





Preview text:
Phân tích nghệ thuật tả cảnh trong Cảnh ngày
xuân chọn lọc hay nhất
Phân tích nghệ thuật tả cảnh trong Cảnh ngày xuân chọn lọc hay nhất - Mẫu số 1
Nguyễn Du, vị đại thi hào của dân tộc, đã ghi dấu tên mình trong lịch sử văn
hóa thế giới với tác phẩm "Truyện Kiều," kiệt tác vô song của văn học trung
đại Việt Nam. "Truyện Kiều" không chỉ là một tác phẩm văn học, mà còn là
một bức tranh to lớn về giá trị nhân đạo, một bản cáo trạng nghiêm túc về cái
ác và cái phản nhân bản, cũng như là một tập đạo thành của nghệ thuật văn chương.
Nếu xét về bút pháp miêu tả và gợi, Nguyễn Du đã đạt đến đỉnh cao chói lọi,
nhất là trong đoạn trích "Cảnh ngày xuân" thuộc phần I, "Gặp gỡ và đính
ước" của Thúy Kiều. Bằng cách sử dụng chấm pháp và miêu tả, ông đã vẽ
lên khung cảnh mùa xuân với sự hữu tình, hữu sắc, và hữu hương, tất cả
được thể hiện qua bốn câu thơ đầu:
"Ngày xuân con én đưa thoi,
Thiều quang chín chục đã ngoài sáu mươi."
Các câu thơ đầu tiên không chỉ gợi lên không khí mùa xuân mà còn mang
đến sự sống động thông qua hình ảnh "con én đưa thoi." Hình ảnh này không
chỉ là tả thực, mà còn chứa đựng ý nghĩa ẩn dụ về sự trôi chảy của thời gian
và mùa xuân đang qua đi nhanh chóng. Thiều quang làm nổi bật sự hồng
nhan của mùa xuân, tạo ra bức tranh phong phú với sự ấm áp của ánh nắng
xuân và sự rộn ràng của đất trời.
Bức họa tuyệt vời nhất của mùa xuân xuất hiện ở hai câu thơ tiếp theo:
"Cỏ non xanh tận chân trời,
Cành lê trắng điểm một vài bông hoa."
Nguyễn Du sử dụng một cách sáng tạo câu thơ cổ Trung Quốc, thể hiện màu
xanh của cỏ non trải dài đến chân trời. Sự lựa chọn từ "cỏ non" thay vì "cỏ
thơm" tô điểm màu sắc mùa xuân, với hình ảnh nhẹ nhàng, trong trẻo, và
thanh khiết. Việc sử dụng từ "điểm" làm nổi bật những bông hoa lê trắng nhỏ,
tạo ra điểm nhấn trên bức tranh và tăng cường vẻ đẹp của mùa xuân.
Những câu thơ tiếp theo gợi mở khung cảnh lễ hội mùa xuân trong tiết thanh minh:
"Thanh minh trong tiết tháng ba,
Lễ là tảo mộ hội là đạp thanh."
Nguyễn Du mô tả hình ảnh của lễ hội mùa xuân thông qua nhiều từ láy, từ
ghép và danh từ, động từ, tính từ, tạo ra một bức tranh đầy đủ về sự náo
nhiệt, đông đúc và phấn khích của lễ hội. Ông sử dụng những từ như "chị em,
yến anh, tài tử, giai nhân" để diễn đạt sự đa dạng và nhiều người tham gia.
Các động từ "sắm sửa, dập dìu" mô tả sự hồi hộp và náo nhiệt trong ngày lễ
hội. Bằng cách này, Nguyễn Du mô tả không chỉ cảnh đẹp mà còn tâm trạng
và sự sôi động của ngày xuân.
Cuộc vui của lễ hội cũng được miêu tả thông qua hình ảnh: "Gần xa nô nức yến anh,
Chị em sắm sửa bộ hành chơi xuân.
Dập dìu tài tử giai nhân,
Ngựa xe như nước áo quần như nêm."
Từ láy như "nô nức, sắm sửa, dập dìu" tạo nên không khí sôi động, vui tươi
của ngày xuân và hình ảnh của những người tham gia lễ hội. Bằng cách sử
dụng từ ngữ như "gần xa," Nguyễn Du làm nổi bật sự đồng lòng và phô
trương của những người tham gia. Hình ảnh "ngựa xe như nước, áo quần
như nêm" mô tả sự trang trí phô trương và đội mũ, áo cưới của tài tử và giai nhân.
Cuối cùng, Nguyễn Du miêu tả cảnh chị em Thúy Kiều du xuân trở về, với
tâm trạng thoáng buồn và hình ảnh trầm lặng của cuộc sống sau những ngày hội:
"Tà tà bóng ngả về tây,
Chị em thơ thẩn dang tay ra về.
Bước dần theo ngọn tiểu khê,
Lần xem phong cảnh có bề thanh thanh.
Nao nao dòng nước uốn quanh,
Dịp cầu nho nhỏ cuối ghềnh bắc ngang."
Nguyễn Du vẫn giữ được nét thanh nhã của mùa xuân trong cảnh vật, với
ánh nắng nhạt và khe nước nhỏ. Hình ảnh "dòng nước uốn quanh" thể hiện
sự nhẹ nhàng của mùa xuân và tâm trạng của con người. Tuy nhiên, sự lặng
lẽ và buồn bã của cuộc sống sau lễ hội được thể hiện qua "tà tà bóng ngả về
tây" và "chị em thơ thẩn dang tay ra về." Mặc dù cảnh vật vẫn là của mùa
xuân, nhưng tâm trạng của nhân vật đã thay đổi, tạo ra một bức tranh có sự
phức tạp và sâu sắc hơn.
Tổng cộng, qua đoạn trích "Cảnh ngày xuân," Nguyễn Du không chỉ miêu tả
cảnh thiên nhiên mùa xuân một cách tinh tế mà còn chạm vào tâm trạng và
tâm hồn con người trước vẻ đẹp của lễ hội và mùa xuân. Bằng cách này, ông
đã tạo ra một bức tranh phong phú, sống động, với những chi tiết tinh tế và
phong cách văn chương tài tình. Điều này chứng minh sự khéo léo và tầm
ảnh hưởng lâu dài của Nguyễn Du trong văn hóa Việt Nam.
Phân tích nghệ thuật tả cảnh trong Cảnh ngày xuân chọn lọc hay nhất - Mẫu số 2
Trong tác phẩm Truyện Kiều của Nguyễn Du, người ta có thể nhận thấy sự
khéo léo của ông trong việc sử dụng công nghệ thuật miêu tả để tạo ra những
bức tranh thiên nhiên phong phú, phản ánh đầy đủ bốn mùa với sự gợi cảm và trữ tình.
Một trong những lần nổi bật nhất là khi Nguyễn Du vẽ lên bức tranh thơ bất tử
về mùa xuân, nơi mà màu xanh tươi tắn của cỏ non hòa quyện với nét thanh
nhã của sắc trắng hoa lê. Trên bức tranh nền xuân êm đềm và mênh mông,
những trang giai nhân tuyệt sắc xuất hiện, tạo nên một hình ảnh tinh tế. Giai
nhân, tài tử, mùa xuân và tình yêu đôi lứa nảy nở, đưa đến cái đẹp cho cuộc
sống và làm phát triển cảm xúc thẩm mỹ của người yêu thơ Việt Nam qua
đoạn trích "Cảnh ngày xuân".
Xuân đã đến trong tháng ba, tiết thanh minh, cánh én rộn ràng trong nắng ấm.
Bức tranh mùa xuân tuyệt vời được tạo nên thông qua sự kết hợp tuyệt vời
giữa thảm cỏ xanh non vươn ra tận chân trời. Trên nền xanh mênh mông đó,
những cánh hoa lê trắng thanh nhã nở rộ. Màu sắc tinh khôi, trong trẻo, đầy
sức sống và gợi cảm, là nét đặc trưng của mùa xuân, làm cho bức tranh xuân đẹp đến mê hồn.
Tiếp theo là tám dòng tiếp theo mô tả khung cảnh lễ hội trong tiết Thanh minh.
Nét văn hóa tảo mộ độc đáo và giàu truyền thống trở thành một phần của tâm hồn con người.
Hội Đạp thanh hiện lên với nét thanh tao và gần gũi. Không gì tuyệt vời hơn là
dạo chơi trên cánh đồng quê khi cỏ non vươn dậy sau những cơn mưa xuân.
Mùi hương trầm từ những ngôi mộ kết hợp vào tâm hồn người du xuân, tạo
nên một không khí thiêng liêng khó tả.
Đoạn thơ giữ giá trị biểu cảm cao thông qua các danh từ như yến anh, chị em,
tài tử, giai nhân, tất cả đều "nô nức" sắm sửa, dập dìu đến phó hội. Các động
từ, danh từ và tính từ được sử dụng một cách phong phú, với từ láy nô nức,
gần xa, và hình ảnh "nô nức yến anh", đều tạo ra một không khí sôi động của
ngày xuân và tâm trạng phơi phới của người chơi xuân.
Điểm trên khung cảnh đó là những thoi vàng với tro tiền giấy bay, làm cho
khung cảnh trở nên sâu lắng hơn. Điều này làm nổi bật nét đẹp văn hóa
truyền thống và tính nhân văn trong tiết Thanh minh.
Sáu câu cuối cùng miêu tả cảnh chị em Kiều trở về nhà. Cảnh hiện ra lúc
chiều tàn, không còn nhộn nhịp nhưng trở nên lặng lẽ và buồn bã.
Các từ láy như "tà tà, thanh thanh, nao nao" biểu hiện sắc thái cảnh vật và
tâm trạng con người cũng "nao nao" như dòng nước. Phép nhân hoá độc đáo
khiến cho cảnh vật có vẻ như có tâm trạng.
Mặc dù cảm giác vui tươi của mùa xuân vẫn còn lâng lâng, tác giả đã châm
biếm một thoáng buồn qua hình ảnh "Nao nao dòng nước" và ngọn "tiểu khê"
thanh thanh, lành lạnh như tiên cảm cho một điều gì đó không lành, dự báo
một sự thay đổi khôn lường.
Với mười tám dòng thơ, tác giả đã tạo ra một bức tranh mùa xuân thanh nhã,
với những chi tiết tuyệt vời và nhuốm đầy tâm trạng con người, kết hợp giữa
sự chấm phá tuyệt vời và niềm đau tiềm ẩn.
Phân tích nghệ thuật tả cảnh trong Cảnh ngày xuân chọn lọc hay nhất - Mẫu số 3
Truyện Kiều của đại thi hào Nguyễn Du không chỉ là một kiệt tác của văn học
Việt Nam mà còn là một tác phẩm độc đáo và thu hút độc giả trong và ngoài
nước. Sự thành công của nó không chỉ đến từ khả năng phản ánh sâu sắc
hiện thực xã hội và giá trị nhân đạo mà còn xuất phát từ bút pháp nghệ thuật
tài tình của Nguyễn Du. Trong đó, nghệ thuật miêu tả thiên nhiên được coi là
một điểm đặc sắc, và chúng ta sẽ tìm hiểu về điều này qua đoạn trích "Cảnh ngày xuân".
Nguyễn Du đã tạo nên một bức tranh mùa xuân sống động và tươi mới trong
đoạn trích này. Bằng cách miêu tả con én như những chiếc "thoi", ông đã vẽ
lên hình ảnh của sự chảy trôi nhanh chóng, tương tự như chiếc thoi vẽ những
đường tơ mềm mại trên khung vải. "Thiều quang" rực rỡ như ánh sáng đỏ
hồng của mùa xuân, làm tăng thêm sự ấm áp cho không khí. Đoạn thơ tiếp
tục mô tả cảnh cỏ non xanh mướt mọc tận chân trời, cùng với bông hoa trắng của cây lê tinh khôi.
Nguyễn Du đã tận dụng hệ thống từ ngữ và hình ảnh để tạo nên bức tranh
sinh động về mùa xuân. Ánh sáng nhẹ nhàng, đàn én chao nghiêng bay lượn,
cỏ non mênh mông và hoa lê trắng tinh khôi, tất cả đều kết hợp để tạo nên
một không khí rộn ràng và tràn ngập sức sống.
Những câu thơ cuối cùng chuyển đổi không khí từ sự rộn ràng sang một tâm
trạng nhẹ nhàng buồn bã khi bóng tà của chiều buông xuống. Bức tranh chiều
tà vẫn giữ được vẻ đẹp của mùa xuân, nhưng nó trở nên trầm lắng hơn, nhấn
mạnh sự nhỏ bé và nhuốm màu tâm trạng của con người. Nguyễn Du sử
dụng nghệ thuật miêu tả cảnh ngụ tình để làm nổi bật sự buồn bã và lưu
luyến trong tâm hồn con người.
Đoạn thơ cuối cùng vẫn giữ được vẻ đẹp của mùa xuân trong chiều tà,
nhưng giữa bức tranh yên bình có sự trống trải của nỗi buồn lưu luyến và
bâng khuâng. Sự kết hợp tài tình giữa miêu tả thiên nhiên và cảm xúc con
người làm cho bức tranh xuân trở nên đậm chất nghệ thuật và sâu sắc hơn.
Tóm lại, qua đoạn trích "Cảnh ngày xuân", Nguyễn Du không chỉ thể hiện sự
tài năng về miêu tả thiên nhiên mà còn truyền đạt thành công cảm xúc và tâm
trạng của con người. Bức tranh xuân trong tác phẩm này không chỉ là một
hình ảnh đẹp mắt mà còn là một tác phẩm nghệ thuật sâu sắc, phản ánh tinh
thần và nghệ thuật của đại thi hào.
Phân tích nghệ thuật tả cảnh trong Cảnh ngày xuân chọn lọc hay nhất - Mẫu số 4
Đoạn văn miêu tả "Cảnh ngày xuân" của đại thi hào Nguyễn Du là một tác
phẩm vô cùng xuất sắc và độc đáo, thể hiện sự tinh tế và tài năng miêu tả vẻ
đẹp của thiên nhiên một cách rất đặc sắc. Đoạn trích nằm ngay sau phần
miêu tả về tài sắc của chị em Thúy Kiều, và qua đó, Nguyễn Du đã xây dựng
nên một bức tranh mùa xuân trong tiết Thanh Minh rất tươi sáng và sống động.
Nguyễn Du đã sử dụng bút pháp tả và gợi mô tả những chi tiết tinh tế, tạo ra
một không gian mùa xuân vô cùng ấn tượng. Bốn câu thơ đầu tiên đã tạo ra
một bức tranh với sự chấm phá độc đáo, nơi mà ngày xuân trôi qua như làn
gió nhẹ nhàng của con én, cỏ non mọc um tùm đến chân trời, và cây lê trắng
tinh khôi nở rộ. Thông qua những từ ngữ và hình ảnh này, Nguyễn Du đã thổi
hồn vào bức tranh, khiến nó trở nên sống động và tràn ngập sức sống mùa xuân.
Những câu thơ tiếp theo mang đến hình ảnh một mùa xuân tràn đầy ánh
sáng, với đàn én bay lượn trên bầu trời cao, và thềm cỏ xanh tươi mở ra vô
tận. Sự kết hợp giữa ánh sáng nhẹ nhàng và cảm giác rộn ràng của mùa
xuân đã được Nguyễn Du thể hiện một cách tinh tế, làm cho người đọc cảm
nhận được không khí tươi mới và tràn ngập niềm vui.
Tính ước lệ và chân thực của miêu tả còn được thể hiện qua cách Nguyễn
Du mô tả những chi tiết nhỏ như bông hoa lê trắng trên nền cỏ xanh tươi.
Bằng cách này, ông đã tạo ra một bức tranh mùa xuân không chỉ đẹp mắt mà
còn truyền đạt được cảm xúc và tâm trạng của người viết.
Sáu câu thơ cuối cùng chuyển đổi không khí của bức tranh từ sự rộn ràng và
tươi mới sang một tâm trạng nhẹ nhàng buồn bã. Ánh nắng chiều nhạt nhòa,
cảnh vật co gọn lại và tất cả đều trở nên nhỏ bé, nhuốm màu tâm trạng con
người. Nguyễn Du đã sử dụng nghệ thuật "tả cảnh ngụ tình" để miêu tả
những khoảnh khắc cuối cùng của ngày hội xuân, khiến cho người đọc cảm
nhận được sự buồn bã và sâu sắc của tâm hồn con người.
Tóm lại, thông qua bức tranh chi tiết và phong cách miêu tả độc đáo, Nguyễn
Du đã tạo nên một tác phẩm vô cùng sâu sắc và tinh tế về vẻ đẹp của mùa
xuân, đồng thời truyền đạt được nhiều tầng cảm xúc và tâm trạng của con
người. Bức tranh xuân của ông không chỉ là một hiện thực mà còn là một tác
phẩm nghệ thuật đầy sức sống và ý nghĩa.
Document Outline
- Phân tích nghệ thuật tả cảnh trong Cảnh ngày xuân
- Phân tích nghệ thuật tả cảnh trong Cảnh ngày xuân
- Phân tích nghệ thuật tả cảnh trong Cảnh ngày xuân
- Phân tích nghệ thuật tả cảnh trong Cảnh ngày xuân
- Phân tích nghệ thuật tả cảnh trong Cảnh ngày xuân