



















Preview text:
NỘI DUNG ÔN THI CUỐI KÌ TRIẾT HỌC
1. MỐI QUAN HỆ BIỆN CHỨNG GIỮA VẬT CHẤT VÀ Ý THỨC a) KHÁI NIỆM: - Vật chất:
+ Là một phạm trù triết học dùng để chỉ thực tại khách quan được đem lại cho
con người trong cảm giác, được cảm giác của chúng ta chép lại, chụp lại,
phản ánh và tồn tại không lệ thuộc vào cảm giác.
+ Ví dụ: Khi bạn mở mắt, bạn nhìn thấy chiếc bàn. Khi bạn nhắm mắt, bạn
không còn cảm giác về chiếc bàn nữa. 👉 Nhưng chiếc bàn vẫn ở đó, chiếc
bàn tồn tại khách quan, không phụ thuộc vào việc bạn có cảm giác hay
không. Cảm giác của bạn chỉ là sự chép lại, phản ánh chiếc bàn vào não. →
Chiếc bàn là vật chất.
- Ý thức: Là sự phản ánh năng động, sáng tạo thế giới khách quan vào bộ óc người,
là hình ảnh chủ quan của thế giới khách quan, gắn liền với thực tiễn xã hội.
+ Ví dụ: Một ngôi nhà tồn tại khách quan ngoài xã hội, nhưng trong đầu mỗi
người, ngôi nhà hiện lên với ý nghĩa khác nhau: người nghèo thấy đó là ước
mơ, kiến trúc sư thấy đó là bản thiết kế, còn đứa trẻ thấy đó là mái ấm.
Những hình ảnh ấy là ý thức – sự phản ánh chủ quan, sáng tạo của thế giới
khách quan vào bộ óc con người.
b) MỐI QUAN HỆ BIỆN CHỨNG:
Triết học Mác – Lênin khẳng định trong mối quan hệ giữa vật chất và ý thức thì vật
chất có trước, ý thức có sau, vật chất quyết định ý thức và ý thức có tính độc lập
tương đối và tác động trở lại vật chất thông qua hoạt động thực tiễn của con người.
- Vật chất quyết định:
+ Nguồn gốc của ý thức:
Nguồn gốc tự nhiên (não người, thế giới khách quan) và xã hội (lao động,
ngôn ngữ). Ý thức chỉ xuất hiện khi loài người xuất hiện và bộ óc người phát
triển. Ý thức còn là kết quả của quá trình phản ánh hiện thực khách quan,
gắn liền với hoạt động lao động và biểu hiện thông qua ngôn ngữ. Do đó, nếu
không có vật chất, cụ thể là bộ óc người, sự tác động của thế giới khách quan
lên bộ óc người, quá trình phản ánh, lao động, ngôn ngữ thì ý thức không thể
sinh ra, tồn tại và phát triển.
Ví dụ: Chỉ khi con người xuất hiện với bộ óc phát triển, tham gia lao động
học tập và giao tiếp bằng ngôn ngữ, thì mới hình thành ý thức học tập. Một
hòn đá hay cái máy tính không thể có ý thức vì không có não người và đời sống xã hội.
+ Nội dung của ý thức:
Ý thức là “hình ảnh” của thế giới khách quan cho nên nội dung của nó là kết
quả của sự phản ánh hiện thực khách quan vào bộ óc người trên cơ sở của
thực tiễn. Thế giới khách quan như thế nào → ý thức con người như thế ấy.
Ví dụ: Trong bối cảnh xã hội coi trọng bằng cấp, kỳ thi THPTQG quyết định
tương lai, nên trong đầu học sinh hình thành nhận thức rằng học tập là con
đường để thay đổi số phận. Hiện thực khách quan thế nào thì ý thức phản ánh như thế.
+ Bản chất của ý thức:
Ý thức con người là sự phản ánh một cách tự giác, tích cực và sáng tạo thế
giới khách quan. Do đó, hoạt động thực tiễn, cải biến thế giới của con người
là cơ sở để hình thành, phát triển ý thức. Thế giới khách quan phong phú bao
nhiêu → ý thức sáng tạo bấy nhiêu.
Ví dụ: Học sinh không học máy móc mà biết lập kế hoạch, chọn phương
pháp, đặt mục tiêu điểm số, thể hiện ý thức là sự phản ánh tự giác, tích cực
và sáng tạo, hình thành từ chính hoạt động học tập thực tiễn.
+ Sự vận động phát triển của ý thức:
Thế giới khách quan thay đổi → ý thức thay đổi theo. Cụ thể, khi đời sống vật
chất thay đổi thì đời sống tinh thần, tư tưởng, tình cảm cũng sẽ thay đổi theo.
Ví dụ: Khi điều kiện vật chất thay đổi (chương trình học đổi mới, công nghệ
hỗ trợ học online), thì ý thức học tập cũng thay đổi: từ học thụ động sang
chủ động, linh hoạt hơn.
- Sự tác động trở lại của ý thức với vật chất:
+ Thứ nhất, tính độc lập tương đối của ý thức thể hiện ở chỗ ý thức có “đời
sống riêng”, quy luật vận động, biến đổi và phát triển không phụ thuộc một
cách máy móc vào vật chất. Do đó, ý thức có thể thay đổi nhanh hoặc chậm hơn so với hiện thực.
VD: Sau khi đất nước đã đổi mới kinh tế, đời sống vật chất của người dân cải
thiện rõ rệt, nhưng một bộ phận người vẫn giữ tư duy bao cấp, trông chờ, ỷ
lại vào Nhà nước. 👉 Hiện thực vật chất đã thay đổi, nhưng ý thức xã hội thay
đổi chậm hơn, chứng tỏ ý thức có đời sống riêng, không phụ thuộc máy móc vào vật chất.
+ Thứ hai, sự tác động của ý thức đối với vật chất phải thông qua hoạt động
thực tiễn của con người. Con người dựa trên tri thức về thế giới khách quan,
hiểu biết quy luật khách quan để đề ra mục tiêu, phương hướng, biện pháp
và ý chí quyết tâm thực hiện mục tiêu
VD: Nhu cầu phục vụ cuộc sống khiến công nghệ khoa học phát triển: máy
hơi nước ra đời thay thế sức kéo khi con người không muốn phải xách nước
xa và nặng; điện thoại di động ra đời thay thế thư từ truyền thống khi nhu
cầu liên lạc của con người tăng lên,…
+ Thứ ba, ý thức chỉ đạo, hướng dẫn con người trong thực tiễn, nó có thể quyết
định làm cho hoạt động con người đúng hay sai, thành công hay thất bại. Theo hai hướng
● Tích cực: khi phản ánh đúng hiện thực, ý thức có thể dự báo, tiên
đoán một cách chính xác cho hiện thực, từ đó mang lại hiệu quả,
thành công trong thực tiễn
VD: Một học sinh hiểu rõ hoàn cảnh khó khăn của gia đình, từ đó hình
thành ý thức vươn lên, chủ động học tập, rèn luyện, cuối cùng đỗ đại
học, thay đổi cuộc sống. 👉 Ý thức phản ánh đúng hiện thực, định
hướng hành động đúng → thành công.
● Tiêu cực: khi phản ánh sai lệch, xuyên tạc hiện thực từ đó gây ra hậu
quả, tổn thất trong thực tiễn
VD: Một người tin rằng lao động chân chính không thể làm giàu, nên
sa vào cờ bạc với hy vọng “đổi đời nhanh”, hậu quả là nợ nần, gia đình
tan vỡ. 👉 Ý thức phản ánh sai lệch hiện thực, dẫn đến hành động sai → thất bại.
+ Thứ tư, trong thời đại ngày nay, những tư tưởng tiến bộ, những tri thức khoa
học đóng vai trò quan trọng đối với sự phát triển xã hội.
VD: Việc trang bị cho học sinh kiến thức khoa học, công nghệ số và đạo đức
công dân giúp họ sử dụng internet hiệu quả, tránh tin giả, góp phần xây
dựng xã hội văn minh. 👉 Ý thức tiến bộ trở thành động lực thúc đẩy sự phát triển xã hội. c) Ý NGHĨA PPL:
- Tôn trọng khách quan kết hợp với phát huy tính năng động chủ quan. Căn cứ vào
hiện thực khách quan để có thể đánh giá, xác định phương hướng biện pháp, kế
hoạch mới có thể thành công. Chống chủ quan, duy ý chí.
- Phát huy tính năng động sáng tạo của ý thức đồng thời khắc phục bệnh bảo thủ trì
trệ, thái độ tiêu cực, thụ động, ỷ lại.
Ví dụ: Trong chiến dịch Xuân tình nguyện 2025, sinh viên khi về vùng sâu, vùng
khó khăn không tổ chức hoạt động theo ý muốn chủ quan, mà khảo sát thực tế nhu
cầu địa phương: nơi thiếu nước sạch thì sửa giếng, nơi học sinh thiếu đồ học tập thì
trao học bổng và tổ chức lớp học kỹ năng. Trên cơ sở đó, sinh viên chủ động xây
dựng kế hoạch phù hợp, huy động nguồn lực và trực tiếp tham gia thực hiện.
Từ mối quan hệ giữa vật chất và ý thức rút ra ý nghĩa thực tiễn cho bản thân
Thứ nhất: Bản thân phải xác định được các yếu tố khách quan ảnh hưởng đến cuộc
sống hàng ngày, vì vật chất quyết định ý thức nên con người cần phải ý thức được
những vật chất của cuộc sống còn thiếu thốn để có hành động phù hợp với thực tế khách quan.
Thứ hai: Phải phát huy tính năng động, sáng tạo trong mọi hoạt động hàng ngày.
Kết cấu của ý thức thì tri thức là quan trọng nhất nên mỗi chúng ta cần chú trọng
phát triển tri thức của bản thân.
Thứ ba: Cần phải tiếp thu có chọn lọc kiến thức mới và không chủ quan trong mọi tình huống.
Thứ tư: Khi giải thích một hiện tượng cần phải xét có yếu tố vật chất lẫn tinh thần,
cả yếu tố khách quan và điều kiện khách quan.
Sự ứng dụng của bản thân trong học tập:
Với cương vị là một sinh viên năm nhất, khi bắt đầu vào một môi trường mới, em
cảm thấy mình cần xác định rõ các điều kiện vật chất, hoàn cảnh sống, các điều
kiện khách quan, thiết lập tư duy, cảm xúc để đạt được những mục tiêu đã đề ra.
Nếu như được tiếp xúc với cơ sở vật chất tốt, phương pháp giảng dạy hiệu quả từ
các giảng viên, khả năng tiếp thu tri thức của em khi ấy sẽ tốt hơn. Cụ thể, một tiết
học Triết ở phòng mát mẻ, đầy đủ tiện nghi cùng với một giảng viên tâm huyết, có
kinh nghiệm giảng dạy, thấu hiểu tâm lý sinh viên sẽ khiến mình yêu thích môn này,
và ra sức để tìm hiểu thêm kiến thức bên ngoài, sau đó sẽ cùng nhau thảo luận với
giảng viên. Ngược lại, khi một ngày nóng bức, giảng viên thiếu tâm huyết, sẽ sinh ra
tâm lý chán nản không muốn học môn đó. Điều đó cho thấy điều kiện vật chất và
hoàn cảnh khách quan có vai trò quyết định trong việc hình thành thái độ và ý thức
học tập của sinh viên. Thấu hiểu được điều này, em đã vận dụng để góp phần nâng
cao năng suất học tập của bản thân như: rút kinh nghiệm dần để tìm ra phương
pháp học tập phù hợp, sắp xếp góc học tập gọn gàng,.
Ngoài ra, em còn áp dụng nguyên tắc tôn trọng thực tế khách quan thông qua việc
đi học đầy đủ, không đi trễ, làm theo những gì giảng viên hướng dẫn. Do trong học
kỳ này em vừa bắt đầu việc làm thêm, nên việc học tập có đôi chút trễ này, em lười
nhát và bắt đầu không tập trung nghe giảng viên giảng, tuy nhiên khi thấy việc học
dần sa sút, em đã tự kiềm chế, nhắc nhở và động viên bản thân, tự mày mò và khắc
phục những lỗ hổng kiến thức do mình gây nên, dành thời gian tự học và tự mở rộng kiến thức.
Bên cạnh đó, em biết rằng, mình cần phải chống lại “bệnh” chủ quan duy ý chí
cũng như căn bệnh đeo bám biết bao lớp trẻ, là bệnh bảo thủ và trì trệ. Tiếp thu cái
mới là điều nên làm nhưng cũng cần phải có chọn lọc, học hỏi và lắng nghe góp ý. Ví
dụ như khi em đảm nhận vai trò nhóm trưởng trong khi làm nhóm Lịch sử văn minh
thế giới, em đều để mọi người đưa ra ý kiến và cùng nhau thảo luận, nhận xét, góp ý
để cùng nhau hướng đến phương án tốt nhất.
Cuối cùng, khi giải thích các hiện tượng xã hội cần tính đến các điều kiện vật chất
lẫn yếu tố tinh thần, điều kiện khách quan lẫn yếu tố khách quan. Trước khi điền
nguyện vọng khi xét tuyển vào các trường đại học, em đã tham khảo và cân nhắc rất
nhiều ngôi trường để cân bằng giữa tài chính gia đình và năng lực bản thân. Và em
đã chọn Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn (ĐHQG TP. HCM) làm điểm
đến cho hành trình sinh viên sau này của mình, một ngôi trường gia đình có thể đáp
ứng được mức học phí cũng như khả năng em có thể đậu vào.
2. NGUYÊN LÝ VỀ MỐI LIÊN HỆ PHỔ BIẾN a) KHÁI NIỆM:
- Mối liên hệ: dùng để chỉ các mối ràng buộc tương hỗ, quy định và ảnh hưởng lẫn
nhau giữa các yếu tố, bộ phận trong một đối tượng hoặc giữa các đối tượng với nhau.
Ví dụ: Gió thổi mây bay; nước chảy đá mòn; cha mẹ quát mắng con cái dẫn đến
những cảm xúc tiêu cực ảnh hưởng đến con cái,. .
- Mối liên hệ phổ biến: Dùng để chỉ tính phổ biến của các mối liên hệ, chỉ những
mối liên hệ tồn tại ở mọi sự vật, hiện tượng của thế giới. Phạm vi tác động: tự nhiên, xã hội, tư duy.
VD : Mối liên hệ giữa cái riêng - cái chung, nguyên nhân - kết quả,. .
=> Nội dung mối liên hệ phổ biến: Không có sự vật, hiện tượng, quá trình nào tồn
tại biệt lập, tách rời khỏi sự vật, hiện tượng, quá trình khác. Bất kỳ sự vật, hiện
tượng nào cũng tồn tại trong một cấu trúc hệ thống với mối liên hệ tương tác với
nhau, góp phần quy định sự tồn tại và phát triển của nhau. b) TÍNH CHẤT: - Tính khách quan:
+ Mối liên hệ phổ biến là cái vốn có, tồn tại độc lập với con người, con người
chỉ nhận thức sự vật thông qua các mối liên hệ vốn có của nó.
+ Ví dụ: Khi con người chạy bộ, các hệ vận động, tuần hoàn và hô hấp tự động
phối hợp với nhau theo quy luật sinh học khách quan, không phụ thuộc vào ý
muốn chủ quan của con người. - Tính phổ biến:
+ Mối liên hệ không chỉ diễn ra ở mọi sự vật, hiện tượng trong tự nhiên, xã hội,
tư duy, mà còn diễn ra giữa các mặt, các yếu tố, các quá trình của mỗi sự vật, hiện tượng.
+ Ví dụ: Một sinh viên có các mặt: Thể chất (sức khỏe), Tinh thần (tâm lý, cảm
xúc), Nhận thức (khả năng tiếp thu), Hành vi (ý thức học tập). Khi sinh viên
thiếu ngủ kéo dài: Sức khỏe giảm → tinh thần mệt mỏi → khả năng tiếp thu
kém → kết quả học tập sa sút 👉 Chỉ một mặt thay đổi (sức khỏe) nhưng kéo
theo sự biến đổi của các mặt khác.
- Tính đa dạng, phong phú:
+ Sự vật, hiện tượng, thời gian, không gian khác nhau → mối liên hệ khác nhau.
Có nhiều loại mối liên hệ: bên trong - ngoài, cơ bản - không cơ bản, chủ -
thứ yếu, trực - gián tiếp,. .
+ Ví dụ: Quan hệ giữa hai đất nước Mỹ và Việt Nam, trong quá khứ lịch sử, hai
nước là kẻ thù của nhau với rất nhiều cuộc chiến tranh lớn, căng thẳng,
nhưng hiện tại trong thời đại hòa bình ngày nay, hai nước lại trở thành đối
tác. Như vậy cho ta thấy rõ được trong những điều kiện cụ thể khác nhau, thì
quá trình phát triển mối quan hệ giữa hai nước đã có sự thay đổi qua từng giai đoạn. c) Ý NGHĨA PPL:
- Tôn trọng quan điểm toàn diện:
+ Xem xét tất cả các mối liên hệ
+ Phân biệt mối liên hệ cơ bản, chủ yếu
+ Chống phiến diện, chiết trung
- Quan điểm lịch sử - cụ thể: xem xét sự vật, hiện tượng trong không gian, thời gian
và mối liên hệ cụ thể.
Ví dụ: Khi đánh giá kết quả học tập của một sinh viên, không chỉ nhìn vào điểm thi
cuối kỳ, mà còn phải xem xét nhiều mối liên hệ khác như quá trình học tập, mức
độ chuyên cần, hoàn cảnh gia đình, việc vừa học vừa làm, và khả năng tiến bộ theo
thời gian. Trong đó, kết quả học tập và thái độ học tập là mối liên hệ cơ bản, chủ
yếu, còn các yếu tố khác là điều kiện tác động.
Đồng thời, việc đánh giá sinh viên cần đặt trong bối cảnh lịch sử – cụ thể: sinh viên
năm nhất mới chuyển môi trường học tập sẽ khác với sinh viên năm cuối; giai đoạn
dịch bệnh hay học trực tuyến kéo dài cũng ảnh hưởng khác so với học trực tiếp.
3. NGUYÊN LÝ VỀ SỰ PHÁT TRIỂN a) KHÁI NIỆM:
- Phát triển là một phạm trù triết học dùng để chỉ quá trình vận động của sự vật
theo khuynh hướng đi lên từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp, từ kém hoàn
thiện đến hoàn thiện hơn.
- Phát triển là một dạng của vận động nhưng không đồng nhất với vận động nói
chung, mà là sự biến đổi về chất theo hướng ngày càng hoàn thiện của sự vật ở
trình độ ngày càng cao hơn.
- Nội dung: Mọi sự vật, hiện tượng đều vận động, và trong đó có những vận động
theo khuynh hướng tiến lên gọi là sự phát triển.
+ Nguồn gốc của sự phát triển: thống nhất và đấu tranh giữa các mặt đối lập để
giải quyết các mâu thuẫn của sự vật
+ Phương thức của sự phát triển: lượng đổi dẫn đến chất đổi và ngược lại
+ Khuynh hướng của sự phát triển: tiến lên theo đường xoáy ốc, có kế thừa,
quanh co phức tạp, phủ định của phủ định, cái mới ra đời thay thế cái cũ.
Hết mỗi chu kỳ, sự vật, hiện tượng lặp lại dường như ban đầu nhưng ở mức độ cao hơn. b) TÍNH CHẤT: - Tính khách quan:
+ Nguồn gốc của sự phát triển nằm trong bản thân sự vật hiện tượng, do mâu
thuẫn của sự vật quy định, không phụ thuộc vào ý muốn chủ quan của con người.
+ Ví dụ: Trong quá trình học tập của học sinh, mâu thuẫn giữa yêu cầu kiến
thức ngày càng cao và năng lực hiện tại còn hạn chế buộc học sinh phải thay
đổi phương pháp học. Dù muốn hay không, nếu không thích nghi thì kết quả học tập sẽ sa sút.
→ Sự tiến bộ trong học tập diễn ra do mâu thuẫn nội tại, không phụ thuộc
vào ý muốn chủ quan. - Tính phổ biến:
+ Sự phát triển diễn ra ở mọi sự vật, hiện tượng trong tự nhiên, xã hội và tư duy.
+ Ví dụ: Tự nhiên: hạt giống → cây non → cây trưởng thành
Xã hội: giáo dục Việt Nam từ học trực tiếp → kết hợp học trực tuyến
Tư duy: học sinh từ tư duy ghi nhớ → tư duy phân tích, phản biện
→ Phát triển diễn ra ở khắp nơi, không chỉ trong một lĩnh vực.
- Tính đa dạng, phong phú:
+ Sự vật, không gian, thời gian khác nhau → phát triển khác nhau.
+ Ví dụ: Học sinh thành phố có điều kiện công nghệ → tiếp cận AI, học online nhanh
Học sinh vùng sâu, vùng xa → phát triển chậm hơn do thiếu điều kiện
→ Cùng một sự vật (con người) nhưng phát triển khác nhau tùy hoàn cảnh - Tính kế thừa:
+ Trong sự vật, hiện tượng mới giữ lại, có chọn lọc và cải tạo các yếu tố còn
phù hợp, đồng thời gạt bỏ yếu tố tiêu cực, lỗi thời, lạc hậu của sự vật, hiện tượng cũ.
+ Ví dụ: Trong công cuộc Đổi mới, Việt Nam không phủ định sạch trơn nền
kinh tế cũ mà kế thừa có chọn lọc những yếu tố còn phù hợp.
Giữ vai trò quản lý của Nhà nước, định hướng xã hội chủ nghĩa
Loại bỏ cơ chế bao cấp, xóa bỏ tình trạng phân phối bình quân
Tiếp thu cơ chế thị trường, phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa
→ Cái mới ra đời trên cơ sở cải tạo cái cũ, giữ lại cái hợp lý, loại bỏ cái lạc hậu
→ đúng quy luật phát triển và tính kế thừa. c) Ý NGHĨA PPL: - Quan điểm phát triển:
+ Xem xét sự vật trong sự phát triển
+ Cần nhận thức phát triển là quá trình trải qua nhiều giai đoạn, mỗi giai đoạn
có đặc điểm, tính chất, hình thức khác nhau => tìm phương pháp phù hợp để
thúc đẩy/kìm hãm sự phát triển (ví dụ cái cây nhiều lá → tìm cách kìm hãm)
+ Tích cực chọn lọc vào vận dụng sáng tạo yếu tố tiến bộ của cái cũ
+ Chống bảo thủ, trì trệ
+ Ví dụ: Khi thấy một học sinh sa sút kết quả học tập, không nên đánh giá cố
định là “học kém”, mà phải xem xét: Giai đoạn áp lực thi cử, Thay đổi môi
trường học, Khủng hoảng tâm lý tuổi teen → Từ đó chọn phương pháp phù
hợp: tư vấn tâm lý, điều chỉnh cách học → Chống bảo thủ, nhìn nhận cứng nhắc
- Quan điểm lịch sử - cụ thể: Xem xét sự vật trong không gian, thời gian và quá trình phát triển.
+ Đánh giá việc học trực tuyến:
Trong thời kỳ dịch COVID-19 → là giải pháp phù hợp, hiệu quả
Trong điều kiện bình thường → chỉ nên kết hợp, không thay thế hoàn toàn học trực tiếp
→ Phải đặt sự vật trong hoàn cảnh lịch sử – thời gian – điều kiện cụ thể, tránh áp dụng máy móc.
Liên hệ vận dụng với bản thân.
Bản thân em là sinh viên Việt Nam, cũng như được áp dụng những kiến thức học
tập vào thực tiễn nên em luôn có trách nhiệm cũng như liên hệ với chính bản thân mình.
+ Luôn luôn chăm chỉ học tập, tiếp thu nguồn kiến thức qua đó vận dụng vào cho
sự phát triển của bản thân.
+ Xác định, lên kế hoạch thiết lập hướng đi cho tương lai ngắn hạn và dài hạn, quá
trình phát triển của bản thân sẽ gặp nhiều điều chông gai, khúc khuỷu chính vì thế
luôn ý thức nỗ lực và cố gắng.
+ Có một thái độ học tập và làm việc rõ ràng, nhận thức về nguyên lý phát triển,
không trì trệ, không lười biếng, không ỷ lại, từng bước giải quyết mọi khó khăn một cách tốt nhất có thể.
+ Để phát triển bản thân một cách hiệu quả nhất cần hiểu được bản thân mình có
những điểm mạnh, điểm yếu nào. Em sẽ nhận thức và phát triển những kỹ năng
cần thiết để phát huy tối đa những điểm mạnh và cải thiện những điểm hạn chế,
chưa tốt của bản thân. Khi các công ty liên kết với nước ngoài thì việc học một ngôn
ngữ mới là một “vũ khí” mạnh trên con đường thăng tiến trong công việc.
Tiếng Anh, tiếng Trung hay tiếng Nhật đang là lựa chọn hàng đầu cho các bạn trẻ
đặc biệt là sinh viên chuẩn bị ra trường, họ sẽ có lợi thế hơn và dễ dàng tìm kiếm
một công việc tốt nhờ vào khả năng sử dụng thành thạo một ngôn ngữ khác, chính
vì thế nắm bắt chẩn đoán trước hướng đi sẽ giúp bản thân định hình tốt hơn.
+ Trang bị tốt cho mình kiến thức 4 năm đại học, qua đó không ngừng tìm tòi thêm
những cái mới hơn, bổ ích và hiệu quả hơn thế, không giới hạn bản thân, cần vượt
ngưỡng bản thân hằng ngày.
4. QUY LUẬT CHUYỂN HÓA TỪ SỰ THAY ĐỔI VỀ LƯỢNG
THÀNH SỰ THAY ĐỔI VỀ CHẤT VÀ NGƯỢC LẠI a) KHÁI NIỆM: - Chất:
+ Là phạm trù triết học để chỉ những thuộc tính khách quan vốn có của sự vật
hiện tượng, là sự thống nhất hữu cơ của những thuộc tính tạo thành.
+ Quy định bởi phương thức liên kết của các yếu tố tạo thành. Ví dụ: Kim
cương và than chì do cacbon tạo thành nhưng do phương thức liên kết khác
nhau nên dẫn đến chất khác.
+ Khái niệm chất không đồng nhất với thuộc tính. Mỗi sự vật hiện tượng đều
có thuộc tính cơ bản và không cơ bản. Chỉ những thuộc tính cơ bản mới hợp
thành chất của sự vật. Khi thuộc tính cơ bản thay đổi thì chất của nó sẽ thay đổi
+ VD : Phân tử Nước (H2O) là một chất được cấu tạo từ hai nguyên tử H2 và O2,
nhưng khi thay đổi H2 thành C thì chất sẽ thay đổi thành CO2 - Lượng:
+ Lượng dùng để chỉ tính quy định khách quan vốn có của sự vật, hiện tượng
qua các phương diện: số lượng, quy mô, trình độ, nhịp điệu của sự vận động
và phát triển. Lượng là lượng của chất, chất nào lượng đó.
+ Ví dụ: Số năm học, số tiết học, số giờ tự học là lượng; trình độ nhận thức đạt
đến trình độ học sinh, sinh viên là chất. - Độ:
+ Là khoảng giới hạn mà trong đó sự thay đổi về lượng của sự vật chưa làm
thay đổi căn bản về chất.
+ Ví dụ: Trong suốt năm lớp 12, học sinh tích lũy kiến thức từng ngày: học bài,
làm đề, ôn tập. → Dù điểm kiểm tra tăng dần, chất của học sinh vẫn là
“người đang ôn thi”, chưa có sự thay đổi căn bản. - Điểm nút:
+ Là điểm mà ở đó sự thay đổi về lượng đủ làm thay đổi về chất.
+ Ví dụ: Kỳ thi THPT Quốc gia là điểm mà lượng kiến thức tích lũy đã đủ để
tạo ra sự thay đổi căn bản. - Bước nhảy:
+ Là sự chuyển hóa về chất của sự vật do sự thay đổi về lượng trước đó gây ra,
chất cũ mất đi, chất mới ra đời thay thế. Bước nhảy là sự kết thúc một giai
đoạn vận động, phát triển, mở đầu một giai đoạn mới, làm gián đoạn quá
trình vận động và phát triển liên tục của sự vật, hiện tượng. Bao gồm:
● Nhịp điệu: bước nhảy đột biến, bước nhảy dần dần
● Quy mô: bước nhảy cục bộ, bước nhảy toàn bộ
+ Ví dụ: Sau khi hoàn thành kỳ thi và có kết quả đỗ tốt nghiệp / trúng tuyển
đại học, học sinh chuyển từ học sinh THPT sang sinh viên.
=> Sự phân biệt mang tính tương đối
=> Để chuyển biến chất thành chất khác, ngoài sự thay đổi về lượng đạt tới điểm
nút cần phải có điều kiện. Ví dụ:
+ Ví dụ, nếu coi chất là các trạng thái tồn tại khác nhau của nước (rắn – lỏng –
khí), thì lượng là nhiệt độ. Tuy nhiên, sự chuyển hóa này chỉ diễn ra khi có
đủ điều kiện như nước nguyên chất và áp suất tiêu chuẩn 1 atm. Nếu thiếu
các điều kiện đó, dù nhiệt độ thay đổi, sự biến đổi về chất có thể không xảy ra hoặc xảy ra khác đi.
+ Sinh viên tích lũy đủ số tín chỉ, thời gian học (lượng) và đủ điều kiện học tập
→ bảo vệ tốt nghiệp thành công → chuyển từ sinh viên sang cử nhân (bước nhảy về chất).
=> Nội dung: Bất kỳ sự vật, hiện tượng nào cũng là sự thống nhất giữa chất và
lượng. Trong đó, chất tương đối ổn định, lượng thường xuyên biến đổi. Sự thay đổi
dần dần về lượng vượt quá giới hạn của độ sẽ dẫn tới sự thay đổi căn bản về chất
của sự vật thông qua bước nhảy. Chất mới ra đời tác động trở lại sự thay đổi của
lượng (quy mô, trình độ, nhịp điệu). Quá trình tác động qua lại lẫn nhau giữa lượng
và chất tạo nên sự vận động liên tục.
b) MỐI QUAN HỆ BIỆN CHỨNG
- Cho biết phương thức của vận động & phát triển. Ví dụ: Khi có sự lớn lên về quy
mô vốn có trong sản xuất kinh doanh, tất yếu đòi hỏi cũng phải có sự biến đổi về
tính chất quản lý. Ngược lại, với tính chất mới của tổ chức kinh tế có thể tạo cơ hội lớn nhanh về vốn.
- Sự thống nhất giữa lượng và chất
+ Bất kỳ sự vật nào cũng là thể thống nhất giữa lượng và chất, lượng nào chất
đấy, chất nào lượng đấy, không có lượng và chất tồn tại tách rời nhau.
+ Ví dụ: Việc nấu cơm thể hiện rõ sự thống nhất giữa lượng và chất.
Chất của gạo ban đầu là gạo sống, sau khi nấu trở thành cơm chín.
Lượng là thời gian và nhiệt lượng tác động trong quá trình nấu.
Khi lượng nhiệt và thời gian chưa đủ, gạo vẫn là gạo sống hoặc sượng, chất
chưa thay đổi. Khi lượng nhiệt và thời gian đạt đến mức cần thiết, gạo
chuyển thành cơm chín, tức là chất đã thay đổi.
→ Không thể có chất cơm chín nếu không có lượng nhiệt và thời gian tương
ứng, cho thấy lượng và chất luôn thống nhất với nhau.
- Sự chuyển hóa từ những thay đổi về lượng dẫn đến những thay đổi về chất:
+ Lượng là yếu tố động => luôn thay đổi (tăng hoặc giảm)
+ Lượng biến đổi trong giới hạn “độ” thì chất của sự vật chưa biến đổi căn bản.
+ Lượng biến đổi đạt tới “điểm nút” sẽ làm biến đổi về chất thông qua “bước
nhảy” => chất cũ mất đi, chất mới ra đời thay thế.
+ Ví dụ: Quá trình đun nước sôi
Lượng là nhiệt độ của nước. Khi nhiệt độ tăng dần nhưng còn trong giới hạn
độ (từ khoảng 1°C đến 99°C), nước vẫn tồn tại ở trạng thái lỏng, chất chưa
thay đổi căn bản.
Khi nhiệt độ đạt tới điểm nút 100°C (trong điều kiện áp suất 1 atm), nước bắt
đầu sôi và chuyển sang trạng thái hơi nước. Lúc này xảy ra bước nhảy, chất
cũ là nước lỏng mất đi, chất mới là hơi nước ra đời.
→ Ví dụ này cho thấy: sự biến đổi về lượng khi đạt tới điểm nút sẽ làm xuất
hiện sự biến đổi về chất thông qua bước nhảy.
- Sự thay đổi về chất dẫn đến những thay đổi về lượng
+ Chất mới sẽ tác động trở lại sự thay đổi của lượng mới về quy mô, tốc độ,
trình độ, nhịp điệu,. .
+ Ví dụ: Khi học sinh đỗ đại học và trở thành sinh viên năm nhất, chất của
người học thay đổi. Sự thay đổi này làm lượng kiến thức, thời gian tự học và
nhịp độ học tập tăng lên so với trước.
→ Chất mới tác động trở lại, làm xuất hiện những thay đổi mới về lượng. c) Ý NGHĨA PPL:
- Phải biết tích lũy về lượng để thay đổi về chất, phát huy tác động của chất mới đối với lượng.
- Chống chủ quan, nóng vội, bảo thủ, trì trệ.
- Vận dụng linh hoạt các bước nhảy.
- Phải có quyết tâm và nghị lực để thực hiện bước nhảy khi điều kiện đã chín muồi,
chủ động nắm bắt thời cơ thực hiện kịp thời bước nhảy khi điều kiện cho phép.
- Lựa chọn phương thức liên kết để tạo chất phù hợp.
Ví dụ: Một sinh viên năm nhất muốn học tập hiệu quả cần chủ động tích lũy về
lượng như tăng số giờ tự học, đọc thêm tài liệu, tham gia thảo luận trên lớp để tạo
điều kiện cho sự thay đổi về chất trong tư duy và phương pháp học đại học. Sinh
viên không nên chủ quan, nóng vội mong giỏi ngay, cũng không bảo thủ, trì trệ giữ
cách học thụ động thời phổ thông.
Khi lượng kiến thức và kỹ năng đã tích lũy đủ và đến điểm nút (ví dụ kỳ thi cuối học
kỳ), sinh viên cần quyết tâm thực hiện bước nhảy, thay đổi cách học từ bị động
sang chủ động. Đồng thời, sinh viên lựa chọn phương thức học phù hợp như học
nhóm, tự học kết hợp trao đổi với giảng viên để hình thành chất mới hiệu quả hơn.
→ Ví dụ này thể hiện rõ việc tác động có ý thức vào lượng để thúc đẩy sự thay đổi về
chất và phát huy vai trò của chất mới đối với lượng.
5. QUY LUẬT THỐNG NHẤT VÀ ĐẤU TRANH GIỮA CÁC MẶT ĐỐI
LẬP (QUY LUẬT MÂU THUẪN) a) KHÁI NIỆM: - Mặt đối lập:
+ Là những mặt, những yếu tố,. . có khuynh hướng vận động phát triển trái
ngược nhau trong cùng một sự vật.
+ Ví dụ: Trong xã hội hiện đại tồn tại hai mặt đối lập: Phát triển kinh tế ↔ Bảo vệ môi trường
- Mâu thuẫn biện chứng:
+ Cứ 2 mặt đối lập → 1 mâu thuẫn
+ Bao gồm sự thống nhất, đấu tranh và chuyển hóa của các mặt đối lập. + Phân loại:
● Vai trò của mâu thuẫn: mâu thuẫn chủ/thứ yếu
● Quan hệ giữa các mặt đối lập: mâu thuẫn bên trong/ngoài
● Tính chất của lợi ích trong quan hệ GC: mâu thuẫn (không) đối kháng
+ Ví dụ: Phát triển kinh tế và bảo vệ môi trường là hai mặt đối lập tạo thành
mâu thuẫn biện chứng. Kinh tế phát triển tạo nguồn lực cho bảo vệ môi
trường (thống nhất), nhưng phát triển nóng lại gây ô nhiễm (đấu tranh). Khi
áp dụng công nghệ xanh, mâu thuẫn được giải quyết, tăng trưởng kinh tế
gắn với bảo vệ môi trường ở trình độ cao hơn (chuyển hóa). b) NỘI DUNG:
- Trong mỗi mâu thuẫn, các mặt đối lập vừa thống nhất với nhau, vừa đấu tranh lẫn
nhau tạo nên trạng thái ổn định tương đối của sự vật, hiện tượng.
+ Ví dụ: Kinh tế nhà nước ↔ Kinh tế tư nhân
→ Hai khu vực có vai trò, phương thức hoạt động khác nhau, nhưng cùng tồn
tại trong một nền kinh tế, tạo nên trạng thái ổn định tương đối của nền kinh tế Việt Nam hiện nay.
- Sự thống nhất giữa các mặt đối lập:
+ Các mặt đối lập nương tựa vào nhau làm tiền đề tồn tại cho nhau.
Ví dụ: Kinh tế nhà nước giữ vai trò định hướng, ổn định vĩ mô.
Kinh tế tư nhân tạo động lực tăng trưởng, việc làm, đổi mới sáng tạo.
→ Không có khu vực nào tồn tại độc lập, chúng bổ sung và cần nhau.
+ Các mặt đối lập tác động ngang nhau thể hiện sự đấu tranh giữa cái mới
đang hình thành và cái cũ chưa mất hẳn.
Ví dụ: Trong giáo dục, phương pháp dạy học thụ động là cái cũ chưa mất
hẳn, còn phương pháp đề cao tư duy phản biện là cái mới đang hình thành
cùng tồn tại và cạnh tranh về hiệu quả đào tạo, qua đó thúc đẩy đổi mới
phương pháp giảng dạy và nâng cao chất lượng giáo dục.
+ Giữa các mặt đối lập có sự tương đồng, đồng nhất do trong các mặt đối lập
còn tồn tại những yếu tố giống nhau.
Ví dụ: Kinh tế nhà nước và kinh tế tư nhân đều hoạt động trong cơ chế thị trường,
Cùng chịu sự quản lý của Nhà nước,
Cùng hướng tới tăng trưởng kinh tế và phát triển đất nước.
+ Là tương đối vì gắn với sự đứng im tương đối tạm thời.
Ví dụ: Sự thống nhất này chỉ tạm thời, gắn với trạng thái ổn định tương đối.
Khi điều kiện kinh tế thay đổi, vai trò và vị trí của mỗi khu vực sẽ tiếp tục biến đổi.
- Sự đấu tranh giữa các mặt đối lập:
+ Chỉ sự tác động qua lại theo hướng bài trừ, phủ định lẫn nhau và không tách
rời sự khác nhau, thống nhất, đồng nhất giữa chúng trong một mâu thuẫn.
Ví dụ: Sự đấu tranh giữa các mặt đối lập thể hiện ở việc các doanh nghiệp
công nghệ đã phủ định cách kinh doanh truyền thống. Trước sức ép đó,
doanh nghiệp truyền thống buộc phải đổi mới hoặc bị đào thải. Cuộc đấu
tranh này diễn ra giữa các mô hình khác nhau nhưng vẫn thống nhất ở mục
tiêu chung là tồn tại và phát triển kinh doanh.
+ Là tuyệt đối vì gắn với sự vận động tuyệt đối, đấu tranh phá vỡ sự ổn định
tương đối dẫn đến sự chuyển hóa về chất.
Ví dụ: Cạnh tranh diễn ra liên tục, không ngừng cùng với sự phát triển của
khoa học – công nghệ. Sự đấu tranh này phá vỡ trạng thái ổn định tương đối của thị trường cũ.
👉 Kết quả: Chất của nền kinh tế thay đổi: từ kinh doanh truyền thống →
kinh tế số. Một chất mới ra đời, mở đầu giai đoạn phát triển mới.
- Mặt đối lập là nguyên nhân giải quyết mâu thuẫn, là động lực của sự phát triển vì
mâu thuẫn được giải quyết = bước chuyển hóa được thực hiện = sự vật cũ mất đi, sự
vật mới ra đời ptrien, cứ như vậy làm cho sự vật luôn vận động và phát triển.
+ Ví dụ: Mâu thuẫn giữa dân số tăng nhanh và hạ tầng quá tải buộc chính
quyền phát triển đô thị thông minh. Cách quản lý cũ dần mất đi, cách quản
lý mới hiệu quả hơn xuất hiện. c) Ý NGHĨA PPL:
- Mâu thuẫn mang tính khách quan, phổ biến nên phải tôn trọng mâu thuẫn.
- Muốn có sự phát triển cần phải tìm mâu thuẫn → tìm phương pháp đấu tranh để
giải quyết mâu thuẫn. Tránh rập khuôn, máy móc,. .
- Chống dung hòa, không nóng vội hay bảo thủ.
6. QUY LUẬT PHỦ ĐỊNH CỦA PHỦ ĐỊNH a) KHÁI NIỆM:
- Phủ định: Là sự thay thế sự vật, hiện tượng, trạng thái này bằng sự vật, hiện
tượng, trạng thái,. . khác trong quá trình vận động, phát triển của sự vật.
Ví dụ : Trong thời đại phát triển, sự ra đời của xe máy là phủ định của xe đạp.
- Phủ định biện chứng:
+ Là phủ định gắn liền với sự vận động đi lên, vận động phát triển, nghĩa là nó
tạo tiền đề cho sự phát triển. + Tính chất: ● Tính khách quan:
Phủ định biện chứng là phủ định tự thân, nguyên nhân của sự phủ
định nằm ngay trong bản thân sự vật.
Ví dụ: Vòng đời của cây táo; Vòng đời của con bướm (không phụ thuộc
vào ý chí của con người)
● Tính phổ biến:
Phủ định biện chứng diễn ra trong mọi sự vật, trong mọi lĩnh vực từ tự
nhiên, xã hội đến tư duy.
Ví dụ : Cộng sản nguyên thủy thay thế bởi chế độ chiếm hữu nô lệ.
● Tính đa dạng và phong phú: Thể hiện trong nội dung và hình thức của sự phủ định. ● Tính kế thừa:
Phủ định biện chứng là sự phủ định mà mãi mới ra đời trên cơ sở kế
thừa những giá trị tính cực của cái cũ, bổ sung thêm những cái mới phù hợp