“X a tôi hát và bây gi tôi t p nóiư
Ch nói thôi m i nói h t đ c đ i ế ượ
Bao gi thu c h t ti ng c a đ i, ta xin hát l i ế ế
Khúc hát hay, đâu có l m l i.”
(S tay th - Ch Lan Viên) ơ ế
D o b c trên t ng trang văn, va ch m v i t ng h n th . Ta nh n ra r ng có nh ng l i th t a nh đang ướ ơ ơ ư
“hát”, “hát” v cái gì đó r c cháy, chói lòa và khó tìm. Qu th t, s hào nhoáng hay ma m trong văn
ch ng, luôn là ch t kích thích, mê ho c t ng th b n đ c, và r i khi n h chìm đ m, say mê và khát ươ ế
khao vô cùng. Nh ng t h i, đi u gì sẽ th t s l i trong tâm h n m i ng i, khi đ i là chuy n c a v n ư ườ
năm, t n h t c vẽ, sáp màu, có ch c sẽ h a nên n i. Và r i đ n lúc th ánh sáng c a chân lí soi r i thì ế ế
đ n c nh ng cây bút xu t s c nh t cũng sẽ ph i ng i l i và thôi “hát” đi, khi đó h b t đ u “t p nói”, nói ế
v nh ng đi u bình d , th ng nh t c a nhân dân, c a đ t n c, đ “nói h t đ c đ i”, r i sau đó m i ườ ướ ế ượ
c t lên nh ng khúc s thi hào hùng hay th s t ng lai. V i quan ni m “văn h c không ph i ch ế ươ
chuy n văn ch ng mà th c ch t là chuy n đ i”, T H u đã nh m t “ng i k chuy n đ i” điêu luy n, ươ ư ườ
nhà th qu c kì y đã m n t ng dòng th đ kh c ch m nên nh ng đi u bình d trong xúc c m n i tâm ơ ượ ơ
hay ho t c nh c a hi n th c, nh ng gì nhà th vi t tuy gi n đ n nh ng không tùy ti n, dung d mà cũng ơ ế ơ ư
h t m c chân thành. Đo n trích “Vi t B c” cũng đ c xem nh m t b n tuyên ngôn ngh thu t xu t s c ế ượ ư
c a ông trên văn đàn Vi t Nam. Và n i b t nh t trong thi ph m chính là m i câu th miêu t v đ p b c ườ ơ
tranh t bình - chan ch a tình c m c a tác gi đ i v i con ng i và thiên nhiên n i đây, song song đó ta ườ ơ
cũng th y đ c ch t riêng trong cách miêu t v v đ p thiên nhiên và con ng i Vi t Nam trong th T ượ ườ ơ
H u.
“Ta v , mình có nh ta
Nh ai ti ng hát ân tình th y chung.” ế
Nhà th Nguy n Đình Thi đã t ng nh n xét r ng: “Tr n đ i, T H u là m t chi n sĩ cách m ng làm th ơ ế ơ
là nhà th c a cách m ng…T cu c s ng hi n đ i, th anh ngày càng b t ngu n tr l i vào h n th c ơ ơ ơ
đi n c a dân t c”. Và qu đúng nh th , đ c tôn vinh là “cánh chim đ u đàn c a th ca cách m ng Vi t ư ế ượ ơ
Nam”, th T H u vi t ra luôn mang đ m màu s c tr tình chính tr , hòa v i tính s thi và mang l i c m ơ ế
h ng v l ch s , v T qu c. T ng ý th c a ông nh đang c t lên ti ng nói chung c a th i đ i, c a c ng ơ ư ế
đ ng, là v n đ v n m nh, là nh ng con ng i đang mang trong mình s nghi p chung vì đ t n c thân ườ ướ
yêu. T H u là nhà th c a lẽ s ng l n, c a tình c m l n, luôn tràn đ y c m h ng ca ng i v lãnh t ơ
qu n chúng v i nh ng v n th gi n d , sâu s c mà đ m đà tính dân t c. Khi sáng tác, ông không chú ý ơ
sáng t o t m i, cách di n đ t m i mà thay vào đó là th ng s d ng nh ng t ng và cách nói quen ườ
thu c v i nhân dân, t o nên c m giác g n gũi, chân thành. Th T H u luôn theo sát nh ng ch ng đ ng ơ ườ
cách m ng gian lao, hào hùng và vinh quang c a đ t n c, do v y các nhà phê bình đã phong t ng cho ông ướ
danh hi u cao quý “Ng i chép s b ng th ”. ườ ơ
“Gi ng nh nh ng ngôi sao trên tr i, ngôi sao l n nh t không sáng thay cho nh ng ngôi sao khác, m i ư
chúng đ u có ánh sáng riêng” (Nguy n Ng c T ), ánh sáng y t a nh len l i trong t ng m ch máu c a ư ư
thi nhân, rung ch m mãnh li t đ d n l i cho nh ng ch thoát ra, t o nên nh ng thiên tuy t bút đ y giá
tr . “Vi t B c” đ c in trong t p th cùng tên và đ c ra đ i nhân m t s ki n l ch s tr ng đ i c a dân ượ ơ ượ
t c, đó chính là nh ng ngày sau chi n th ng Đi n Biên Ph “l ng l y năm châu, ch n đ ng đ a c u”, vào ế
tháng 10 năm 1954 sau nh ng chu i ngày g n bó, h tr và chi n đ u cùng nhau, cán b chi n sĩ ph i t ế ế
bi t căn c Vi t B c đ tr v Hà N i. Và th là nh ng n i ni m kín sâu cũng t đ y mà đ c kh i ế ượ ơ
ngu n, nh ng câu h i liên t c đ c đ t ra: Li u nh ng ng i chi n th ng sẽ gi đ c t m lòng th y ượ ườ ế ượ
chung v i đ ng bào Vi t B c và quê h ng cách m ng hay không, li u h sẽ còn nh nh ng tháng ngày ươ
gian kh hào hùng, sâu n ng nghĩa tình v i nhau hay không? Nh ng băn khoăn, trăn tr y t a nh ch t ư
xúc tác mãnh li t cho ngòi bút thi nhân, nh T H u cũng đã t ng nói: “Th ch b t ra trong tim ta khi ư ơ
cu c s ng đã th t tràn đ y”, khi nh ng c m xúc mãnh li t đè n ng trái tim không th th t nên b ng l i,
thì ch có nh ng dòng th chân tình m i có th thay th đ t bày mà thôi. Bài th “Vi t B c” g m có hai ơ ế ơ
ph n, ph n đ u tái hi n nh ng k ni m cách m ng và kháng chi n, ph n sau g i vi n c nh t i sáng c a ế ươ
đ t n c và ca ng i công n c a Đ ng, Bác H đ i v i dân t c. Đo n trích trong sách giáo khoa là ph n ướ ơ
đ u c a bài th . Trích đo n trên đ n m ph n gi a c a đo n trích “Vi t B c”, miêu t v đ p b c ơ
tranh t bình cùng tình c m g n bó thi t tha c a nhà th v i thiên nhiên và con ng i n i đây. ế ơ ườ ơ
Hai câu th m đ u mang đ n c m xúc ch đ o c a toàn đo n th . Đó là c m xúc nh nhung khôn nguôi ơ ế ơ
v Vi t B c:
“Ta v , mình có nh ta
Ta v , ta nh nh ng hoa cùng ng i.” ư
Kh i ngu n là câu h i tu t đ y ý nh đ n t phía ng i ra đi “Ta v , mình có nh ta”. đây, T H u đã ế ườ
s d ng l i đ i đáp giao duyên “ta” - “mình”, khi n cho l i th ph ng ph t bao h ng v ng t ngào c a ế ơ ươ
tình yêu. Đó là ti ng th ng, ti ng nh , là n i lòng bâng khuâng, th m đ m m t c tình c m đ m đà, ế ươ ế
đong đ y xi t bao. Và ta cũng có th th y r ng, câu h i ng i ra đi c t lên d ng nh không mong ngóng ế ườ ườ ư
b t c s h i đáp nào, b i lẽ, h i không ph i đ đ i ch đáp án, mà h i là đ b c b ch ra nh ng xúc c m
b i h i xao xuy n trong lòng tr c giây phút đã s p chia xa. R i đây ta li bi t, bi t bao gi m i g p l i ế ướ ế
đ c nhau, nh ng kho ng tr i kí c v “m i lăm năm y” ch c h n sẽ mãi là nh ng k ni m khó phai. ượ ườ
Và còn nh ng năm tháng đã cùng nhau g n bó, “chia c s n lùi”, nh ng hình nh v “l p h c i t ”, v
“đu c sáng” liên hoan cũng sẽ mãi đ ng l i trong kí c c a c “mình” và c “ta”. câu th trên, ngoài ơ
nh ng tình c m quá đ i thi t tha, trìu m n, ta còn b t g p đ c cái ch t riêng đ c s c c a ngòi bút T ế ế ượ
H u, nh Xuân Di u đã t ng đánh giá: “T H u đã đ a th chính tr lên đ n trình đ th r t đ i tr ư ư ơ ế ơ
tình…”, vi t v chuy n th i s , chính tr nh ng không h khô khan mà ng c l i r t đ m th m, chân ế ư ượ
thành và thi t tha vô cùng.ế
Ti p n i dòng c m xúc câu th m đ u, đ n câu ti p theo ng i ra đi đã t kh ng đ nh tình c m c a ế ơ ế ế ườ
mình m t cách vô cùng chân thành “Ta v , ta nh nh ng hoa cùng ng i”. C m t “Ta v l i xu t hi n ư
m t l n n a, t o nên hai l n đi p ng , đi u y d ng nh đang b c b ch r ng, tình c m c a h đã căng ườ ư
tràn đ n m c khó nói, ch có th gói ghém m t cách th m kín qua câu t , cùng v i đó là s luy n th ng ế ế ươ
c hoài giăng m c n i đáy tim, mãi qu n quýt, không n r i xa nhau. Và n i nh th ng y không ch ơ ươ
dành cho “ng i” mà còn có c cho “hoa”, hình nh “hoa” hi n lên, v a là đ i di n cho v đ p c a c nh ườ
s c thiên nhiên Vi t B c, nh ng đ ng th i cũng cho ta có c m nh n r ng, có lẽ trong kí c hi n h u n i ư ơ
trái tim c a ng i ra đi thì Vi t B c luôn là m t vùng kí c r t đ p, đ p đ n n i khi vô tình nh đ n, c ư ế ế
nh đang có v n v n nh ng đóa hoa đa s c b ng lên, mãi th m mãi đ m màu. “Hoa” thì đã ý nghĩa th , ư ượ ế
còn “ng i” cũng mang nh ng nét nghĩa r t đ i yêu th ng, b i lẽ đó chính đ i di n cho s hi n h u c aườ ươ
nh ng con ng i lao đ ng n i đây, nh ng con ng i ngày đêm c n m n, chăm ch , ch u th ng ch u khó, ườ ơ ườ ươ
luôn t a sáng v i nh ng nét đ p lao đ ng đáng ca ng i và t hào. Khi v mi n xuôi, nh ng cán b chi n ế
luôn nh v thiên nhiên và con ng i Vi t B c, nh ng không nh m t cách tách r i mà luôn hòa quy n, ườ ư
g n bó và đ ng hi n cùng nhau, đi u y đ c th hi n qua c m t “hoa cùng ng i”, t “cùng” y cho ta ượ ườ
th y m i liên k t ch t chẽ gi a c nh và ng i. N u trong ca dao, c nh ch y u đ t o c m h ng cho tình ế ườ ế ế
thì trong hai câu trên, c nh xu t hi n v a là n n nh ng cũng là m t ph n trong n i nh c a ng i ra đi. ư ườ
Thiên nhiên Vi t B c đ c T H u miêu t trong s luân chuy n c a b n mùa, m đ u là b c tranh mùa ượ
đông d t dào s c s ng và hình nh con ng i lao đ ng làm ch hiên ngang trên đ nh cao: ườ
“R ng xanh hoa chu i đ t i ươ
Đèo cao n ng ánh dao gài th t l ng.” ư
Khi nh c đ n mùa đông, ta th ng nh đ n s l nh lẽo, u ám và bu n t . Nhà th Vi t Ph ng cũng đã ế ườ ế ơ ươ
t ng ghi l i nh ng c m nh n v mùa đông nh sau: ư
“Mùa đông l nh gió lùa qua khe c a
Phía tr i xa mây cũng ê bu n
Cây tr i lá đ ng t n ng n ngõ nh
Có ai v tôi g i áo len cho”
(Nh mùa đông Hà N i)
Th nh ng trong thi ph m Vi t B c l i khác, qua lăng kính ngh thu t tinh t c a mình, T H u đã vẽ ế ư ế
nên b c tranh mùa đông vô cùng s ng đ ng, t t t i và căng tràn s c s ng: ươ
“R ng xanh hoa chu i đ t i” ươ
B c tranh thiên nhiên mùa đông v i gam màu đ m “xanh - đ ”, hai màu s c t ng ch ng đ i l p, t ng ưở ươ
ph n nh ng th c ch t l i hài hòa vô cùng. Trong h i h a, xanh là gam màu l nh, còn đ là gam màu nóng. ư
Và đ đây l i còn là cái “đ t i” r c sáng, khi n ta nh đang đ c th ng th c m t b c tranh tuy t mĩ ươ ế ư ượ ưở
c a m t ngài ngh sĩ đ i tài nào đ y. Gi a s c “xanh” c a r ng thiên b t ngàn vô t n, len l i trong đ y là
nh ng ánh “đ ” đi m xuy t, mang l i c m giác t i t n, r o r c c a m t b c tranh đông, khi n cho mùa ế ươ ế
đông d ng nh không còn t ch liêu, hiu h t n a mà ng c l i ngày càng tr nên lung linh, m áp và d t ườ ư ượ
dào s c s ng vô t n. T H u t a nh m t nhà h i h a tài ba, ông đã mang đ n cho câu th c a mình m t ư ế ơ
b c tranh mùa đông v a s ng đ ng l i v a r t riêng.
Và gi a cái bao la n ng gió b t ngàn c a thiên đ a, con ng i lao đ ng hi n lên v i v đ p l ng l y và ườ
nh ng ph m ch t cao quý vô cùng:
“Đèo cao n ng ánh dao gài th t l ng.” ư
Khung c nh m ra v i đo n đ ng hi m tr “đèo cao” - n i mà nhân dân Vi t B c ph i v t qua hàng ườ ơ ượ
ngày nh m th c hi n s m nh cao c , đó là lao đ ng. Nh ng con ng i y lao đ ng vì vinh quang c a T ườ
qu c, h làm vi c v i m t thái đ t hào, h t lòng và c n m n. Hình nh con ng i xu t hi n ngay trung ế ườ
tâm, cho ta th y đ c t m quan tr ng c a nhân dân Vi t B c - nh ng con ng i đã đi n ng, làm r y, ượ ườ ươ
tăng gia s n xu t đ ph c v cho kháng chi n. Cu c đ i c a h luôn là s c ng hi n th m l ng, nh ng ế ế ư
trái tim h d ng nh luôn r c cháy. Cháy vì t ng lai, vì hòa bình dân t c. C m t “n ng ánh” và hình ườ ư ươ
nh “dao gài th t l ng” cho ta th y đ c kho nh kh c tuy t đ p c a nhân dân Vi t B c, T H u d ng ư ượ ườ
nh đã b t tr n đ c m t kho nh kh c h t đ i đ t giá trong quá trình làm vi c c a ng i lao đ ng. ư ượ ế ườ
Nh ng ánh n ng chói chang trên b u tr i kia soi chi u vào chi c dao gài trên th t l ng c a ng i dân, ế ế ư ườ
nh m t đi m h i t c a ánh sáng, t o nên khí th hiên ngang và t m vóc l n lao trên khung c nh thiên ư ế
nhiên ngút ngàn. Con ng i lao đ ng hi n lên v i t th v ng chãi, t tin c a ng i đã làm ch đ c núi ườ ư ế ườ ượ
r ng, làm ch đ c t do và làm ch lao đ ng. T H u cũng t ng miêu t t th y trong “Lên Tây B c”: ượ ư ế
“R t đ p hình anh lúc n ng chi u
Bóng dài trên đ nh d c cheo leo
Núi không đè n i vai v n t i ươ
Lá ng y trang reo v i gió đèo”
Ch a h t ng ngàng v i b c tranh mùa đông th m ng, nhà th l i ti p t c d t tay b n đ c vào x s ư ế ơ ơ ế
mùa xuân b ng sáng, đ y s c s ng hoang d i và mãnh li t c a hoa m : ơ
“Ngày xuân m n tr ng r ngơ
Nh ng i đan nón chu t t ng s i giang.” ườ
Nguy n Bính t ng c m tác trong ni m vui s ng gi a ngày xuân: “Mùa xuân là c m t mùa xanh”, m t
mùa xanh s ng đ ng và ng p tràn t i m i, m n m n. Khác v i mùa đông chói lóa v i s c đ r c cháy, ươ ơ
mùa xuân Vi t B c trông d u dàng và đ m th m h n h n. N u mi n Nam ta có hoa mai vàng r c r , ơ ế
ng i Hà thành v i đào t i th m xinh, thì Vi t B c l i có s c tr ng tinh khôi c a hoa m . Ta nh đ n ườ ươ ơ ế
ngày x a, đ i thi hào Nguy n Du đã ch n s c tr ng c a hoa lê v i m t vài bông hoa nh nhàng đ miêu ư
t s c xuân:
“C non xanh t n chân tr i
Cành lê tr ng đi m m t vài bông hoa”
Thì đ i v i T H u, màu s c đó không còn ch là s đi m xuy t, mà đó là s bao trùm. C không gian ế
đ c ph kín b i s c tr ng tinh khôi, t o nên m t v đ p trong su t, tr tình và tràn tr nh a s ng. Bên ượ
c nh màu s c tuy t di u y, ta còn b t g p nh ng d ng công ngh thu t vô cùng tinh t c a thi nhân khi ế
miêu t đo n mùa xuân này. Phép đ o ng “tr ng r ng”, đây “tr ng” là tính t nh ng đ c dùng nh ư ượ ư
m t đ ng t , t o nên c m giác cánh r ng nh đang b ng lên ánh sáng, n r s c tr ng tinh khi t trong ư ế
veo. Đ ng t “n ” k t h p cùng tính t “tr ng” càng làm b ng thêm s c s ng c a mùa xuân n i núi r ng ế ơ
b t ngàn y, nh a s ng c nh đang lan ra và tràn tr đ n t n cùng. Màu tr ng d ng nh đã át đi h t ư ế ườ ư ế
th y các s c xanh c a lá, c a cây, t o nên m t b c tranh lãng m n, thanh bình và tinh khôi đ n l kì. ế
Th p thoáng d i khung c nh th m ng c a cánh r ng xuân th m mát, hình nh con ng i c a quê ướ ơ ơ ườ
h ng Cách m ng l i m t l n n a xu t hi n li n k sau:ươ
“Nh ng i đan nón chu t t ng s i giang.” ườ
Ng i lao đ ng hi n lên v i v đ p c a s c n m n, t m qua đ ng t “chu t” k t h p cùng l ng t ườ ế ượ
“t ng”. Hình nh ng i dân làng ngh chăm ch , ch u th ng ch u khó c th đ c đ c t vô cùng rõ ườ ươ ế ượ
ràng. Kho nh kh c đôi bàn tay ngh nhân tài hoa y c m i mê trau chu t, chăm chút cho t ng s i giang,
cho tròn t ng vành nón, đã ph n nào góp ph n th hi n đ c ph m ch t t o t n c a con ng i Vi t B c. ượ ườ
đây, T H u cũng đã r t tinh t khi đã hái l m trong v n hoa ngôn t m t t ng t ng nh r t ế ượ ườ ưở ư
bình th ng nh ng l i vô cùng đ c bi t, đó là đ ng t “chu t”. Qu đúng nh Nguy n Tuân t ng chia s : ườ ư ư
“Dùng ch nh đánh c t ng, ch nào đ ch nào ph i đúng v trí c a nó”, đây T H u đã th t s ư ướ
d ng tâm khi ch v i m t t đã có th l t t h t đ c s nh n n i và v đ p trong lao đ ng c a ng i ế ượ ườ
dân Vi t B c.
Xuôi theo m ch c m xúc, nh ng v đ p nên th , m m ng c a núi r ng hi n lên th t tròn đ y và r c ơ ơ
cháy, h v mang theo nh ng âm vang náo đ ng c a ti ng ve, t a m t b c tranh s n mài v a đ m ch t ế ơ
c đi n v a mang l i nh ng đ ng nét th t hi n đ i: ườ
“Ve kêu r ng phách đ vàng
Nh cô em gái hái măng m t mình.”
Câu th miêu t âm thanh c a ti ng “ve kêu” và màu vàng c a “r ng phách”. Ti ng ve là đ i di n mùa hè ơ ế ế
đã t i, g i ra s náo n c, v i vã c a th i gian. Còn “phách đ vàng” là đ c tr ng c a mùa h Vi t B c. ư
Đ ng t “đ ” là m t đ ng t m nh, đ c tác gi s d ng vô cùng chính xác và tinh t . Nó làm xu t hi n ượ ế
hai ho t đ ng song song, đó là ho t đ ng âm thanh c a ti ng ve và ho t đ ng chuy n màu c a r ng ế
phách, g i t m t s ch c ch bi n đ i mau l c a màu s c thiên nhiên. Khung c nh m ra v i ti ng ve ế ế
hót râm ran, và đó cũng là lúc c cánh r ng đ ng lo t chuy n sang vàng, có chút gì đó v a th n kì nh ng ư
l i cũng huyên náo vô cùng. Ta nh đang đ c th ng th c m t màn o thu t đ c s c, ti ng ve c t lên ư ượ ưở ế
đ n đâu, s c vàng d y lên đ n đó. Hình nh y làm ta nh đ n ý th trong câu “m t ti ng chim kêu sáng ế ế ế ơ ế
c r ng” c a Kh ng H u D ng. T thính giác l ng nghe âm thanh, đ n th giác đ c m nh n màu s c, ươ ế
T H u đã vô cùng tài tình trong vi c s d ng ngh thu t chuy n đ i c m giác, tác gi dùng âm thanh đ
g i màu s c, dùng không gian đ miêu t th i gian. Nh đó mà b c tranh mùa h hi n lên vô cùng t i ươ
t n, th m ng, và r t tr c quan. Thêm vào đó, là nh ng hình nh hòa quy n c a b c tranh thiên nhiên đã ơ
t o nên cho ta m t c m giác th t mê đ m làm sao. Và hi n lên gi a n n thiên nhiên óng ánh, r n rã y, là
hình nh cô em gái c n m n đi hái t ng búp măng, “em gái” là cách g i thân th ng, trìu m n trong quan ươ ế
h gia đình, đ ng tác “hái măng” g i ra dáng v c m c i, siêng năng, ch u th ng ch u khó c a ng i dân ươ ườ
Vi t B c. Hai ch “m t mình” cho ta th y đ c s cô đ n, tr ng tr i sau l ng ng i ra đi, r i đây khi ượ ơ ư ườ
nh ng ng i chi n sĩ đã tr v quê nhà, thì “trám bùi” cũng ch “đ r ng, và “măng mai” cũng ch “đ già”. ườ ế
Nh ng ng i dân Vi t B c khi đi hái măng cũng ch ng bi t sẽ dành ph n cho ai, và trong lòng h lúc y ườ ế
sẽ ch còn ph ng ph t n i nh th ng khó t . Bên c nh s c n cù, cô đ n thì ý th c a câu tám, ta còn ươ ơ ơ
nh n th y đ c s trân tr ng c a nhà th T H u dành cho ng i em gái yêu th ng, dáng v d u dàng, ượ ơ ườ ươ
“m t mình” nh ng c n m n th t tha y còn khi n ta nh đ n câu ca dao: “Trúc xinh trúc m c đ u ư ướ ế ế
đình/Em xinh em đ ng m t mình cũng xinh”, k t h p v i đó là phép đi p ph âm “m” trong ba ch “măng ế
m t mình” t o nên nh c tính, khi n l i th thêm da di t, bâng khuâng h n. ế ơ ế ơ
Khép l i b c tranh t bình Vi t B c là khung c nh mùa thu bình yên, n n nã trong ánh trăng huy n di u
hòa l n v i ti ng hát âm vang nghĩa tình kháng chi n: ế ế
“R ng thu trăng r i hòa bình
Nh ai ti ng hát ân tình th y chung.” ế
Hình nh v v ng trăng trong b c tranh mùa thu Vi t B c, không kh i khi n ta nh đ n hình nh c a ế ế
nh ng đêm trăng đã ghi n trong th Bác: ơ
“Ti ng hát trong nh ti ng su i xaế ư ế
Trăng l ng c th bóng l ng hoa”
(C nh khuya)
Hay
“Gi a dòng bàn b c vi c quân
Khuya v bát ngát trăng ngân đ y thuy n”
(Nguyên Tiêu).
Tr l i v i v ng trăng trong th T H u “R ng thu trăng r i hòa bình”. Ta th y đ c r ng, có s bình yên ơ ượ
toát lên t ánh trăng nh nhàng y, mùa thu năm y - mùa thu c a s th ng l i, mùa thu c a hòa bình,
mùa thu c a t do. T t c đ u kh i đi m t mùa thu Cách m ng tháng Tám năm 1945, đã t o nên s h i
sinh cho T qu c. Và v ng trăng y, không ch đ n thu n là m t s v t vô tri, vô giác mà ng c l i nó đã ơ ượ
đóng góp r t nhi u cho công trình đ u tranh vì đ t n c thân yêu. N u Tây Ti n ta có “Sông Mã” là ướ ế ế
ch ng nhân l ch s , là ng i b n đ ng hành gian lao, thì t i Vi t B c, ta cũng có ánh trăng nghĩa tình, cái ườ
v ng trăng đã g n bó thi t tha, g n bó sâu n ng v i nh ng ng i chi n sĩ, cán b . V ng trăng y t a nh ế ườ ế ư
m t ng i b n tri k , m t ng i b n đ ng hành qua bi t bao ch ng đ ng hành quân gian lao, khó khăn. ườ ườ ế ườ
Đ ng t “r i” c a ánh trăng g i cho ta c m giác trăng d ng nh xuyên qua t ng tán cây, kẽ lá, và có th ườ ư
là xuyên đ n c trái tim c a nh ng ng i cán b chi n sĩ đã h t lòng t i n i đây. R ng thu l p lánh ánh ế ườ ế ế ơ
trăng, khi n lòng ta cũng lâng lâng bao xúc c m th m đ m, đó có th là ni m h nh phúc v “hòa bình” ế ượ
đ c l p l i nh ng cũng có th là n i ni m ti c nu i trong giây phút s p ph i chia xa.ượ ư ế
Và gi a khung c nh tr i đ t th m ng y, đâu đ y đã vang l i ti ng hát th m đ m tr tình “Nh ai ơ ế ượ
ti ng hát ân tình th y chung”. L i hát ân tình th y chung tuy đã khép l i đo n th , nh ng l i m ra c ế ơ ư
m t vùng kí c s ng đ ng n i trái tim ng i ra đi. T ng k ni m v nh ng tháng ngày g n bó có nhau, ơ ườ
t ng hình nh, t ng câu chuy n c th d n hi n ra n i tâm trí, đ r i n i lòng c th càng thêm xao ế ơ ế
xuy n và day d t xót xa. Đ i t phi m ch “ai” chính là đang h ng đ n nhân dân Vi t B c, k t h p cùng ế ế ướ ế ế
phép đi p “Nh ng i”, “Nh cô em gái”, “Nh ai” trong các câu bát khi n cho l i th càng tr nên da di t, ườ ế ơ ế
sâu đ m đ n cùng c c, tình th đong đ y c nh có th lan tràn c đ n t ng chân t kẽ tóc c a b n đ c. ế ơ ư ế ơ
Cu i cùng là s k t h p gi a “trăng” và “ti ng hát ân tình th y chung” khi n ta nh đang đ c g i nh c ế ế ế ư ượ
m t l n n a v nghĩa tình th y chung son s t. B i “trăng” ngoài bi u t ng cho hòa bình, thì còn đ i di n ượ
cho s th y chung, g n bó. Và câu th cu i cùng, ng i đ c có th hi u theo hai cách, đó có th là l i ơ ườ
g i nh c c a ng i l i v i ng i v , nh ng cũng có th hi u là câu nói c a chính ng i v t nh c nh ườ ườ ư ườ
mình: Khi v l i n i ph th xa hoa, thì mong b n thân ng i v đ ng bao gi quên đi nh ng năm tháng ơ ườ
đã đ ng cam c ng kh , nh ng tháng ngày đã cùng nhau ăn c m v ng mu i m n, cùng đ p m nh chăn sui, ơ
v t v khó nh c đ b nh ng l i chân tình m áp. S ng mi n xuôi nh ng đ ng quên mi n ng c, hãy ư ư ượ
luôn nh v c i ngu n kháng chi n, n i núi r ng Vi t B c mà ta đã đ ng hành cùng nhau. Ánh trăng hòa ế ơ
cùng ti ng hát, t o nên khung c nh tuy t mĩ nh ng đ ng th i cũng g i nh c ta r t nhi u v đ o lí “U ng ế ư
n c nh ngu n”, đ o lí nghĩa tình th y chung c a dân t c, nh chính nh ng l i nh c nh v n vang v ngướ ư
c nh ng đo n v sau:
“Mình v thành th xa xôi
Nhà cao còn nh núi đ i n a chăng
Ph đông còn nh b n làng
Sáng đèn còn nh m nh trăng gi a r ng”
Tô Hoài t ng quan ni m r ng: “M i ch ph i là h t ng c buông xu ng nh ng trang b n th o, ph i là h t
ng c m i nh t c a mình tìm đ c, do phong cách văn ch ng c a mình mà có”. M i trang hoa đ c vi t ượ ươ ượ ế
ra luôn n ch a bao công s c c a nhà văn, đó là hành trình mi t mài nghiên c u đ khám phá ra nh ng
h t ng c tinh vi m i m , đ hoàn thi n c v hình th c l n n i dung, đ làm nên nh ng áng văn b t h ,
mãi xanh bi c v i th i gian. Và có lẽ, T H u cũng quan ni m nh th , b i qua hành trình khám phá v ế ư ế
đ p c a b c tranh t bình Vi t B c, ta th y đ c nhà th đã v n d ng nhu n nhuy n th th l c bát c a ượ ơ ơ
dân t c, v i b n c p l c bát cu i, ông đã dùng các câu l c đ nh v c nh s c, còn câu bát dùng cho n i
nh v con ng i. Cùng v i đó là các bi n pháp ngh thu t đ c ông s d ng tài tình nh câu h i tu t , ườ ượ ư
th pháp đ ng hi n, giúp g i s băn khoăn, trăn tr v nh ng n i lòng ch t ch a. Không ch v y, tác gi
còn s d ng th ng tính t , đ ng t giàu s c g i hình, g i c m, và hàng lo t hình nh đ p, có ch n l c,
đ m ch t c đi n nh ng cũng vô cùng m i m và sáng t o, khi n thiên nhiên và con ng i Vi t B c hi n ư ế ườ
lên trông th t hài hòa, lãng m n nh ng cũng r t đ i bình d và g n gũi. H n th n a, vi c s d ng th ư ơ ế
th dân t c cũng đã góp ph n t o nên nh p đi u, âm h ng đ c bi t, khi n l i th tr nên uy n chuy n, ơ ưở ế ơ
du d ng h n. C ng v i vi c k t h p l i x ng hô giao duyên “mình” - “ta” và phong cách tr tình chính trươ ơ ế ư
càng tăng thêm s ng t ngào, nh th ng da di t. Và cũng chính nh nh ng y u t trên mà b c tranh t ươ ế ế
bình Vi t B c cùng v i nh ng tình c m thi t tha c a tác gi dành cho con ng i và c nh v t cũng đã tr ế ườ
nên chân th t và trìu m n h n. ế ơ
Đo n th là b tranh t bình tuy t đ p v thiên nhiên và con ng i Vi t B c, g i nh c cho ng i v ơ ườ ườ
c ng i đ c nh ng rung đ ng sâu xa v tình yêu quê h ng đ t n c. M i m t b tranh là m t c nh ườ ươ ướ
s c thiên nhiên đ p đẽ, b t đ u b ng mùa đông - mùa c a chi n d ch Vi t B c thu đông năm 1946, mùa ế
c a nh ng tháng ngày bu i đ u Cách m ng, ch n mùa đông là mùa kh i đi m cũng vì lí do nh th . Đó là ư ế
nh ng bu i đ u cách m ng khó khăn, th thách. Và r i đ c k t l i b ng mùa thu v i nh ng qu chín ượ ế
ng t ngào, g i nên nh ng chi n th ng âm vang c a tr n Đi n Biên máu l a. C đo n th đ c bao trùm ế ơ ượ
b i tình c m n ng th m c a quân dân, cùng s hòa quy n gi a c nh và ng i, t o nên m t b c tranh ườ
s ng đ ng, g n gũi và có h n.
Ch Lan Viên t ng bày t nh sau khi nh c v T H u: “Nhà th này s d ng đôi m t tinh t ng, nhà thế ư ơ ườ ơ
khác s d ng b óc kì o, còn T H u, anh ch s d ng tình c m và trái tim tr n”, trái tim c a con ng i ườ
y đã mãi rung lên vì nh ng xúc c m đong đ y, kh c ch m rõ nét vào v đ p c a thiên nhiên và con
ng i trong nh ng sáng tác c a b n thân. C th qua đo n trích b c tranh t bình nói riêng hay c thi ườ
ph m “Vi t B c” nói chung, ta sẽ b t g p đ c thiên nhiên và con ng i Vi t Nam trong th T H u, đ p ượ ườ ơ
trong n i nh tha thi t c a ng i cán b kháng chi n khi v xuôi. Nhà th T H u đã mang đ n cho ta ế ườ ế ơ ế
nh ng v n th đ p v thiên nhiên nhiên và con ng i Vi t B c mà cũng là c nh trí, con ng i Vi t Nam. ơ ườ ườ
V đ p c a b tranh t bình giúp ta c m nh n th m thía h n tình yêu thiên nhiên và con ng i lao đ ng ơ ườ
c a tác gi , trong đó c nh hòa quy n v i ng i, ng i làm ch hoàn c nh. Cái tôi c a nhà th g n v i cái ườ ườ ơ
ta chung, th hi n phong cách th tr tình chính tr , gi ng th ng t ngào tha thi t. Th th l c bát đ c ơ ơ ế ơ ượ
s d ng nhu n nhuy n, hình nh th đ m đà tính dân t c. ơ
“Anh t n t i mãi/Không b ng tu i tên, mà nh tro b i/Nh ng n c tàn đ n ti t l i tr i lên” (Ch Lan ư ư ế ế ế
Viên), cho dù có thành ng n c , có là tro b i, cho dù đ n h n tr ki p cho t o hóa v n xoay, ng i c m ế ế ườ
bút y v n bi t mình sẽ t n t i mãi trong d âm c a th i gian qua t ng câu ch , qua tâm tình ng i đ ế ư ườ
l i. Th văn T H u s dĩ sẽ luôn mãi xanh bi c theo th i gian b i nó “có chìa khóa: Cách m ng, gi i ơ ế
phóng dân t c, gi i phóng cho ng i lao kh ”. Đo n trích b c tranh t bình hay toàn b thi ph m “Vi t ườ
B c” đã tái hi n đ c nh ng tình c m quân dân th m thi t và t m lòng trung thành v i đ t n c, tác ượ ế ướ
ph m không ch b c l n i nh c a nh ng ng i cán b dành cho nhân dân mi n núi mà còn tái hi n l ch ườ
s dân t c, t nh ng k ni m ng t ngào đ n nh ng chu i chi n công oanh li t, t ý chí ch ng gi c đ n ế ế ế
tinh th n l c quan, đã giúp ta ch ng gi c thành công. Nh đó mà m t ni m tin v t ng lai t i đ p, t ươ ươ
do, đ c l p cũng d n d n b ng cháy. Trên thi đàn Vi t Nam có vô s tác ph m l y lòng yêu n c làm ch ướ
đ sáng tác, th nh ng “Vi t B c” v n n i b t gi a “r ng th ” nh vào tài năng và tình c m c a tác gi . ế ư ơ
Tôi đã t ng nghe m t câu hát r t hay “ng i đã ra đi không th tr l i, v t th ng ngày nào không th ườ ế ươ
li n da”, th nh ng trong tâm h n c a m i chúng ta, T H u sẽ mãi “s ng”, mãi t n t i n i trái tim này, ế ư ơ
cùng v i ti ng th ông, sẽ d n d t ta trên b c đ ng xây d ng T qu c và t ng lai. ế ơ ướ ườ ươ

Preview text:

“Xưa tôi hát và bây giờ tôi tập nói

Chỉ nói thôi mới nói hết được đời

Bao giờ thuộc hết tiếng của đời, ta xin hát lại

Khúc hát hay, đâu có lắm lời.”

(Sổ tay thơ - Chế Lan Viên)

Dạo bước trên từng trang văn, va chạm với từng hồn thơ. Ta nhận ra rằng có những lời thơ tựa như đang “hát”, “hát” về cái gì đó rực cháy, chói lòa và khó tìm. Quả thật, sự hào nhoáng hay ma mị trong văn chương, luôn là chất kích thích, mê hoặc từng thớ bạn đọc, và rồi khiến họ chìm đắm, say mê và khát khao vô cùng. Nhưng tự hỏi, điều gì sẽ thật sự ở lại trong tâm hồn mỗi người, khi đời là chuyện của vạn năm, tốn hết cọ vẽ, sáp màu, có chắc sẽ họa nên nổi. Và rồi đến lúc thứ ánh sáng của chân lí soi rọi thì đến cả những cây bút xuất sắc nhất cũng sẽ phải ngồi lại và thôi “hát” đi, khi đó họ bắt đầu “tập nói”, nói về những điều bình dị, thường nhật của nhân dân, của đất nước, để “nói hết được đời”, rồi sau đó mới cất lên những khúc sử thi hào hùng hay thế sự tương lai. Với quan niệm “văn học không phải chỉ là chuyện văn chương mà thực chất là chuyện đời”, Tố Hữu đã như một “người kể chuyện đời” điêu luyện, nhà thơ quốc kì ấy đã mượn từng dòng thơ để khắc chạm nên những điều bình dị trong xúc cảm nội tâm hay hoạt cảnh của hiện thực, những gì nhà thơ viết tuy giản đơn nhưng không tùy tiện, dung dị mà cũng hết mực chân thành. Đoạn trích “Việt Bắc” cũng được xem như một bản tuyên ngôn nghệ thuật xuất sắc của ông trên văn đàn Việt Nam. Và nổi bật nhất trong thi phẩm chính là mười câu thơ miêu tả vẻ đẹp bức tranh tứ bình - chan chứa tình cảm của tác giả đối với con người và thiên nhiên nơi đây, song song đó ta cũng thấy được chất riêng trong cách miêu tả về vẻ đẹp thiên nhiên và con người Việt Nam trong thơ Tố Hữu.

“Ta về, mình có nhớ ta

Nhớ ai tiếng hát ân tình thủy chung.”

Nhà thơ Nguyễn Đình Thi đã từng nhận xét rằng: “Trọn đời, Tố Hữu là một chiến sĩ cách mạng làm thơ và là nhà thơ của cách mạng…Từ cuộc sống hiện đại, thơ anh ngày càng bắt nguồn trở lại vào hồn thơ cổ điển của dân tộc”. Và quả đúng như thế, được tôn vinh là “cánh chim đầu đàn của thơ ca cách mạng Việt Nam”, thơ Tố Hữu viết ra luôn mang đậm màu sắc trữ tình chính trị, hòa với tính sử thi và mang lại cảm hứng về lịch sử, về Tổ quốc. Từng ý thơ của ông như đang cất lên tiếng nói chung của thời đại, của cộng đồng, là vấn đề vận mệnh, là những con người đang mang trong mình sự nghiệp chung vì đất nước thân yêu. Tố Hữu là nhà thơ của lẽ sống lớn, của tình cảm lớn, luôn tràn đầy cảm hứng ca ngợi về lãnh tụ và quần chúng với những vần thơ giản dị, sâu sắc mà đậm đà tính dân tộc. Khi sáng tác, ông không chú ý sáng tạo từ mới, cách diễn đạt mới mà thay vào đó là thường sử dụng những từ ngữ và cách nói quen thuộc với nhân dân, tạo nên cảm giác gần gũi, chân thành. Thơ Tố Hữu luôn theo sát những chặng đường cách mạng gian lao, hào hùng và vinh quang của đất nước, do vậy các nhà phê bình đã phong tặng cho ông danh hiệu cao quý “Người chép sử bằng thơ”.

“Giống như những ngôi sao trên trời, ngôi sao lớn nhất không sáng thay cho những ngôi sao khác, mỗi chúng đều có ánh sáng riêng” (Nguyễn Ngọc Tư), ánh sáng ấy tựa như len lỏi trong từng mạch máu của thi nhân, rung chạm mãnh liệt để dẫn lối cho những chữ thoát ra, tạo nên những thiên tuyệt bút đầy giá trị. “Việt Bắc” được in trong tập thơ cùng tên và được ra đời nhân một sự kiện lịch sử trọng đại của dân tộc, đó chính là những ngày sau chiến thắng Điện Biên Phủ “lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu”, vào tháng 10 năm 1954 sau những chuỗi ngày gắn bó, hỗ trợ và chiến đấu cùng nhau, cán bộ chiến sĩ phải từ biệt căn cứ Việt Bắc để trở về Hà Nội. Và thế là những nỗi niềm kín sâu cũng từ đấy mà được khơi nguồn, những câu hỏi liên tục được đặt ra: Liệu những người chiến thắng sẽ giữ được tấm lòng thủy chung với đồng bào Việt Bắc và quê hương cách mạng hay không, liệu họ sẽ còn nhớ những tháng ngày gian khổ hào hùng, sâu nặng nghĩa tình với nhau hay không? Những băn khoăn, trăn trở ấy tựa như chất xúc tác mãnh liệt cho ngòi bút thi nhân, như Tố Hữu cũng đã từng nói: “Thơ chỉ bật ra trong tim ta khi cuộc sống đã thật tràn đầy”, khi những cảm xúc mãnh liệt đè nặng trái tim không thể thốt nên bằng lời, thì chỉ có những dòng thơ chân tình mới có thể thay thế để tỏ bày mà thôi. Bài thơ “Việt Bắc” gồm có hai phần, phần đầu tái hiện những kỉ niệm cách mạng và kháng chiến, phần sau gợi viễn cảnh tươi sáng của đất nước và ca ngợi công ơn của Đảng, Bác Hồ đối với dân tộc. Đoạn trích trong sách giáo khoa là phần đầu của bài thơ. Trích đoạn trên đề nằm ở phần giữa của đoạn trích “Việt Bắc”, miêu tả vẻ đẹp bức tranh tứ bình cùng tình cảm gắn bó thiết tha của nhà thơ với thiên nhiên và con người nơi đây.

Hai câu thơ mở đầu mang đến cảm xúc chủ đạo của toàn đoạn thơ. Đó là cảm xúc nhớ nhung khôn nguôi về Việt Bắc:

“Ta về, mình có nhớ ta

Ta về, ta nhớ những hoa cùng người.”

Khởi nguồn là câu hỏi tu từ đầy ý nhị đến từ phía người ra đi “Ta về, mình có nhớ ta”. Ở đây, Tố Hữu đã sử dụng lối đối đáp giao duyên “ta” - “mình”, khiến cho lời thơ phảng phất bao hương vị ngọt ngào của tình yêu. Đó là tiếng thương, tiếng nhớ, là nỗi lòng bâng khuâng, thấm đẫm một cỗ tình cảm đậm đà, đong đầy xiết bao. Và ta cũng có thể thấy rằng, câu hỏi người ra đi cất lên dường như không mong ngóng bất cứ sự hồi đáp nào, bởi lẽ, hỏi không phải để đợi chờ đáp án, mà hỏi là để bộc bạch ra những xúc cảm bồi hồi xao xuyến trong lòng trước giây phút đã sắp chia xa. Rồi đây ta li biệt, biết bao giờ mới gặp lại được nhau, những khoảng trời kí ức về “mười lăm năm ấy” chắc hẳn sẽ mãi là những kỉ niệm khó phai. Và còn những năm tháng đã cùng nhau gắn bó, “chia củ sắn lùi”, những hình ảnh về “lớp học i tờ”, về “đuốc sáng” liên hoan cũng sẽ mãi đọng lại trong kí ức của cả “mình” và cả “ta”. Ở câu thơ trên, ngoài những tình cảm quá đỗi thiết tha, trìu mến, ta còn bắt gặp được cái chất riêng đặc sắc của ngòi bút Tố Hữu, như Xuân Diệu đã từng đánh giá: “Tố Hữu đã đưa thơ chính trị lên đến trình độ thơ rất đỗi trữ tình…”, viết về chuyện thời sự, chính trị nhưng không hề khô khan mà ngược lại rất đằm thắm, chân thành và thiết tha vô cùng.

Tiếp nối dòng cảm xúc ở câu thơ mở đầu, đến câu tiếp theo người ra đi đã tự khẳng định tình cảm của mình một cách vô cùng chân thành “Ta về, ta nhớ những hoa cùng người”. Cụm từ “Ta về” lại xuất hiện một lần nữa, tạo nên hai lần điệp ngữ, điều ấy dường như đang bộc bạch rằng, tình cảm của họ đã căng tràn đến mức khó nói, chỉ có thể gói ghém một cách thầm kín qua câu từ, cùng với đó là sự luyến thương cứ hoài giăng mắc nơi đáy tim, mãi quấn quýt, không nỡ rời xa nhau. Và nỗi nhớ thương ấy không chỉ dành cho “người” mà còn có cả cho “hoa”, hình ảnh “hoa” hiện lên, vừa là đại diện cho vẻ đẹp của cảnh sắc thiên nhiên Việt Bắc, nhưng đồng thời cũng cho ta có cảm nhận rằng, có lẽ trong kí ức hiện hữu nơi trái tim của người ra đi thì Việt Bắc luôn là một vùng kí ức rất đẹp, đẹp đến nỗi khi vô tình nhớ đến, cứ như đang có vạn vạn những đóa hoa đa sắc bừng lên, mãi thắm mãi đượm màu. “Hoa” thì đã ý nghĩa thế, còn “người” cũng mang những nét nghĩa rất đỗi yêu thương, bởi lẽ đó chính đại diện cho sự hiện hữu của những con người lao động nơi đây, những con người ngày đêm cần mẫn, chăm chỉ, chịu thương chịu khó, luôn tỏa sáng với những nét đẹp lao động đáng ca ngợi và tự hào. Khi về miền xuôi, những cán bộ chiến sĩ luôn nhớ về thiên nhiên và con người Việt Bắc, nhưng không nhớ một cách tách rời mà luôn hòa quyện, gắn bó và đồng hiện cùng nhau, điều ấy được thể hiện qua cụm từ “hoa cùng người”, từ “cùng” ấy cho ta thấy mối liên kết chặt chẽ giữa cảnh và người. Nếu trong ca dao, cảnh chủ yếu để tạo cảm hứng cho tình thì trong hai câu trên, cảnh xuất hiện vừa là nền nhưng cũng là một phần trong nỗi nhớ của người ra đi.

Thiên nhiên Việt Bắc được Tố Hữu miêu tả trong sự luân chuyển của bốn mùa, mở đầu là bức tranh mùa đông dạt dào sức sống và hình ảnh con người lao động làm chủ hiên ngang trên đỉnh cao:

“Rừng xanh hoa chuối đỏ tươi

Đèo cao nắng ánh dao gài thắt lưng.”

Khi nhắc đến mùa đông, ta thường nhớ đến sự lạnh lẽo, u ám và buồn tẻ. Nhà thơ Việt Phương cũng đã từng ghi lại những cảm nhận về mùa đông như sau:

“Mùa đông lạnh gió lùa qua khe cửa

Phía trời xa mây cũng ủ ê buồn

Cây trụi lá đứng tần ngần ngõ nhỏ

Có ai về tôi gửi áo len cho”

(Nhớ mùa đông Hà Nội)

Thế nhưng trong thi phẩm Việt Bắc lại khác, qua lăng kính nghệ thuật tinh tế của mình, Tố Hữu đã vẽ nên bức tranh mùa đông vô cùng sống động, tốt tươi và căng tràn sức sống:

“Rừng xanh hoa chuối đỏ tươi”

Bức tranh thiên nhiên mùa đông với gam màu đậm “xanh - đỏ”, hai màu sắc tưởng chừng đối lập, tương phản nhưng thực chất lại hài hòa vô cùng. Trong hội họa, xanh là gam màu lạnh, còn đỏ là gam màu nóng. Và đỏ ở đây lại còn là cái “đỏ tươi” rực sáng, khiến ta như đang được thưởng thức một bức tranh tuyệt mĩ của một ngài nghệ sĩ đại tài nào đấy. Giữa sắc “xanh” của rừng thiên bạt ngàn vô tận, len lỏi trong đấy là những ánh “đỏ” điểm xuyết, mang lại cảm giác tươi tắn, rạo rực của một bức tranh đông, khiến cho mùa đông dường như không còn tịch liêu, hiu hắt nữa mà ngược lại ngày càng trở nên lung linh, ấm áp và dạt dào sức sống vô tận. Tố Hữu tựa như một nhà hội họa tài ba, ông đã mang đến cho câu thơ của mình một bức tranh mùa đông vừa sống động lại vừa rất riêng.

Và giữa cái bao la nắng gió bạt ngàn của thiên địa, con người lao động hiện lên với vẻ đẹp lộng lẫy và những phẩm chất cao quý vô cùng:

“Đèo cao nắng ánh dao gài thắt lưng.”

Khung cảnh mở ra với đoạn đường hiểm trở “đèo cao” - nơi mà nhân dân Việt Bắc phải vượt qua hàng ngày nhằm thực hiện sứ mệnh cao cả, đó là lao động. Những con người ấy lao động vì vinh quang của Tổ quốc, họ làm việc với một thái độ tự hào, hết lòng và cần mẫn. Hình ảnh con người xuất hiện ngay trung tâm, cho ta thấy được tầm quan trọng của nhân dân Việt Bắc - những con người đã đi nương, làm rẫy, tăng gia sản xuất để phục vụ cho kháng chiến. Cuộc đời của họ luôn là sự cống hiến thầm lặng, nhưng trái tim họ dường như luôn rực cháy. Cháy vì tương lai, vì hòa bình dân tộc. Cụm từ “nắng ánh” và hình ảnh “dao gài thắt lưng” cho ta thấy được khoảnh khắc tuyệt đẹp của nhân dân Việt Bắc, Tố Hữu dường như đã bắt trọn được một khoảnh khắc hết đỗi đắt giá trong quá trình làm việc của người lao động. Những ánh nắng chói chang trên bầu trời kia soi chiếu vào chiếc dao gài trên thắt lưng của người dân, như một điểm hội tụ của ánh sáng, tạo nên khí thế hiên ngang và tầm vóc lớn lao trên khung cảnh thiên nhiên ngút ngàn. Con người lao động hiện lên với tư thế vững chãi, tự tin của người đã làm chủ được núi rừng, làm chủ được tự do và làm chủ lao động. Tố Hữu cũng từng miêu tả tư thế ấy trong “Lên Tây Bắc”:

“Rất đẹp hình anh lúc nắng chiều

Bóng dài trên đỉnh dốc cheo leo

Núi không đè nổi vai vươn tới

Lá ngụy trang reo với gió đèo”

Chưa hết ngỡ ngàng với bức tranh mùa đông thơ mộng, nhà thơ lại tiếp tục dắt tay bạn đọc vào xứ sở mùa xuân bừng sáng, đầy sức sống hoang dại và mãnh liệt của hoa mơ:

“Ngày xuân mơ nở trắng rừng

Nhớ người đan nón chuốt từng sợi giang.”

Nguyễn Bính từng cảm tác trong niềm vui sống giữa ngày xuân: “Mùa xuân là cả một mùa xanh”, một mùa xanh sống động và ngập tràn tươi mới, mơn mởn. Khác với mùa đông chói lóa với sắc đỏ rực cháy, mùa xuân ở Việt Bắc trông dịu dàng và đằm thắm hơn hẳn. Nếu miền Nam ta có hoa mai vàng rực rỡ, người Hà thành với đào tươi thắm xinh, thì Việt Bắc lại có sắc trắng tinh khôi của hoa mơ. Ta nhớ đến ngày xưa, đại thi hào Nguyễn Du đã chọn sắc trắng của hoa lê với một vài bông hoa nhẹ nhàng để miêu tả sắc xuân:

“Cỏ non xanh tận chân trời

Cành lê trắng điểm một vài bông hoa”

Thì đối với Tố Hữu, màu sắc đó không còn chỉ là sự điểm xuyết, mà đó là sự bao trùm. Cả không gian được phủ kín bởi sắc trắng tinh khôi, tạo nên một vẻ đẹp trong suốt, trữ tình và tràn trề nhựa sống. Bên cạnh màu sắc tuyệt diệu ấy, ta còn bắt gặp những dụng công nghệ thuật vô cùng tinh tế của thi nhân khi miêu tả đoạn mùa xuân này. Phép đảo ngữ “trắng rừng”, ở đây “trắng” là tính từ nhưng được dùng như một động từ, tạo nên cảm giác cánh rừng như đang bừng lên ánh sáng, nở rộ sắc trắng tinh khiết trong veo. Động từ “nở” kết hợp cùng tính từ “trắng” càng làm bừng thêm sức sống của mùa xuân nơi núi rừng bạt ngàn ấy, nhựa sống cứ như đang lan ra và tràn trề đến tận cùng. Màu trắng dường như đã át đi hết thảy các sắc xanh của lá, của cây, tạo nên một bức tranh lãng mạn, thanh bình và tinh khôi đến lạ kì.

Thấp thoáng dưới khung cảnh thơ mộng của cánh rừng xuân thơm mát, hình ảnh con người của quê hương Cách mạng lại một lần nữa xuất hiện liền kề sau:

“Nhớ người đan nón chuốt từng sợi giang.”

Người lao động hiện lên với vẻ đẹp của sự cần mần, tỉ mỉ qua động từ “chuốt” kết hợp cùng lượng từ “từng”. Hình ảnh người dân làng nghề chăm chỉ, chịu thương chịu khó cứ thế được đặc tả vô cùng rõ ràng. Khoảnh khắc đôi bàn tay nghệ nhân tài hoa ấy cứ mải mê trau chuốt, chăm chút cho từng sợi giang, cho tròn từng vành nón, đã phần nào góp phần thể hiện được phẩm chất tảo tần của con người Việt Bắc. Và ở đây, Tố Hữu cũng đã rất tinh tế khi đã hái lượm trong vườn hoa ngôn từ một từ ngữ tưởng như rất bình thường nhưng lại vô cùng đặc biệt, đó là động từ “chuốt”. Quả đúng như Nguyễn Tuân từng chia sẻ: “Dùng chữ như đánh cờ tướng, chữ nào để chỗ nào phải đúng vị trí của nó”, ở đây Tố Hữu đã thật sự dụng tâm khi chỉ với một từ đã có thể lột tả hết được sự nhẫn nại và vẻ đẹp trong lao động của người dân Việt Bắc.

Xuôi theo mạch cảm xúc, những vẻ đẹp nên thơ, mơ mộng của núi rừng hiện lên thật tròn đầy và rực cháy, hạ về mang theo những âm vang náo động của tiếng ve, tựa một bức tranh sơn mài vừa đậm chất cổ điển vừa mang lại những đường nét thật hiện đại:

“Ve kêu rừng phách đổ vàng

Nhớ cô em gái hái măng một mình.”

Câu thơ miêu tả âm thanh của tiếng “ve kêu” và màu vàng của “rừng phách”. Tiếng ve là đại diện mùa hè đã tới, gợi ra sự náo nức, vội vã của thời gian. Còn “phách đổ vàng” là đặc trưng của mùa hạ Việt Bắc. Động từ “đổ” là một động từ mạnh, được tác giả sử dụng vô cùng chính xác và tinh tế. Nó làm xuất hiện hai hoạt động song song, đó là hoạt động âm thanh của tiếng ve và hoạt động chuyển màu của rừng phách, gợi tả một sự chực chờ biến đổi mau lẹ của màu sắc thiên nhiên. Khung cảnh mở ra với tiếng ve hót râm ran, và đó cũng là lúc cả cánh rừng đồng loạt chuyển sang vàng, có chút gì đó vừa thần kì nhưng lại cũng huyên náo vô cùng. Ta như đang được thưởng thức một màn ảo thuật đặc sắc, tiếng ve cất lên đến đâu, sắc vàng dậy lên đến đó. Hình ảnh ấy làm ta nhớ đến ý thơ trong câu “một tiếng chim kêu sáng cả rừng” của Khương Hữu Dụng. Từ thính giác lắng nghe âm thanh, đến thị giác để cảm nhận màu sắc, Tố Hữu đã vô cùng tài tình trong việc sử dụng nghệ thuật chuyển đổi cảm giác, tác giả dùng âm thanh để gọi màu sắc, dùng không gian để miêu tả thời gian. Nhờ đó mà bức tranh mùa hạ hiện lên vô cùng tươi tắn, thơ mộng, và rất trực quan. Thêm vào đó, là những hình ảnh hòa quyện của bức tranh thiên nhiên đã tạo nên cho ta một cảm giác thật mê đắm làm sao. Và hiện lên giữa nền thiên nhiên óng ánh, rộn rã ấy, là hình ảnh cô em gái cần mẫn đi hái từng búp măng, “em gái” là cách gọi thân thương, trìu mến trong quan hệ gia đình, động tác “hái măng” gợi ra dáng vẻ cặm cụi, siêng năng, chịu thương chịu khó của người dân Việt Bắc. Hai chữ “một mình” cho ta thấy được sự cô đơn, trống trải sau lưng người ra đi, rồi đây khi những người chiến sĩ đã trở về quê nhà, thì “trám bùi” cũng chỉ “để rụng, và “măng mai” cũng chỉ “để già”. Những người dân Việt Bắc khi đi hái măng cũng chẳng biết sẽ dành phần cho ai, và trong lòng họ lúc ấy sẽ chỉ còn phảng phất nỗi nhớ thương khó tả. Bên cạnh sự cần cù, cô đơn thì ở ý thơ của câu tám, ta còn nhận thấy được sự trân trọng của nhà thơ Tố Hữu dành cho người em gái yêu thương, dáng vẻ dịu dàng, “một mình” nhưng cần mẫn thướt tha ấy còn khiến ta nhớ đến câu ca dao: “Trúc xinh trúc mọc đầu đình/Em xinh em đứng một mình cũng xinh”, kết hợp với đó là phép điệp phụ âm “m” trong ba chữ “măng một mình” tạo nên nhạc tính, khiến lời thơ thêm da diết, bâng khuâng hơn.

Khép lại bức tranh tứ bình Việt Bắc là khung cảnh mùa thu bình yên, nền nã trong ánh trăng huyền diệu hòa lẫn với tiếng hát âm vang nghĩa tình kháng chiến:

“Rừng thu trăng rọi hòa bình

Nhớ ai tiếng hát ân tình thủy chung.”

Hình ảnh về vầng trăng trong bức tranh mùa thu Việt Bắc, không khỏi khiến ta nhớ đến hình ảnh của những đêm trăng đã ghi ấn trong thơ Bác:

“Tiếng hát trong như tiếng suối xa

Trăng lồng cổ thụ bóng lồng hoa”

(Cảnh khuya)

Hay

“Giữa dòng bàn bạc việc quân

Khuya về bát ngát trăng ngân đầy thuyền”

(Nguyên Tiêu).

Trở lại với vầng trăng trong thơ Tố Hữu “Rừng thu trăng rọi hòa bình”. Ta thấy được rằng, có sự bình yên toát lên từ ánh trăng nhẹ nhàng ấy, mùa thu năm ấy - mùa thu của sự thắng lợi, mùa thu của hòa bình, mùa thu của tự do. Tất cả đều khởi điểm từ mùa thu Cách mạng tháng Tám năm 1945, đã tạo nên sự hồi sinh cho Tổ quốc. Và vầng trăng ấy, không chỉ đơn thuần là một sự vật vô tri, vô giác mà ngược lại nó đã đóng góp rất nhiều cho công trình đấu tranh vì đất nước thân yêu. Nếu ở Tây Tiến ta có “Sông Mã” là chứng nhân lịch sử, là người bạn đồng hành gian lao, thì tại Việt Bắc, ta cũng có ánh trăng nghĩa tình, cái vầng trăng đã gắn bó thiết tha, gắn bó sâu nặng với những người chiến sĩ, cán bộ. Vầng trăng ấy tựa như một người bạn tri kỉ, một người bạn đồng hành qua biết bao chặng đường hành quân gian lao, khó khăn. Động từ “rọi” của ánh trăng gợi cho ta cảm giác trăng dường như xuyên qua từng tán cây, kẽ lá, và có thể là xuyên đến cả trái tim của những người cán bộ chiến sĩ đã hết lòng tại nơi đây. Rừng thu lấp lánh ánh trăng, khiến lòng ta cũng lâng lâng bao xúc cảm thắm đượm, đó có thể là niềm hạnh phúc về “hòa bình” được lập lại nhưng cũng có thể là nỗi niềm tiếc nuối trong giây phút sắp phải chia xa.

Và giữa khung cảnh trời đất thơ mộng ấy, đâu đấy đã vang lại tiếng hát thấm đượm trữ tình “Nhớ ai tiếng hát ân tình thủy chung”. Lời hát ân tình thủy chung tuy đã khép lại đoạn thơ, nhưng lại mở ra cả một vùng kí ức sống động nơi trái tim người ra đi. Từng kỉ niệm về những tháng ngày gắn bó có nhau, từng hình ảnh, từng câu chuyện cứ thế dần hiện ra nơi tâm trí, để rồi nỗi lòng cứ thế càng thêm xao xuyến và day dứt xót xa. Đại từ phiếm chỉ “ai” chính là đang hướng đến nhân dân Việt Bắc, kết hợp cùng phép điệp “Nhớ người”, “Nhớ cô em gái”, “Nhớ ai” trong các câu bát khiến cho lời thơ càng trở nên da diết, sâu đậm đến cùng cực, tình thơ đong đầy cứ như có thể lan tràn cả đến từng chân tơ kẽ tóc của bạn đọc. Cuối cùng là sự kết hợp giữa “trăng” và “tiếng hát ân tình thủy chung” khiến ta như đang được gợi nhắc một lần nữa về nghĩa tình thủy chung son sắt. Bởi “trăng” ngoài biểu tượng cho hòa bình, thì còn đại diện cho sự thủy chung, gắn bó. Và ở câu thơ cuối cùng, người đọc có thể hiểu theo hai cách, đó có thể là lời gợi nhắc của người ở lại với người về, nhưng cũng có thể hiểu là câu nói của chính người về tự nhắc nhở mình: Khi về lại nơi phố thị xa hoa, thì mong bản thân người về đừng bao giờ quên đi những năm tháng đã đồng cam cộng khổ, những tháng ngày đã cùng nhau ăn cơm vừng muối mặn, cùng đắp mảnh chăn sui, vất vả khó nhọc đủ bề nhưng lại chân tình ấm áp. Sống ở miền xuôi nhưng đừng quên miền ngược, hãy luôn nhớ về cội nguồn kháng chiến, nơi núi rừng Việt Bắc mà ta đã đồng hành cùng nhau. Ánh trăng hòa cùng tiếng hát, tạo nên khung cảnh tuyệt mĩ nhưng đồng thời cũng gợi nhắc ta rất nhiều về đạo lí “Uống nước nhớ nguồn”, đạo lí nghĩa tình thủy chung của dân tộc, như chính những lời nhắc nhớ vẫn vang vọng cả những đoạn về sau:

“Mình về thành thị xa xôi

Nhà cao còn nhớ núi đồi nữa chăng

Phố đông còn nhớ bản làng

Sáng đèn còn nhớ mảnh trăng giữa rừng”

Tô Hoài từng quan niệm rằng: “Mỗi chữ phải là hạt ngọc buông xuống những trang bản thảo, phải là hạt ngọc mới nhất của mình tìm được, do phong cách văn chương của mình mà có”. Mỗi trang hoa được viết ra luôn ẩn chứa bao công sức của nhà văn, đó là hành trình miệt mài nghiên cứu để khám phá ra những hạt ngọc tinh vi mới mẻ, để hoàn thiện cả về hình thức lẫn nội dung, để làm nên những áng văn bất hủ, mãi xanh biếc với thời gian. Và có lẽ, Tố Hữu cũng quan niệm như thế, bởi qua hành trình khám phá vẻ đẹp của bức tranh tứ bình Việt Bắc, ta thấy được nhà thơ đã vận dụng nhuần nhuyễn thể thơ lục bát của dân tộc, với bốn cặp lục bát cuối, ông đã dùng các câu lục để nhớ về cảnh sắc, còn câu bát dùng cho nỗi nhớ về con người. Cùng với đó là các biện pháp nghệ thuật được ông sử dụng tài tình như câu hỏi tu từ, thủ pháp đồng hiện, giúp gợi sự băn khoăn, trăn trở về những nỗi lòng chất chứa. Không chỉ vậy, tác giả còn sử dụng thống tính từ, động từ giàu sức gợi hình, gợi cảm, và hàng loạt hình ảnh đẹp, có chọn lọc, đậm chất cổ điển nhưng cũng vô cùng mới mẻ và sáng tạo, khiến thiên nhiên và con người Việt Bắc hiện lên trông thật hài hòa, lãng mạn nhưng cũng rất đỗi bình dị và gần gũi. Hơn thế nữa, việc sử dụng thể thơ dân tộc cũng đã góp phần tạo nên nhịp điệu, âm hưởng đặc biệt, khiến lời thơ trở nên uyển chuyển, du dương hơn. Cộng với việc kết hợp lối xưng hô giao duyên “mình” - “ta” và phong cách trữ tình chính trị càng tăng thêm sự ngọt ngào, nhớ thương da diết. Và cũng chính nhờ những yếu tố trên mà bức tranh tứ bình Việt Bắc cùng với những tình cảm thiết tha của tác giả dành cho con người và cảnh vật cũng đã trở nên chân thật và trìu mến hơn.

Đoạn thơ là bộ tranh tứ bình tuyệt đẹp về thiên nhiên và con người Việt Bắc, gợi nhắc cho người về và cả người đọc những rung động sâu xa về tình yêu quê hương đất nước. Mỗi một bộ tranh là một cảnh sắc thiên nhiên đẹp đẽ, bắt đầu bằng mùa đông - mùa của chiến dịch Việt Bắc thu đông năm 1946, mùa của những tháng ngày buổi đầu Cách mạng, chọn mùa đông là mùa khởi điểm cũng vì lí do như thế. Đó là những buổi đầu cách mạng khó khăn, thử thách. Và rồi được kết lại bằng mùa thu với những quả chín ngọt ngào, gợi nên những chiến thắng âm vang của trận Điện Biên máu lửa. Cả đoạn thơ được bao trùm bởi tình cảm nồng thắm của quân dân, cùng sự hòa quyện giữa cảnh và người, tạo nên một bức tranh sống động, gần gũi và có hồn.

Chế Lan Viên từng bày tỏ như sau khi nhắc về Tố Hữu: “Nhà thơ này sử dụng đôi mắt tinh tường, nhà thơ khác sử dụng bộ óc kì ảo, còn Tố Hữu, anh chỉ sử dụng tình cảm và trái tim trần”, trái tim của con người ấy đã mãi rung lên vì những xúc cảm đong đầy, khắc chạm rõ nét vào vẻ đẹp của thiên nhiên và con người trong những sáng tác của bản thân. Cụ thể qua đoạn trích bức tranh tứ bình nói riêng hay cả thi phẩm “Việt Bắc” nói chung, ta sẽ bắt gặp được thiên nhiên và con người Việt Nam trong thơ Tố Hữu, đẹp trong nỗi nhớ tha thiết của người cán bộ kháng chiến khi về xuôi. Nhà thơ Tố Hữu đã mang đến cho ta những vần thơ đẹp về thiên nhiên nhiên và con người Việt Bắc mà cũng là cảnh trí, con người Việt Nam. Vẻ đẹp của bộ tranh tứ bình giúp ta cảm nhận thấm thía hơn tình yêu thiên nhiên và con người lao động của tác giả, trong đó cảnh hòa quyện với người, người làm chủ hoàn cảnh. Cái tôi của nhà thơ gắn với cái ta chung, thể hiện phong cách thơ trữ tình chính trị, giọng thơ ngọt ngào tha thiết. Thể thơ lục bát được sử dụng nhuần nhuyễn, hình ảnh thơ đậm đà tính dân tộc.

“Anh tồn tại mãi/Không bằng tuổi tên, mà như tro bụi/Như ngọn cỏ tàn đến tiết lại trồi lên” (Chế Lan Viên), cho dù có thành ngọn cỏ, có là tro bụi, cho dù đến hạn trả kiếp cho tạo hóa vần xoay, người cầm bút ấy vẫn biết mình sẽ tồn tại mãi trong dư âm của thời gian qua từng câu chữ, qua tâm tình người để lại. Thơ văn Tố Hữu sở dĩ sẽ luôn mãi xanh biếc theo thời gian bởi nó “có chìa khóa: Cách mạng, giải phóng dân tộc, giải phóng cho người lao khổ”. Đoạn trích bức tranh tứ bình hay toàn bộ thi phẩm “Việt Bắc” đã tái hiện được những tình cảm quân dân thắm thiết và tấm lòng trung thành với đất nước, tác phẩm không chỉ bộc lộ nỗi nhớ của những người cán bộ dành cho nhân dân miền núi mà còn tái hiện lịch sử dân tộc, từ những kỉ niệm ngọt ngào đến những chuỗi chiến công oanh liệt, từ ý chí chống giặc đến tinh thần lạc quan, đã giúp ta chống giặc thành công. Nhờ đó mà một niềm tin về tương lai tươi đẹp, tự do, độc lập cũng dần dần bừng cháy. Trên thi đàn Việt Nam có vô số tác phẩm lấy lòng yêu nước làm chủ đề sáng tác, thế nhưng “Việt Bắc” vẫn nổi bật giữa “rừng thơ” nhờ vào tài năng và tình cảm của tác giả. Tôi đã từng nghe một câu hát rất hay “người đã ra đi không thể trở lại, vết thương ngày nào không thể liền da”, thế nhưng trong tâm hồn của mỗi chúng ta, Tố Hữu sẽ mãi “sống”, mãi tồn tại nơi trái tim này, cùng với tiếng thơ ông, sẽ dẫn dắt ta trên bước đường xây dựng Tổ quốc và tương lai.