



















Preview text:
lOMoAR cPSD| 59691467 BỘ TƯ PHÁP
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
‐‐-‐
BÀI TẬP NHÓM MÔN XÃ HỘI HỌC PHÁP LUẬT
Đề bài: Phân tích các yếu tố xã hội ảnh hưởng đến hoạt động thực
hiện pháp luật về phòng chống tệ nạn ma túy và các chất gây nghiện
qua khảo sát sinh viên Trường đại học Luật Hà Nội. LỚP : N06.TL1 NHÓM : 05 Hà Nội, 2024 lOMoAR cPSD| 59691467
BIÊN BẢN XÁC ĐỊNH MỨC ĐỘ THAM GIA VÀ KẾT QUẢ THAM GIA LÀM BÀI TẬP NHÓM
Lớp: N06.TL1 Nhóm: 05 Tổng
số thành viên của nhóm: 13
Đề bài: “Phân tích các yếu tố xã hội ảnh hưởng đến hoạt động thực hiện pháp luật
về phòng chống tệ nạn ma túy và các chất gây nghiện qua khảo sát sinh viên
Trường đại học Luật Hà Nội”.
Phân chia công việc và đánh giá mức độ tham gia của nhóm: Mức độ hoàn thành công việc Chữ Công việc Xếp kí MSSV Họ và tên thực hiện loại của Không T Tốt SV tốt B
1 480340 Nguyễn Diệu Linh Tổng hợp 2 480356 Trần Văn Quang Nội dung 3 480357 Ngô Thị Quỳnh Thuyết trình 4 480366 Tổng hợp Nguyễn Thị Huyền Trang (nhóm trưởng) 5 480369 Bùi Mạnh Tú Nội dung 6 480409 Nông Quốc Anh Nội dung 7 480413 Powerpoint Trần Thị Thanh Bình lOMoAR cPSD| 59691467 8 480418 Nguyễn Việt Đan Nội dung 9 480423 Nội dung Nguyễn Thanh Hải 10 480428 Cao Thị Hiền Nội dung 11 480437 Ma Thùy Linh Powerpoint 12 480461 Nguyễn Diệu Thuyết Thảo trình 13 480509 Nội dung Trương Thị Ngọc Ánh
Hà Nội, ngày 19 tháng 5 năm 2024 Nhóm trưởng
(ký, ghi rõ họ tên) lOMoAR cPSD| 59691467 MỤC LỤC
A. MỞ ĐẦU ......................................................................................................6
1. Lí do lựa chọn đề tài .......................................................................................6
2. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài......................................................6
3. Giả thuyết nghiên cứu......................................................................................7
4. Phương pháp nghiên cứu.................................................................................7
5. Chọn mẫu điều tra............................................................................................7
B. NỘI DUNG.....................................................................................................8
1. Một số vấn đề lý luận liên quan đến nội dung đề tài.......................................8 1.1. Các khái niệm cơ bản liên quan đên đề
tài...................................................8 1.2. Nội dung pháp luật liên quan đến đề
tài.......................................................8
2. Thực trạng của vấn đề nghiên cứu...................................................................9
3. Các yếu tố xã hội ảnh hưởng đến hoạt động thực hiện pháp luật...................18
4. Một số giải pháp trong hoạt động thực hiện pháp luật..................................21
C. KẾT LUẬN...................................................................................................23
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO........................................................24 A. MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Lựa chọn đề tài về tình trạng sử dụng ma túy và các chất gây nghiện trong
cộng đồng sinh viên xuất phát từ nhận thức về một vấn đề đang ngày càng trở nên
phổ biến và đáng lo ngại trong xã hội hiện đại. Sinh viên, như là một phần không
thể tách rời của xã hội, đang phải đối mặt với những áp lực và thách thức không
nhỏ từ môi trường học tập và xã hội xung quanh. Trong khi họ phấn đấu với việc
học tập và xây dựng tương lai, họ cũng phải đối diện với nhiều yếu tố khó khăn,
bao gồm áp lực học tập, căng thẳng về tương lai, và sự cạnh tranh trong việc tìm
kiếm cơ hội nghề nghiệp sau này.
Hiểu rõ hơn về nguyên nhân và yếu tố xã hội ảnh hưởng đến hành vi sử dụng
ma túy trong sinh viên không chỉ giúp chúng ta nhìn nhận rõ hơn về vấn đề này lOMoAR cPSD| 59691467
mà còn hỗ trợ trong việc xây dựng các chiến lược và chính sách hiệu quả để giảm
thiểu rủi ro và hỗ trợ sinh viên trong việc đối phó với các thách thức này. Mặt
khác, việc nghiên cứu về vấn đề này cũng giúp nâng cao nhận thức và sự nhạy
cảm của cộng đồng với những vấn đề sức khỏe tâm thần và vấn đề xã hội khác.
Chính vì lẽ đó, lựa chọn đề tài “ Các yếu tố xã hội ảnh hưởng đến hoạt động thực
hiện pháp luật về phòng chống tệ nạn ma túy và các chất gây nghiện ( qua khảo
sát sinh viên trường đại học luật Hà Nội ) ” là sự kết hợp giữa việc đáp ứng nhu
cầu nghiên cứu trong lĩnh vực sức khỏe tâm thần và cũng là một đóng góp tích
cực cho sự phát triển của xã hội.
2. Mục đích, nhiệm vụ và nghiên cứu của đề tài
a. Mục đích nghiên cứu
Mục đích của nghiên cứu là đề xuất các biện pháp cụ thể để cải thiện hiệu quả của
hoạt động thực hiện pháp luật trong việc phòng chống ma túy và các chất gây
nghiện trong cộng đồng sinh viên trường Đại học Luật Hà Nội.
b. Nhiệm vụ nghiên cứu
Nhiệm vụ của nghiên cứu là phân tích các yếu tố xã hội ảnh hưởng đến hoạt
động thực hiện pháp luật về phòng chống ma túy và các chất gây nghiện trong
cộng đồng sinh viên trường Đại học Luật Hà Nội. Cụ thể, nghiên cứu sẽ tập trung
vào việc đánh giá tình trạng kinh tế, môi trường gia đình, áp lực từ bạn bè và xã
hội, cũng như nhận thức và kiến thức về ma túy và các chất gây nghiện của sinh
viên. Đồng thời, nhiệm vụ cũng bao gồm đề xuất các biện pháp cụ thể để cải thiện
hiệu quả của hoạt động thực hiện pháp luật trong việc phòng chống ma túy và các
chất gây nghiện trong cộng đồng sinh viên trường Đại học Luật Hà Nội.
3. Giả thuyết nghiên cứu
Hiện nay, không những sinh viên trường Đại học Luật Hà Nội mà sinh viên
của các ngôi trường khác cũng đang phải đối mặt với một tình trạng phức tạp liên
quan đến ma túy và các chất gây nghiện. Tình trạng này không chỉ bao gồm việc
tiếp xúc trực tiếp với các loại chất gây nghiện mà còn phản ánh qua sự lan rộng
của văn hóa tiêu dùng ma túy trong các cộng đồng sinh viên trên toàn quốc. 4.
Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp nghiên cứu chung: phương pháp nghiên cứu lý luận, phươngpháp
thống kê và phân tích số liệu.
- Đối tượng của khảo sát: sinh viên trường đại học Luật Hà Nội. lOMoAR cPSD| 59691467
- Hình thức khảo sát: khảo sát online thông qua phiếu khảo sát được thiết lậpqua ứng dụng google form.
- Phương pháp thu thập thông tin: Anket.
5. Chọn mẫu điều tra
- Phương pháp chọn mẫu: lấy mẫu ngẫu nhiên
- Người tham gia trả lời bảng hỏi: sinh viên trường Đại học Luật Hà Nội
- Số lượng phiếu phát ra: 100 phiếu
- Số lượng phiếu thu về: 100 phiếu- Cách xử lý thông tin thu được:
+ Ý kiến phản hồi được thu thập online.
+ Phân tích và tổng hợp số lượng ý kiến trong mỗi câu hỏi, từ đó xác định tỷ lệ
câu trả lời, trình bày dưới dạng bảng và biểu đồ để làm báo cáo. B. NỘI DUNG
1. Một số vấn đề lý luận liên quan đến hoạt động thực hiện pháp luật về
phòng chống tệ nạn ma túy và các chất gây nghiện
1.1. Các khái niệm cơ bản liên quan
Thực hiện pháp luật là hoạt động có mục đích nhằm thực hiện hóa các quy
định của pháp luật làm cho chúng đi vào cuộc sống, trở thành những hành vi thực
tế hợp pháp của các chủ thể pháp luật.
Ma túy là các chất hóa học tự nhiên hay tổng hợp khi được đưa vào cơ thể sẽ làm
thay đổi cấu trúc hay những liên kết trong cơ thể dẫn đến những thay đổi về mặt sinh lý
và tâm lý. Một số loại ma túy hiện nay gồm ma túy đá, heroin, cần sa, thuốc lắc,...
Chất gây nghiện là chất kích thích hoặc ức chế thần kinh hoặc gây ảo giác, nếu sử
dụng nhiều lần có thể dẫn tới tình trạng nghiện đối với người sử dụng. Chất gây nghiện
bao gồm rượu, heroin, cần sa, ma túy,...
Tệ nạn ma túy là việc sử dụng trái phép chất ma túy, nghiện ma túy và các hành vi
vi phạm pháp luật về ma túy mà chưa đến mức hoặc không bị truy cứu trách nhiệm hình sự
Phòng chống tệ nạn ma túy và các chất gây nghiện là phòng ngừa, ngăn chặn,
đấu tranh chống tội phạm và tệ nạn ma túy; kiểm soát các hoạt động hợp pháp liên quan
đến ma túy và các chất gây nghiện. lOMoAR cPSD| 59691467
1.2. Nội dung pháp luật liên quan đến hoạt động thực hiện pháp luật về
phòng chống tệ nạn ma túy và các chất gây nghiện
- Luật phòng, chống ma túy năm 2021
- Nghị định 105/2021/NĐ-CP quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một sốđiều
của Luật phòng, chống ma túy
- Nghị định 57/2022/NĐ-CP quy định các danh mục chất ma túy và tiền chất
- Nghị định 05/2003/NĐ-CP về hợp tác quốc tế trong lĩnh vực phòng, chống matúy
2. Thực trạng của vấn đề nghiên cứu
Trước tiên, để khảo sát về sự hiểu biết của các bạn sinh viên về vấn đề phòng
chống ma túy và các chất gây nghiện, nhóm chúng tôi đã đặt ra câu hỏi: “ Bạn có
biết gì về ma túy và các chất gây nghiện không ?” và thu được lại kết quả như sau:
Có 97 câu trả lời trong tổng số 100 phiếu thu về chọn đáp án “Có”
Có 3 câu trả lời trên tổng số 100 phiếu thu về chọn đáp án “Không”
Biểu đồ thể hiện ý kiến của sinh viên về hiểu biết ma túy và các chất gây nghiện
Từ số liệu thống kê trên cho thấy, tỉ lệ sinh viên biết về ma túy và các chất
gây nghiện hiện nay chiếm đa số trong số sinh viên được hỏi. Điều này chứng tỏ,
hầu hết các bạn sinh viên hiện nay đều có những hiểu biết nhất định về ma túy và
các chất gây nghiện ấy, Mặc dù đấy là câu hỏi nhận thức khá đơn giản nhưng vẫn
còn có 3 câu trả lời chọn “Không” ( chiếm 3% số lượng sinh viên tham gia khảo sát).
Tiếp theo, nhóm đưa ra câu hỏi để tìm hiểu sinh viên biết đến ma túy và các
chất gây nghiện qua những nguồn nào: “Bạn biết tới ma túy và các chất gây nghiện
qua những nguồn nào?” lOMoAR cPSD| 59691467
Biểu đồ thể hiện những nguồn thông tin sinh viên biết tới ma túy và các chất gây nghiện
Đa số các bạn sinh viên biết tới chất ma tý và các chất gây nghiện thông qua
các phương tiện truyền thông chiếm tỉ lệ 84%. Các phương tiện truyền thông là
những nguồn thông tin phổ biến, đáng tin cậy do vậy không quá ngạc nhiên khi
đa số sinh viên chọn những kênh thông tin này để tìm hiểu. Ngoài ra, tỉ lệ sinh
viên tìm hiểu từ gia đình, người thân, bạn bè và các văn bản pháp luật của nhà
nước và quốc tế lần lượt chiếm 32% và 16%. Tuy nhiên, có 3% trong số lượt lựa
chọn không biết mình biết tới ma túy và các chất gây nghiện từ đâu.
Biểu đồ thể hiện độ hiểu biết của sinh viên về ma túy và các chất gây nghiện
gồm những loại gì
Phần lớn sinh viên được hỏi đều lựa chọn tất cả các trên nêu trên đều là những
loại ma túy và chất gây nghiện (chiếm 98%). Bên cạnh đó 2% sinh viên có lựa
chọn khác về vấn đề này. lOMoAR cPSD| 59691467
Biểu đồ thể hiện mức độ phổ biến sử dụng ma túy và các chất gây nghiện tại VN hiện nay
Với câu hỏi: “Theo bạn thì mức độ phổ biến sử dụng ma túy và các chất gây
nghiện tại VN hiện nay đang ở mức nào?”, phần lớn sinh viên đã lựa chọn mức
độ bình thường (chiếm 62%). Hiện nay tại Việt Nam mức độ phổ biến của ma túy
và các chất gây nghiện tại Việt Nam vẫn đang ở mức cao, gây ảnh hưởng nghiêm
trọng đến đời sống xã hội. Cần có sự chung tay góp sức của toàn xã hội để đẩy lùi
tệ nạn ma túy, bảo vệ sức khỏe cộng đồng.
Biểu đồ thể hiện nhóm tuổi có xu hướng sử dụng nhiều ma túy và các chất gây nghiện
Dựa vào biểu đồ trên, có thể thấy nhóm tuổi 18-24 tuổi và 25-30 tuổi là nhóm
có xu hướng sử dụng nhiều ma túy và các chất gây nghiện (lần lượt chiếm 48%
và 60%). Thanh thiếu niên và thế hệ trẻ là nhóm đối tượng dễ bị tổn thương bởi
ma túy và các chất gây nghiện. Điều này có thể do nhiều nguyên nhân bao gồm:
tâm lý tò mò thích khám phá, những căng thẳng học tập, công việc hoặc những
mẫu thuận từ gia đình, xã hội có thể khiến họ tìm đến ma túy như một cách giải
thoát. Bên cạnh đó, có một số yếu tố như kỹ năng sống do chưa được trang bị đầy lOMoAR cPSD| 59691467
đủ kiến thức và kỹ năng sống cần thiết để phòng chống tác hại của ma túy, từ đó
dễ bị lôi kéo, dụ dỗ vào con đường nghiện ngập hoặc do môi trường xung quanh,
việc tiếp xúc với những người sử dụng ma túy và sống trong môi trường tệ nạn xã
hội cũng là một nguy cơ khiến họ dễ sa vào con đường nghiện ngập.
Theo như dữ liệu thu về, có thể thấy rõ rằng phần đông các bạn được khảo
sát cho rằng chất hướng thần phổ biến nhất gồm: ma túy, thuốc phiện, cần sa,
heroin, cocain và thuốc lắc (chiếm nhiều %). Các chất còn lại như: nicotin, bóng
cười,...chiếm số ít. Như vậy chúng ta có thể thấy, các chất hướng thần gây nghiện
phổ biến gây ảnh hưởng vô cùng lớn tới sức khỏe, tính mạng, tài sản và hạnh phúc
gia đình. Điều đó cho thấy rằng phần lớn người tham gia khảo sát có hiểu biết về
các chất hướng thần gây nghiện hiện nay.
Qua khảo sát cho thấy phần đông người tham gia khảo sát có quan tâm đến
thực trạng của việc sử dụng ma túy và các chất hướng thần gây nghiện (chiếm
89,1%). Điều này chứng tỏ, hầu hết các bạn sinh viên hiện nay đều quan tâm và
có những hiểu biết nhất định về vấn nạn này. Mặc dù đây là câu hỏi nhận thức khá
đơn giản nhưng vẫn có một số ít câu trả lời chọn “Không” (chiếm 10,9% số lượng
sinh viên tham gia khảo sát). lOMoAR cPSD| 59691467
Với câu hỏi về độ tuổi sử dụng, phần lớn sinh viên đã lựa chọn phương án độ
tuổi từ 18-24 (78%), đạt mức cao nhất trong số các độ tuổi. Tiếp sau đó, độ tuổi
11-17 và 25-30 chiếm tỷ lệ tương đương nhau (30,4% và 47,8%) và còn lại chiếm
tỷ lệ thấp. Lý giải vấn đề trên xuất phát từ nhu cầu của từng độ tuổi. Điều đó chứng
tỏ bộ phận người dùng vẫn chưa nhận thức được tính nguy hiểm và nguy cơ tiềm ẩn sau này.
Khảo sát về nguyên nhân làm bùng nổ tệ nạn ma túy và các chất hướng thần
được trả về như sau: Đa số sinh viên lựa chọn nguyên nhân là do “Nhận thức của
người dân về tác hại của ma túy và các chất hướng thần” chiếm 84,8%. Kế tiếp là
“Thất nghiệp” chiếm 43,5%, “Bị người khác lôi kéo” chiếm 58,7%. Số ít sinh viên
còn lại lựa chọn “Lớp trẻ thích thể hiện bản thân” (2,2%). Vậy nên ngày nay, nhà
trường cũng như phụ huynh cần tuyên truyền, phổ biến và có biện pháp ngăn chặn
kịp thời để học sinh, sinh viên không sa vào lưới tệ nạn. lOMoAR cPSD| 59691467
Khi được hỏi về các khó khăn gặp phải khi thực hiện phòng chống ma túy và
các chất hướng thần gây nghiện, sinh viên thực hiện khảo sát đã lựa chọn “Hình
thức tội phạm ngày càng tinh vi và nâng cao” với 39,1%. Sau đó là “Ý thức của
người dân chưa được cao” và “Áp lực cuộc sống khiến con người tìm đến những
thú vui không lành mạnh” lần lượt là 28,3% và 26,1%. Lựa chọn ít nhất là “các
biện pháp xử lý còn nhẹ nhàng chưa đủ sức răn đe” chiếm 6,5%. Điều đó cho thấy
chúng ta cần thường xuyên phổ cập kiến thức để nâng cao nhận thức và tinh thần
chống lại của người dân.
Với câu hỏi về biểu hiện, dấu hiệu của người đang nghiện ma túy và các chất
hướng thần gây nghiện , 84,8% chọn người gầy gò, xanh xao, mắt trắng môi thâm
là 67,4%, 76,1% chọn uể oải,lờ đờ, 73,9% chọn sức khỏe giảm sút rõ rệt, 45,7%
chọn sùi bọt mép,co giật. Qua đó thể hiện sinh viên trường Đại học
Luật Hà Nội đã được trang bị các kiến thức, kĩ năng về phòng chống ma túy, phần
lớn sinh viên đã có nhận thức rõ và sự hiểu biết về các dấu hiệu của người có dấu
hiệu nghiện ma túy và các chất hướng thần gây nghiện. lOMoAR cPSD| 59691467
Với 43,5% chọn ngăn cản và 78,3% báo cáo sự việc cho cơ quan chức năng,
chỉ 8,7% chọn không làm gì và 6,5% ủng hộ, tham gia cùng cho thấy sinh viên
nhận thức rất rõ về trách nhiệm của người công dân và đặc biệt là sinh viên trường
Đại học Luật Hà Nội về tác hại của ma túy ảnh hưởng đễn xã hội là vô cùng to
lớn, phải có hành vi ngăn chặn kịp thời chấm dứt các hoạt động tệ nạn nguy hiểm.
Như vậy, nhìn vào biểu đồ ta thấy mức độ thực hiện pháp luật về phồng chống ma
túy, chất gây nghiện của sinh viên trường Đại học Luật Hà Nội hiện nay rất cao. Cụ thể
có đến (62%) sinh viên đánh giá mức độ thực hiện pháp luật về phồng chống ma túy,
chất gây nghiện là “Rất cao”. Và chỉ có (2%) sinh viên đánh giá là “Bình thường”. Điều
này cho thấy sinh viên trường Đại học Luật Hà Nội có ý thức rất cao trong việc phồng
chống ma túy, chất gây nghiện. Nhà trường đã có nhiều biện pháp hiệu quả trong việc
tuyên truyền, giáo dục và quản lý sinh viên về vấn đề này. lOMoAR cPSD| 59691467
Dựa vào biểu đồ, ta thấy số lượng sinh viên Trường Đại học Luật Hà Nội đánh giá
các biện pháp phòng chống ma túy và chất gây nghiện hiện nay là rất cần thiết. Có đến
(87%) sinh viên đánh giá các biện pháp phòng chống ma túy và chất gây nghiện là “Rất
cần thiết” và không có sinh viên nào đánh giá “Rất không cần thiết”. Kết quả cho thấy
sinh viên trường Đại học Luật Hà Nội đánh giá khá cao về hiệu quả của các biện pháp
phòng chống ma túy và chất gây nghiện hiện nay được thực hiện tại trường.
Về việc yêu cầu của các sinh viên đối với trách nhiệm của nhà trường và các cơ sở
giáo dục khác trong việc phòng chống ma túy và các chất gây nghiện cho học sinh, sinh
viên, chúng ta có thể thấy được sự đa dạng từ quan điểm của mỗi cá nhân là rất đa dạng.
Các yêu cầu do chúng tôi đề xuất đều có được sự quan tâm nhất định, cùng với sự phân
bổ rất đều tới từ 4 phương án. Đặc biệt có thể kể đến là việc “ Phối hợp với cơ quan y tế
và chính quyền địa phương tổ chức xét nghiệm, rà soát” chiếm tới 32% và “Tổ chức
thực hiện chương trình tuyên truyền giáo dục về phòng, chống ma túy và các chất gây lOMoAR cPSD| 59691467
nghiện” chiếm đến 30%, cho thấy có một sự quan tâm đặc biệt hơn “ một chút “ tới cơ
quan tuyên truyền và chính quyền địa phương, chứng tỏ rằng với quan điểm của mọi
người thì các cơ quan này cũng cần phải phát huy tốt hơn nữa chức năng của chính mình
để có thể đóng góp cho công cuộc phòng chống ma túy và các chất gây nghiện.
Về vấn đề biện pháp phòng chống tệ nạn ma túy và các chất gây nghiện, có thể
nhận thấy biện pháp được mọi người lựa chọn nhiều nhất là “ Tạo công ăn việc làm,
khích lệ những thanh niên thất nghiệp “ lên tới 52%. Có thể thấy trong thực tế hiện nay,
các đối tượng nghiện ma túy và các chất gây nghiện khác đa số là các thanh niên thất
nghiệp, không có công ăn việc làm, điều đó tạo ra sự chán nản, bất an, càng là tiền đề
cho việc dễ bị dẫn dắt vào các tệ nạn xã hội và dần dần là tới với các chất gây nghiện.
Việc tạo việc làm và khích lệ các thành phần xã hội này cũng là vô cùng quan trọng. Với
2 biện pháp tuyên truyền và răn đe cũng là hai phương pháp có lẽ đã quá quen thuộc rồi,
tuy hiệu quả không quả còn quá cao nhưng lại không thể thiếu được trong công cuộc
đẩy lùi ma túy cùng các chất gây nghiện khác.
Theo như dữ liệu thu về, có thể thấy rõ rằng phần đông các bạn được khảo sát cho
từ pháp luật về các chất gây nghiện còn lỏng lẻo là nhân tố gây nhiều ảnh hưởng nhất (
48% ) . Quả thật, pháp luật cũng là nhân tố rất quan trọng, đặc biệt hơn nữa là về thực
hiện pháp luật, nước ta đã rất nhiều lệnh cấm với ma túy với các chất gây nghiện, quy
định rất chặt chẽ, nhưng khe hở lại nằm ở ngay khâu thực hiện những quy định đó. Hiện
tượng “ ăn hối lộ “, buôn lậu thực sự là những điều chưa bao giờ ngừng gây nhức nhối
tại xã hội, đặc biệt là tại Việt Nam. Sau yếu tố rất quan trọng đó, chúng ta cũng cần phải
xét tới ý thức của mọi người ( 28% ) về ma túy và các chất gây nghiện, quả thực thì đây
là một nhân tố gắn liền với yếu tố nói trên, bởi lẽ nếu ý thức của người dân cao thì cũng
đồng nghĩa với việc thực hiện pháp luật tốt, từ đó cùng liên quan mật thiết tới nhân tố
giáo dục (24%). Như vậy chúng ta có thể thấy, các nhân tố phổ biến gây ảnh hưởng tới
hoạt động thực hiện phòng chống ma túy và chất gây nghiện luôn có mối quan hệ mật
thiết với nhau, cùng đời hỏi các cơ quan ban ngành phải liên kết lại thì mới đem lại được hiệu quả tốt nhất.
Biểu đồ trên đã thể hiện rõ những giải pháp cho việc giảm thiểu tệ nạn sử dụng ma
túy và các chất gây nghiện của sinh viên đề ra, trong đó mục “Tuyên truyền vận động”
được sinh viên đề cử nhiều nhất với số liệu là (58%). Từ đó ta có thể biết được sinh viên
tin tưởng vào việc “Tuyên truyền vận động” bởi nó mang tính rộng rãi và phổ biến, có
tính chất nhẹ nhàng nhưng vô cùng hiệu quả, cùng là giải pháp không thể thiếu trong bất
kì hoạt động xã hội nào. lOMoAR cPSD| 59691467
3. Các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động thực hiện pháp luật
Các yếu tố xã hội có thể ảnh hưởng đến việc thực hiện pháp luật bao gồm
văn hóa, giáo dục, kinh tế, chính trị, và hệ thống pháp luật của một quốc gia. Điều
này có thể bao gồm sự phát triển của các giá trị dân chủ, mức độ tin tưởng vào hệ
thống pháp luật, và khả năng tiếp cận công lý cho tất cả các tầng lớp trong xã hội
3.1. Văn hóa và đời sống
Mức độ tôn trọng pháp luật và tuân thủ của một xã hội thường phản ánh trong
văn hóa và giáo dục. Nền văn hóa và đời sống là các phong tục, tín ngưỡng, tập
quán, lối sống thành thị, nông thôn, … thể hiện bằng những hoạt động thường
nhật, thói quen sinh hoạt chung của người dân đây là yếu tố quan trọng, trực tiếp
thể hiện ý chí, nguyện vọng của nhân dân và thường được phản ánh qua dư luận
xã hội có thể ảnh hưởng tích cực hoặc tiêu cực đến cách mà mọi người đánh giá
về tính công bằng của pháp luật.
Dư luận xã hội có tác động mạnh mẽ đến hoạt động thực hiện pháp luật. Dư
luận xã hội gắn liền với ý chí cộng đồng của nhóm xã hội mà nó tác động mạnh
mẽ đến suy nghĩ và hành động của các cá nhân. Trong một chừng mực nhất định
người ta có thể không sợ sự trừng phạt của pháp luật nhưng lại tỏ ra e ngại, dè
chừng trước làn sóng dư luận. Dưới áp lực của dư luận xã hội, mỗi người luôn
phải xem xét, suy nghĩ, kiểm định trước khi thực hiện một hành vi pháp luật nào
đó. Những câu hỏi phải được đặt ra về cái đúng, cái sai, nên hay không nên… Nhờ
đó, ý thức tôn trọng, tuân thủ pháp luật trong mỗi chủ thể cũng được nâng lên một bước. 3.2. Kinh tế
Kinh tế là yếu tố đặc biệt quan trọng, chi phối tất cả các yếu tố khác làm ảnh
hưởng đến việc thực hiện pháp luật. Tình hình kinh tế ảnh hưởng đến sự phát triển
và tuân thủ của pháp luật. Kinh tế mạnh, ổn định làm người dân có mức thu nhập
tốt từ ấy mức sống của họ mới tăng lên và các vấn đề khác về mặt chính trị, văn
hoá, pháp luật, an toàn xã hội… mới được đảm bảo xã hội ngày càng phát triển,
đời sống văn minh, tiến bộ.
Khi kinh tế phát triển, đời sống tinh thần, vật chất được cải thiện, các cán bộ,
công chức Nhà nước, các tầng lớp nhân dân có điều kiện mua sắm các phương
tiện nghe, nhìn, có điều kiện thỏa mãn các nhu cầu thông tin pháp luật đa dạng
và cập nhật. Các chương trình phổ biến, giáo dục pháp luật sẽ dễ dàng đến được
với đông đảo cán bộ và nhân dân; nhu cầu tìm hiểu, trang bị thông tin, kiến thức
pháp luật trở thành nhu cầu tự giác, thường trực trong suy nghĩ và hành động của
họ. Điều đó giúp cho hoạt động thực hiện pháp luật của các chủ thể mang tính tự
giác, tích cực. Từ đó tác động tích cực hơn tới ý thức pháp luật và hành vi thực
hiện pháp luật của các chủ thể trong các hoạt động sản xuất, kinh doanh, sinh hoạt và tiêu dùng. lOMoAR cPSD| 59691467
Việc thực hiện chính sách xã hội, đảm bảo các nguyên tắc của công bằng xã
hội là điều kiện cần thiết cho sự ổn định chính trị, tăng cường pháp chế và đoàn
kết mọi tầng lớp nhân dân trong xã hội; củng cố ý thức của con người về cái chung
trong các lợi ích, lý tưởng của họ, khơi dậy thái độ tích cực của quần chúng đối
với việc tham gia quản lý Nhà nước, quản lý xã hội bằng pháp luật; nhờ đó ý thức
tôn trọng, chấp hành pháp luật cũng được nâng lên một bước và việc thực hiện
pháp luật của các chủ thể trở nên tự giác và chủ động hơn.
3.3. Chính trị
Một quốc gia có nền chính trị ổn định là một quốc gia có đủ điều kiện để xây
dựng và đảm bảo hoạt động thực hiện pháp luật diễn ra một cách thống nhất, đồng
bộ. Trong suốt chiều dài lịch sử, Đảng cộng sản Việt Nam đã thể hiện được tầm
vóc vĩ đại bằng việc đề ra những chủ trương, đường lối, sạch lược vừa đáp ứng
nhu cầu thực tiễn, vừa tạo đà cho công cuộc phát triển sau này. Nâng cao ý thức
chính trị và đề cao vai trò lãnh đạo của Đảng là sự không thể thiếu trong một nhà
nước Dân chủ cộng hoà như nước ta. Sự vận hành của hệ thống pháp luật trên các
phương tiện xây dựng, thực hiện pháp luật luôn được đặt dưới sự lãnh đạo của
Đảng cộng sản Việt Nam. Đảng ta nhận thức sâu sắc rằng muốn xây dựng được
một bộ máy nhà nước trong sạch, vững mạnh vận hành trên các cơ sở nguyên tắc,
quy định của pháp luật thì vấn đề thực hiện pháp luật một cách nhất quán, nghiêm
chỉnh từ phía cán bộ, đảng viên và nhân dân phải được đặt lên vị trí hàng đầu.
Muốn cho pháp luật được tôn trọng và thực hiện nghiêm túc thì cán bộ, Đảng viên
phải là những người đi trước, tiên phong, gương mẫu thực hiện và có “năng lực
tổ chức và vận động nhân dân thực hiện đường lối của Đảng , pháp luật của Nhà
nước, công tâm, thạo việc, tận tụy với nhân dân, biết phát huy sức dân”. 3.4 Yếu tố pháp luật
Pháp luật là tổng thể các yếu tố tạo nên đời sống pháp luật của xã hội ở từng
giai đoạn nhất định bao gồm hệ thống pháp luật, các quan hệ pháp luật… Bản thân
pháp luật được sinh ra là để điều chỉnh các quan hệ xã hội là cơ sở để các chủ thể
thực hiện pháp luật. Song chính các mặt, khía cạnh khác nhau của các chuẩn mực
pháp luật cũng có ảnh hưởng nhất định đến hoạt động thực hiện pháp luật.
Văn hóa pháp luật thể hiện ra trong đời sống pháp luật thông qua quá trình
thực hiện pháp luật. Giữa văn hóa pháp luật và hoạt động thực hiện pháp luật có
mối liên hệ chặt chẽ với nhau. Văn hóa pháp luật là cơ sở, nền tảng, khuôn mẫu
tư duy và chuẩn mực hành vi của hoạt động thực hiện pháp luật, có định hướng
đúng đắn. Ngược lại, hoạt động thực hiện pháp luật có tác dụng bổ sung làm phong
phú thêm cho các giá trị chuẩn mực của văn hóa pháp luật.
Các yếu tố truyền thống cũng có ảnh hưởng không nhỏ đối với hoạt động
thực hiện pháp luật trong giai đoạn hiện tại. Sự quản lý Nhà nước bằng pháp luật
là nhằm khắc phục tính thiển cận, cục bộ trong quá trình phát triển, sản xuất, xây
dựng làng xã trên các lĩnh vực kinh tế – xã hội. Thông qua pháp luật, Nhà nước lOMoAR cPSD| 59691467
nhắc nhở, duy trì mọi nghĩa vụ của người dân và làng xã đối với Nhà nước và xã
hội. Trong quá trình phát triển Nhà nước thừa nhận làng có lệ riêng của mình sao
cho không trái với nguyên tắc quy định của pháp luật. Hệ thống tự quản chủ yếu
dựa vào dư luận xã hội, uy tín của các vị chức sắc và đặc biệt vai trò của lệ làng.
Cần kết hợp cả hai hình thức quản lý này trong hoạt động thực hiện pháp luật.
Ý thức, niềm tin đối với pháp luật của con người có ảnh hưởng quan trọng
tới việc thực hiện pháp luật. Bởi lẽ, nếu thiếu sự tin tưởng vào pháp luật, không
có niềm tin vững chắc vào tính công bằng và nghiêm minh của pháp luật…thì việc
thực hiện pháp luật không thể tốt và chặt chẽ được. Các yếu tố như sự phân biệt
đối xử, tham nhũng, và khả năng tiếp cận hệ thống pháp luật có thể ảnh hưởng
đến sự tin tưởng và tuân thủ của người dân từ ấy việc thực hiện pháp luật không được bảo đảm.
Sự hoạt động của các cơ quan chức năng trong việc thực hiện pháp luật có
tác động quan trọng đến việc hoạt động thực hiện pháp luật. Sự can thiệp của các
cơ quan chức năng nhằm đảm bảo cho pháp luật được tôn trọng và thực hiện mỗi
khi xảy ra vi phạm pháp luật, tranh chấp là cần thiết, đúng đắn.
4. Một số giải pháp trong hoạt động thực hiện pháp luật
Số lượng sử dụng ma tuý và các chất gây nghiện trong xã hội nhất là giới trẻ
ngày nay đang có xu hướng tăng lên do đó cần nâng cao ý thức của tất cả mọi
người trong xã hội để nâng cao ý thức, nhận biết, hiểu rõ tác hại của ma tuý và
các chất gây nghiện trong cộng đồng . Để nâng cao ý thức xã hội trong hoạt động
thực hiện pháp luật về phòng chống các tệ nạn ma tuý và các chất gây nghiện cần những giải pháp sau:
Thứ nhất, tăng cường công tác lãnh đạo, chỉ đạo; nâng cao hiệu lực, hiệu quả
quản lý nhà nước về phòng, chống ma túy, các chất gây nghiện trong thanh, thiếu
niên. Coi phòng, chống ma túy, các chất gây nghiện là nội dung quan trọng, cấp
bách trong tổng thể chiến lược quốc gia trong việc phòng chống. Kết hợp chặt chẽ
giữa phòng và chống; lấy phòng ngừa là chính, coi trọng phòng ngừa ngay từ gia
đình, cơ sở giáo dục, tổ dân phố, khu dân cư, xã, phường, thị trấn.
Thứ hai, hoàn thiện hệ thống chính sách, pháp luật về phòng, chống ma túy,
các chất gây nghiện trong thanh, thiếu niên. Thường xuyên nghiên cứu, chủ động
nắm tình hình, nhận diện xu hướng thanh, thiếu niên sử dụng trái phép các chất
ma túy, chất gây nghiện, chất hướng thần mới để kịp thời bổ sung vào danh mục
chất ma túy và tiền chất để quản lý. Nghiên cứu sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện quy
định pháp luật về an toàn thực phẩm.
Thứ ba, tích cực tuyên truyền, giáo dục phòng, chống trong thanh, thiếu niên.
Trong đó, tập trung tuyên truyền, giáo dục, nâng cao nhận thức pháp luật về phòng,
chống ma túy,chất gây nghiện khác, cảnh báo trực diện cho thanh, thiếu niên, học lOMoAR cPSD| 59691467
sinh, sinh viên và phụ huynh về hậu quả, tác hại, hiểm họa của ma túy. Phương
thức, thủ đoạn lôi kéo thanh, thiếu niên tham gia vào hoạt động phạm tội và tệ nạn
ma túy; cách thức nhận biết, kỹ năng phòng ngừa, chủ động tham gia tố giác và
cung cấp thông tin về tội phạm, tệ nạn ma túy cho cơ quan chức năng. Tổ chức
tuyên truyền cá biệt tập trung vào nhóm đối tượng có nguy cơ cao như thanh, thiếu
niên sau cai nghiện ma túy, không có công ăn việc làm, có tiền án, tiền sự; học
sinh, sinh viên cá biệt; thanh, thiếu niên vùng dân tộc thiểu số, khu vực biên giới,
miền núi, vùng sâu, vùng xa; thanh, thiếu niên có hoàn cảnh đặc biệt khác.
Thứ tư, nâng cao hiệu quả công tác cai nghiện ma túy; điều trị nghiện ma túy;
quản lý chặt chẽ thanh, thiếu niên sử dụng trái phép chất ma túy, nghiện ma túy
và các chất gây nghiện, quản lý, hỗ trợ thanh, thiếu niên sau cai nghiện tái hòa nhập cộng đồng.
Thứ năm, đẩy mạnh công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm và vi phạm
pháp luật về ma túy, buôn bán các chất gây nghiện. Các lực lượng chuyên trách
thường xuyên nắm, phân tích, đánh giá, nhận diện, dự báo chính xác tình hình tội
phạm và vi phạm pháp luật về ma túy, các chất gây nghiện. Tổ chức triển khai
đồng bộ các biện pháp nghiệp vụ nhằm kịp thời phát hiện, đấu tranh triệt phá các
đường dây, tổ chức, băng nhóm, điểm, tụ điểm phức tạp liên quan đến thanh, thiếu
niên, nhất là các hoạt động ma túy “núp bóng”; hoạt động mua bán, tổ chức sử
dụng trái phép chất ma túy trong các cơ sở kinh doanh có điều kiện và dịch vụ
nhạy cảm về an ninh trật tự; hoạt động mua bán, vận chuyển, lôi kéo, tổ chức sử
dụng trái phép chất ma túy, các chất gây nghiện liên quan đến không gian mạng. C. KẾT LUẬN
Dựa trên khảo sát sinh viên Trường Đại học Học luật Hà Nội về việc làm rõ các
yếu tố xã hội ảnh hưởng đến hoạt động thực hiện pháp luật về phòng chống tệ nạn
ma túy và các chất gây nghiện, có thể nhận thấy rằng việc đối mặt với vấn đề này
đòi hỏi sự chú ý đến cả mặt cá nhân và mặt xã hội. Môi trường học tập và xã hội
tạo ra áp lực lớn đối với sinh viên, khi họ phải đối mặt với nhiều yếu tố căng thẳng
như cạnh tranh trong việc học tập, sự mong đợi từ gia đình và xã hội, cùng với
những thách thức về tương lai nghề nghiệp. Trong bối cảnh này, ma túy và các
chất gây nghiện có thể trở thành một cách để giải tỏa stress và tìm kiếm sự thoải
mái, đặc biệt là đối với một số sinh viên cảm thấy bị áp đặt. Tuy nhiên, để giải
quyết vấn đề này, cần có sự hỗ trợ và hướng dẫn từ mọi phía. Gia đình, trường
học, cộng đồng và các tổ chức xã hội cần hợp tác với nhau để cung cấp cho sinh lOMoAR cPSD| 59691467
viên một môi trường an toàn và lành mạnh. Ngoài ra, việc tăng cường nhận thức
và kiến thức về tác động của ma túy và các chất gây nghiện là quan trọng để ngăn
chặn và giảm thiểu sự lây lan của tệ nạn này. Bằng cách kết hợp cả các biện pháp
phòng chống tệ nạn và các biện pháp hỗ trợ xã hội, chúng ta có thể xây dựng một
cộng đồng sinh viên mạnh mẽ và tự tin, giúp họ phát triển tốt hơn không chỉ về
mặt cá nhân mà còn về mặt xã hội. Điều này là cơ sở để bảo vệ tương lai của sinh
viên và đóng góp vào sự phát triển bền vững của cả xã hội.
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Giáo trình Xã hội học pháp luật - Trường Đại học Luật Hà Nội, Nxb. Tư Pháp, Hà Nội, 2022.
2. Luật phòng, chống ma túy 2021 số 73/2021/QH14
3. Nghị định 105/2021/NĐ-CP quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một sốđiều
của Luật phòng, chống ma túy
4. Nghị định 57/2022/NĐ-CP quy định các danh mục chất ma túy và tiền chất
5. Nghị định 05/2003/NĐ-CP về hợp tác quốc tế trong lĩnh vực phòng, chốngma túy
6. https://www.vietnamplus.vn/tinh-hinh-toi-pham-ma-tuy-dien-bien-phuc-
taptrong-nam-2023-post894064.vnp