2. Đường lối kháng chiến toàn quốc và quá trình tổ chức thực hiện (1946-
1950)
b. Tổ chức, chỉ đạo cuộc kháng chiến (1947-1950)
* Về ngoại giao,
- Đảng và Chính phủ chủ trương tích cực tranh thủ mở rộng quan hệ ngoại
giao với các nước trong phe xã hội chủ nghĩa. Năm 1950, Trung Quốc, Liên
Xô, các nước Đông Âu... công nhận và đặt quan hệ ngoại giao với Việt
Nam.
- Tháng 11-1949, Hồ Chí Minh ký ban hành Sắc lệnh về nghĩa vụ quân sự.
Trong quân đội có cuộc vận động “luyện quân lập công” và tiếp theo là
phong trào thi đua “rèn cán, chỉnh quân". Lực lượng ba thứ quân (bộ đội
chủ lực, bộ đội địa phương, dân quân du kích) được phát triển nhanh
chóng và trưởng thành về mọi mặt. Công tác xây dựng Đảng được đẩy
mạnh và phát triển nhanh trong 2 năm 1948, 1949, kết nạp được hơn
50.000 đảng viên mới. Từ Cuối năm 1950, Đảng quyết định tạm ngừng
phát triển Đảng để củng cố vì phát hiện ở nhiều nơi việc phát triển Đảng
“quá nóng”, mắc sai lầm về tiêu chuẩn đảng viên.
( GIẢI THÍCH: 1. “Luyện quân lập công”: Tập trung vào việc rèn luyện,
huấn luyện chiến thuật, chiến dịch, kỹ thuật cho bộ đội, đồng thời khuyến
khích tinh thần chiến đấu anh dũng, lập nên chiến công, tiêu hao sinh lực
địch, từng bước làm thay đổi so sánh lực lượng trên chiến trường có lợi cho
ta.
Mục tiêu: Xây dựng quân đội chính quy, tinh nhuệ, sẵn sàng chiến đấu và
chiến thắng.
2. "Rèn cán, chỉnh quân": Tập trung vào việc rèn luyện phẩm chất, đạo
đức, tác phong, kỷ luật cho cán bộ, chiến sĩ, chấn chỉnh tổ chức, lề lối làm
việc, xây dựng quân đội vững mạnh về chính trị, tư tưởng, tổ chức và kỷ
luật.)
- Trong vùng tạm bị chiếm, Đảng chỉ đạo tiếp tục phát triển mạnh chiến
tranh du kích để “biến hậu phương của địch thành tiền phương của
ta".
( GIẢI THÍCH: là dùng du kích, dân quân tự vệ tấn công ngay trong vùng
địch kiểm soát (hậu phương địch) để làm tan rã sự yểm trợ, tạo thế cài
răng lược, khiến địch không có nơi nào an toàn, biến hậu phương của
chúng thành mặt trận, nơi cung cấp lực lượng cho ta, làm thay đổi cục
diện chiến trường, đặc biệt thành công trong kháng chiến chống Pháp.)
Sau chiến thẳng Việt Bắc Thu Đông 1947, quân dân ta tiếp tục giành
nhiều thắng lợi quan trọng, lực lượng kháng chiến phát triển về mọi mặt.
- Tháng 6/1950, Ban Thường vụ Trung ương Đảng quyết định mở một
chiến dịch quân sự lớn (Chiến dịch Biên giới Thu Đông 1950) tiến công
dịch dọc tuyến biên giới Việt-Trung thuộc 2 tỉnh Cao Bằng và Lạng Sơn
→ với mục đích tiêu diệt một bộ phận quan trọng sinh lực địch, giải phóng
một phần biên giới, mở đường giao thông với Trung Quốc và các nước xã
hội chủ nghĩa, mở rộng và củng cố căn cứ địa Việt Bắc.
Đây là chiến dịch đầu tiên mà bộ đội Việt Minh chủ động tấn công quân
Pháp, làm thay đổi cục diện chiến trường. Quân Pháp thất bại lớn cả về
quân sự và chính trị, bị dây lùi vào thể phòng ngự bị dộng. Chiến dịch này
có ý nghĩa bản lề quan trọng.là bước ngoặt của cuộc chiến tranh.
Chiến dịch Biên Giới diễn ra 3 đợt:
+ Đợt 1 (từ ngày 16 đến ngày 20/9/1950): Ta tập trung lực lượng đánh
trận then chốt tiêu diệt cụm cứ điểm Đông Khê.
+ Đợt 2 (từ ngày 21 đến ngày 29/9/1950): Tiến hành trận then chốt quyết
định tiêu diệt hai binh đoàn Lơ Pa-giơ và Sác - tông.
+ Đợt 3 (từ ngày 9 đến ngày 14/10/1950): Địch ở Thất Khê, Na Sầm, Lạng
Sơn rút chạy, ta truy kích địch giải phóng Thất Khê, Na Sầm.
Cuộc chiến đấu anh dũng và quyết liệt của quân và dân ta diễn ra liên tiếp
trong suốt 30 ngày đêm ( từ ngày 16-9 đến 17-10-1950) và đã giành được
thắng lợi to lớn, “dạt được mục tiêu tiêu diệt địch, kết thúc thời kỳ chiến
đấu trong vòng vây". Thắng lợi của quân và dân ta trong Chiến dịch Biên
giới Thu Đông 1950 là sự kết tỉnh sức mạnh tổng hợp của cả nước, thành
quả của cuộc chiến đấu kiên cường suốt 5 năm (1945-1950) trong vòng
vây của chủ nghĩa đế quốc. Chiến thắng này đã mở ra cục diện mới, đưa
cuộc kháng chiến chuyển sang giai đoạn phát triển cao hơn.

Preview text:

2. Đường lối kháng chiến toàn quốc và quá trình tổ chức thực hiện (1946-1950)

b. Tổ chức, chỉ đạo cuộc kháng chiến (1947-1950)

* Về ngoại giao,

- Đảng và Chính phủ chủ trương tích cực tranh thủ mở rộng quan hệ ngoại giao với các nước trong phe xã hội chủ nghĩa. Năm 1950, Trung Quốc, Liên Xô, các nước Đông Âu... công nhận và đặt quan hệ ngoại giao với Việt Nam.

- Tháng 11-1949, Hồ Chí Minh ký ban hành Sắc lệnh về nghĩa vụ quân sự. Trong quân đội có cuộc vận động “luyện quân lập công” và tiếp theo là phong trào thi đua “rèn cán, chỉnh quân". Lực lượng ba thứ quân (bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương, dân quân du kích) được phát triển nhanh chóng và trưởng thành về mọi mặt. Công tác xây dựng Đảng được đẩy mạnh và phát triển nhanh trong 2 năm 1948, 1949, kết nạp được hơn 50.000 đảng viên mới. Từ Cuối năm 1950, Đảng quyết định tạm ngừng phát triển Đảng để củng cố vì phát hiện ở nhiều nơi việc phát triển Đảng “quá nóng”, mắc sai lầm về tiêu chuẩn đảng viên.

( GIẢI THÍCH: 1. “Luyện quân lập công”: Tập trung vào việc rèn luyện, huấn luyện chiến thuật, chiến dịch, kỹ thuật cho bộ đội, đồng thời khuyến khích tinh thần chiến đấu anh dũng, lập nên chiến công, tiêu hao sinh lực địch, từng bước làm thay đổi so sánh lực lượng trên chiến trường có lợi cho ta.

Mục tiêu: Xây dựng quân đội chính quy, tinh nhuệ, sẵn sàng chiến đấu và chiến thắng.

2. "Rèn cán, chỉnh quân": Tập trung vào việc rèn luyện phẩm chất, đạo đức, tác phong, kỷ luật cho cán bộ, chiến sĩ, chấn chỉnh tổ chức, lề lối làm việc, xây dựng quân đội vững mạnh về chính trị, tư tưởng, tổ chức và kỷ luật.)

- Trong vùng tạm bị chiếm, Đảng chỉ đạo tiếp tục phát triển mạnh chiến tranh du kích để “biến hậu phương của địch thành tiền phương của ta".

( GIẢI THÍCH: là dùng du kích, dân quân tự vệ tấn công ngay trong vùng địch kiểm soát (hậu phương địch) để làm tan rã sự yểm trợ, tạo thế cài răng lược, khiến địch không có nơi nào an toàn, biến hậu phương của chúng thành mặt trận, nơi cung cấp lực lượng cho ta, làm thay đổi cục diện chiến trường, đặc biệt thành công trong kháng chiến chống Pháp.)

Sau chiến thẳng Việt Bắc Thu Đông 1947, quân dân ta tiếp tục giành nhiều thắng lợi quan trọng, lực lượng kháng chiến phát triển về mọi mặt.

  • Tháng 6/1950, Ban Thường vụ Trung ương Đảng quyết định mở một chiến dịch quân sự lớn (Chiến dịch Biên giới Thu Đông 1950) tiến công dịch dọc tuyến biên giới Việt-Trung thuộc 2 tỉnh Cao Bằng và Lạng Sơn

→ với mục đích tiêu diệt một bộ phận quan trọng sinh lực địch, giải phóng một phần biên giới, mở đường giao thông với Trung Quốc và các nước xã hội chủ nghĩa, mở rộng và củng cố căn cứ địa Việt Bắc.

Đây là chiến dịch đầu tiên mà bộ đội Việt Minh chủ động tấn công quân Pháp, làm thay đổi cục diện chiến trường. Quân Pháp thất bại lớn cả về quân sự và chính trị, bị dây lùi vào thể phòng ngự bị dộng. Chiến dịch này có ý nghĩa bản lề quan trọng.là bước ngoặt của cuộc chiến tranh.

Chiến dịch Biên Giới diễn ra 3 đợt:

+ Đợt 1 (từ ngày 16 đến ngày 20/9/1950): Ta tập trung lực lượng đánh trận then chốt tiêu diệt cụm cứ điểm Đông Khê.

+ Đợt 2 (từ ngày 21 đến ngày 29/9/1950): Tiến hành trận then chốt quyết định tiêu diệt hai binh đoàn Lơ Pa-giơ và Sác - tông.

+ Đợt 3 (từ ngày 9 đến ngày 14/10/1950): Địch ở Thất Khê, Na Sầm, Lạng Sơn rút chạy, ta truy kích địch giải phóng Thất Khê, Na Sầm.

Cuộc chiến đấu anh dũng và quyết liệt của quân và dân ta diễn ra liên tiếp trong suốt 30 ngày đêm ( từ ngày 16-9 đến 17-10-1950) và đã giành được thắng lợi to lớn, “dạt được mục tiêu tiêu diệt địch, kết thúc thời kỳ chiến đấu trong vòng vây". Thắng lợi của quân và dân ta trong Chiến dịch Biên giới Thu Đông 1950 là sự kết tỉnh sức mạnh tổng hợp của cả nước, thành quả của cuộc chiến đấu kiên cường suốt 5 năm (1945-1950) trong vòng vây của chủ nghĩa đế quốc. Chiến thắng này đã mở ra cục diện mới, đưa cuộc kháng chiến chuyển sang giai đoạn phát triển cao hơn.