi hội tụ
các giá trị văn hóa, xã hội và nghệ thuật đặc sắc. Mỗi đô thị đều có những đặc điểm riêng, gắn liền
với các yếu tố về lịch sử, văn hóa, kinh tế và môi trường tự nhiên. Chúng phản ánh rõ nét cách thức
tổ chức cộng đồng, phát triển kinh tế và đời sống xã hội trong một xã hội phong kiến, nông nghiệp.
Câu 10: Khái niệm tín ngưỡng, phong tục? Đặc điểm của tín ngưỡng ở Việt Nam, tín ngưỡng
và phong tục phổ biến của người Việt? Trả lời:
• Khái niệm tín ngưỡng, phong tục:
ü Khái niệm: Tín ngưỡng là niềm tin của con người được thế hiện thông qua những lễ nghi
gắn liền với phong tục, tập quán truyền thống để mang lại sự bình an về tinh thần cho cá
nhân và cộng đồng. Niềm tin này gắn với sự siêu nhiên nhưng chỉ lưu truyền trong một
vùng lãnh thổ hoặc trong một cộng đồng dân chúng nhất định. Có thể coi tín ngưỡng là
dạng thấp hơn của tôn giáo.
ü Khái niệm phong tục:
o “Phong” là nền nếp đã lan truyền rộng rãi.
o “Tục” là thói quen lâu đời.
o Phong tục là toàn bộ những hoạt động sống của con người được hình thành trong quá
trình lịch sử và ổn định thành nề nếp, được cộng đồng thừa nhận, truyền từ thế hệ này
sang thế hệ khác. Phong tục không mang tính cổ định, bắt buộc như nghi thức, nghi lễ,
nhưng cũng không tùy tiện như hoạt động sông thường ngày. Nó trở thành một tập quán
xã hội tương đối bền vững và tương đối thống nhất.
• Đặc điểm của tín ngưỡng ở Việt Nam: Tín ngưỡng ở Việt Nam có những đặc điểm rất phong
phú và đa dạng, phản ánh sự hòa quyện giữa yếu tố tôn giáo và các tín ngưỡng dân gian, cũng
như sự ảnh hưởng của các yếu tố văn hóa Trung Quốc, Ấn Độ, và các tộc người bản địa. Các
đặc điểm này bao gồm:
ü Tín ngưỡng đa thần:
o Tín ngưỡng thờ nhiều vị thần: Người Việt có tín ngưỡng thờ cúng rất đa dạng, với
việc thờ các vị thần trong tự nhiên, như thần đất (thổ công), thần nước, thần sông, thần
núi. Họ cũng thờ các vị thần trong tín ngưỡng dân gian như Thánh Mẫu, Thổ Địa, Tổ Tiên.
o Tín ngưỡng tổ tiên: Một trong những đặc trưng quan trọng của tín ngưỡng Việt Nam
là thờ cúng tổ tiên, biểu thị lòng hiếu thảo và tôn trọng các thế hệ trước. Người Việt tin
rằng tổ tiên sẽ bảo vệ và giúp đỡ con cháu trong cuộc sống, qua đó duy trì mối quan hệ
bền chặt giữa các thế hệ.
ü Tín ngưỡng dân gian: là hệ thống tín ngưỡng không chính thức, hình thành từ các truyền
thuyết, huyền thoại và tục lệ của từng vùng miền. Các tín ngưỡng này liên quan đến việc
cầu an, cầu siêu, chữa bệnh, bảo vệ sức khỏe, trừ tà ma hoặc cầu tài lộc. Tín ngưỡng này
không gắn với một tôn giáo lớn nào mà chủ yếu dựa vào các nghi lễ dân gian.
o Tín ngưỡng thờ cúng trong gia đình: Nhiều gia đình Việt vẫn thực hiện các nghi lễ
thờ cúng hàng ngày hoặc trong những dịp lễ đặc biệt, như ngày giỗ tổ tiên, ngày cúng thần linh.
ü Sự kết hợp giữa tín ngưỡng và tôn giáo: Tín ngưỡng của người Việt rất đa dạng và có sự
giao thoa giữa các tôn giáo chính thống (như Phật giáo, Đạo giáo, Nho giáo) và các yếu tố
tín ngưỡng bản địa. Sự kết hợp này đã tạo ra một môi trường tín ngưỡng phong phú, nơi
mà các hình thức thờ cúng, lễ hội truyền thống không chỉ được duy trì trong phạm vi tôn
giáo mà còn trở thành một phần không thể thiếu trong đời sống xã hội của người dân.
ü Tính cộng đồng trong tín ngưỡng: Tín ngưỡng ở Việt Nam không chỉ mang tính cá nhân
mà còn có sự kết nối cộng đồng. Các nghi lễ, lễ hội truyền thống được tổ chức tại làng xã,
đền chùa, hay những nơi thờ cúng chung, qua đó củng cố mối quan hệ cộng đồng và khẳng
định những giá trị văn hóa chung.
• Tín ngưỡng và phong tục phổ biến của người Việt:
ü Các tín ngưỡng phổ biến:
o Tín ngưỡng thờ tổ tiên: Đây là tín ngưỡng quan trọng và phổ biến trong xã hội Việt
Nam. Người Việt tin rằng tổ tiên là những người bảo vệ và hỗ trợ con cháu trong cuộc
sống. Việc thờ cúng tổ tiên thể hiện lòng biết ơn và hiếu kính đối với những người đã
khuất. Các ngày giỗ tổ, ngày lễ Tết, đặc biệt là Tết Nguyên Đán, là dịp để con cháu tụ
tập tưởng nhớ và thờ cúng tổ tiên.
o Tín ngưỡng thờ Thánh Mẫu và các vị thần linh: Ngoài việc thờ cúng tổ tiên, người
Việt còn thờ cúng nhiều vị thần, đặc biệt là các thần trong Tín ngưỡng Thánh Mẫu (thờ
Mẫu, Thánh Mẫu Liễu Hạnh), hay các thần linh địa phương như Thổ Địa, Táo Quân,
Thần Tài,… Những tín ngưỡng này được thực hành trong các gia đình, đình làng và các đền thờ.
o Tín ngưỡng Phật giáo: Phật giáo đã có ảnh hưởng sâu rộng ở Việt Nam, đặc biệt là
các nghi lễ thờ cúng Phật và các lễ hội như Lễ Phật Đản, Lễ Vu Lan (ngày báo hiếu mẹ
cha), là những ngày lễ lớn trong năm của người Việt.
ü Các phong tục phổ biến:
o Phong tục cưới hỏi: Đám cưới là một phong tục quan trọng trong đời sống người Việt,
thể hiện qua các nghi thức truyền thống như cưới hỏi theo lễ, lễ rước dâu, mâm quả
cưới, hay các nghi thức đi xin dâu và rước dâu. Các nghi lễ này không chỉ có ý nghĩa
về mặt gia đình mà còn thể hiện sự giao thoa giữa các gia đình hai bên.
o Phong tục thờ cúng: Thờ cúng tổ tiên và các thần linh là một phong tục phổ biến trong
mọi gia đình người Việt, thể hiện lòng hiếu thảo và sự kính trọng đối với các bậc tiền nhân.
o Phong tục thăm viếng: Trong các dịp lễ tết, người Việt có phong tục thăm viếng người
thân, bạn bè, và hàng xóm để chúc Tết, thể hiện sự gắn bó, quan tâm và yêu mến nhau.
Đây là một nét văn hóa thể hiện sự giao lưu, chia sẻ và tình cảm giữa mọi người.
o Phong tục giỗ chạp: Giỗ tổ tiên là một phong tục vô cùng quan trọng trong các gia
đình người Việt, đặc biệt là trong ngày giỗ của các bậc tổ tiên, ông bà. Ngoài việc cúng
tế, giỗ tổ tiên còn là dịp để các thế hệ trong gia đình quây quần, ôn lại kỷ niệm và thắt chặt tình cảm.
Câu 11: Văn hóa ứng xử với môi trường tự nhiên của người Việt? Trả lời:
• Văn hóa ứng xử: là một biểu hiện của giao tiếp, là sự phản ứng của con người trước sự tác
động của người khác với mình trong một tình huống nhất định được thể hiện qua thái độ, hành
vi, cử chỉ, cách nói năng của con người nhằm đạt kết quả tốt trong mối quan hệ giữa con người với nhau.
• Môi trường tự nhiên bao gồm các nhân tố thiên nhiên như vật lý, hoá học, sinh học, tồn tại
ngoài ý muốn của con người, nhưng cũng ít nhiều chịu tác động của con người. Đó là ánh sáng
mặt trời, núi sông, biển cả, không khí, động, thực vật, đất, nước... Môi trường tự nhiên cho ta
không khí để thở, đất để xây dựng nhà cửa, trồng cấy, chăn nuôi, cung cấp cho con người các
loại tài nguyên khoáng sản cần cho sản xuất, tiêu thụ và là nơi chứa đựng, đồng hoá các chất
thải, cung cấp cho ta cảnh đẹp để giải trí, làm cho cuộc sống con người thêm phong phú.
• Tận dụng môi trường tự nhiên: Ăn
ü Trong văn hóa ẩm thực: Hai yếu tố có tính trội chi phối đến văn hóa vật chất của người
Việt là tính chất sông nước và thực vật. Sự chi phối của hai yếu tố tự nhiên này được thể
hiện trước hết trong việc lựa chọn cơ cấu một bữa ăn truyền thống của người Việt: cơm -
rau - thủy sản. Cơ cấu bữa ăn của người Việt có đặc điểm thực vật nhiều hơn động vật, thủy
sản được ưa chượng hơn hải sản, gia cầm quen thuộc hơn gia súc. Món ăn chê biên đơn
giản, dùng nước nhiêu. Văn hóa ẩm thực của người Việt thể hiện ở việc ăn uống theo mùa,
theo vùng miền. Đó là biểu hiện của lối ứng xử thích nghi với môi trường tự nhiên, thích
nghi với nền kinh tế tự cung tự cấp.
o Đối với người Việt Nam, lương thực chính là lúa gạo, thành phần chính của bữa ăn là
cơm (nấu bằng các thứ gạo, kể cả nếp). Người Việt không chỉ tận dụng cây lúa thành
gạo để nấu cơm mà còn biết tận dụng từ gạo để làm bún và làm bánh: bánh lá, bánh
đúc, bánh tráng... Gạo nếp dùng làm xôi, làm bánh mặn, bánh ngọt... Các thứ phụ có khoai, săn, ngô...
o Thành phần thứ hai trong cơ cấu bữa ăn người Việt là rau quả, gồm rau củ và các loại
dưa, mắm chế biến từ thực vật. Là nước nằm trong vành đai khí hậu nhiệt đới gió mùa,
nông nghiệp lại là ngành kinh tê chủ yêu nên rau quả vô cùng phong phú. Việc dùng
rau trong cơ câu bữa ăn chứng tỏ khả năng tận dùng môi trường tự nhiên của người
Việt. Cà và dưa cà, dưa cải là những món ăn hợp thời tiết, được người Việt ưa thích và
thường được dự trữ để ăn thường xuyên. Bên cạnh các loại rau quả là thành phần chính
trong cơ cấu bữa ăn còn có những loại rau quả dùng làm gia vị như: hành, gừng, ớt, tỏi,
rau răm, rau diếp cá... Gia vị cũng là thành phần không thể thiếu trong bữa ăn của người Việt.
o Thành phần thứ ba trong bữa ăn của người Việt là thủy sản. Việt Nam có phía Đông
giáp với biển Đông lại có hệ thống sông ngòi, ao hồ chăng chịt nên dùng các trong cơ
câu bữa ăn cũng là khả năng tận dụng môi trường tự nhiên của người Việt. Cá đứng thứ
ba trong cơ cấu bữa ăn và đứng đầu trong bảng các loại thức ăn thủy sản (so với tôm,
cua, mực. Người Việt còn tận dụng các loài thủy sản để chế biến ra môt thứ đồ chấm
đăc biêt là nước mắm và mắm các loại. Thực phẩm được chế biến từ thủy sản cũng rất
đa dạng. Chế biến cũng có nhiều cách: chiên, xào, kho, luộc, nướng, gỏi...
o Do khí hậu nóng, ẩm làm thức ăn dễ lên men, bốc mùi nên người Việt Nam thường ăn
ngay sau khi nấu bếp và rất chú ý hâm nóng thức ăn. Thực phẩm để dành ăn dần thường
được phơi khô, sấy khô hoặc làm măm nhằm bảo quản được lâu. Thời tiết thay đổi
quanh năm, vì vậy, thức ăn luôn thay món đổi vị để hợp khâu vị, đáp ứng nhu cầu cơ
thê, đôi phó với thời tiêt.
ü Tính tổng hợp trong lối ăn Việt: phối hợp nhiều món ăn trong một bữa, một món ăn gồm
nhiều thứ kết hợp với nhau để kết hợp hài hòa các món (hài hòa âm dương, tam tài, ngũ
vị), hài hòa các màu sắc đồ ăn. Như vậy giúp cơ thể dễ hòa hợp với thiên nhiên.
ü Bữa ăn được kích thích bằng yếu tố tâm lý: sự quây quần gia đình, nồi cơm chung, đĩa
thức ăn chung, chén nước mắm chung, ăn uống đơn giản không cầu kỳ. Mọi người ăn chung
một mâm, không chia phần, tùy ý nhường nhịn nhau. Trước khi ăn, cất tiếng mời chào lễ
độ, riêng với khách được ưu tiên hơn người nhà.
ü Ăn bằng đũa thể hiện tính linh hoạt, khéo léo của người Việt.
ü Đồ hút: thuốc lào, thuốc lá, đặc biệt thuốc lào được ưa thích hơn thuốc lá; người Việt có
thói quen nhai trầu, động tác nhai trầu giúp cho răng khỏe, chắc.
ü Đồ tráng miệng: các loại bánh có chất đường mật như chè, mứt, kẹo và hoa quả.
Nhìn chung, cách chế biến thức ăn của người Việt Nam luộn hướng đến sự cân bằng âm dương
giữa các món vị. Ẩm thực Việt Nam nhằm vào cân bằng âm dương trong cơ thể và cân bằng âm
dương giữa cơ thể với môi trường. Tóm lại, điều kiện tự nhiên đã giúp người Việt Nam tự xây dựng
một nền nghệ thuật ẩm thực đặc sắc và phong phú.
• Ứng phó với môi trường tự nhiên: Mặc
Sau ăn uống tới mặc trang phục nhưng mặc là để đối phó. Trước hết với khí hậu, thời tiết sau
đó nhằm thoả mãn nhu cầu thẩm mỹ và phù hợp với công việc. Mỗi dân tộc có cách ăn mặc riêng,
do đó trở thành thói quen được chấp nhận trong từng cộng đồng dân tộc, trở thành biểu tượng văn
hoá dân tộc. Trang phục Việt Nam trước hết, thích hợp với khí hậu, thời tiết và nghề nông nghiệp,
sau nữa, thẹo quan điểm thẩm mỹ, người Việt ưa ăn mặc bình dị, kín đáo, không thích màu sắc sặc sỡ và hở hang.
ü Trong văn hóa trang phục, người Việt biết tận dụng các điều kiện tự nhiên chọn các
màu sắc trang phục phù hợp với môi trường sông nước như màu nâu, màu đen..., có ý thức
làm đẹp. Người Việt Nam sử dụng các chất liệu may mặc có sẵn trong tự nhiên, mang đậm
dấu ấn nông nghiệp trồng trọt, sống ở xứ nóng nên chọn các chất liệu mỏng, nhẹ, thoáng
mát. Nhiều loại cây mọc tự nhiên được dùng dễ kéo sợi đệt vải như: đay, gai, bông vải, bẹ
chuối, một số loại cây khác có thể lấy lá đan áo đi mựa, đan nón mũ như cây cọ, cây gồi,...
Người Việt sớm biết trồng dâu nuôi tầm, lấy kén kéo sợi dệt vải. Tơ tằm dệt nên rất nhiều
loại vải từ đơn giản đến quý giá: tơ, lụa, lượt, là,.. đến gấm vóc. Như vậy, để chế tạo các
loại trang phục cổ truyền, người Việt Nam đã sử dụng nguồn nguyên liệu khá phong phú.
ü Ban đầu, trang phục mặc trong sinh hoạt hằng ngày của đa số dân tộc ở Việt Nam thiết
kế theo lối hở. Nam đồng khố cở trần, nữ mặc váy, yếm, áo tứ thân, áo dài, quần lĩnh... để
phù hợp với khí hậu nóng bức và công việc đồng áng. Về sau nam giới người Việt có thêm
kiểu áo ngắn tay, hở cổ, quần lá tọa, nữ giới có kiểu áo ngắn tay, áo tứ thân, năm thân, quần
nái đen. Nhìn chung ăn mặc đơn giản, gọn gàng, thích nghi với khí hậu nóng ẩm, mưa
nhiều, dễ dàng cho việc đi lại, lao động trên đồng ruộng có bùn lấm. Trang phục lễ hội kín
đáo trang nhã. Nam giới mặc quần ống sớ, áo the thâm, nữ mặc áo dài, trong có mặc thêm
nhiều lớp áo cánh với nhiều màu trang nhã. Qua quá trình giao lưu với phương Tây, nam
giới chủ yếu mặc Âu phục khi làm việc ở công sở hay đi dự lễ hội; nữ giới vẫn duyên dáng
trong chiếc áo dài được cách tân từ chiếc áo dài truyền thống, chiếc áo lâu bền nhất đến
nay còn lại là áo cánh hoặc áo bà ba ở Nam Bộ. Nhìn chung, trang phục nữ giới giữ theo
truyền thống lâu bền hơn nam giới.
ü Đồ đội đầu thường dùng trong loa động là chiếc nón lá rộng vành, là phần không thể thiếu
trong trang phục phụ nữ được tận dụng để che mưa, che nắng. Nón quai thao, khăn đóng
thường được dùng trong các dịp lễ hội. Phụ nữ miền Bắc có thói quen chít khăn mỏ quạ;
người miền Nam thích dùng khăn rằn vắt vai. Phụ nữ Thái (Tây Bắc) nổi tiếng với chiếc
khăn Piêu. Chiếc khăn và thắt lưng của phụ nữ rất tiện lợi, linh hoạt khi sử dụng.
ü Đồ trang sức làm bằng nhiều thứ chất liệu như vàng, bạc, đá quý, gỗ, sừng thú,.... nói
chung đơn giản, giản dị, được dùng để đeo ở cổ, ngón tay, cô tay, trái tai giúp tôn thêm vẻ
đen con người. Đô trang sức có thê coi là vât kỷ niệm của môi cá nhân.
ü Về màu sắc trang phục, chọn màu âm tính, dịu nhẹ, mát. Cư dân sống ở vùng thung lũng
hoặc châu thô có xu hướng dùng các màu sấm tôi như đen, nâu, chàm khi làm việc; trái lại
trang phục lê hội lại có nhiêu màu sắc. Phụ nữ Việt có lối mặc "mớ ba", "mớ bảy" với nhiều
màu sắc trang nhã. Trang phục một số dân tộc vùng núi như H’Mông, Dao có màu sắc sặc
sỡ. Nhiều dân tộc ở miền cao vẫn còn lưu giữ kỹ thuật dệt vải thủ công truyền thống với
nhưng hoa văn độc đáo, mang đậm bản sắc dân tộc.
• Ứng phó với môi trường tự nhiên: Ở và đi lại
ü Văn hóa ở: căn nhà trước hết phục vụ yêu cầu đối phó với thiên nhiên, khí hậu và thuận
tiện với nghê nông nghiệp. Cuộc sống nhà nông yên tỉnh. Do đó ngôi nhà được xây dựng
ổn định: "An cư lạc nghiệp".
o Nhà cần phải bên chắc để chống gió bão, do đó bộ khung sườn nhà phải có khả năng chịu
lực đủ các hướng. Nhà không cần móng. Chất liệu xây dựng thường là sử dụng vật liệu có
săn trong địa bàn cư trú hoặc ở một nơi gần đó đê xây dựng. Địa hình Việt Nam đa dạng
nên chất liệu xây dựng rất phong phú: vùng đồi núi có gỗ, đá, lá cọ, song, mây, tre, vầu,
nứa,...; vùng đồng bằng có tre, tranh, rơm rạ, đất sét, đất nung thành gạch, ngói,..., vùng
ngập nước có đước, tràm, dừa nước, lau, sậy,... Thiết kế nhà ở phù hợp với sông nước, khí
hậu, địa hình khu vực Đông Nam Á. Nói chung, nhà cao cửa rộng phù hợp với thời tiết.
o Kiểu nhà phổ biến là nhà sàn. Đặc điểm nhà sàn là sàn nhà cao để chống ẩm, chống nóng;
cột nhà cắm sâu vào đất để chống lũ xói mòn, chống bão, lốc, mái nhà thấp để tránh nắng
hắt, mưa tạt; cửa thâp rộng hoặc nhiêu cửa đê tránh năng xiên khoai, đón nhiều gió; tránh
thú dữ. Biến thể của nhà sàn là nhà căng cao, được xây dựng ven các sông có thủy triều lên
xuống. Các kiểu nhà tranh, nhà được xây dựng dựa theo cấu trúc nhà sàn: nền cao, nền đất
nện, vách nứa, nóc nhà cao, mái thấp và lợp kín, cửa thấp và rộng, cột nhà là trụ chống đỡ
(khung chịu lực là hệ thống cột, kèo, xà); thường có thêm ao, chuồng nuôi tôm cá, chăn
nuôi. Con người sống hướng thuỷ, hiền hoà với thiên nhiên. Ở các công trình kiên cố như
thành quách, đình, chùa, miếu... các mái được thiết kế hình cong như mũi thuyền (còn gọi là hình lưỡi dao).
o Ngoài ra cũng có kiểu nhà dành cho người "định cư" ngay trên sông nước đó là nhà
thuyền, nhà bè. Trong quan niệm về kiến trúc, xây nhà, dựng cửa: người Việt biết chọn
hướng nhà, chọn đất, tránh hướng gió độc, đó lấy hướng mặt trời, hay xây dựng nhà cửa
gân sông suối đê tiện nước sinh hoạt, trồng trọt. Hướng nhà xây về các hướng Đông, Đông
Nam, Nam là những hướng có gió từ biên thôi vào nên rất mát, không làm hại sức khỏe
con người, tránh phía Tây và Bắc. Theo phong thủy Á Đông, đối với nhà ở thì "phong" tức
tiêu chí đôi lưu gió được coi trọng.
o Nhà ở miền núi cũng như đồng bằng co cụm theo làng, bản. Các làng ở đồng bằng có đình
làng là trung tâm văn hóa, hành chính. Các bản ở dọc Trường Sơn có nhà rồng, nhà gươi
dùng làm nơi sinh hoạt chung của cộng đồng. Các kiến trúc đều thuận theo phong thủy: đó
là sự hài hòa giữa thế đất, thế núi nguồn nước.... Cấu trúc ngôi nhà: gian nhà trung tâm
trang trọng nhất dành làm bàn thờ tổ tiên, kiêm luôn nơi tiếp khách (trọng tổ tiên và hiểu
khách). Do lối sống cộng đồng căn nhà không chia các phòng biệt lập, chỉ có căn buồng,
vẫn liên thông với gian chính. Do lối coi trọng bên phải nên căn buồng bên tay trái dành
cho sự ưu tiên (mẹ chồng buồng trái, con dâu buồng phải), trên bàn thờ chung nội ngoại thì
bên nội ở bên trái, bên ngoại ở bên phải của bàn thờ. Không gian nhà là không gian mở, có
cửa rộng thoáng mát và giao hợp với thiên nhiên. Do coi trọng số lẻ, đặc biệt ngũ hành nên
số gian nhà là 1, 3 và tối đa là 5; bậc thềm 3 bậc (tam cấp); công nhà có 1 hoặc 3 cái (tam
quan). Mái nhà lợp bằng các loại lá cỏ cho mát, nếu mái ngói thì dùng ngói âm dương vừa
mát vừa bền. Vị trí ngôi nhà chọn đặt nơi trung bình, không cao không thấp. Ghép các bộ
phận theo lối ghép âm dương, tránh dùng kim loại rỉ sét làm hư hỏng nhà. Nói chung, việc
làm nhà dựa theo nguyên lý hài hòa âm dương, hướng tới một cuộc sống ổn định.
ü Văn hóa đi lại: do điều kiện tự nhiên thuận lợi, nhiều sông ngòi... tận dụng sông nước nên
phương tiện đi lại của người Việt chủ yếu là thuyền, ghe, đò, xuồng... Chủ yếu là đi bộ,
gồng gánh, đội thúng trên đầu hoặc mang trên lưng, thích hợp với diện tích nhỏ, vừa, công
việc không quá nặng nhọc. Đường bộ thường nhỏ hẹp, đây bùn lầy, thô nặng có trâu, bò.
Đi lại trên sông nước có các loại thuyền, thúng, thuyền đinh, thuyền độc mộc, đò ngang,
đò dọc,... tùy loại địa hình. Hệ thống trục giao thông chủ yếu là sông rạch, kênh đào, đường biển.
o Phương tiện đi lại chủ yếu là phương tiện đường thủy gồm thuyền (miền Bắc), ghe
(miền Nam), xuồng, phà, tàu,... Thuyền có các loại như thuyền độc mộc, thuyền chài,
thuyền rồng,.; ghe có ghe lưới, ghe đò, ghe chài,... Đa số các phương tiện giao thông
thủy truyền thống thường nhỏ gọn, phù hợp với địa hình và nên sản xuất nộng nghiệp
tự cung tự cấp. Các loại cầu thô sơ xuất hiện rất sớm như cầu cây, cầu khi, cầu treo.
Hoạt động đi lại của người dân nông nghiệp Việt Nam trong một phạm vi ngăn, từ nhà
ra ruộng đồng, gò bãi. Do đó, chủ yếu chỉ dùng sức người mà vận chuyển trong sản xuất và sinh hoạt.
o Trên những con đường nhỏ, chỉ có sức đôi chân (đị bộ), hiểm khi có xẹ trâu, bò, ngựa,
voi. Quan lại, nhà giàu đi bằng kiệu, cáng, về sau có xe tay, rồi đến xe đạp, xích lô.
Giao thông đường thủy phát triển mạnh hơn nhưng cũng chỉ có phương tiện thô sơ trên
sông ngòi chẳng chịt, ít có tàu chạy biển. Là cư dân chuyển đi lại trên sông nước, người