Phân tích bài thơ Chạy giặc của Nguyễn Đình
Chiểu Ngữ văn 11
Phân tích bài thơ Chạy giặc của Nguyễn Đình Chiểu Ngữ văn 11
- Mẫu số 1
Bài thơ "Chạy giặc" một tác phẩm thể hiện lòng u nước sự phản đối
xâm lăng của người Việt Nam. Năm 1859, khi thực dân Pháp tấn công thành
Gia Định, quê hương của người Việt Nam đã trải qua một thời kỳ đen tối.
Nguyễn Đình Chiểu sử dụng thể thơ thất ngôn bát để ghi lại sự kiện này
trong bài thơ "Chạy giặc."
Hai câu đầu của bài thơ đã nêu lên bối cảnh thời cuộc tình hình đất nước.
Cuộc tấn công của quân Pháp đến lúc "tan chợ" được thể hiện qua câu thơ:
"Tan chợ vừa nghe tiếng súng Tây, Một bàn cờ thế phút sa tay." Trước đây,
cuộc sống yên bình của nhân n thường diễn ra tại những buổi họp chợ,
nhưng bất ngờ, tiếng súng Pháp đã khiến cuộc sống này bị đảo lộn. Câu "Một
bàn cờ thế phút sa tay" tượng trưng cho cuộc chiến đấu ác liệt nhanh
chóng đã bắt đầu.
Bài thơ tiếp tục tả sự tàn phá của quân Pháp khi họ m lược. Sử dụng
các từ ngữ như "lơ xơ" "dáo dác" trong câu "Bỏ n trẻ chạy, Mất
ổ, đàn chim dáo dác bay," Nguyễn Đình Chiểu tạo ra hình ảnh một cảnh kinh
hoàng thất thủ, trong đó trẻ em lạc trên đường đàn chim mất tổ bay đi.
Cách sắp xếp câu thơ việc sử dụng "lơ xơ" "dáo dác" tạo nên một
thước đo của sự tuyệt vọng hoảng loạn.
Bài thơ tiếp tục đưa ra c hình ảnh tượng trưng để tả sự tàn phá của
quân Pháp. "Bến Nghé của tiền tan bọt nước, Đồng Nai tranh ngói nhuốm
màu mây" diễn tả cảnh quê hương trở nên hoang tàn. Bến Nghé Đồng Nai
trước đây những nơi trù phú, nhưng giờ đây chúng trở thành đống tro tàn
do quân Pháp cướp giữ. Câu "tan bọt nước" "nhuốm màu mây" tạo nên
hình ảnh của sự p hoại thiệt hại nghiêm trọng.
Cuối cùng, bài thơ đặt ra u hỏi: "Hỏi trang dẹp loạn y đâu vắng, Nỡ để
dân đen mắc nạn này?" Nhà thơ trách móc sự thiếu vắng của anh ng trong
bối cảnh này, đặt câu hỏi về tại sao dân tộc đang phải chịu đựng mất mát
khốn khó. Bài thơ "Chạy giặc" thể hiện tình yêu quê hương, căm hận xâm
lăng khát khao tự do, đã tr thành một tượng đài của thơ ca yêu
nước trong văn học Việt Nam.
Bài t "Chạy giặc" sử dụng ngôn ngữ đơn giản màu sắc Nam Bộ, sử
dụng nhiều kỹ thuật nghệ thuật như đảo ngữ, phép đối, so sánh ẩn dụ để
thể hiện cảm xúc ý nghĩa lịch sử quan trọng của nó.
Phân tích bài thơ Chạy giặc của Nguyễn Đình Chiểu Ngữ văn 11
- Mẫu số 2
Trong vườn hoa, không phải tất cả các loài hoa thể tỏa sáng, tươi thắm,
trong lĩnh vực n chương cũng tương tự, không phải mọi tác phẩm đều
thể tồn tại qua thời gian. Tuy nhiên, Nguyễn Đình Chiểu, một danh kiệt
xuất của dân tộc, đã đánh thức tinh thần sống của tác phẩm "Chạy Giặc" đ
biến nó thành một trong những bản thơ tượng trưng xuất sắc nhất trong dòng
thơ yêu nước trong giai đoạn kháng chiến chống Pháp.
Nguyễn Đình Chiểu nổi tiếng với nhiều tác phẩm thơ đậm đà bản sắc văn hóa
dân tộc như "Lục Vân Tiên," "Chúng tử tế mẫu văn,"... Tuy nhiên, m 1858,
khi thực dân Pháp xâm lược nước ta, với những hành động man tàn
bạo, lòng căm t đối với kẻ thù của nhà thơ đã trở nên trăn trở cao lớn.
Nhờ ngòi bút điêu luyện, nhà thơ đã minh họa một bức tranh đầy đau thương
về hiện thực đất nước trong giai đoạn đầu bị xâm lược. Đoạn đầu của bài thơ
tả cuộc tấn công của quân Pháp vào thành Gia Định, cùng với hai câu t
đầu:
"Tan chợ vừa nghe tiếng súng Tây,
Một bàn cờ thế phút sa tay."
Tại đó, một cuộc họp chợ đã biểu thị cuộc sống yên bình ấm cúng của
nhân dân. Nhưng tiếng súng Tây đột ngột đã chấn động cuộc sống hàng
ngày của họ. Cuộc tấn công đẫm máu này đã chuyển cuộc họp chợ từ bình
yên sang tàn bạo, việc n thơ gọi tiếng súng của quân Pháp "tiếng
súng Tây" một cách trực diện thể hiện sự căm ghét lên án sự xâm lăng
của họ. Thái độ đầy căm hận này cũng được thể hiện ràng trong bài thơ
"Than đạo" của Nguyễn Đình Chiểu:
"Chở bao nhiêu đạo thuyền không khẳm
Đâm mấy thằng gian bút chẳng tà."
Tiếng súng Tây đột ngột phát ra, khiến mọi người chạy hoảng loạn. Thật ra,
sau cuộc họp chợ, mọi người đều mong đợi những giây phút hạnh phúc
yên bình, đặc biệt trẻ em với những món quà đơn giản như kẹo bột, kẹo
lạc hoặc quần áo mới. Đó thời gian gia đình tập họp lại để nấu nước
cùng nhau, tham gia trò chuyện hoặc chia sẻ về cuộc sống gặp gỡ người
thân họ đã lâu không gặp. Các khoảnh khắc này đơn giản nhưng đem lại
hạnh phúc sâu sắc. Tuy nhiên, tiếng súng đã đánh thức những cảm xúc đau
đớn khi mọi thứ được đảo lộn, mất mát trong nháy mắt. Cảnh chợ vui vẻ
yên bình bỗng nhiên biến mất, tiếng súng đột ngột đã tạo ra cảnh tượng
kinh hoàng, đầy đau đớn. Bằng cách sử dụng hình ảnh này, nhà t đã cho
người đọc cảm nhận sự tổn thương sự thương xót trước cảnh tượng này.
Nhà thơ cũng so sánh tình hình quốc gia với "một bàn cờ thế phút sa tay" để
tả sự thất bại của triều đình sau một cuộc tấn công đột ngột, khiến đất
nước rơi vào tay kẻ thù. Đằng sau mỗi câu thơ, một cảm xúc lo lắng sự
bất an của nhà thơ về tình hình quốc gia. Khi thực dân Pháp xâm lược, dân
tộc ta phải sống dưới cảnh lệ luôn phải đối diện với nỗi lo sợ khó
khăn. Nhà thơ đã thể hiện sự đau đớn này thông qua câu chuyện về cuộc tấn
công đầy tàn bạo của quân Pháp o đất nước.
Cùng với những câu cuối của bài thơ:
"Bỏ nhà trẻ chạy,
Mất bầy chim dáo dác bay."
Nhà thơ tạo ra một hình ảnh của sự hoang mang thảm khốc khi kẻ thù
xâm lược. Những từ ngữ "bỏ nhà," " chạy," "mất ổ," "dáo dác bay" miêu
tả sự hủy hoại thương tâm khi quân Pháp đổ vào. Nhà thơ sử dụng "lũ
trẻ" để biểu thị con người, "bầy chim" đ đại diện cho tự nhiên. Hai hình
ảnh này trở thành biểu tượng cho sự thảm khốc của cuộc tấn ng khi ngay
cả trẻ em phải chạy trốn cả bầy chim cũng phải tìm kiếm nơi trú ẩn khỏi
cảnh tàn phá. Nhà thơ đã sử dụng hình ảnh để lên án tội ác của quân địch khi
họ đẩy cả trẻ em thiên nhiên vào tình trạng hoảng loạn mất trú ấn.
Phân tích bài thơ Chạy giặc của Nguyễn Đình Chiểu Ngữ văn 11
- Mẫu số 3
Nguyễn Đình Chiểu, một tượng đài đại của thế kỷ 19, đã trải qua nhiều
gian khó thử thách trong cuộc đời, đặc biệt việc mất đi thị giác khi còn
trẻ tuổi. Mặ despite, ông không bao giờ đầu hàng trước những khó khăn.
Thay gục ngã, ông đã chấp nhận thách thức tạo dựng sự nghiệp đáng
tự hào. Nguyễn Đình Chiểu không chỉ mở một trường dạy học, còn làm
nghề y để giúp cộng đồng cải thiện sức khỏe. Đồng thời, ông còn viết văn
sáng tác thơ, sự nghiệp của ông tỏa sáng thăng hoa, biến ông thành một
ngôi sao nổi bật trong lĩnh vực văn học nghệ thuật của Việt Nam vào cuối
thế kỷ 19.
Nguyễn Đình Chiểu nổi tiếng với c tác phẩm t lớn mang đậm tinh thần cổ
điển, như "Lục Vân Tiên," "Ngư Tiều y thuật vấn đáp." Tuy nhiên, đỉnh cao
của tài nghệ duy của ông xuất hiện trong những bài thơ n bản tôn
vinh, n "Chạy giặc", "Xúc cảnh," "Văn tế Trương Công Định," "Văn tế nghĩa
Cần Giuộc," nhiều tác phẩm khác.
Các tác phẩm của Nguyễn Đình Chiểu, trong bối cảnh m lược của thực dân
Pháp vào Nam Bộ, được đánh giá ng giá trị. Một số ý kiến cho rằng
"Sáng tác của ông sống dậy hướng tới chúng ta như những bài ca yêu
nước…". Trong số các tác phẩm của ông, "Lục Vân Tiên" "Ngư Tiều y
thuật vấn đáp" bám sát vào tinh thần nhân đạo cao đẹp. Những bài thơ n
"Chạy giặc" đánh thức tình yêu quê hương, gắn kết tinh thần yêu nước
nâng niu bản dạng quê hương:
Thơ văn tế của Nguyễn Đình Chiểu th hiện lòng tôn kính biểu lộ sự
thiêng liêng dành cho những người anh hùng của dân tộc, người sống với
tấm lòng trung nghĩa đã cống hiến hết mình cho đất nước. Ông đã vẽ lên
một bức tranh sống động sâu sắc về lòng yêu nước của nhân n đối với
các chiến của nghĩa quân. Những người nông dân công nhân bình
thường, trước đây chỉ quen với công việc nông nô, bỗng chốc trở thành
những anh hùng cứu nước. Bằng một chiếc gậy hay một y đao đơn giản,
họ đã tham gia chiến đấu một cách dũng cảm:
"Chở bao nhiêu đạo thuyền không khẳm
Đâm mấy thằng gian bút chẳng tà."
Sự bất ng xâm lăng của quân Pháp khiến ông đau lòng, bằng ngòi
bút, ông đã thể hiện cảm xúc đó một ch sâu sắc. Mặc mất đi thị giác,
Nguyễn Đình Chiểu không từ bỏ hy vọng n lực trong việc bảo vệ quê
hương. Ông gọi lòng trung nghĩa của mình "lòng đạo" chung thủy, sắt son,
sáng ngời:
"Sự đời thà khuất đôi tròng thịt,
Lòng đạo xin tròn một tấm gương."
Những bài t văn bản của ông thể hiện niềm tự hào về đất nước khao
khát của ông: "Chừng nào thánh đế ân soi thấu, Một trận mưa nhuần rửa i
sông." Những người đàn ông của nhân dân, ngay cả khi h bị cướp mất tài
sản, không từ bỏ hy vọng trong việc bảo vệ đất nước gia đình:
“Hỏa mai đánh bằng rơm con cúi, ng đốt xong nhà dạy đạo kia,
Gươm đeo dùng bằng lưỡi dao phay, cũng chém rớt đầu quan hai nọ."
Nguyễn Đình Chiểu đã thể hiện lòng yêu nước, niềm kiêng nể sự tôn trọng
đối với những người dũng cảm của dân tộc. Mặc cho sự xâm lăng của Pháp,
ông vẫn dùng ngòi bút trái tim để tham gia vào cuộc chiến. Sự đoàn kết
tinh thần yêu nước đã thăng hoa trong tác phẩm của ông, niềm ước
của ông vẫn niềm ước của hàng triệu người Việt:
"Chừng nào thánh đế ân soi thấu,
Một trận mưa nhuần rửa núi sông."

Preview text:

Phân tích bài thơ Chạy giặc của Nguyễn Đình Chiểu Ngữ văn 11
Phân tích bài thơ Chạy giặc của Nguyễn Đình Chiểu Ngữ văn 11
- Mẫu số 1
Bài thơ "Chạy giặc" là một tác phẩm thể hiện lòng yêu nước và sự phản đối
xâm lăng của người Việt Nam. Năm 1859, khi thực dân Pháp tấn công thành
Gia Định, quê hương của người Việt Nam đã trải qua một thời kỳ đen tối.
Nguyễn Đình Chiểu sử dụng thể thơ thất ngôn bát cú để ghi lại sự kiện này
trong bài thơ "Chạy giặc."
Hai câu đầu của bài thơ đã nêu lên bối cảnh thời cuộc và tình hình đất nước.
Cuộc tấn công của quân Pháp đến lúc "tan chợ" được thể hiện qua câu thơ:
"Tan chợ vừa nghe tiếng súng Tây, Một bàn cờ thế phút sa tay." Trước đây,
cuộc sống yên bình của nhân dân thường diễn ra tại những buổi họp chợ,
nhưng bất ngờ, tiếng súng Pháp đã khiến cuộc sống này bị đảo lộn. Câu "Một
bàn cờ thế phút sa tay" tượng trưng cho cuộc chiến đấu ác liệt và nhanh chóng đã bắt đầu.
Bài thơ tiếp tục mô tả sự tàn phá của quân Pháp khi họ xâm lược. Sử dụng
các từ ngữ như "lơ xơ" và "dáo dác" trong câu "Bỏ nhà lũ trẻ lơ xơ chạy, Mất
ổ, đàn chim dáo dác bay," Nguyễn Đình Chiểu tạo ra hình ảnh một cảnh kinh
hoàng và thất thủ, trong đó trẻ em lạc trên đường và đàn chim mất tổ bay đi.
Cách sắp xếp câu thơ và việc sử dụng "lơ xơ" và "dáo dác" tạo nên một
thước đo của sự tuyệt vọng và hoảng loạn.
Bài thơ tiếp tục đưa ra các hình ảnh tượng trưng để mô tả sự tàn phá của
quân Pháp. "Bến Nghé của tiền tan bọt nước, Đồng Nai tranh ngói nhuốm
màu mây" diễn tả cảnh quê hương trở nên hoang tàn. Bến Nghé và Đồng Nai
trước đây là những nơi trù phú, nhưng giờ đây chúng trở thành đống tro tàn
do quân Pháp cướp giữ. Câu "tan bọt nước" và "nhuốm màu mây" tạo nên
hình ảnh của sự phá hoại và thiệt hại nghiêm trọng.
Cuối cùng, bài thơ đặt ra câu hỏi: "Hỏi trang dẹp loạn rày đâu vắng, Nỡ để
dân đen mắc nạn này?" Nhà thơ trách móc sự thiếu vắng của anh hùng trong
bối cảnh này, và đặt câu hỏi về tại sao dân tộc đang phải chịu đựng mất mát
và khốn khó. Bài thơ "Chạy giặc" thể hiện tình yêu quê hương, căm hận xâm
lăng và khát khao tự do, và nó đã trở thành một tượng đài của thơ ca yêu
nước trong văn học Việt Nam.
Bài thơ "Chạy giặc" sử dụng ngôn ngữ đơn giản và màu sắc Nam Bộ, và sử
dụng nhiều kỹ thuật nghệ thuật như đảo ngữ, phép đối, và so sánh ẩn dụ để
thể hiện cảm xúc và ý nghĩa lịch sử quan trọng của nó.
Phân tích bài thơ Chạy giặc của Nguyễn Đình Chiểu Ngữ văn 11 - Mẫu số 2
Trong vườn hoa, không phải tất cả các loài hoa có thể tỏa sáng, tươi thắm,
và trong lĩnh vực văn chương cũng tương tự, không phải mọi tác phẩm đều
có thể tồn tại qua thời gian. Tuy nhiên, Nguyễn Đình Chiểu, một danh sĩ kiệt
xuất của dân tộc, đã đánh thức tinh thần sống của tác phẩm "Chạy Giặc" để
biến nó thành một trong những bản thơ tượng trưng xuất sắc nhất trong dòng
thơ yêu nước trong giai đoạn kháng chiến chống Pháp.
Nguyễn Đình Chiểu nổi tiếng với nhiều tác phẩm thơ đậm đà bản sắc văn hóa
dân tộc như "Lục Vân Tiên," "Chúng tử tế mẫu văn,"... Tuy nhiên, năm 1858,
khi thực dân Pháp xâm lược nước ta, với những hành động dã man và tàn
bạo, lòng căm thù đối với kẻ thù của nhà thơ đã trở nên trăn trở và cao lớn.
Nhờ ngòi bút điêu luyện, nhà thơ đã minh họa một bức tranh đầy đau thương
về hiện thực đất nước trong giai đoạn đầu bị xâm lược. Đoạn đầu của bài thơ
mô tả cuộc tấn công của quân Pháp vào thành Gia Định, cùng với hai câu thơ đầu:
"Tan chợ vừa nghe tiếng súng Tây,
Một bàn cờ thế phút sa tay."
Tại đó, một cuộc họp chợ đã biểu thị cuộc sống yên bình và ấm cúng của
nhân dân. Nhưng tiếng súng Tây đột ngột đã chấn động cuộc sống hàng
ngày của họ. Cuộc tấn công đẫm máu này đã chuyển cuộc họp chợ từ bình
yên sang tàn bạo, và việc nhà thơ gọi tiếng súng của quân Pháp là "tiếng
súng Tây" là một cách trực diện thể hiện sự căm ghét và lên án sự xâm lăng
của họ. Thái độ đầy căm hận này cũng được thể hiện rõ ràng trong bài thơ
"Than đạo" của Nguyễn Đình Chiểu:
"Chở bao nhiêu đạo thuyền không khẳm
Đâm mấy thằng gian bút chẳng tà."
Tiếng súng Tây đột ngột phát ra, khiến mọi người chạy hoảng loạn. Thật ra,
sau cuộc họp chợ, mọi người đều mong đợi những giây phút hạnh phúc và
yên bình, đặc biệt là trẻ em với những món quà đơn giản như kẹo bột, kẹo
lạc hoặc quần áo mới. Đó là thời gian mà gia đình tập họp lại để nấu nước
cùng nhau, tham gia trò chuyện hoặc chia sẻ về cuộc sống và gặp gỡ người
thân mà họ đã lâu không gặp. Các khoảnh khắc này đơn giản nhưng đem lại
hạnh phúc sâu sắc. Tuy nhiên, tiếng súng đã đánh thức những cảm xúc đau
đớn khi mọi thứ được đảo lộn, mất mát trong nháy mắt. Cảnh chợ vui vẻ và
yên bình bỗng nhiên biến mất, và tiếng súng đột ngột đã tạo ra cảnh tượng
kinh hoàng, đầy đau đớn. Bằng cách sử dụng hình ảnh này, nhà thơ đã cho
người đọc cảm nhận sự tổn thương và sự thương xót trước cảnh tượng này.
Nhà thơ cũng so sánh tình hình quốc gia với "một bàn cờ thế phút sa tay" để
mô tả sự thất bại của triều đình sau một cuộc tấn công đột ngột, khiến đất
nước rơi vào tay kẻ thù. Đằng sau mỗi câu thơ, có một cảm xúc lo lắng và sự
bất an của nhà thơ về tình hình quốc gia. Khi thực dân Pháp xâm lược, dân
tộc ta phải sống dưới cảnh nô lệ và luôn phải đối diện với nỗi lo sợ và khó
khăn. Nhà thơ đã thể hiện sự đau đớn này thông qua câu chuyện về cuộc tấn
công đầy tàn bạo của quân Pháp vào đất nước.
Cùng với những câu cuối của bài thơ:
"Bỏ nhà lũ trẻ lơ xơ chạy,
Mất ổ bầy chim dáo dác bay."
Nhà thơ tạo ra một hình ảnh của sự hoang mang và thảm khốc khi kẻ thù
xâm lược. Những từ ngữ "bỏ nhà," "lơ xơ chạy," "mất ổ," "dáo dác bay" miêu
tả sự hủy hoại và thương tâm khi lũ quân Pháp đổ vào. Nhà thơ sử dụng "lũ
trẻ" để biểu thị con người, và "bầy chim" để đại diện cho tự nhiên. Hai hình
ảnh này trở thành biểu tượng cho sự thảm khốc của cuộc tấn công khi ngay
cả trẻ em phải chạy trốn và cả bầy chim cũng phải tìm kiếm nơi trú ẩn khỏi
cảnh tàn phá. Nhà thơ đã sử dụng hình ảnh để lên án tội ác của quân địch khi
họ đẩy cả trẻ em và thiên nhiên vào tình trạng hoảng loạn và mất trú ấn.
Phân tích bài thơ Chạy giặc của Nguyễn Đình Chiểu Ngữ văn 11 - Mẫu số 3
Nguyễn Đình Chiểu, một tượng đài vĩ đại của thế kỷ 19, đã trải qua nhiều
gian khó và thử thách trong cuộc đời, đặc biệt là việc mất đi thị giác khi còn
trẻ tuổi. Mặ despite, ông không bao giờ đầu hàng trước những khó khăn.
Thay vì gục ngã, ông đã chấp nhận thách thức và tạo dựng sự nghiệp đáng
tự hào. Nguyễn Đình Chiểu không chỉ mở một trường dạy học, mà còn làm
nghề y để giúp cộng đồng cải thiện sức khỏe. Đồng thời, ông còn viết văn và
sáng tác thơ, sự nghiệp của ông tỏa sáng và thăng hoa, biến ông thành một
ngôi sao nổi bật trong lĩnh vực văn học và nghệ thuật của Việt Nam vào cuối thế kỷ 19.
Nguyễn Đình Chiểu nổi tiếng với các tác phẩm thơ lớn mang đậm tinh thần cổ
điển, như "Lục Vân Tiên," và "Ngư Tiều y thuật vấn đáp." Tuy nhiên, đỉnh cao
của tài nghệ và tư duy của ông xuất hiện trong những bài thơ và văn bản tôn
vinh, như "Chạy giặc", "Xúc cảnh," "Văn tế Trương Công Định," "Văn tế nghĩa
sĩ Cần Giuộc," và nhiều tác phẩm khác.
Các tác phẩm của Nguyễn Đình Chiểu, trong bối cảnh xâm lược của thực dân
Pháp vào Nam Bộ, được đánh giá vô cùng có giá trị. Một số ý kiến cho rằng
"Sáng tác của ông sống dậy và hướng tới chúng ta như những bài ca yêu
nước…". Trong số các tác phẩm của ông, "Lục Vân Tiên" và "Ngư Tiều y
thuật vấn đáp" bám sát vào tinh thần nhân đạo cao đẹp. Những bài thơ như
"Chạy giặc" đánh thức tình yêu quê hương, gắn kết tinh thần yêu nước và
nâng niu bản dạng quê hương:
Thơ và văn tế của Nguyễn Đình Chiểu thể hiện lòng tôn kính và biểu lộ sự
thiêng liêng dành cho những người anh hùng của dân tộc, người sống với
tấm lòng trung nghĩa và đã cống hiến hết mình cho đất nước. Ông đã vẽ lên
một bức tranh sống động và sâu sắc về lòng yêu nước của nhân dân đối với
các chiến sĩ của nghĩa quân. Những người nông dân và công nhân bình
thường, trước đây chỉ quen với công việc nông nô, bỗng chốc trở thành
những anh hùng cứu nước. Bằng một chiếc gậy hay một cây đao đơn giản,
họ đã tham gia chiến đấu một cách dũng cảm:
"Chở bao nhiêu đạo thuyền không khẳm
Đâm mấy thằng gian bút chẳng tà."
Sự bất công và xâm lăng của quân Pháp khiến ông đau lòng, và bằng ngòi
bút, ông đã thể hiện cảm xúc đó một cách sâu sắc. Mặc dù mất đi thị giác,
Nguyễn Đình Chiểu không từ bỏ hy vọng và nỗ lực trong việc bảo vệ quê
hương. Ông gọi lòng trung nghĩa của mình là "lòng đạo" chung thủy, sắt son, sáng ngời:
"Sự đời thà khuất đôi tròng thịt,
Lòng đạo xin tròn một tấm gương."
Những bài thơ và văn bản của ông thể hiện niềm tự hào về đất nước và khao
khát của ông: "Chừng nào thánh đế ân soi thấu, Một trận mưa nhuần rửa núi
sông." Những người đàn ông của nhân dân, ngay cả khi họ bị cướp mất tài
sản, không từ bỏ hy vọng trong việc bảo vệ đất nước và gia đình:
“Hỏa mai đánh bằng rơm con cúi, cũng đốt xong nhà dạy đạo kia,
Gươm đeo dùng bằng lưỡi dao phay, cũng chém rớt đầu quan hai nọ."
Nguyễn Đình Chiểu đã thể hiện lòng yêu nước, niềm kiêng nể và sự tôn trọng
đối với những người dũng cảm của dân tộc. Mặc cho sự xâm lăng của Pháp,
ông vẫn dùng ngòi bút và trái tim để tham gia vào cuộc chiến. Sự đoàn kết và
tinh thần yêu nước đã thăng hoa trong tác phẩm của ông, và niềm mơ ước
của ông vẫn là niềm mơ ước của hàng triệu người Việt:
"Chừng nào thánh đế ân soi thấu,
Một trận mưa nhuần rửa núi sông."
Document Outline

  • Phân tích bài thơ Chạy giặc của Nguyễn Đình Chiểu
    • Phân tích bài thơ Chạy giặc của Nguyễn Đình Chiểu
    • Phân tích bài thơ Chạy giặc của Nguyễn Đình Chiểu
    • Phân tích bài thơ Chạy giặc của Nguyễn Đình Chiểu