CHIẾC THUYỀN NGOÀI XA
MB: Nghệ thuật hiện thực luôn mối quan hệ gắn bó mật thiết với nhau, một tác phẩm chân chính
muốn toả sáng phải sự hòa quyện với vẻ đẹp của cuộc sống chân thực. Nhà văn Nam Cao từng nói:
“Nghệ thuật không cần phải ánh trăng lừa dối, không nên ánh trăng lừa dối! Nghệ thuật chỉ có thể
tiếng đau khổ kia, thoát ra từ những kiếp lầm than…”. Nghệ thuật nh vực của sự sáng tạo mới mẻ
nhưng phải gắn với con người thì mới giữ nguyên được giá trị chuẩn mực vốn có. Chiếc thuyền ngoài xa
của nhà văn Nguyễn Minh Châu là một bức tranh hiện thực đầy màu sắc, ẩn sau đó chứa đựng cả câu
chuyện về số phận, cuộc đời con người. Tác giả đã nhìn cuộc sống bằng đôi mắt đa diện, nhiều chiều, phản
ánh đúng bản chất thật sau vẻ đẹp hoà nhoáng bên ngoài của hiện tượng.
TB:
1, Nhan đề "Chiếc thuyền ngoài xa
- Chiếc thuyền ngoài xa trước hết biểu tượng của nghệ thuật, th nghệ thuật đạt tới sự hoàn Mỹ
thánh thiện đến mức chiêm ngưỡng nó, người ngh thấy tâm hồn mình được thanh lọc
-Chiếc thuyền khi vào gần thì đó chính hiện thực, hiện thân của cuộc đời lam lũ, khó nhọc, thậm chí
của những éo le, trái ngang nghịch trong cuộc sống.
- Như vậy, chiếc thuyền nghệ thuật thì ngoài xa nhưng hiện thực thì lại rất gần. Đó chính quan niệm
về nghệ thuật của Nguyễn Minh Châu. Người nghệ cần những khoảng cách nhất định để khám phá
thưởng thức vẻ đẹp đích thực của nghệ thuật nhưng cũng cần bám sát vào hiện thực cuộc sống để th
phát hiện ra những sự thật.
> Vậy nên, thể nói hình tượng "chiếc thuyền ngoài xa" đích thực một ẩn dụ nghệ thuật hoàn toàn
dụng ý của nhà văn Nguyễn Minh Châu. Giải hình tượng ẩn dụ đó, người đọc sẽ nhận ra một thông điệp
nhà văn muốn truyền đi, rằng cuộc đời vốn nơi sản sinh ra cái đẹp của nghệ thuật nhưng không
phải bao giờ cuộc đời cũng nghệ thuật, rằng con người ta cần một khoảng cách để chiêm ngưỡng
vẻ đẹp của nghệ thuật nhưng nếu muốn khám phá những ẩn bên trong thân phận con người cuộc đời
thì phải tiếp cận với đời, đi vào bên trong cuộc đời sống cùng cuộc đời.
Ý tưởng này ta đã từng bắt gặp trong thơ ca của Tố Hữu "Nhân dân bể, văn nghệ thuyền Thuyền
sóng dậy, sóng đẩy thuyền lên”
2, Phân tích tình huống truyện để thấy được ý nghĩa của quan niệm nghệ thuật của tác giả.
Nhà văn Nguyễn Khải đã từng nói : "Nguyễn Minh Châu người kế tục xuất sắc những bậc thầy của nền
văn xuôi Việt Nam cũng người mở đường rực r cho những cây bút trẻ tài năng sau này". nhà văn
trưởng thành từ quân đội sau những m 1975, Nguyễn Minh Châu dần khẳng định được vị thế của nh
trên bầu trời văn chương bằng ngòi bút bóc tách những khía cạnh của cuộc sống. Sau đại thắng mùa xuân
năm 1975, tiếng súng chiến tranh ngừng nổ trên bầu trời Việt Nam, đất nước ta đã hoàn toàn được thống
nhất, thời thế đã thay đổi tất yếu tưởng của các nghệ cũng phải đổi thay. Nguyễn Minh Châu người
đã đi đầu trong công cuộc lột xác văn chương, khép lại cảm hứng lãng mạn sử thi mở ra cảm hứng thế
sự. Đặc điểm của tác phẩm mang cảm hứng thế sự hướng về sinh hoạt hàng ngày của con người khẳng
định giá trị thẩm Mỹ của cái đời thường đi sâu khám phá hành trình của con người giữa một thực tại ngổn
ngang nhằm tìm kiếm hạnh phúc khẳng định nhân cách. Những tác phẩm tiêu biểu của ông phải k đến
"Người đàn trên chuyến tàu tốc hành”(1983), "Bến Quê” (1985)... đặc sắc hơn cả lẽ vẫn tác
phẩm "Chiếc Thuyền Ngoài Xa”( 1987), Những tác phẩm như thế này của Nguyễn Minh đã đưa ông lên vị
trí "Người mở đường tinh anh tài năng” (Nguyên Ngọc) và chúng sẽ mãi những bản tuyên ngôn trong
thời đổi mới.
Trong mỗi truyện ngắn thì thường ba kiểu tình huống : tình huống hành động tình huống tâm - tâm
trạng tình huống nhận thức. Thành ng của tác phẩm đã xây dựng lên được một tình huống nhận
thức có tính luận đề mới mẻ, khác với các tình huống trong các tác phẩm văn chương trước năm 1975. Bởi
như Nam Cao đã từng nói trong tác phẩm "Đôi Mắt”: "Hãy rũ bỏ đôi mắt khi nhìn cuộc đời mới, bởi
càng đi nhiều, ng quan sát lắm anh s chỉ cảm thấy chán nản hơn thôi". S rất thú vị nếu fg đọc Chiếc
thuyền ngoài xa trong sự so sánh thường xuyên với những truyện khác của Nguyễn Minh Châu hay của
một số nhà văn khác được sáng tác trong không khí sử thi của những ngày đánh Mỹ trước đây. Trong một
tác phẩm truyện ngắn, tình huống bao giờ cũng yếu tố quyết định đến sự thành công của c phẩm. Tình
huống truyện là một lát cắt về thời gian, hoàn cảnh riêng được tạo nên bởi một s kiện đặc biệt khiến cho
tại đó, cuộc sống hiện lên đậm đặc nhất ý đồ tưởng của tác giả cũng được bộc lộ sắc nét nhất. Ngoài
ra tình huống truyện còn giúp tác giả tố chức mạnh truyện linh hoạt xây dựng thành công tính cách của
các nhân vật. Nếu tình huống hành động chủ yếu nhắm tới hành động tính bước ngoặt của nhân vật, nh
huống tâm trạng chủ yếu khám phá diễn biến tình cảm, cảm xúc của nhân vật thì tình huống nhận thức chủ
yếu cắt nghĩg giây phút "giác ngộ" chân nhân vật.
Sự tự nhận thức đầu tiên lẽ bắt nguồn từ anh chàng nhiếp ảnh gia tên Phùng. Anh được cấp trên giúp cho
nhiệm vụ chụp ảnh cảnh biển o buổi sớm, thực chất chính tác giả Nguyễn Minh Châu cũng một người
con của miền biển nên câu chuyện của ông được kể miêu t khá sinh động, chi tiết phần mặn mòi.
Hiện thực của "Chiếc thuyền ngoài xa” không phải bức tranh hoành tráng của mảnh đất chiến trường xưa
ghi lại tội ác kẻ thù cũng như bao chiến công lừng lẫy từng đi vào lịch sử. Sau bao nhiêu ngày trở về chiến
trường a, lang thang i xe tăng hỏng, Phùng đã phát hiện ra vẻ đẹp của bức tranh thời cổ anh chụp
được, đó chính hình nh một chiếc thuyền ngoài xa đang được tưới thẫm lên bằng màu của sương khói.
Đó một bức ảnh "đắt như được ông trời ban cho vậy. Bức ảnh mang nét tráng lệ thời cổ "bức tranh mực
tàu của một danh họa thời cổ. Mũi thuyền in một nét mơ hồ lòe nhòe vào màu sương trắng như sữa
pha đôi chút hồng hồng do ánh mặt trời chiếu vào. Vài bóng người lớn lẫn trẻ con ngồi im phăng phắc như
tượng trên chiếc mũi khum khum". Toàn bộ khung cảnh "từ đường nét cho đến ánh sáng đều hài hòa
đẹp, một vẻ đẹp thực đơn giản mà toàn bích". Đứng trước một sản phẩm nghệ thuật tuyệt tác của hóa công,
người nghệ trở nên bối rối, "trong trái tim như cái bóp thắt vào". Bức ảnh đã khiến cho tâm hồn
người nghệ rung động, cảm xúc thẩm Mỹ đang cháy lên trong lòng anh. Chưa hết, trong giây lát, người
nghệ còn "Khám phá thấy cái chân cựa toàn thiện, khám phá thấy cái khoảnh khắc trong ngần của tâm
hồn”. Nguyễn Tuân đã từng nói "Cái đẹp cảm hóa lòng người cũng không phải ngẫu nhiên, ông được
mệnh danh một người cả đời đi tìm cái đẹp. Nói cách khác, trong một khoảnh khắc của cuộc sống, anh
đã cảm thấy cái Chân, cải thiện của cuộc đời, tâm hồn người nghệ sĩ như được gột rửa, trong trẻo, tinh
khôi. Phùng bấm liên thanh một hồi hết một phần cuốn phim để thể thu lại khoảnh khắc tuyệt đỉnh
của chiếc thuyền ngoài xa.
Tất c những hình ảnh tuyệt vời ấy lẽ sẽ không bị phá vỡ Phùng lẽ cũng sẽ không kinh ngạc khi
con thuyền trở vào gần bờ và bắt đầu xuất hiện những tiếng quát tháo. Bước ra từ chiếc thuyền Ngư phủ
đẹp như ấy một người đàn xấu xí, mệt mỏi "Người đàn trạc ngoài bốn mươi... cao lớn với
những đường nét thô kệch. Mụ rỗ mặt...” người đàn ông to lớn dữ dằn "Tấm lưng rộng công như lưng
một chiếc thuyền. Mái tóc tổ quạ. Lão đi chân chữ bát, bước từng bước chắc chắn, hàng lông mày cháy
nắng rủ xuống hai con mắt đầy vẻ độc dữ..". Một cảnh tượng thật tàn nhẫn: chồng đánh đập VỢ một
cách thô bạo "trút cơn giận như lửa cháy bằng cách dùng chiếc thắt lưng quật tới tấp vào lưng người đàn
bà, vừa đánh lão vừa thở hồng hộc, hai hàm răng nghiến ken két, cứ mỗi lần quất xuống lão lại nguyền rủa
bằng cái giọng rên rỉ đau đớn "Mày chết đi cho ông nhờ. Chúng mày chết hết đi cho ông nhờ!”” Mâu thuẫn
được đẩy lên nét khi người đàn kia bị đánh không hề chạy trốn, cũng không kêu van nửa lời. Đứa
con thương mẹ đã đánh lại cho để rồi nhận lấy hai cái bạt tai ngã dúi xuống cát. Ta nhận thấy đứa con
trong gia đình này được miêu tả chẳng khác nào một viên đạn, đập vào hình ảnh của người cha đâm
xuyên qua trái tim của người mẹ. Ta đã nhận ra khoảng lặng của tác phẩm khi thấy sự trăng tr của người
nghệ sĩ. lẽ ít gi nh dung và tưởng tượng được rằng không hiểu sao cảnh tượng phũ phàng y lại xảy ra
khi con người ta đang xây dựng cuộc sống mới trong thời đại mới, thời đại Tố Hữu đã từng viết :
"Người yêu người, sống để yêu nhau”
Nhiếp ảnh gia Phùng kinh ngạc đến thẫn thờ "Tất cả mọi việc xảy đến khiến tôi kinh ngạc đến mức trong
mấy phút đầu tối cứ đứng mồm ra nhìn". Người ngh sĩ như chết lặng. Những điều bất công xảy ra
trước mắt người chiến từng chiến đấu cho sự nghiệp giải phóng đất nước, giải phóng con người đã bùng
lên một cơn giận dữ. Bản thân anh nghĩ về người đàn ông kia một kẻ độc ác, tàn nhẫn nhất thế gian, còn
người đàn kia nạn nhân đáng thương nhất trong nạn bạo hành gia đình. Sở Phùng trở nên như vậy
anh không thể ngờ rằng đằng sau cái vẻ đẹp diệu của tạo hóa kia lại cái ác, cái xấu đến mức
không thể tin được. Vừa mới lúc trước, anh còn cảm thấy "bản thân cái đẹp chính đạo đức, là cái "toàn
thiện” của cuộc đời. Phùng xót xa khi nhận thấy cái xấu xa, ngang trái, bi kịch trong gia đình người dân
chài đã làm cho bức ảnh của anh chụp được như nhuốm màu đau thương ghê sợ! Chao ôi ! Ngh thuật
không thể màn sương mờ ảo màu sữa pha ánh hồng ban mai che đi nỗi đau thương ghê rợn, khiến
người kia.
Qua hai phát hiện của Phùng, Nguyễn Minh Châu muốn người đọc nhận thức mối quan hệ giữa nghệ thuật
đời sống. Nghệ thuật không nên chỉ dừng lại vẻ đẹp ngoài, nhất cái tuyệt vời thơ mộng, còn phải
nhìn vào bề sâu, bề sâu của cuộc đời không hề đơn giản, tâm điểm chính số phận con người đa đoan,
Với mọi nhọc nhằn kh đau, không hiếm những ngang trái bi kịch. Cuộc đời đâu phải chỉ toàn màu
hồng, cuộc đời không đơn giản, xuôi chiều, còn chứa đựng nhiều nghịch lí. Cuộc sống luôn luôn tồn tại
những mặt đối lập, những mâu thuẫn giữa đẹp xấu, thiện - ác,... thế nhà n dụng ý khi để cảnh
tượng "trời cho” hiện ra trước mắt như là vỏ bọc bên ngoài để hòng che giấu bản chất thực của đời sống
bên trong. Nhà văn khẳng định : Đừng nhầm lẫn hiện tượng với bản chất, giữa hình thức n ngoài nội
dung bên trong không phải bao giờ chúng cũng thống nhất. Đừng vội đánh giá con người, sự vật dáng
vẻ bên ngoài, phải phát hiện ra bản chất thực sau vẻ đẹp của nó. Bởi xuất phát của văn chương đích đến
của là cuộc đời con người. Từ đó ta còn thấy được Nguyễn Minh Châu muốn nhắn gửi đến những người
cầm bút viết văn chân chính, nhiệm vụ của họ phải kéo nghệ thuật ngoài xa kia để lại gần hơn với
cuộc sống. không phải ngẫu nhiên chính ông đã từng nói rằng: "Văn chương cuộc sống những
vòng tròn đồng tâm, tâm của chính con người”
Nghệ nhiếp ảnh Phùng một người lòng tốt, không thể chấp nhận những bất công nhưng anh đã quá
đơn giản khi nhìn nhận cuộc sống để rồi đi đến nh huống vỡ lẽ thứ hai trong tác phẩm này. Chứng kiến
cảnh người đàn bị chồng đánh đập man không do như thế, nghệ Phùng đã đánh nhau với
chồng để bảo vệ chị ta, để rồi bị thương, vết thương trên mặt đã lên da non nhưng vẫn sẽ để lại những dấu
tích. Người đàn bị mời đến tòa án huyện để giải quyết công việc gia đình, từ đây đã một cuộc tranh
luận giữa ba người Phùng, Người đàn Chánh án Đẩu. Được mời đến tòa án huyện lần y lần
thứ hai, "chị ta rụt rè, m một góc tường chỗ chốn công đường để ngồi”, tuy không phải lần đầu nhưng
chị ta vẻ rất sợ sệt lúng túng, "Dáng vẻ thì nhấp nhổm, mụ xoay người trên ghế như bị kiến đốt”, cái
sợ sệt ta không hề thấy khi chị ta bị chồng đánh bãi xe tăng. Ch thấy sợ hãi khi phải đối diện với
lại làm quần quật để nuôi một đàn con nhà nào cũng trên dưới chục đứa. Chính người đàn còn
khẳng định người chồng của chị ta vốn "một anh con trai cục tính nhưng hiền lành lắm”, nhưng ch
hoàn cảnh khắc nghiệt, đói nghèo anh ta trở nên phu, tàn nhẫn ích kỉ. Đó cả một câu chuyện về
kế sinh nhai, về những người làm ăn lam khó nhọc.
Trong câu chuyện kể về cuộc đời mình của người đàn hàng chài, người đàn khẳng định chị ta sống
cho những đứa con chứ không phải cho mình. đây l đời đã chiến thắng, Người lao động lam lũ, nghèo
khổ không uy quyền nhưng cái tâm của một người thương con, thấu hiểu lẽ đời cũng một thứ uy
quyền sức công phá lớn. đã làm cho nghệ Phùng Đầu Vỡ lẽ ra nhiều điều, nhận ra nỗi nhọc
nhằn vất vả của dân vùng biển, Nhận ra mối quan hệ giữa bản chất hiện tượng bên ngoài, cuộc sống
bấp bênh khiến họ phải chấp nhận nghịch cảnh, những ngang trái người đàn không chịu đòn roi một
cách vô lí. Cả Đẩu Phùng đều chua chát nhận ra rằng : Trên thuyền cần một người đàn ông... dù hắn
man rợ, tàn bạo, thì vẫn cần một người đàn ông để chèo chống khi biển phong ba bão táp. cái bản
chất đây cuộc Sống sinh nhai, không thể một mực áp dụng luật pháp, kiến thức sách v được đôi
khi đó phải những sự trải nghiệm hiện thực cuộc sống phản ánh lại. Họ còn nhận thức được rằng, với
người phụ nữ, với người đàn kia họ vẫn luôn tìm thấy cho mình niềm vui, hạnh phúc dẫu rất nhỏ nhoi
trong cuộc sống còn đầy rẫy những khó khăn, vẫn luôn tin vào một sự lạc quan tình yêu cuộc sống.
Hành trình kiếm tìm hạnh phúc với họ không đơn giản nhưng họ vẫn thấy hạnh phúc khi nhìn thấy những
đứa con của mình được ăn no. nh yêu thương gia đình của người đàn đã khiến cho "Một i mới
vừa vỡ ra trong đầu vị bao công phố huyện vùng biển này”. Đó sự VỠ lẽ về quan niệm tình yêu, hạnh
phúc, lòng nhân ái s khoan dung mang giá trị nhân bản sâu sắc. Bước ra khỏi cuộc chiến tranh, không
còn phải đương đầu với quân m lược những người Việt Nam lúc bấy giờ cần phải tổ chức lại nhịp sống
của mình, khôi phục lại kinh tế hàn gắn vết thương chiến tranh, đây không phải công việc thể thực
hiện một sớm một chiều. một người đàn ít học, suốt ngày lênh đênh trên biển, ch một nhân vật
luận đề am hiểu về cuộc sống cũng khiến cho Phùng Đẩu VỠ lẽ. Ta biết rằng thuyết sách Vở luôn
đúng nhưng cuộc sống cũng sẽ những lẽ riêng của nó. Những kết hợp ấy mang lại cho tác phẩm của
Nguyễn Minh Châu cái nhìn đa diện về số phận con người.
Kết thúc truyện, người đọc vẫn không biết tên của người đàn ng chài. Sở đây cũng dụng ý nghệ
thuật của tác giả để ông thể bộc lộ được hết ý tưởng của mình. Không tên bởi lẽ hình ảnh người
đàn hàng chài ấy tượng trưng cho biết bao người phụ nữ khác nơi vùng biển xa, s phận của những
người phụ nữ làng chài sẽ còn mãi bị phụ thuộc nếu như cuộc sống mưu sinh còn nhiều vất vả, nhưng họ
luôn luôn toát lên một tưởng về tình yêu gia đình, tình u cuộc sống của tình mẫu tử thiêng liêng cao
quý, động lực để họ vươn lên ngay cả khi không thể chịu đựng được nữa, những con người từng trải,
cam chịu nhẫn nhịn. Tác giả muốn bạn đọc cái nhìn đa diện, nhiều chiều, để thể đối chứng các vấn
đề lại với nhau từ đó rút ra bài học cho riêng mình.
"Cuộc sống cứ lênh đênh khắp cả một vùng phá mênh mông. Cưới xin, sinh con đẻ cái, hoặc lúc nhắm mắt
cũng chỉ trên một chiếc thuyền. Xóm giềng không có, quê hương bản quán cả chục cây số trời nước chứ
không cố kết vào một khoảnh đất nào”. Đã những bi kịch tiềm ẩn khiến con người ta phải ngỡ ngàng.
Một câu chuyện đơn giản nhưng chứa đựng nhiều những phát hiện mới mẻ bởi tình huống nhận thức làm
ra những chân về đời sống, chân về nghệ thuật hướng đến con người. Nếu chỉ suy nghĩ một cách xuôi
chiều đơn giản, cuộc sống khi ánh sáng CM sẽ khiến người dân lao động đổi đời, sẽ xóa tan những bi
kịch đè nặng lên kiếp người. Thế nhưng Nguyễn Minh Châu đã chỉ ra rằng: Cách mạng không thể giải
quyết bi kịch trong một sớm một chiều, con người vẫn phải đối diện Với bi kịch dung hòa với nó. Cách
giải của Nguyễn Minh Châu còn chứa đựng suy ngẫm về số phận dân tộc phải trải qua khổ đau để đối
diện Với hiện thực còn nhiều thách thức. Điều thống nhất trong hành trình sáng tạo của Nguyễn Minh Châu
luôn vẫn "nỗi lo âu sao lớn lao đầy khắc khoải về con người” về cuộc sống. Đây cũng do
Nguyễn Minh Châu một đời cầm bút với hy vọng. "Văn học sinh ra đời để gìn giữ trong từng con người -
một cái hết sức mong manh luôn luôn run rẩy... một cái đó thật như vậy, nhưng thiếu trong
con người thì y rằng con người ấy không thể sống giữa quần thể loài người được, trở thành một đại học
cho loài người (Nhật - Nguyễn Minh Châu).
Nếu như trước kia, giai đoạn văn học 45-75 khi viết về con người bao giờ các nhà văn cũng nói về sức
sống mãnh liệt để vượt qua nghịch cảnh, của tác động môi trường, hội như ta tìm thấy anh Cu Tràng
trong Vợ Nhặt của Kim Lân, hay anh Chí Phèo của Nam Cao bị tha hóa nhân hình lẫn nhân tính vẫn trải
qua sóng gió để thể tr về chết trên con đường lương thiện... Khi diễn tả con người c nhà văn thường
đi theo hướng tích cực, vượt lên hoàn cảnh hồi sinh tâm hồn thì những minh họa ấy trở nên phiến diện
cùng trong thời đại đổi mới. Nguyễn Minh Châu đã không đi theo con đường mòn ấy, trong Chiếc
thuyền ngoài xa, tác giả khẳng định nghịch xuất hiện như một điều hiển nhiên trong cuộc sống con người.
Trước sau, Nguyễn Minh Châu vẫn người đi săn tìm cái đẹp, m cái hạt ngọc ẩn sâu trong tâm hồn con
người. Đó phải chăng ý nghĩa của những biểu tượng như "mảnh trăng cuối rừng", "chiếc thuyền ngoài
xa"? sự đổi thay trong cách nhìn của nhà văn bởi thực tế tâm thế sáng tạo của nhà văn đã khác trước,
bởi cuộc sống hòa bình khác VỚI cuộc sống chiến tranh. Bằng thái độ cảm thông những hiểu biết sâu
sắc về con người, kết hợp với điểm nhìn nghệ thuật sắc sảo, đã diện ông đã cung cấp cho bạn đọc cái nhìn
toàn diện về cuộc sống khi đi từ bề nổi đến bề sâu. Nguyễn Minh Châu là một nhà văn luôn hướng về con
người khả năng giải tất cả những phức tạp nhất của cuộc đời. Bức tâm thư về mối quan hệ giữa
nghệ thuật cuộc sống chính nhận thức thấm thía nhất : "Cuộc đời vốn nơi sản sinh ra cái đẹp của
nghệ thuật nhưng không phải bao giờ cuộc đời cũng là nghệ thuật, rằng con người ta cần một khoảng
cách để thể chiêm ngưỡng vẻ đẹp của nghệ thuật, nếu muốn khám phá những ẩn đằng sau thân
phận con người cuộc đời thì phải tiếp cận với cuộc đời, đi vào bên trong cuộc đời sống cùng cuộc
đời” ( Ngọc Chương)
Với cách xây dựng tình huống truyện đặc sắc, độc đáo ý nghĩa khám phá kết hợp với lời văn giản dị, đầy
tính ba, Nguyễn Minh Châu đã làm nổi bật chủ đề của tác phẩm Chiếc Thuyền Ngoài Xa. Từ u
chuyện v bức ảnh nghệ thuật sự thậ về cuộc đời tác giả đã mang đến bài học đúng đắn về cách nhìn
nhận cuộc sống, cách phát hiện ra bản chất thật sau vẻ đẹp bên ngoài của hiện tượng. Chiếc Thuyền Ngoài
xa sẽ mai tuyên ngôn nghệ thuật của tác giả với những nhà văn cùng thời.
3, Phân tích nhân vật: Người đàn hàng chài.
"Thời gian qua kẽ tay
Làm khô những chiếc
Riêng những câu thơ còn xanh
Riêng những khúc hát còn xanh.”
(Văn Cao)
Nghệ thuật lĩnh vực của cái độc đáo. Những tác phẩm nghệ thuật đạt đến chuẩn mực của cái hay, cái đẹp
sẽ "vượt qua mọi sự băng hoại của thời gian chỉ mình không thừa nhận cái chết". Cũng như thời
gian trôi thì giá tr của tác phẩm "Chiếc thuyền ngoài xa” của Nguyễn Minh Châu vẫn vẹn nguyên tỏa
sáng. Đến với tác phẩm, người yêu n chương chắc hẳn sẽ không th nào quên được hình ảnh về người
đàn hàng chài một s phận đặc biệt một câu chuyện đặc biệt. Nhân vật người đàn hàng chài
trong tác phẩm này đại diện cho quan niệm về nghệ thuật cuộc đời của Nguyễn Minh Châu, một nhà văn
vị khi quốc công thần của triều đại văn học mới "Người mở đường tinh anh tài năng” (Nguyên
Ngọc).
Nguyễn Minh Châu từng quan niệm rằng "thiên chức của nhà văn suốt đời đi tìm hạt ngọc ẩn dấu trong
bề sâu tâm hồn con người giữa hoàn cảnh chiến tranh khốc liệt. Nếu như trước năm 1975, ông thiên về cảm
hứng anh hùng, tái hiện một bức tranh sinh động về hiện thực đời sống tinh thần của con người thời chống
Mỹ, thì sau 1975, Nguyễn Minh Châu hướng về đời thường với những khám phá về hiện thực đời sống đạo
đức tình cảm con người thông qua cảm hứng thế sự. Hình ảnh người đàn hàng chài với những vẻ đẹp
khuất lấp của những "hạt ngọc” tâm hồn ẩn khuất đằng sau những bộn bề bụi bẩn đời thường chính hình
tượng tiêu biểu sâu đậm nhất
3.1. Trong tác phẩm đoạn trích, người đàn hàng chài hiện lên hình ảnh của con người
danh với số phận bất hạnh:
Nỗi khổ hạn nghèo túng đông con thuyền chật: ông trời làm động biển suốt hàng tháng, cả
nhà vợ chồng con cái toàn ăn cây xương rồng luộc chấm muối…” (Phân tích mở rộng ngoài đoạn trích:
cuộc sống lam lũ, khó nhọc, vất vả hằn in lên vóc dáng của người đàn bà: khuôn mặt mệt mỏi sau một đêm
thức trắng để kéo lưới, tái ngắt dường như đang buồn ngủ; lưng áo bạc phếch rách rưới, nửa thân
dưới ướt sũng)
Bị cái xấu đeo đuổi: từ nhỏ tôi đã một đứa con gái xấu; cao lớn với những đường t thô kệch. M rỗ
mặt
Nỗi kh cùng cực bị chồng hành h thường xuyên, nạn nhân của bạo lực gia đình. Nhưng đớn
đau thay kẻ gây ra bạo lực lại chính người chồng chị yêu thương: “Bất kể lúc nào thấy khổ quá
lão xách tôi ra đánh, cũng như đàn ông thuyền khác uống rượu…”; “ba ngày một trận nhẹ, năm ngày một
trận nặng”.
* Chuyển đoạn: Vượt lên trên số phận bi kịch, người phụ nữ danh ấy vẫn tỏa sáng cho đời bao vẻ
đẹp lấp lánh. Bên ngoài chị giống như viên ngọc thô lấm láp nhưng trong chiều sâu nhân bản lại
viên ngọc quý ánh lên một tâm hồn cao thượng, đẹp đẽ.
3.2. Vẻ đẹp tâm hồn của người đàn hàng chài trước hết vẻ đẹp của người vợ hiền thảo, nhân
hậu, bao dung, vị tha độ lượng.
Người vợ ấy nhận hết mọi thiệt thòi về mình: nhận mình xấu, trót mang; nhận mình khổ
do “cái lỗi chính đám đàn thuyền đẻ nhiều quá, thuyền lại chật”. thế nên gánh lấy cái khổ,
chịu khổ như một thói quen, một định mệnh mình phải nh lấy. Thầy Phan Danh Hiếu
được Đẩu gợi ý ly hôn để thoát cảnh bạo hành nhưng người đàn một mực không đồng ý:
Trước đó khi mới tới tòa án huyện, ch tha thiết van xin: “Quý tòa bắt tội con cũng được, phạt con cũng
được, đừng bắt con bỏ nó”. Trong đoạn trích này chị lại thêm một lần tha thiết: “Các chú đừng bắt tôi bỏ
nó”.
Sâu xa của lý do không bỏ chồng chính sự nhân hậu, độ lượng, bao dung của chị.
+ Chị thấu hiểu bản chất của chồng: “lão chồng tôi khi ấy một anh con trai cục tính nhưng hiền
lành lắm, không bao giờ đánh đập tôi”. Hắn đã từng chấp nhận cảnh “nghèo khổ, túng quẫn” trốn đi lính
cho ngụy. Sống nghèo khổ, túng quẫn chứ không bao giờ chấp nhận cầm súng để bắn vào đồng bào mình.
Vậy, bản chất người chống y tốt.
+ Chị nhìn chồng mình không phải phạm nhân mà nạn nhân. Chính sự thất học, đói nghèo, lam
đã tạo ra người đàn ông độc ác ấy. Hắn nạn nhân của cuộc sống đói nghèo, cực do hậu quả của
chiến tranh để lại.
3.3. Phía sau sự thất học, lam người phụ nữ thâm trầm, sâu sắc, thấu hiểu lẽ đời.
Sau khi lấy lại được sự bình tĩnh, người đàn đột ngột thay đổi cách ng hô: chị các chú. Sự
thay đổi này thể hiện tâm thế chủ động chị, sự bản lĩnh, sự từng trải.
+ Chị lên án sự ngây thơ của Đẩu Phùng trong ch nhìn nhận vấn đề: bởi các chú không
phải đàn bà, chưa bao giờ các chú biết như thế nào nỗi vất v của người đàn trên một chiếc thuyền
không đàn ông…”. Muốn hiểu được người khác, đầu tiên phải từ bỏ cách nhìn phiến diện, một chiều,
phải đặt mình vào hoàn cảnh người khác.
+ giải việc không bỏ chồng, chị đã thổ lộ: “đàn hàng chài thuyền chúng tôi cần phải
người đàn ông để chèo chống phong ba, để cùng làm ăn nuôi nấng đặng một sắp con, nhà nào cũng trên
dưới chục đứa.”. Cần người đàn ông, đàn ông trụ cột, họ làm ăn nuôi con; họ chèo chống gia đình.
Bởi vậy, hắn man rợ, độc ác vẫn phải chịu. Cái lý do tưởng như ngớ ngẩn nhưng u xa trong đó cả
biết bao nhiêu điều khiến ta phải suy ngẫm.
3.4. Vượt lên trên tất cả, người đàn hàng chài người mẹ giàu đức hi sinh, giàu tình mẫu tử tha
thiết, thiêng liêng, cảm động.
Chị ý thức sâu sắc thiên chức làm mẹ mà ông trời đã ban cho sứ mệnh: đẻ con nuôi con; sống
con: “Ông trời sinh ra người đàn bà là để đẻ con, rồi nuôi con cho đến khi khôn lớn cho nên phải gánh
lấy cái khổ. Đàn thuyền chúng tôi phải sống cho con chứ không thể sống cho mình như trên đất
được!”. Đó tấm lòng hi sinh con.
Thương con, sợ con bị tổn thương tinh thần, chị đã xin lão chồng “có đánh thì đưa tôi lên bờ
đánh”. Chị dứt ruột gửi thằng Phác đứa con chị yêu thương nhất lên rừng với ông ngoại nó. Bởi chị
sợ thằng Phác lớn lên đây nhân cách sẽ phát triển lệch lạc nhiễm thói bạo lực từ người cha của nó.
Tình thương con chị gắn liền với trí.
Chị lấy con làm niềm vui, lấy gia đình làm điểm tựa để vượt lên số phận nghiệt ngã của chính
mình: Lần đầu tiên trên khuôn mặt xấu của mụ chợt ửng sáng lên như một nụ cười vả lại, trên chiếc
thuyền cũng lúc vợ chồng con cái chúng tôi sống hòa thuận, vui vẻ.” Chị góp nhặt niềm vui nh
để đắp lên những cực cuộc đời: “Vui nhất lúc ngồi nhìn đàn con tôi chúng được ăn no…”
3.5. Cách nhìn nhận cuộc sống con người của nhà n
Nhìn con người, cuộc sống góc nhìn đa chiều, quan tâm đến số phận nhân con người nhất con
người lao động vất vả, lam sau chiến tranh.
Sau chiến tranh, cuộc sống con người vẫn còn nhiều những khó khăn, gian khổ: cái nghèo, cái đói chi
phối cuộc sống của con người. Bởi vậy vấn đề cần thiết đặt ra phải làm sao cho cuộc sống ấy ngày ng
tốt đẹp hơn.
Kết thúc truyện ngắn, người đọc vân không biết người đàn hàng chài kia tên gì, phải chăng nhà văn đã
xuất? Không, đó chính dụng ý nghệ thuật của nhà văn, tác giả đã gọi một cách phiếm định: khi t gọi
người đàn hàng chài, lúc lại gọi mụ, khi thì gọi chị ta... Nghệ nhiếp ảnh kể rằng khi nắm thật bức
ảnh mình chụp lại anh thấy người đàn hàng chài y bước ra từ bức ảnh "mụ bước những bước chân
chậm rãi, bàn chân rậm trên mặt đất chắc chắn, hòa lẫn trong đám đông...” nghĩa người đàn y chỉ
một người trong đám đông của những con người lam lũ, nhọc nhằn, những con người lao khổ, đông đúc
danh. Qua nhân vật người đàn hàng chài, Nguyễn Minh Châu đã sử dụng thành công thủ pháp đối lập
giữa ngoại hình với tình cách giữa cảnh đẹp của bức tranh thủy mặc vẽ bằng mực tàu của danh họa thời cổ
Với bi kịch của một gia đình, giữa hoàn cảnh nh cách để làm những hi sinh, nhọc nhằn của người phụ nữ
vùng biển nói riêng, người phụ nữ Việt Nam nói chung với tấm lòng bao dung, nhân hậu, vị tha. với người
phụ nữ, gia đình hạnh phúc gia đình trọn vẹn tất c các thành viên cho đây đó vẫn những nét tính
cách chưa được hoàn thiện. Đó cũng những vấn đề nhức nhối của cuộc sống như: nh trạng bạo hành gia
đình, nghèo đói, thg hóa về nhân cách... những ngang trái, nghịch của cuộc sống.
Khép những trang sách kể về cuộc đời một người đàn danh trên vùng biển, nhưng âm của câu chuyện
vẫn cứ day dứt, ám nh người đọc. Làm thế nào để Số phận những người đàn như trong tác phẩm "Chiếc
thuyền ngoài xa” thoát khỏi nh trạng bi kịch trên? phải trong thời đại nào con người ta cũng cần phải sự
thương yêu, lòng thông cảm, phải niềm tin vào cuộc đời? Đó cũng những thông điệp nhà văn muốn gửi
đến cho mỗi người đọc trước cuộc sống hôm nay.
Với điểm nhìn nghệ thuật sắc sảo đa diện, lời văn giản dị u sắc, tạo được nhiều ba Nguyễn Minh
Châu đã để lại một kiệt tác cho Văn học Việt Nam hiện đại đó Nhân vật người đàn hàng chài với vẻ
đẹp "khuất lấp” được khắc họa một cách ấn tượng, chân thật cùng cảm động. Đây hình tượng tiêu biểu
cho người phụ nữ được đặt trên hoàn cảnh khắc nghiệt khiến cho con người phải mạnh mẽ vượt qua hoàn cảnh
để sống đẹp, xứng đáng với danh hiệu con người. "Không thể nhìn con người một cách đơn giản, nhà văn phải
phấn đấu để đào xới bản chất con người, khám phá "hợt ngọc” long lanh đằng sau cái lấm lớp bụi bản đời
thường” (Nguyễn Minh Châu).
4.
Người đàn ông hàng chài
Nhân vật người đàn ông không được Nguyễn Minh Châu miêu tả quá chi tiết trong tác phẩm chỉ xuất hiện
chớp nhoáng qua cái nhìn của Phùng trong câu chuyện của người đàn hàng chài tại tòa án huyện. Lần đầu
tiên xuất hiện, người đàn ông hiện lên với dáng vẻ cao lớn, thô kệch với mái tóc như tổ quạ, tấm lưng rộng
cong như một chiếc thuyền, hàng lông mày cháy nắng hai con mắt độc dữ,...Không những thế, hành động tàn
nhẫn "lão rút trong người ra một chiếc thắt lưng của lính ngụy ngày xưa...quất tới tấp vào lưng người đàn bà"
lời nói độc địa "Mày chết đi cho ông nhờ. Chúng mày chết đi cho ông nhờ". Đáng trách hơn sự tàn độc của
người đàn ông không chỉ là sự bộc phát đã diễn ra rất thường xuyên "ba ngày một trận nhẹ, năm ngày
một trận nặng. Cả nước không một người chồng nào như hắn". Những lời nói hành động mất hết nhân
tính ấy khiến Phùng hay bất cứ ai chứng kiến đều cảm thấy phẫn nộ, giận dữ, không hiểu do người
đàn ông ấy thể ra tay độc ác đến vậy.
Nếu không u chuyện của người đàn hàng chài tại tòa án huyện, n tượng về nhân vật người đàn ông chỉ
sự độc ác, xấu xa, tàn nhẫn. Lắng nghe những trải lòng của người đàn bà, người ta mới ngỡ ra rằng người
đàn ông ấy cũng rất đáng thương. Chỉ cuộc sống quá khổ tâm tính thay đổi, con người lương thiện trước
kia bị cái tàn ác, t bạo che lấp.
Trước kia người đàn ông hàng chài vốn một "anh con trai cục tính nhưng hiền lắm", trốn đi lính ngụy nên
cuộc sống nghèo khổ, túng quẫn. Nếu trong con mắt của Phùng, Đẩu người đàn ông một kẻ độc ác, không
tính người thì với người đàn hàng chài, ông ta không chỉ người chồng còn một ân nhân. Ngày còn
trẻ, người đàn xấu lại rỗ mặt do bị bệnh đậu mùa nên khó lấy được chồng. Khi ấy người đàn ông hàng chài
đã chấp nhận cưu mang mang đến cho người đàn ấy một cuộc sống gia đình đúng nghĩa. Gia đình chị
cũng những phút giây hạnh phúc bên nhau, hạnh phúc nhất khi nhìn những đứa con được ăn no, một gia
đình hoàn chỉnh.
Cuộc sống trên biển vốn bấp bênh, khó khăn, gia đình lại nhiều con n mọi gánh nặng đều đổ dồn lên đôi vai
của người đàn ông ấy. quá khổ n mới sinh ra độc ác, tàn nhẫn. Không ai thể phủ nhận sự độc ác trong
hành động, lời nói của người đàn ông thế nhưng cũng cần nhìn nhận một cách công bằng, một khía cạnh
nào đó, khổ cực, bần cùng thì ông ta vẫn cố gắng ng đáng không bỏ rơi vợ con. Qua đây thể giải
hành động sự thay đổi từ một anh con trai hiền lành, không bao giờ đánh vợ con thành một người tàn ác,
phu. Về bản chất, người đàn ông vốn hiền lành, chịu thương chịu khó, thế nhưng quá khổ, lại không biết
uống rượu như những người đàn ông thuyền khác nên ông ta chọn cách tiêu cực, tồi tệ nhất, đó trút những
bực dọc, uất ức, mệt mỏi của bản thân lên người vợ đầu ấp tay gối của mình.
Nhìn vào ngoại hình khắc khổ giọng điệu rên rỉ đau đớn khi buông những lời chửi mắng tàn tệ có thể thấy
ông ta cũng rất đau khổ. Đau khổ nghèo, bất lực trước cuộc sống đói nghèo, bế tắc. Người đàn ông cũng
nạn nhân của cuộc sống thời hậu chiến, tuy đáng thương nhưng cũng rất đáng trách. Những áp lực hình của
cuộc sống đã biến ông ta trở thành một kẻ độc ác, ích kỉ, nhẫn tâm ngay cả với những người thân yêu nhất của
mình. i khổ những cảm xúc tiêu cực của bản thân, ông ta không chỉ gây tổn thương về thể xác, tinh thần
cho vợ còn làm tổn thương tâm hồn non nớt tạo ra những nhận thức, hành động lệch lạc cho đứa con của
mình.
5.
Nghệ nhiếp ảnh Phùng
Truyện Chiếc thuyền ngoài xa in đậm phong cách tự sự triết của Nguyễn Minh Châu, rất tiêu biểu cho
hướng tiếp cận đời sống từ góc độ thế sự của nhà văn giai đoạn sáng tác thứ hai. Truyện ra đời trong hoàn
cảnh đất nước ta đang dần đổi mới , cuộc sống kinh tế nhiều mặt trái , nhiều tồn tại khiến người ta phải băn
khoăn . Truyện ngắn lúc đầu được in trong tập Bến quê (1985), sau được nhà văn lấy làm tên chung cho một
tuyển tập truyện ngắn (in năm 1987).
Để thể xuất bản một bộ lịch nghệ thuật về thuyền biển thật ưng ý, trưởng phòng đề nghị nghệ nhiếp ảnh
Phùng đi thực tế chụp bổ sung một bức ảnh với cảnh biển buổi sáng có sương mù. Phùng đi tới một vùng biển
từng chiến trường của anh thời chống Mĩ. Sau gần một tuần lễ suy nghĩ, tìm kiếm, Phùng đã chụp được
một bức ảnh thật đẹp toàn bích. Nhưng chính từ chiếc thuyền ngoài xa thật đẹp y lại bước xuống một đôi vợ
chồng hàng chài , lão đàn ông thẳng tay quật vợ chỉ để giải toả nỗi uất ức, buồn khổ của mình. Thằng Phác, con
lão che chở người mẹ đáng thương. Ba hôm sau, Phùng lại chứng kiến cảnh lão đàn ông đánh vợ, chị gái
tước đoạt con dao găm thằng em trai định dùng làm khí để bảo vệ mẹ. Phùng xông ra buộc lão phải chấm
dứt hành động độc ác. Lão đàn ông đánh trả, Phùng bị thương, anh được đưa về trạm y tế của toà án huyện.
đây, anh đã nghe câu chuyện của người đàn hàng chài với bao cảm thông ngỡ ngàng, ngạc nhiên. Anh
hiểu :không thể đơn giản lược khi nhìn nhận mọi hiện tượng của cuộc đời.
Từ câu chuyện về một bức tranh nghệ thuật sự thật cuộc đời đằng sau bức nh, truyện ngắn “Chiếc thuyền
ngoài xa” mang đến một bài học đúng đắn về cách nhìn nhận cuộc sống con người: một cách nhìn đa diện,
nhiều chiều, phát hiện ra bản chất thật sau vẻ đẹp bên ngoài của hiện tượng.
Phùng trong truyện vừa nhân vật chính đồng thời lại người kể chuyện . Mọi diễn biến của tác phẩm đều
được soi chiếu qua lời kể suy nghĩ của anh . Trong tác phẩm , Phùng đã những phát hiện quan trọng về
cuộc sống nghệ thuật .
Trước hết nhận thức của Phùng về cái đẹp của nghệ thuật . Phùng đang đứng trước cảnh biển sớm khi mặt
trời mới thức dậy qua đám mây ánh hồng .Phùng bộc lộ rung động trước Một cảnh đắt trời cho” suốt đời
cầm máy chưa bao giờ thấy” . Nó đẹp như bức tranh mực tàu của một danh hoạ thời cổ” Cảnh đó được nhìn từ
xa nên Mũi thuyền in một nét hồ l nhoè vào bầu sương trắng như sữa pha chút hồng hồng do ánh
mặt trời chiếu vào” . Tất cả khung cảnh ấy nhìn qua đôi mắt của người nghệ .Anh khẳng định toàn bộ khung
cảnh từ đường nét đến ánh sáng đều hài hoà đẹp ,một vẻ đẹp thực đơn giản toàn bích” .Phùng thực sự
rung động Đứng trước tôi trở nên bối rối .Trong trái tim như có cái bóp thắt o” phát hiện ra
khoảnh khắc trắng ngần của m hồn” . Phùng một nghệ trên đường săn tìm cái đẹp .Anh thực sự biết quan
sát lựa chọn cái đẹp của thiên nhiên ,cảnh vật ,con người .Sự rung động của người nghệ đã đến đúng lúc .Sự
rung động thực s khi đứng trước cái đẹp .Cái đẹp tự nhiên đắt giá” , “trời cho” ,mới thực sự làm rung động
lòng người . Từ đây , ta thấy người nghệ phải người phát hiện mang cái đẹp đến cho đời . Phùng còn
nhận ra trong suy nghĩ của mình chẳng biết ai đó lần đầu phát hiện ra bản thân cái đẹp đạo đức”.Đó cái
đẹp phải kết hợp với i tâm ,cái tài kết hợp với cái thiện .
Nhận thức thứ 2 của Phùng về bạo lực gia đình . Từ chiếc thuyền đẹp như , Phùng thấy bước ra một đôi
vợ chồng làng chài mệt mỏi , xấu , thô kệch .. Người đàn đứng lại , đưa cặp mắt nhìn xuống chân” .
Lão đàn ông lập tức trở nên hùng hổ ,mặt đỏ gay ,lão rút trong người ra một chiếc thắt lưng của lính nguỵ
ngày xưa, chẳng nói chẳng rằng lão trút cơn giận như lửa cháy, dùng cái thắt lưng quật tới tấp n lưng người
đàn , lão vừa đánh vừa thở hồng hộc, hai hàm răng ngiến vào nhau ken két .C mỗi nhát quất xuống lão lại
nguyền rủa bằng cái giọng rên rỉ đau đớn Mày chết đi cho ông nhờ .Chúng mày chết đi cho ông nhờ” .
Người đàn
vẻ cam chịu nhẫn nhục không hề u một tiếng ,không chống tr ,cũng không tìm cách trốn chạy . Bạo lực
trong gia đình thuyền chài y diễn ra thường xuyên Ba ngày một trận nhẹ ,năm ngày một trận nặng”. Bạo lực
gia đình vấn đề tồn tại trong hội .Bước sang thế kỉ XXI chúng ta vẫn chưa dứt điểm được .ở đâu bạo
lực gia đình thì nạn nhân của người vợ ,người m những đứa con tội nghiệp .Bạo lực dấu hiệu của sự
đau khổ ,rạn nứt của hạnh phúc gia đình .Nó làm tổn thương bao mối quan hệ của đời sống nh cảm con người
Bạo lực gia đình lại diễn ra ngay sau chiếc xe phá mìn của trên bãi cát .Phải chăng cuộc chiến đầu giành
độc lập tự do ta đã giải quyết được trọn vẹn ,mang lại niềm vui cho mọi người . Nhưng sau khi miền Nam hoàn
toàn giải phóng còn biết bao vấn đề đặt ra : Đói kém ,bệnh tật ,bạo lực gia đình
Từ sự thật phũ phàng trên bãi biển về chiếc thuyền đánh ca đẹp như , nghệ Phùng đã dần dần vỡ ra bao
điều về cuộc sống của những người dân chài lưới . Biết bao cảnh đời cứ phơi bày ra trước mắt : Một người đàn
trạc ngoài bốn mươi , cao lớn với những đường nét thô kệch . Mụ rỗ mặt . Khuôn mặt mệt mỏi sau một đêm
thức trắng kéo lưới , tái ngắt dường như đang buồn ngủ . Người đàn ông đi sau . Tấm lưng rộng cong như
một con thuyền . Mái tóc tổ quạ .Lão đi chân chữ bát ,hàng lông mày cháy nắng r xuống hai con mắt đầy vẻ
độc dữ. Cặp vợ chồng ng chài nạn nhân của cái nghèo khổ , vất vả lao động cật lực vẫn ngặt nghèo
miếng cơm manh áo đông con . Người đàn thú nhận : giá tôi đẻ ít chúng tôi sắm được cái thuyền rộng
hơn” .Thì ra đẻ nhiều ,thuyền nào cũng từ mười đến hơn mười đứa .Đây nguyên nhân của sự đói nghèo . Rồi
thiên tai , trời làm động biển vợ chồng con cái phải ăn xương rồng chấm muối” Cái đời ông trời sinh ra
người đàn để đẻ con nuôi con cho đến khi khôn lớn ,cho nên phải nh lấy cái khổ .Đàn thuyền
chúng tôi phải sống cho con chứ không thể sống như mình trên đất được” . Do con người, do thiên tai do cái lẽ
đời đã ăn sâu ,bám bám rễ hàng ngàn đời nay người đàn phải chịu đau khổ .Người đàn ông vất vả
cực nhọc ,không biết đổ i bực tức , uất ức vào đâu , chỉ còn biết trút lên người vợ .
Cậu Phác thương mẹ nhưng hành động liều lĩnh, thiếu suy nghĩ. chỉ nghĩ thương mẹ bị đánh sẵn sàng
bỏ quên tình phụ tử. Xét cho cùng, Phác cũng nạn nhân của bạo lực gia đình. Cứ xem cử chỉ của thì thấy:
Cái thằng nhỏ lặng l đưa mấy ngón tay khẽ sờ lên khuôn mặt người mẹ như muốn lau đi những giọt nước
mắt”. Hành động nhất thời của Phác Như viên đạn” bắn vào người bố lúc này đang xuyên qua tâm hồn”
người mẹ .Tình cảnh thật đau lòng . Làm thế nào để xoá đi những chuyện đau lòng trong gia đình này .
Phùng còn nhận thức về cách giải quyết tấn bi kịch gia đình . ch giải quyết của chánh án toà án huyện :
Gọi người đàn tới quan nói bằng giọng giận dữ: Chị không sống nổi với lão phu ấy đâu” Cách giải
quyết này tuy đứng về phía người đàn nhưng thiếu thực tế. Đáng lẽ phải tìm hiểu nguyên nhân, phân tích cụ
thể, nắm bắt yêu cầu nguyện vọng. Cách giải quyết y thực sự chưa ổn. Không thể áp dụng thuyết sách vở
phải căn cứ vào thực tế đời sống. Cách gợi ý của Đâủ làm cho căn phòng lồng lộng gió biển tự nhiên bị
hút hết không khí trở n ngột ngạt”. Cảm giác của Phùng thấy như vậy. Pháp luật phải gắn liền với đạo đức,
không thể áp dụng tuỳ tiện. Giải quyết li hôn ng làm cho gia đình rạn nứt tan vỡ. Những đứa con rồi sẽ ra
sao ? Những người làm ăn lam lũ khó nhọc ra khơi vào lộng cần phải bàn tay của người đàn ông. Người đàn
ông trụ cột trong nhà .
Cuối truyện Đẩu đi gặp người đàn ông . Phùng đi gặp thằng Phác . Kết quả như thế nào , c giả còn bỏ ngỏ .
Chỉ biết bức ảnh anh chụp có chiếc thuyền lưới suy ng của Phùng bao giờ tôi cũng thấy người đàn
ấy đang bước ra khỏi tấm ảnh ,đó người đàn vùng biển cao lớn với đường nét thô kệch ,tấm ng áo bạc
phếch miếng ,nửa thân dưới ướt sũng ,khuôn mặt rỗ đã nhợt trắng kéo lưới suốt đêm” .Phải chăng đây
sự trăn trở trước cuộc sống còn nhiều điều khó khăn , vất vả của người làm nghệ thuật . Đó mối quan hệ
giữa văn chương với cuộc đời .
6.
Chánh án Đẩu
Đẩu không phải nhân vật chính trong truyện, anh chỉ xuất hiện gần cuối tác phẩm với vai trò một chánh án
tòa án huyện, một người bạn đồng hành cùng nhiếp ảnh gia Phùng để giúp đỡ người đàn hàng chài thoát khỏi
cuộc sống như địa ngục. chỉ xuất hiện thoáng qua nhưng nhân vật Đẩu để lại cho người đọc những ấn tượng
đậm nét về nh yêu thương con người, trách nhiệm của một chánh án huyện trong việc thực thi công lí, bảo vệ
người dân nơi đây. Những thay đổi về thái độ, tình cảm của Đẩu trước sau khi lắng nghe câu chuyện của
người đàn ng chài giúp người đọc nhận thức được những góc khuất của cuộc sống, qua đó hiểu hơn
về cuộc sống, cuộc sống, về bi kịch của con người thời hậu chiến.
Đẩu từng người đồng đội của Phùng, anh từng một người lính chiến đấu cho tự do của con người, độc
lập của đất nước. Hòa bình lập lại, nếu Phùng trở thành một người nghệ nhiếp ảnh thì Đẩu trở về vùng biển
xưa nơi mình từng chiến đấu, trở thành một chánh án huyện chuyên thực thi công lí, bảo vệ con người. Một
công việc đòi hỏi trách nhiệm cao nhưng cũng thật thật ý nghĩa, thật phù hợp với một con người giàu tình
thương con người như Đẩu.
Chứng kiến cuộc sống như địa ngục của người đàn hàng chài, Đẩu không khoanh tay đứng nhìn đã
những hành động c thể để giúp người đàn thoát khỏi cuộc sống đau khổ, nơi chị ta tr thành nạn nhân của
bạo lực gia đình. Đẩu đã mời người đàn lên tòa án huyện, cùng với Phùng khuyên can giúp đỡ chị ta bỏ
chồng. Anh đã thực hiện rất tốt trách nhiệm của một "vị Bao Công của cái phố huyện vùng biển ấy" khi bênh
vực, bảo vệ những con người bất hạnh khỏi cái bạo tàn, nhẫn tâm. Hành động này cũng thể hiện được sự bất
bình trước cái ác; tình thương, sự thấu hiểu, s chia với con người quyết tâm đấu tranh để bảo vệ nh yên,
hạnh phúc cho những con người bất hạnh.
Tình yêu thương con người sự chân thành nơi Đẩu còn được thể hiện trong cuộc trò chuyện với người đàn
tại tòa án huyện. Để thức tỉnh người đàn khỏi sự cam chịu, nhẫn nhục lí, anh đã đưa ra những lẽ cụ thể,
thuyết phục về cuộc sống như "địa ngục trần gian" của chị: "Ba ngày một trận nhẹ, năm ngày một trận nặng. Cả
nước không một người chồng o như hắn", sống với một người chồng bạo tàn như thế Đẩu khẳng định "chị
không sống nổi với cái lão đàn ông phu ấy đâu".
Trước thái độ sợ hãi, lạy lục của người đàn với Phùng Đẩu để không phải bỏ chồng, Đẩu không sao hiểu
được, sự bất bình, giận dữ thể hiện trong hành động "tự nhiên rời chiếc bàn đến đứng vịn vào lưng ghế người
đàn ngồi giọng trở nên đầy giận dữ, khác hẳn với giọng một vị chánh án". Thế nhưng bất bình, giận dữ
thì Đẩu cũng không dùng quyền lực để ép buộc cố gắng khuyên giải tôn trọng hỏi ý kiến của người đàn
ấy "Chị nghĩ thế nào?". thể thấy tất c hành động lời nói của Đẩu trong phiên tòa đều thể hiện sự yêu
thương trân trọng dành cho con người, anh thật lòng muốn bảo vệ giúp người đàn thoát khỏi cuộc sống
đau khổ, không phải cam chịu những đớn đau về thể xác tinh thần.
Cũng giống như Phùng, khi lắng nghe câu chuyện của người đàn ng chài, Đẩu ngỡ ngàng nhận ra những
góc khuất đằng sau câu chuyện gia đình của người đàn ấy. Anh hiểu ra rằng đằng sau sự cam chịu, nhẫn
nhục tưởng như của người đàn ấy tình yêu thương chồng con, sự thấu hiểu lẽ đời của một người đàn
từng trải. Người đàn ông độc ác, phu anh bất bình, căm giận trước đấy hóa ra cũng từng một người
đàn ông hiền lành, chỉ quá khổ sinh ra tàn ác. Nghe những lời trải lòng của người đàn khiến "một cái
vừa mới vỡ ra trong đầu vị Bao Công của cái phố huyện vùng biển, lúc này trông Đẩu rất nghiêm nghị đầy
suy nghĩ". lẽ rằng Đẩu nhận ra rằng mình đã quá nóng vội, thiếu sự sâu sắc khi nhìn nhận, đánh giá một vấn
đề nên chỉ thấy được cái bề nổi chưa thấy được góc khuất đa diện, phức tạp bên trong. Câu chuyện của
người đàn hàng chài cũng đã mang đến cho Đẩu hiểu hơn về cuộc sống, về số phận con người thời hậu
chiến: Chiến tranh đã kết thúc nhưng con người vẫn phải đối diện với những bi kịch mới, đó cái đói, i
nghèo.
Tuy chỉ xuất hiện thoáng qua thế nhưng nhân vật Đẩu vẫn mang đến những ấn ợng đậm nét trong lòng độc giả
với những hành động, suy nghĩ đẹp. Những nhận thức mới mẻ về cuộc sống, về con người cũng thể hiện thấm
thía được những triết lí, quan niệm của Nguyễn Minh Châu về tình thương con người, đó "...là niềm n hoan
say mê, vừa một nỗi đau đớn khắc khoải, một mối quan hoài thường trực về số phận, hạnh phúc của những
người chung quanh mình".
7, Giá trị nhân đạo trong tác phm
Giá trị nhân đạo một giá trị bản của những c phẩm văn học chân chính được tạo nên bởi niềm cảm thông
sâu sắc của nhà n với nỗi đau của những con người, những cảnh đời bất hạnh trong cuộc sống. Đồng thời, nhà
văn còn thể hiện sự nâng niu, trân trọng với những nét đẹp trong tâm hồn niềm tin khả năng vươn dậy của
con người trong bất kỳ hòan cảnh o của cuộc đời.
- Biểu hiện sự đồng cảm của nhà văn đối với cuộc đời người lao động sau chiến tranh. Nhà văn đã nhìn thấu
miêu tả chân thực cuộc sống nhọc nhằn, cực, khốn khổ của những con người lao động thông qua hình
tượng người đàn hàng chài. Nguyễn Minh Châu đã dành biết bao yêu thương cho số phận bất hạnh của chị
(phân tích nỗi khổ của người đàn bà: xấu xí, nghèo khổ, nạn nhân của bạo hành gia đình).
- Không chỉ dừng lại đó, nhà văn còn giải những nguyên nhân gây nên đau khổ cho con người. Từ đó, ông
phê phán, lên án hành động phu thô bạo của người chồng trong đối xử với VỢ, con (các em miêu tả cảnh
người chồng đánh vợ). Đồng thời, thể hiện nỗi lo âu, khắc khoải về tình trạng nghèo cực, tối tăm của con người
(cảnh đói nghèo, cực, tình trạng bất ổn, bất trắc trong cuộc sống ...là nguyên nhân sâu xa của sự bạo hành
sự nhịn nhục chịu đựng); y tỏ niềm trắc trở trước cuộc sống của thế hệ tương lai (qua cách nhìn của nhà văn
đối với cậu Phác).
- Tác giả đã khẳng định, ngợi ca vẻ đẹp của con người lao động tiêu biểu người đàn hàng chài đặt
niềm tin vào phẩm chất tốt đẹp của họ: Đó vẻ đẹp của lòng vị tha, sự thấu hiểu lẽ đời nh mẫu tử sâu nặng
(phân tích câu chuyện của người đàn tòa án huyện). Trong hoàn cảnh đau khổ, nghèo khó, tăm tối vẫn ngời
lên vẻ đẹp của tình yêu thương, của đức hi sinh thầm lặng.
- tưởng nhân đạo mang tính triết của tác phẩm, còn được thể hiện việc nhà văn đặt ra vấn đề : làm thế
nào để giải phóng con người khỏi những bi kịch gia đình, bi kịch cuộc sống con người muốn thoát khỏi đau
khổ, tăm tối, man rợ cần những giải pháp thiết thực chứ không phải chỉ thiện chí hoặc các thuyết đẹp đẽ
nhưng xa rời thực tiễn, cần rút ngắn khoảng cách giữa văn chương hiện thực đời sống.
> Tp thể hiện quan niệm nghệ thuật của nhà văn giai đọan sáng tác thứ hai : Văn học nghệ thuật phải gắn
với cuộc sống phải con người... Quan niệm ấy đã khiến tác phẩm của Nguyễn Minh Châu giai đọan này
giàu nhân bản.Đọc tác phẩm của ông, người ta đau đớn, day dứt về thân phận con người tràn đầy khát vọng
làm người cao đẹp.
KB: Nguyễn Minh Châu, Nam Cao Nguyễn Huy Tưởng đều những người nhận thức rất sâu sắc tinh tế về
mối quan hệ giữa nghệ thuật cuộc đời. Nam Cao từng thốt lên rằng “Chao ôi, nghệ thuật không cần phải ánh
trăng lừa dối, không nên ánh trăng lừa dối; nghệ thuật chỉ thể tiếng kêu đau khổ kia, thoát ra từ những kiếp
lầm than…”, còn Nguyễn Huy Tưởng viết trong Như Tô rằng: “Nghệ thuật không gắn liền với đời sống t
đó chỉ những bông hoa ác thôi”. Nguyễn Minh Châu cũng đồng những quan điểm vậy, ông sâu sắc nhận ra
rằng “Ngọc lành vết, việc đời đa đoan”, làm chi đâu cảnh toàn bích, toàn mỹ, chẳng qua ấy chỉ bề nổi, ẩn
sâu sau đó những hiện thực phũ phàng. từ đó người nghệ phải dùng một đôi mắt đa diện, thấu hiểu để nhìn
nhận những vẻ đẹp đạo đức nhân văn, chớ nên chạy theo những vẻ đẹp dẫu hào nhoáng trống rỗng, hồn.

Preview text:

CHIẾC THUYỀN NGOÀI XA
MB: Nghệ thuật và hiện thực luôn có mối quan hệ gắn bó mật thiết với nhau, một tác phẩm chân chính
muốn toả sáng phải có sự hòa quyện với vẻ đẹp của cuộc sống chân thực. Nhà văn Nam Cao từng nói:
“Nghệ thuật không cần phải là ánh trăng lừa dối, không nên là ánh trăng lừa dối! Nghệ thuật chỉ có thể là
tiếng đau khổ kia, thoát ra từ những kiếp lầm than…”. Nghệ thuật là lĩnh vực của sự sáng tạo mới mẻ
nhưng phải gắn với con người thì mới giữ nguyên được giá trị chuẩn mực vốn có. Chiếc thuyền ngoài xa
của nhà văn Nguyễn Minh Châu là một bức tranh hiện thực đầy màu sắc, ẩn sau đó chứa đựng cả câu
chuyện về số phận, cuộc đời con người. Tác giả đã nhìn cuộc sống bằng đôi mắt đa diện, nhiều chiều, phản
ánh đúng bản chất thật sau vẻ đẹp hoà nhoáng bên ngoài của hiện tượng. TB:
1, Nhan đề "Chiếc thuyền ngoài xa”
- Chiếc thuyền ngoài xa trước hết là biểu tượng của nghệ thuật, là thứ nghệ thuật đạt tới sự hoàn Mỹ và
thánh thiện đến mức mà chiêm ngưỡng nó, người nghệ sĩ thấy tâm hồn mình được thanh lọc
-Chiếc thuyền khi vào gần thì đó chính là hiện thực, là hiện thân của cuộc đời lam lũ, khó nhọc, thậm chí là
của những éo le, trái ngang và nghịch lí trong cuộc sống.
- Như vậy, chiếc thuyền nghệ thuật thì ở ngoài xa nhưng hiện thực thì lại ở rất gần. Đó chính là quan niệm
về nghệ thuật của Nguyễn Minh Châu. Người nghệ sĩ cần có những khoảng cách nhất định để khám phá và
thưởng thức vẻ đẹp đích thực của nghệ thuật nhưng cũng cần bám sát vào hiện thực cuộc sống để có thể
phát hiện ra những sự thật.
> Vậy nên, có thể nói hình tượng "chiếc thuyền ngoài xa" đích thực là một ẩn dụ nghệ thuật hoàn toàn có
dụng ý của nhà văn Nguyễn Minh Châu. Giải mã hình tượng ẩn dụ đó, người đọc sẽ nhận ra một thông điệp
mà nhà văn muốn truyền đi, rằng cuộc đời vốn dĩ là nơi sản sinh ra cái đẹp của nghệ thuật nhưng không
phải bao giờ cuộc đời cũng là nghệ thuật, và rằng con người ta cần có một khoảng cách để chiêm ngưỡng
vẻ đẹp của nghệ thuật nhưng nếu muốn khám phá những bí ẩn bên trong thân phận con người và cuộc đời
thì phải tiếp cận với đời, đi vào bên trong cuộc đời và sống cùng cuộc đời.
Ý tưởng này ta đã từng bắt gặp trong thơ ca của Tố Hữu "Nhân dân là bể, văn nghệ là thuyền Thuyền xô
sóng dậy, sóng đẩy thuyền lên”
2, Phân tích tình huống truyện để thấy được ý nghĩa của nó và quan niệm nghệ thuật của tác giả.
Nhà văn Nguyễn Khải đã từng nói : "Nguyễn Minh Châu là người kế tục xuất sắc những bậc thầy của nền
văn xuôi Việt Nam và cũng là người mở đường rực rỡ cho những cây bút trẻ tài năng sau này". Là nhà văn
trưởng thành từ quân đội sau những năm 1975, Nguyễn Minh Châu dần khẳng định được vị thế của mình
trên bầu trời văn chương bằng ngòi bút bóc tách những khía cạnh của cuộc sống. Sau đại thắng mùa xuân
năm 1975, tiếng súng chiến tranh ngừng nổ trên bầu trời Việt Nam, đất nước ta đã hoàn toàn được thống
nhất, thời thế đã thay đổi tất yếu tư tưởng của các nghệ sĩ cũng phải đổi thay. Nguyễn Minh Châu là người
đã đi đầu trong công cuộc lột xác văn chương, khép lại cảm hứng lãng mạn – sử thi và mở ra cảm hứng thế
sự. Đặc điểm của tác phẩm mang cảm hứng thế sự là hướng về sinh hoạt hàng ngày của con người khẳng
định giá trị thẩm Mỹ của cái đời thường đi sâu khám phá hành trình của con người giữa một thực tại ngổn
ngang nhằm tìm kiếm hạnh phúc và khẳng định nhân cách. Những tác phẩm tiêu biểu của ông phải kể đến
"Người đàn bà trên chuyến tàu tốc hành”(1983), "Bến Quê” (1985). . Và đặc sắc hơn cả có lẽ vẫn là tác
phẩm "Chiếc Thuyền Ngoài Xa”( 1987), Những tác phẩm như thế này của Nguyễn Minh đã đưa ông lên vị
trí "Người mở đường tinh anh và tài năng” (Nguyên Ngọc) và chúng sẽ mãi là những bản tuyên ngôn trong thời kí đổi mới.
Trong mỗi truyện ngắn thì thường có ba kiểu tình huống : tình huống hành động tình huống tâm lí- tâm
trạng và tình huống nhận thức. Thành công của tác phẩm là đã xây dựng lên được một tình huống nhận
thức có tính luận đề mới mẻ, khác với các tình huống trong các tác phẩm văn chương trước năm 1975. Bởi
như Nam Cao đã từng nói trong tác phẩm "Đôi Mắt”: "Hãy rũ bỏ đôi mắt cũ khi nhìn cuộc đời mới, bởi
càng đi nhiều, càng quan sát lắm anh sẽ chỉ cảm thấy chán nản hơn mà thôi". Sẽ rất thú vị nếu fg đọc Chiếc
thuyền ngoài xa trong sự so sánh thường xuyên với những truyện khác của Nguyễn Minh Châu hay của
một số nhà văn khác được sáng tác trong không khí sử thi của những ngày đánh Mỹ trước đây. Trong một
tác phẩm truyện ngắn, tình huống bao giờ cũng là yếu tố quyết định đến sự thành công của tác phẩm. Tình
huống truyện là một lát cắt về thời gian, là hoàn cảnh riêng được tạo nên bởi một sự kiện đặc biệt khiến cho
tại đó, cuộc sống hiện lên đậm đặc nhất và ý đồ tư tưởng của tác giả cũng được bộc lộ sắc nét nhất. Ngoài
ra tình huống truyện còn giúp tác giả tố chức mạnh truyện linh hoạt và xây dựng thành công tính cách của
các nhân vật. Nếu tình huống hành động chủ yếu nhắm tới hành động có tính bước ngoặt của nhân vật, tình
huống tâm trạng chủ yếu khám phá diễn biến tình cảm, cảm xúc của nhân vật thì tình huống nhận thức chủ
yếu cắt nghĩg giây phút "giác ngộ" chân lí nhân vật.
Sự tự nhận thức đầu tiên có lẽ bắt nguồn từ anh chàng nhiếp ảnh gia tên Phùng. Anh được cấp trên giúp cho
nhiệm vụ chụp ảnh cảnh biển vào buổi sớm, thực chất chính tác giả Nguyễn Minh Châu cũng là một người
con của miền biển nên câu chuyện của ông được kể và miêu tả khá sinh động, chi tiết và có phần mặn mòi.
Hiện thực của "Chiếc thuyền ngoài xa” không phải bức tranh hoành tráng của mảnh đất chiến trường xưa
ghi lại tội ác kẻ thù cũng như bao chiến công lừng lẫy từng đi vào lịch sử. Sau bao nhiêu ngày trở về chiến
trường xưa, lang thang ở bãi xe tăng hỏng, Phùng đã phát hiện ra vẻ đẹp của bức tranh thời cổ mà anh chụp
được, đó chính là hình ảnh một chiếc thuyền ngoài xa đang được tưới thẫm lên bằng màu của sương khói.
Đó là một bức ảnh "đắt như được ông trời ban cho vậy. Bức ảnh mang nét tráng lệ thời cổ "bức tranh mực
tàu của một danh họa thời cổ. Mũi thuyền in một nét mơ hồ lòe nhòe vào màu sương mù trắng như sữa có
pha đôi chút hồng hồng do ánh mặt trời chiếu vào. Vài bóng người lớn lẫn trẻ con ngồi im phăng phắc như
tượng trên chiếc mũi khum khum". Toàn bộ khung cảnh "từ đường nét cho đến ánh sáng đều hài hòa và
đẹp, một vẻ đẹp thực đơn giản mà toàn bích". Đứng trước một sản phẩm nghệ thuật tuyệt tác của hóa công,
người nghệ sĩ trở nên bối rối, và "trong trái tim như có cái gì bóp thắt vào". Bức ảnh đã khiến cho tâm hồn
người nghệ sĩ rung động, cảm xúc thẩm Mỹ đang cháy lên trong lòng anh. Chưa hết, trong giây lát, người
nghệ sĩ còn "Khám phá thấy cái chân lí cựa toàn thiện, khám phá thấy cái khoảnh khắc trong ngần của tâm
hồn”. Nguyễn Tuân đã từng nói "Cái đẹp cảm hóa lòng người và cũng không phải ngẫu nhiên, ông được
mệnh danh là một người cả đời đi tìm cái đẹp. Nói cách khác, trong một khoảnh khắc của cuộc sống, anh
đã cảm thấy cái Chân, cải thiện của cuộc đời, tâm hồn người nghệ sĩ như được gột rửa, trong trẻo, tinh
khôi. Phùng bấm liên thanh một hồi hết một phần tư cuốn phim để có thể thu lại khoảnh khắc tuyệt đỉnh
của chiếc thuyền ngoài xa.
Tất cả những hình ảnh tuyệt vời ấy có lẽ sẽ không bị phá vỡ và Phùng có lẽ cũng sẽ không kinh ngạc khi
con thuyền trở vào gần bờ và bắt đầu xuất hiện những tiếng quát tháo. Bước ra từ chiếc thuyền Ngư phủ
đẹp như mơ ấy là một người đàn bà xấu xí, mệt mỏi "Người đàn bà trạc ngoài bốn mươi. . cao lớn với
những đường nét thô kệch. Mụ rỗ mặt. .” và người đàn ông to lớn dữ dằn "Tấm lưng rộng và công như lưng
một chiếc thuyền. Mái tóc tổ quạ. Lão đi chân chữ bát, bước từng bước chắc chắn, hàng lông mày cháy
nắng rủ xuống hai con mắt đầy vẻ độc dữ. ". Một cảnh tượng thật tàn nhẫn: Gã chồng đánh đập VỢ một
cách thô bạo "trút cơn giận như lửa cháy bằng cách dùng chiếc thắt lưng quật tới tấp vào lưng người đàn
bà, vừa đánh lão vừa thở hồng hộc, hai hàm răng nghiến ken két, cứ mỗi lần quất xuống lão lại nguyền rủa
bằng cái giọng rên rỉ đau đớn "Mày chết đi cho ông nhờ. Chúng mày chết hết đi cho ông nhờ!”” Mâu thuẫn
được đẩy lên rõ nét khi người đàn bà kia bị đánh mà không hề chạy trốn, cũng không kêu van nửa lời. Đứa
con vì thương mẹ đã đánh lại cho để rồi nhận lấy hai cái bạt tai ngã dúi xuống cát. Ta nhận thấy đứa con
trong gia đình này được miêu tả chẳng khác nào một viên đạn, nó đập vào hình ảnh của người cha và đâm
xuyên qua trái tim của người mẹ. Ta đã nhận ra khoảng lặng của tác phẩm khi thấy sự trăng trở của người
nghệ sĩ. Có lẽ ít gi hình dung và tưởng tượng được rằng không hiểu sao cảnh tượng phũ phàng ấy lại xảy ra
khi con người ta đang xây dựng cuộc sống mới trong thời đại mới, thời đại mà Tố Hữu đã từng viết :
"Người yêu người, sống để yêu nhau”
Nhiếp ảnh gia Phùng kinh ngạc đến thẫn thờ "Tất cả mọi việc xảy đến khiến tôi kinh ngạc đến mức trong
mấy phút đầu tối cứ đứng há mồm ra mà nhìn". Người nghệ sĩ như chết lặng. Những điều bất công xảy ra
trước mắt người chiến sĩ từng chiến đấu cho sự nghiệp giải phóng đất nước, giải phóng con người đã bùng
lên một cơn giận dữ. Bản thân anh nghĩ về người đàn ông kia là một kẻ độc ác, tàn nhẫn nhất thế gian, còn
người đàn bà kia là nạn nhân đáng thương nhất trong nạn bạo hành gia đình. Sở dĩ Phùng trở nên như vậy
là vì anh không thể ngờ rằng đằng sau cái vẻ đẹp diệu kì của tạo hóa kia lại có cái ác, cái xấu đến mức
không thể tin được. Vừa mới lúc trước, anh còn cảm thấy "bản thân cái đẹp chính là đạo đức, là cái "toàn
thiện” của cuộc đời. Phùng xót xa khi nhận thấy cái xấu xa, ngang trái, bi kịch trong gia đình người dân
chài đã làm cho bức ảnh của anh chụp được như nhuốm màu đau thương ghê sợ! Chao ôi ! Nghệ thuật
không thể là màn sương mờ ảo màu sữa pha ánh hồng ban mai mà che đi nỗi đau thương ghê rợn, khiến người kia.
Qua hai phát hiện của Phùng, Nguyễn Minh Châu muốn người đọc nhận thức mối quan hệ giữa nghệ thuật
và đời sống. Nghệ thuật không nên chỉ dừng lại ở vẻ đẹp ngoài, nhất là cái tuyệt vời thơ mộng, mà còn phải
nhìn vào bề sâu, bề sâu của cuộc đời không hề đơn giản, mà tâm điểm chính là số phận con người đa đoan,
Với mọi nhọc nhằn và khổ đau, không hiếm những ngang trái bi kịch. Cuộc đời đâu phải chỉ toàn màu
hồng, cuộc đời không đơn giản, xuôi chiều, mà còn chứa đựng nhiều nghịch lí. Cuộc sống luôn luôn tồn tại
những mặt đối lập, những mâu thuẫn giữa đẹp – xấu, thiện - ác,. . Vì thế mà nhà văn có dụng ý khi để cảnh
tượng "trời cho” hiện ra trước mắt như là vỏ bọc bên ngoài để hòng che giấu bản chất thực của đời sống
bên trong. Nhà văn khẳng định : Đừng nhầm lẫn hiện tượng với bản chất, giữa hình thức bên ngoài và nội
dung bên trong vì không phải bao giờ chúng cũng thống nhất. Đừng vội đánh giá con người, sự vật ở dáng
vẻ bên ngoài, phải phát hiện ra bản chất thực sau vẻ đẹp của nó. Bởi xuất phát của văn chương và đích đến
của nó là cuộc đời con người. Từ đó ta còn thấy được Nguyễn Minh Châu muốn nhắn gửi đến những người
cầm bút viết văn chân chính, nhiệm vụ của họ là phải kéo nghệ thuật ở ngoài xa kia để nó lại gần hơn với
cuộc sống. Và không phải ngẫu nhiên chính ông đã từng nói rằng: "Văn chương và cuộc sống là những
vòng tròn đồng tâm, tâm của nó chính là con người”
Nghệ sĩ nhiếp ảnh Phùng là một người có lòng tốt, không thể chấp nhận những bất công nhưng anh đã quá
đơn giản khi nhìn nhận cuộc sống để rồi đi đến tình huống vỡ lẽ thứ hai trong tác phẩm này. Chứng kiến
cảnh người đàn bà bị chồng đánh đập dã man không lí do như thế, nghệ sĩ Phùng đã đánh nhau với gã
chồng để bảo vệ chị ta, để rồi bị thương, vết thương trên mặt đã lên da non nhưng vẫn sẽ để lại những dấu
tích. Người đàn bà bị mời đến tòa án huyện để giải quyết công việc gia đình, từ đây đã có một cuộc tranh
luận giữa ba người là Phùng, Người đàn bà và Chánh án Đẩu. Được mời đến tòa án huyện lần này là lần
thứ hai, "chị ta rụt rè, tìm một góc tường ở chỗ chốn công đường để ngồi”, tuy không phải lần đầu nhưng
chị ta có vẻ rất sợ sệt và lúng túng, "Dáng vẻ thì nhấp nhổm, mụ xoay người trên ghế như bị kiến đốt”, cái
sợ sệt mà ta không hề thấy có khi chị ta bị chồng đánh ở bãi xe tăng. Chị thấy sợ hãi khi phải đối diện với
lại mà làm quần quật để nuôi một đàn con mà nhà nào cũng trên dưới chục đứa. Chính người đàn bà còn
khẳng định người chồng của chị ta vốn là "một anh con trai cục tính nhưng hiền lành lắm”, nhưng chỉ vì
hoàn cảnh khắc nghiệt, đói nghèo mà anh ta trở nên vũ phu, tàn nhẫn và ích kỉ. Đó là cả một câu chuyện về
kế sinh nhai, về những người làm ăn lam lũ khó nhọc.
Trong câu chuyện kể về cuộc đời mình của người đàn bà hàng chài, người đàn bà khẳng định chị ta sống
cho những đứa con chứ không phải cho mình. Ở đây lẽ đời đã chiến thắng, Người lao động lam lũ, nghèo
khổ không có uy quyền nhưng có cái tâm của một người thương con, thấu hiểu lẽ đời cũng là một thứ uy
quyền có sức công phá lớn. Nó đã làm cho nghệ sĩ Phùng và Đầu Vỡ lẽ ra nhiều điều, nhận ra nỗi nhọc
nhằn vất vả của cư dân vùng biển, Nhận ra mối quan hệ giữa bản chất và hiện tượng bên ngoài, cuộc sống
bấp bênh khiến họ phải chấp nhận nghịch cảnh, những ngang trái và người đàn bà không chịu đòn roi một
cách vô lí. Cả Đẩu và Phùng đều chua chát nhận ra rằng : Trên thuyền cần có một người đàn ông. . dù hắn
có man rợ, tàn bạo, thì vẫn cần có một người đàn ông để chèo chống khi biển phong ba bão táp. Và cái bản
chất ở đây là cuộc Sống sinh nhai, không thể một mực áp dụng luật pháp, kiến thức sách vở được mà đôi
khi đó phải là những sự trải nghiệm và hiện thực cuộc sống phản ánh lại. Họ còn nhận thức được rằng, với
người phụ nữ, với người đàn bà kia họ vẫn luôn tìm thấy cho mình niềm vui, hạnh phúc dẫu rất nhỏ nhoi
trong cuộc sống còn đầy rẫy những khó khăn, vẫn luôn tin vào một sự lạc quan và tình yêu cuộc sống.
Hành trình kiếm tìm hạnh phúc với họ không đơn giản nhưng họ vẫn thấy hạnh phúc khi nhìn thấy những
đứa con của mình được ăn no. Tình yêu thương gia đình của người đàn bà đã khiến cho "Một cái gì mới
vừa vỡ ra trong đầu vị bao công phố huyện vùng biển này”. Đó là sự VỠ lẽ về quan niệm tình yêu, hạnh
phúc, lòng nhân ái và sự khoan dung mang giá trị nhân bản sâu sắc. Bước ra khỏi cuộc chiến tranh, không
còn phải đương đầu với quân xâm lược những người Việt Nam lúc bấy giờ cần phải tổ chức lại nhịp sống
của mình, khôi phục lại kinh tế và hàn gắn vết thương chiến tranh, đây không phải công việc có thể thực
hiện một sớm một chiều. Dù là một người đàn bà ít học, suốt ngày lênh đênh trên biển, chỉ là một nhân vật
luận đề am hiểu về cuộc sống cũng khiến cho Phùng và Đẩu VỠ lẽ. Ta biết rằng lý thuyết sách Vở luôn
đúng nhưng cuộc sống cũng sẽ có những lí lẽ riêng của nó. Những kết hợp ấy mang lại cho tác phẩm của
Nguyễn Minh Châu cái nhìn đa diện về số phận con người.
Kết thúc truyện, người đọc vẫn không biết tên của người đàn bà hàng chài. Sở dĩ đây cũng là dụng ý nghệ
thuật của tác giả để ông có thể bộc lộ được hết ý tưởng của mình. Không có tên là bởi lẽ hình ảnh người
đàn bà hàng chài ấy tượng trưng cho biết bao người phụ nữ khác nơi vùng biển xa, số phận của những
người phụ nữ làng chài sẽ còn mãi bị phụ thuộc nếu như cuộc sống mưu sinh còn nhiều vất vả, nhưng ở họ
luôn luôn toát lên một tư tưởng về tình yêu gia đình, tình yêu cuộc sống của tình mẫu tử thiêng liêng cao
quý, là động lực để họ vươn lên ngay cả khi không thể chịu đựng được nữa, những con người từng trải,
cam chịu và nhẫn nhịn. Tác giả muốn bạn đọc có cái nhìn đa diện, nhiều chiều, để có thể đối chứng các vấn
đề lại với nhau từ đó rút ra bài học cho riêng mình.
"Cuộc sống cứ lênh đênh khắp cả một vùng phá mênh mông. Cưới xin, sinh con đẻ cái, hoặc lúc nhắm mắt
cũng chỉ trên một chiếc thuyền. Xóm giềng không có, quê hương bản quán cả chục cây số trời nước chứ
không cố kết vào một khoảnh đất nào”. Đã có những bi kịch tiềm ẩn khiến con người ta phải ngỡ ngàng.
Một câu chuyện đơn giản nhưng chứa đựng nhiều những phát hiện mới mẻ bởi tình huống nhận thức làm ló
ra những chân lý về đời sống, chân lí về nghệ thuật hướng đến con người. Nếu chỉ suy nghĩ một cách xuôi
chiều đơn giản, cuộc sống khi có ánh sáng CM sẽ khiến người dân lao động đổi đời, sẽ xóa tan những bi
kịch đè nặng lên kiếp người. Thế nhưng Nguyễn Minh Châu đã chỉ rõ ra rằng: Cách mạng không thể giải
quyết bi kịch trong một sớm một chiều, con người vẫn phải đối diện Với bi kịch và dung hòa với nó. Cách
lí giải của Nguyễn Minh Châu còn chứa đựng suy ngẫm về số phận dân tộc phải trải qua khổ đau để đối
diện Với hiện thực còn nhiều thách thức. Điều thống nhất trong hành trình sáng tạo của Nguyễn Minh Châu
luôn vẫn là "nỗi lo âu sao mà lớn lao và đầy khắc khoải về con người” về cuộc sống. Đây cũng là lí do mà
Nguyễn Minh Châu một đời cầm bút với hy vọng. "Văn học sinh ra đời để gìn giữ trong từng con người -
một cái gì hết sức mong manh và luôn luôn run rẩy. . một cái gì đó thật là như vậy, nhưng thiếu nó trong
con người thì y rằng con người ấy không thể sống giữa quần thể loài người được, và trở thành một đại học
cho loài người (Nhật kí - Nguyễn Minh Châu).
Nếu như trước kia, giai đoạn văn học 45-75 khi viết về con người bao giờ các nhà văn cũng nói về sức
sống mãnh liệt để vượt qua nghịch cảnh, của tác động môi trường, xã hội như ta tìm thấy ở anh Cu Tràng
trong Vợ Nhặt của Kim Lân, hay anh Chí Phèo của Nam Cao bị tha hóa cá nhân hình lẫn nhân tính vẫn trải
qua sóng gió để có thể trở về chết trên con đường lương thiện. . Khi diễn tả con người các nhà văn thường
đi theo hướng tích cực, vượt lên hoàn cảnh và hồi sinh tâm hồn thì những minh họa ấy trở nên phiến diện
vô cùng trong thời đại đổi mới. Nguyễn Minh Châu đã không đi theo con đường mòn ấy, trong Chiếc
thuyền ngoài xa, tác giả khẳng định nghịch lí xuất hiện như một điều hiển nhiên trong cuộc sống con người.
Trước sau, Nguyễn Minh Châu vẫn là người đi săn tìm cái đẹp, tìm cái hạt ngọc ẩn sâu trong tâm hồn con
người. Đó phải chăng là ý nghĩa của những biểu tượng như "mảnh trăng cuối rừng", "chiếc thuyền ngoài
xa"? Có sự đổi thay trong cách nhìn của nhà văn bởi thực tế và tâm thế sáng tạo của nhà văn đã khác trước,
bởi cuộc sống hòa bình khác VỚI cuộc sống chiến tranh. Bằng thái độ cảm thông và những hiểu biết sâu
sắc về con người, kết hợp với điểm nhìn nghệ thuật sắc sảo, đã diện ông đã cung cấp cho bạn đọc cái nhìn
toàn diện về cuộc sống khi đi từ bề nổi đến bề sâu. Nguyễn Minh Châu là một nhà văn luôn hướng về con
người và có khả năng giải mã tất cả những gì phức tạp nhất của cuộc đời. Bức tâm thư về mối quan hệ giữa
nghệ thuật và cuộc sống chính là nhận thức thấm thía nhất : "Cuộc đời vốn dĩ là nơi sản sinh ra cái đẹp của
nghệ thuật nhưng không phải bao giờ cuộc đời cũng là nghệ thuật, và rằng con người ta cần có một khoảng
cách để có thể chiêm ngưỡng vẻ đẹp của nghệ thuật, và nếu muốn khám phá những bí ẩn đằng sau thân
phận con người và cuộc đời thì phải tiếp cận với cuộc đời, đi vào bên trong cuộc đời và sống cùng cuộc
đời” ( Lê Ngọc Chương)
Với cách xây dựng tình huống truyện đặc sắc, độc đáo có ý nghĩa khám phá kết hợp với lời văn giản dị, đầy
tính dư ba, Nguyễn Minh Châu đã làm nổi bật chủ đề của tác phẩm Chiếc Thuyền Ngoài Xa. Từ câu
chuyện về bức ảnh nghệ thuật và sự thậ về cuộc đời tác giả đã mang đến bài học đúng đắn về cách nhìn
nhận cuộc sống, cách phát hiện ra bản chất thật sau vẻ đẹp bên ngoài của hiện tượng. Chiếc Thuyền Ngoài
xa sẽ mai là tuyên ngôn nghệ thuật của tác giả với những nhà văn cùng thời.
3, Phân tích nhân vật: Người đàn bà hàng chài.
"Thời gian qua kẽ tay Làm khô những chiếc lá
Riêng những câu thơ còn xanh
Riêng những khúc hát còn xanh.” (Văn Cao)
Nghệ thuật là lĩnh vực của cái độc đáo. Những tác phẩm nghệ thuật đạt đến chuẩn mực của cái hay, cái đẹp
sẽ "vượt qua mọi sự băng hoại của thời gian và chỉ mình nó không thừa nhận cái chết". Cũng như dù thời
gian có trôi thì giá trị của tác phẩm "Chiếc thuyền ngoài xa” của Nguyễn Minh Châu vẫn vẹn nguyên và tỏa
sáng. Đến với tác phẩm, người yêu văn chương chắc hẳn sẽ không thể nào quên được hình ảnh về người
đàn bà hàng chài Có một số phận đặc biệt và một câu chuyện đặc biệt. Nhân vật người đàn bà hàng chài
trong tác phẩm này đại diện cho quan niệm về nghệ thuật và cuộc đời của Nguyễn Minh Châu, một nhà văn
là vị khi quốc công thần của triều đại văn học mới – "Người mở đường tinh anh và tài năng” (Nguyên Ngọc).
Nguyễn Minh Châu từng quan niệm rằng "thiên chức của nhà văn là suốt đời đi tìm hạt ngọc ẩn dấu trong
bề sâu tâm hồn con người giữa hoàn cảnh chiến tranh khốc liệt. Nếu như trước năm 1975, ông thiên về cảm
hứng anh hùng, tái hiện một bức tranh sinh động về hiện thực đời sống tinh thần của con người thời chống
Mỹ, thì sau 1975, Nguyễn Minh Châu hướng về đời thường với những khám phá về hiện thực đời sống đạo
đức và tình cảm con người thông qua cảm hứng thế sự. Hình ảnh người đàn bà hàng chài với những vẻ đẹp
khuất lấp của những "hạt ngọc” tâm hồn ẩn khuất đằng sau những bộn bề bụi bẩn đời thường chính là hình
tượng tiêu biểu và sâu đậm nhất
3.1. Trong tác phẩm và đoạn trích, người đàn bà hàng chài hiện lên là hình ảnh của con người vô
danh với số phận bất hạnh:
Nỗi khổ vô hạn vì nghèo túng – đông con – thuyền chật: ông trời làm động biển suốt hàng tháng, cả
nhà vợ chồng con cái toàn ăn cây xương rồng luộc chấm muối…” (Phân tích mở rộng ngoài đoạn trích:
cuộc sống lam lũ, khó nhọc, vất vả hằn in lên vóc dáng của người đàn bà: khuôn mặt mệt mỏi sau một đêm
thức trắng để kéo lưới, tái ngắt và dường như đang buồn ngủ; lưng áo bạc phếch và rách rưới, nửa thân dưới ướt sũng)
Bị cái xấu đeo đuổi: từ nhỏ tôi đã là một đứa con gái xấu; cao lớn với những đường nét thô kệch. Mụ rỗ mặt…
Nỗi khổ cùng cực vì bị chồng hành hạ thường xuyên, là nạn nhân của bạo lực gia đình. Nhưng đớn
đau thay – kẻ gây ra bạo lực lại chính là người chồng mà chị yêu thương: “Bất kể lúc nào thấy khổ quá là
lão xách tôi ra đánh, cũng như đàn ông thuyền khác uống rượu…”; “ba ngày một trận nhẹ, năm ngày một trận nặng”.
* Chuyển đoạn: Vượt lên trên số phận bi kịch, người phụ nữ vô danh ấy vẫn tỏa sáng cho đời bao vẻ

đẹp lấp lánh. Bên ngoài chị giống như viên ngọc thô lấm láp nhưng trong chiều sâu nhân bản lại là
viên ngọc quý ánh lên một tâm hồn cao thượng, đẹp đẽ.
3.2. Vẻ đẹp tâm hồn của người đàn bà hàng chài trước hết là vẻ đẹp của người vợ hiền thảo, nhân
hậu, bao dung, vị tha độ lượng.
Người vợ ấy nhận hết mọi thiệt thòi về mình: nhận mình xấu, trót có mang; nhận mình khổ là
do “cái lỗi chính là đám đàn bà ở thuyền đẻ nhiều quá, mà thuyền lại chật”. Vì thế nên gánh lấy cái khổ,
chịu khổ như một thói quen, một định mệnh mà mình phải gánh lấy. Thầy Phan Danh Hiếu
– Dù được Đẩu gợi ý ly hôn để thoát cảnh bạo hành nhưng người đàn bà một mực không đồng ý:
Trước đó khi mới tới tòa án huyện, chị tha thiết van xin: “Quý tòa bắt tội con cũng được, phạt tù con cũng
được, đừng bắt con bỏ nó”. Trong đoạn trích này chị lại thêm một lần tha thiết: “Các chú đừng bắt tôi bỏ nó”.
Sâu xa của lý do không bỏ chồng chính là sự nhân hậu, độ lượng, bao dung của chị.
+ Chị thấu hiểu bản chất của chồng: “lão chồng tôi khi ấy là một anh con trai cục tính nhưng hiền
lành lắm, không bao giờ đánh đập tôi”. Hắn đã từng chấp nhận cảnh “nghèo khổ, túng quẫn” vì trốn đi lính
cho ngụy. Sống nghèo khổ, túng quẫn chứ không bao giờ chấp nhận cầm súng để bắn vào đồng bào mình.
Vậy, bản chất người chống ấy là tốt.
+ Chị nhìn chồng mình không phải là phạm nhân mà là nạn nhân. Chính sự thất học, đói nghèo, lam
lũ đã tạo ra người đàn ông độc ác ấy. Hắn là nạn nhân của cuộc sống đói nghèo, cơ cực do hậu quả của chiến tranh để lại.
3.3. Phía sau sự thất học, lam lũ là người phụ nữ thâm trầm, sâu sắc, thấu hiểu lẽ đời.
– Sau khi lấy lại được sự bình tĩnh, người đàn bà đột ngột thay đổi cách xưng hô: chị và các chú. Sự
thay đổi này thể hiện tâm thế chủ động ở chị, sự bản lĩnh, sự từng trải.
+ Chị lên án sự ngây thơ của Đẩu và Phùng trong cách nhìn nhận vấn đề: “Là bởi vì các chú không
phải là đàn bà, chưa bao giờ các chú biết như thế nào là nỗi vất vả của người đàn bà trên một chiếc thuyền
không có đàn ông…”. Muốn hiểu được người khác, đầu tiên phải từ bỏ cách nhìn phiến diện, một chiều,
phải đặt mình vào hoàn cảnh người khác.
+ Lý giải việc không bỏ chồng, chị đã thổ lộ: “đàn bà hàng chài ở thuyền chúng tôi cần phải có
người đàn ông để chèo chống phong ba, để cùng làm ăn nuôi nấng đặng một sắp con, nhà nào cũng trên
dưới chục đứa.”. Cần người đàn ông, vì đàn ông là trụ cột, họ làm ăn và nuôi con; họ chèo chống gia đình.
Bởi vậy, dù hắn man rợ, độc ác vẫn phải chịu. Cái lý do tưởng như ngớ ngẩn nhưng sâu xa trong đó là cả
biết bao nhiêu điều khiến ta phải suy ngẫm.
3.4. Vượt lên trên tất cả, người đàn bà hàng chài là người mẹ giàu đức hi sinh, giàu tình mẫu tử tha
thiết, thiêng liêng, cảm động.
– Chị ý thức sâu sắc thiên chức làm mẹ mà ông trời đã ban cho sứ mệnh: đẻ con và nuôi con; sống
vì con: “Ông trời sinh ra người đàn bà là để đẻ con, rồi nuôi con cho đến khi khôn lớn cho nên phải gánh
lấy cái khổ. Đàn bà ở thuyền chúng tôi phải sống cho con chứ không thể sống cho mình như ở trên đất
được!”. Đó là tấm lòng hi sinh vì con.
– Thương con, sợ con bị tổn thương tinh thần, chị đã xin lão chồng “có đánh thì đưa tôi lên bờ mà
đánh”. Chị dứt ruột gửi thằng Phác – đứa con mà chị yêu thương nhất lên rừng ở với ông ngoại nó. Bởi chị
sợ thằng Phác lớn lên ở đây nhân cách nó sẽ phát triển lệch lạc vì nhiễm thói bạo lực từ người cha của nó.
Tình thương con ở chị gắn liền với lý trí.
– Chị lấy con làm niềm vui, lấy gia đình làm điểm tựa để vượt lên số phận nghiệt ngã của chính
mình: “Lần đầu tiên trên khuôn mặt xấu xí của mụ chợt ửng sáng lên như một nụ cười – vả lại, ở trên chiếc
thuyền cũng có lúc vợ chồng con cái chúng tôi sống hòa thuận, vui vẻ.” Chị góp nhặt niềm vui dù là bé nhỏ
để bù đắp lên những cơ cực cuộc đời: “Vui nhất là lúc ngồi nhìn đàn con tôi chúng nó được ăn no…”
3.5. Cách nhìn nhận cuộc sống và con người của nhà văn
– Nhìn con người, cuộc sống ở góc nhìn đa chiều, quan tâm đến số phận cá nhân con người – nhất là con
người lao động vất vả, lam lũ sau chiến tranh.
– Sau chiến tranh, cuộc sống con người vẫn còn nhiều những khó khăn, gian khổ: cái nghèo, cái đói chi
phối cuộc sống của con người. Bởi vậy vấn đề cần thiết đặt ra là phải làm sao cho cuộc sống ấy ngày càng tốt đẹp hơn.
Kết thúc truyện ngắn, người đọc vân không biết người đàn bà hàng chài kia tên gì, phải chăng là nhà văn đã
sơ xuất? Không, đó chính là dụng ý nghệ thuật của nhà văn, tác giả đã gọi một cách phiếm định: khi thì gọi
là người đàn bà hàng chài, lúc lại gọi mụ, khi thì gọi chị ta. . Nghệ sĩ nhiếp ảnh kể rằng khi nắm thật kĩ bức
ảnh mà mình chụp lại anh thấy người đàn bà hàng chài ấy bước ra từ bức ảnh "mụ bước những bước chân
chậm rãi, bàn chân rậm trên mặt đất chắc chắn, hòa lẫn trong đám đông. .” nghĩa là người đàn bà ấy chỉ là
một người trong đám đông của những con người lam lũ, nhọc nhằn, những con người lao khổ, đông đúc và
vô danh. Qua nhân vật người đàn bà hàng chài, Nguyễn Minh Châu đã sử dụng thành công thủ pháp đối lập
giữa ngoại hình với tình cách giữa cảnh đẹp của bức tranh thủy mặc vẽ bằng mực tàu của danh họa thời cổ
Với bi kịch của một gia đình, giữa hoàn cảnh và tính cách để làm rõ những hi sinh, nhọc nhằn của người phụ nữ
vùng biển nói riêng, người phụ nữ Việt Nam nói chung với tấm lòng bao dung, nhân hậu, vị tha. Và với người
phụ nữ, gia đình và hạnh phúc là gia đình trọn vẹn tất cả các thành viên cho dù đây đó vẫn có những nét tính
cách chưa được hoàn thiện. Đó cũng là những vấn đề nhức nhối của cuộc sống như: tình trạng bạo hành gia
đình, nghèo đói, thg hóa về nhân cách. . và những ngang trái, nghịch lí của cuộc sống.
Khép những trang sách kể về cuộc đời một người đàn bà vô danh trên vùng biển, nhưng dư âm của câu chuyện
vẫn cứ day dứt, ám ảnh người đọc. Làm thế nào để Số phận những người đàn bà như trong tác phẩm "Chiếc
thuyền ngoài xa” thoát khỏi tình trạng bi kịch trên? Có phải trong thời đại nào con người ta cũng cần phải có sự
thương yêu, lòng thông cảm, phải có niềm tin vào cuộc đời? Đó cũng là những thông điệp mà nhà văn muốn gửi
đến cho mỗi người đọc trước cuộc sống hôm nay.
Với điểm nhìn nghệ thuật sắc sảo và đa diện, lời văn giản dị mà sâu sắc, tạo được nhiều dư ba Nguyễn Minh
Châu đã để lại một kiệt tác cho Văn học Việt Nam hiện đại mà ở đó Nhân vật người đàn bà hàng chài với vẻ
đẹp "khuất lấp” được khắc họa một cách ấn tượng, chân thật và vô cùng cảm động. Đây là hình tượng tiêu biểu
cho người phụ nữ được đặt trên hoàn cảnh khắc nghiệt khiến cho con người phải mạnh mẽ vượt qua hoàn cảnh
để sống đẹp, xứng đáng với danh hiệu con người. "Không thể nhìn con người một cách đơn giản, nhà văn phải
phấn đấu để đào xới bản chất con người, khám phá "hợt ngọc” long lanh đằng sau cái lấm lớp bụi bản đời
thường” (Nguyễn Minh Châu).
4. ​ Người đàn ông hàng chài
Nhân vật người đàn ông không được Nguyễn Minh Châu miêu tả quá chi tiết trong tác phẩm mà chỉ xuất hiện
chớp nhoáng qua cái nhìn của Phùng và trong câu chuyện của người đàn và hàng chài tại tòa án huyện. Lần đầu
tiên xuất hiện, người đàn ông hiện lên với dáng vẻ cao lớn, thô kệch với mái tóc như tổ quạ, tấm lưng rộng và
cong như một chiếc thuyền, hàng lông mày cháy nắng và hai con mắt độc dữ,. .Không những thế, hành động tàn
nhẫn "lão rút trong người ra một chiếc thắt lưng của lính ngụy ngày xưa. .quất tới tấp vào lưng người đàn bà" và
lời nói độc địa "Mày chết đi cho ông nhờ. Chúng mày chết đi cho ông nhờ". Đáng trách hơn là sự tàn độc của
người đàn ông không chỉ là sự bộc phát mà nó đã diễn ra rất thường xuyên "ba ngày một trận nhẹ, năm ngày
một trận nặng. Cả nước không có một người chồng nào như hắn". Những lời nói và hành động mất hết nhân
tính ấy khiến Phùng hay bất cứ ai chứng kiến đều cảm thấy phẫn nộ, giận dữ, không hiểu vì lí do gì mà người
đàn ông ấy có thể ra tay độc ác đến vậy.
Nếu không có câu chuyện của người đàn bà hàng chài tại tòa án huyện, ấn tượng về nhân vật người đàn ông chỉ
có sự độc ác, xấu xa, tàn nhẫn. Lắng nghe những trải lòng của người đàn bà, người ta mới ngỡ ra rằng người
đàn ông ấy cũng rất đáng thương. Chỉ vì cuộc sống quá khổ mà tâm tính thay đổi, con người lương thiện trước
kia bị cái tàn ác, thô bạo che lấp.
Trước kia người đàn ông hàng chài vốn là một "anh con trai cục tính nhưng hiền lắm", vì trốn đi lính ngụy nên
cuộc sống nghèo khổ, túng quẫn. Nếu trong con mắt của Phùng, Đẩu người đàn ông là một kẻ độc ác, không có
tính người thì với người đàn bà hàng chài, ông ta không chỉ là người chồng mà còn là một ân nhân. Ngày còn
trẻ, người đàn bà xấu xí lại rỗ mặt do bị bệnh đậu mùa nên khó lấy được chồng. Khi ấy người đàn ông hàng chài
đã chấp nhận cưu mang và mang đến cho người đàn bà ấy một cuộc sống gia đình đúng nghĩa. Gia đình chị
cũng có những phút giây hạnh phúc bên nhau, hạnh phúc nhất là khi nhìn những đứa con được ăn no, có một gia đình hoàn chỉnh.
Cuộc sống trên biển vốn bấp bênh, khó khăn, gia đình lại nhiều con nên mọi gánh nặng đều đổ dồn lên đôi vai
của người đàn ông ấy. Vì quá khổ nên mới sinh ra độc ác, tàn nhẫn. Không ai có thể phủ nhận sự độc ác trong
hành động, lời nói của người đàn ông thế nhưng cũng cần nhìn nhận một cách công bằng, vì ở một khía cạnh
nào đó, dù khổ cực, bần cùng thì ông ta vẫn cố gắng cáng đáng mà không bỏ rơi vợ con. Qua đây có thể lí giải
hành động và sự thay đổi từ một anh con trai hiền lành, không bao giờ đánh vợ con thành một người tàn ác, vũ
phu. Về bản chất, người đàn ông vốn hiền lành, chịu thương chịu khó, thế nhưng vì quá khổ, lại không biết
uống rượu như những người đàn ông thuyền khác nên ông ta chọn cách tiêu cực, tồi tệ nhất, đó là trút những
bực dọc, uất ức, mệt mỏi của bản thân lên người vợ đầu ấp tay gối của mình.
Nhìn vào ngoại hình khắc khổ và giọng điệu rên rỉ đau đớn khi buông những lời chửi mắng tàn tệ có thể thấy
ông ta cũng rất đau khổ. Đau khổ vì nghèo, vì bất lực trước cuộc sống đói nghèo, bế tắc. Người đàn ông cũng là
nạn nhân của cuộc sống thời hậu chiến, tuy đáng thương nhưng cũng rất đáng trách. Những áp lực vô hình của
cuộc sống đã biến ông ta trở thành một kẻ độc ác, ích kỉ, nhẫn tâm ngay cả với những người thân yêu nhất của
mình. Vì cái khổ và những cảm xúc tiêu cực của bản thân, ông ta không chỉ gây tổn thương về thể xác, tinh thần
cho vợ mà còn làm tổn thương tâm hồn non nớt và tạo ra những nhận thức, hành động lệch lạc cho đứa con của mình.
5.Nghệ sĩ nhiếp ảnh Phùng
Truyện Chiếc thuyền ngoài xa in đậm phong cách tự sự – triết lí của Nguyễn Minh Châu, rất tiêu biểu cho
hướng tiếp cận đời sống từ góc độ thế sự của nhà văn ở giai đoạn sáng tác thứ hai. Truyện ra đời trong hoàn
cảnh đất nước ta đang dần đổi mới , cuộc sống kinh tế có nhiều mặt trái , nhiều tồn tại khiến người ta phải băn
khoăn . Truyện ngắn lúc đầu được in trong tập Bến quê (1985), sau được nhà văn lấy làm tên chung cho một
tuyển tập truyện ngắn (in năm 1987).
Để có thể xuất bản một bộ lịch nghệ thuật về thuyền và biển thật ưng ý, trưởng phòng đề nghị nghệ sĩ nhiếp ảnh
Phùng đi thực tế chụp bổ sung một bức ảnh với cảnh biển buổi sáng có sương mù. Phùng đi tới một vùng biển
từng là chiến trường cũ của anh thời chống Mĩ. Sau gần một tuần lễ suy nghĩ, tìm kiếm, Phùng đã chụp được
một bức ảnh thật đẹp và toàn bích. Nhưng chính từ chiếc thuyền ngoài xa thật đẹp ấy lại bước xuống một đôi vợ
chồng hàng chài , lão đàn ông thẳng tay quật vợ chỉ để giải toả nỗi uất ức, buồn khổ của mình. Thằng Phác, con
lão che chở người mẹ đáng thương. Ba hôm sau, Phùng lại chứng kiến cảnh lão đàn ông đánh vợ, cô chị gái
tước đoạt con dao găm mà thằng em trai định dùng làm vũ khí để bảo vệ mẹ. Phùng xông ra buộc lão phải chấm
dứt hành động độc ác. Lão đàn ông đánh trả, Phùng bị thương, anh được đưa về trạm y tế của toà án huyện. Ở
đây, anh đã nghe câu chuyện của người đàn bà hàng chài với bao cảm thông và ngỡ ngàng, ngạc nhiên. Anh
hiểu :không thể đơn giản và sơ lược khi nhìn nhận mọi hiện tượng của cuộc đời.
Từ câu chuyện về một bức tranh nghệ thuật và sự thật cuộc đời đằng sau bức ảnh, truyện ngắn “Chiếc thuyền
ngoài xa” mang đến một bài học đúng đắn về cách nhìn nhận cuộc sống và con người: một cách nhìn đa diện,
nhiều chiều, phát hiện ra bản chất thật sau vẻ đẹp bên ngoài của hiện tượng.
Phùng trong truyện vừa là nhân vật chính đồng thời lại là người kể chuyện . Mọi diễn biến của tác phẩm đều
được soi chiếu qua lời kể và suy nghĩ của anh . Trong tác phẩm , Phùng đã có những phát hiện quan trọng về
cuộc sống và nghệ thuật .
Trước hết là nhận thức của Phùng về cái đẹp của nghệ thuật . Phùng đang đứng trước cảnh biển sớm khi mặt
trời mới thức dậy qua đám mây ánh hồng .Phùng bộc lộ rung động trước “ Một cảnh đắt trời cho” mà “ suốt đời
cầm máy chưa bao giờ thấy” . Nó đẹp “ như bức tranh mực tàu của một danh hoạ thời cổ” Cảnh đó được nhìn từ
xa nên “ Mũi thuyền in một nét mơ hồ loè nhoè vào bầu sương mù trắng như sữa có pha chút hồng hồng do ánh
mặt trời chiếu vào” . Tất cả khung cảnh ấy nhìn qua đôi mắt của người nghệ sĩ .Anh khẳng định “ toàn bộ khung
cảnh từ đường nét đến ánh sáng đều hài hoà và đẹp ,một vẻ đẹp thực đơn giản và toàn bích” .Phùng thực sự
rung động “ Đứng trước nó tôi trở nên bối rối .Trong trái tim như có cái gì bóp thắt vào” và “ phát hiện ra
khoảnh khắc trắng ngần của tâm hồn” . Phùng là một nghệ sĩ trên đường săn tìm cái đẹp .Anh thực sự biết quan
sát lựa chọn cái đẹp của thiên nhiên ,cảnh vật ,con người .Sự rung động của người nghệ sĩ đã đến đúng lúc .Sự
rung động thực sự khi đứng trước cái đẹp .Cái đẹp tự nhiên “ đắt giá” , “trời cho” ,mới thực sự làm rung động
lòng người . Từ đây , ta thấy người nghệ sĩ phải là người phát hiện và mang cái đẹp đến cho đời . Phùng còn
nhận ra trong suy nghĩ của mình “ chẳng biết ai đó lần đầu phát hiện ra bản thân cái đẹp là đạo đức”.Đó là cái
đẹp phải kết hợp với cái tâm ,cái tài kết hợp với cái thiện .
Nhận thức thứ 2 của Phùng là về bạo lực gia đình . Từ chiếc thuyền đẹp như mơ , Phùng thấy bước ra một đôi
vợ chồng làng chài mệt mỏi , xấu xí , thô kệch . “ Người đàn bà đứng lại , đưa cặp mắt nhìn xuống chân” .
“ Lão đàn ông lập tức trở nên hùng hổ ,mặt đỏ gay ,lão rút trong người ra một chiếc thắt lưng của lính nguỵ
ngày xưa, chẳng nói chẳng rằng lão trút cơn giận như lửa cháy, dùng cái thắt lưng quật tới tấp lên lưng người
đàn bà , lão vừa đánh vừa thở hồng hộc, hai hàm răng ngiến vào nhau ken két .Cứ mỗi nhát quất xuống lão lại
nguyền rủa bằng cái giọng rên rỉ đau đớn “ Mày chết đi cho ông nhờ .Chúng mày chết đi cho ông nhờ” . “ Người đàn bà
có vẻ cam chịu nhẫn nhục không hề kêu một tiếng ,không chống trả ,cũng không tìm cách trốn chạy . Bạo lực
trong gia đình thuyền chài ấy diễn ra thường xuyên “ Ba ngày một trận nhẹ ,năm ngày một trận nặng”. Bạo lực
gia đình là vấn đề tồn tại trong xã hội .Bước sang thế kỉ XXI chúng ta vẫn chưa dứt điểm được .ở đâu có bạo
lực gia đình thì nạn nhân của nó là người vợ ,người mẹ và những đứa con tội nghiệp .Bạo lực là dấu hiệu của sự
đau khổ ,rạn nứt của hạnh phúc gia đình .Nó làm tổn thương bao mối quan hệ của đời sống tình cảm con người
Bạo lực gia đình lại diễn ra ngay sau chiếc xe dò phá mìn của mĩ trên bãi cát .Phải chăng cuộc chiến đầu giành
độc lập tự do ta đã giải quyết được trọn vẹn ,mang lại niềm vui cho mọi người . Nhưng sau khi miền Nam hoàn
toàn giải phóng còn biết bao vấn đề đặt ra : Đói kém ,bệnh tật ,bạo lực gia đình …
Từ sự thật phũ phàng trên bãi biển về chiếc thuyền đánh ca đẹp như mơ , nghệ sĩ Phùng đã dần dần vỡ ra bao
điều về cuộc sống của những người dân chài lưới . Biết bao cảnh đời cứ phơi bày ra trước mắt : Một người đàn
bà trạc ngoài bốn mươi , cao lớn với những đường nét thô kệch . Mụ rỗ mặt . Khuôn mặt mệt mỏi sau một đêm
thức trắng kéo lưới , tái ngắt và dường như đang buồn ngủ . Người đàn ông đi sau . Tấm lưng rộng và cong như
một con thuyền . Mái tóc tổ quạ .Lão đi chân chữ bát ,hàng lông mày cháy nắng rủ xuống hai con mắt đầy vẻ
độc dữ. Cặp vợ chồng làng chài là nạn nhân của cái nghèo khổ , vất vả lao động cật lực mà vẫn ngặt nghèo vì
miếng cơm manh áo vì đông con . Người đàn bà thú nhận : “ giá tôi đẻ ít và chúng tôi sắm được cái thuyền rộng
hơn” .Thì ra đẻ nhiều ,thuyền nào cũng từ mười đến hơn mười đứa .Đây là nguyên nhân của sự đói nghèo . Rồi
thiên tai , trời làm động biển “ vợ chồng con cái phải ăn xương rồng chấm muối” Cái lí ở đời “ ông trời sinh ra
người đàn bà là để đẻ con và nuôi con cho đến khi khôn lớn ,cho nên phải gánh lấy cái khổ .Đàn bà ở thuyền
chúng tôi phải sống cho con chứ không thể sống như mình trên đất được” . Do con người, do thiên tai do cái lẽ
ở đời đã ăn sâu ,bám bám rễ hàng ngàn đời nay mà người đàn bà phải chịu đau khổ .Người đàn ông vì vất vả
cực nhọc ,không biết đổ cái bực tức , uất ức vào đâu , chỉ còn biết trút lên người vợ .
Cậu bé Phác thương mẹ nhưng hành động liều lĩnh, thiếu suy nghĩ. Nó chỉ nghĩ thương mẹ bị đánh mà sẵn sàng
bỏ quên tình phụ tử. Xét cho cùng, Phác cũng là nạn nhân của bạo lực gia đình. Cứ xem cử chỉ của nó thì thấy:
“ Cái thằng nhỏ lặng lẽ đưa mấy ngón tay khẽ sờ lên khuôn mặt người mẹ như muốn lau đi những giọt nước
mắt”. Hành động nhất thời của Phác “ Như viên đạn” bắn vào người bố và lúc này “ đang xuyên qua tâm hồn”
người mẹ .Tình cảnh thật đau lòng . Làm thế nào để xoá đi những chuyện đau lòng trong gia đình này .
Phùng còn có nhận thức về cách giải quyết tấn bi kịch gia đình . Cách giải quyết của chánh án toà án huyện là :
Gọi người đàn bà tới cơ quan và nói bằng giọng giận dữ: “ Chị không sống nổi với lão vũ phu ấy đâu” Cách giải
quyết này tuy đứng về phía người đàn bà nhưng thiếu thực tế. Đáng lẽ phải tìm hiểu nguyên nhân, phân tích cụ
thể, nắm bắt yêu cầu nguyện vọng. Cách giải quyết này thực sự chưa ổn. Không thể áp dụng lí thuyết sách vở
mà phải căn cứ vào thực tế đời sống. Cách gợi ý của Đâủ làm cho căn phòng “ lồng lộng gió biển tự nhiên bị
hút hết không khí trở nên ngột ngạt”. Cảm giác của Phùng thấy như vậy. Pháp luật phải gắn liền với đạo đức,
không thể áp dụng tuỳ tiện. Giải quyết li hôn càng làm cho gia đình rạn nứt và tan vỡ. Những đứa con rồi sẽ ra
sao ? Những người làm ăn lam lũ khó nhọc ra khơi vào lộng cần phải có bàn tay của người đàn ông. Người đàn
ông là trụ cột trong nhà .
Cuối truyện Đẩu đi gặp người đàn ông . Phùng đi gặp thằng Phác . Kết quả như thế nào , tác giả còn bỏ ngỏ .
Chỉ biết bức ảnh anh chụp có chiếc thuyền lưới vó và suy nghĩ của Phùng “ bao giờ tôi cũng thấy người đàn bà
ấy đang bước ra khỏi tấm ảnh ,đó là người đàn bà vùng biển cao lớn với đường nét thô kệch ,tấm lưng áo bạc
phếch có miếng vá ,nửa thân dưới ướt sũng ,khuôn mặt rỗ đã nhợt trắng vì kéo lưới suốt đêm” .Phải chăng đây
là sự trăn trở trước cuộc sống còn nhiều điều khó khăn , vất vả của người làm nghệ thuật . Đó là mối quan hệ
giữa văn chương với cuộc đời . 6. ​ Chánh án Đẩu
Đẩu không phải nhân vật chính trong truyện, anh chỉ xuất hiện ở gần cuối tác phẩm với vai trò là một chánh án
tòa án huyện, một người bạn đồng hành cùng nhiếp ảnh gia Phùng để giúp đỡ người đàn bà hàng chài thoát khỏi
cuộc sống như địa ngục. Dù chỉ xuất hiện thoáng qua nhưng nhân vật Đẩu để lại cho người đọc những ấn tượng
đậm nét về tình yêu thương con người, trách nhiệm của một chánh án huyện trong việc thực thi công lí, bảo vệ
người dân nơi đây. Những thay đổi về thái độ, tình cảm của Đẩu trước và sau khi lắng nghe câu chuyện của
người đàn bà hàng chài giúp người đọc nhận thức được những góc khuất xù xì của cuộc sống, qua đó hiểu hơn
về cuộc sống, cuộc sống, về bi kịch của con người thời hậu chiến.
Đẩu từng là người đồng đội cũ của Phùng, anh từng là một người lính chiến đấu cho tự do của con người, độc
lập của đất nước. Hòa bình lập lại, nếu Phùng trở thành một người nghệ sĩ nhiếp ảnh thì Đẩu trở về vùng biển
xưa nơi mình từng chiến đấu, trở thành một chánh án huyện chuyên thực thi công lí, bảo vệ con người. Một
công việc đòi hỏi trách nhiệm cao nhưng cũng thật thật ý nghĩa, thật phù hợp với một con người giàu tình
thương con người như Đẩu.
Chứng kiến cuộc sống như địa ngục của người đàn bà hàng chài, Đẩu không khoanh tay đứng nhìn mà đã có
những hành động cụ thể để giúp người đàn bà thoát khỏi cuộc sống đau khổ, nơi chị ta trở thành nạn nhân của
bạo lực gia đình. Đẩu đã mời người đàn bà lên tòa án huyện, cùng với Phùng khuyên can và giúp đỡ chị ta bỏ
chồng. Anh đã thực hiện rất tốt trách nhiệm của một "vị Bao Công của cái phố huyện vùng biển ấy" khi bênh
vực, bảo vệ những con người bất hạnh khỏi cái bạo tàn, nhẫn tâm. Hành động này cũng thể hiện được sự bất
bình trước cái ác; tình thương, sự thấu hiểu, sẻ chia với con người và quyết tâm đấu tranh để bảo vệ bình yên,
hạnh phúc cho những con người bất hạnh.
Tình yêu thương con người và sự chân thành nơi Đẩu còn được thể hiện trong cuộc trò chuyện với người đàn bà
tại tòa án huyện. Để thức tỉnh người đàn bà khỏi sự cam chịu, nhẫn nhục vô lí, anh đã đưa ra những lí lẽ cụ thể,
thuyết phục về cuộc sống như "địa ngục trần gian" của chị: "Ba ngày một trận nhẹ, năm ngày một trận nặng. Cả
nước không có một người chồng nào như hắn", sống với một người chồng bạo tàn như thế Đẩu khẳng định "chị
không sống nổi với cái lão đàn ông vũ phu ấy đâu".
Trước thái độ sợ hãi, lạy lục của người đàn bà với Phùng và Đẩu để không phải bỏ chồng, Đẩu không sao hiểu
được, sự bất bình, giận dữ thể hiện trong hành động "tự nhiên rời chiếc bàn đến đứng vịn vào lưng ghế người
đàn bà ngồi giọng trở nên đầy giận dữ, khác hẳn với giọng một vị chánh án". Thế nhưng dù có bất bình, giận dữ
thì Đẩu cũng không dùng quyền lực để ép buộc mà cố gắng khuyên giải và tôn trọng hỏi ý kiến của người đàn
bà ấy "Chị nghĩ thế nào?". Có thể thấy tất cả hành động và lời nói của Đẩu trong phiên tòa đều thể hiện sự yêu
thương và trân trọng dành cho con người, anh thật lòng muốn bảo vệ và giúp người đàn bà thoát khỏi cuộc sống
đau khổ, không phải cam chịu những đớn đau về thể xác và tinh thần.
Cũng giống như Phùng, khi lắng nghe câu chuyện của người đàn bà hàng chài, Đẩu ngỡ ngàng nhận ra những
góc khuất đằng sau câu chuyện gia đình của người đàn bà ấy. Anh hiểu ra rằng đằng sau sự cam chịu, nhẫn
nhục tưởng như vô lí của người đàn bà ấy là tình yêu thương chồng con, sự thấu hiểu lẽ đời của một người đàn
bà từng trải. Người đàn ông độc ác, vũ phu mà anh bất bình, căm giận trước đấy hóa ra cũng từng là một người
đàn ông hiền lành, chỉ vì quá khổ mà sinh ra tàn ác. Nghe những lời trải lòng của người đàn bà khiến "một cái
gì vừa mới vỡ ra trong đầu vị Bao Công của cái phố huyện vùng biển, lúc này trông Đẩu rất nghiêm nghị và đầy
suy nghĩ". Có lẽ rằng Đẩu nhận ra rằng mình đã quá nóng vội, thiếu sự sâu sắc khi nhìn nhận, đánh giá một vấn
đề nên chỉ thấy được cái bề nổi xù xì mà chưa thấy được góc khuất đa diện, phức tạp bên trong. Câu chuyện của
người đàn bà hàng chài cũng đã mang đến cho Đẩu hiểu hơn về cuộc sống, về số phận con người thời hậu
chiến: Chiến tranh đã kết thúc nhưng con người vẫn phải đối diện với những bi kịch mới, đó là cái đói, cái nghèo.
Tuy chỉ xuất hiện thoáng qua thế nhưng nhân vật Đẩu vẫn mang đến những ấn tượng đậm nét trong lòng độc giả
với những hành động, suy nghĩ đẹp. Những nhận thức mới mẻ về cuộc sống, về con người cũng thể hiện thấm
thía được những triết lí, quan niệm của Nguyễn Minh Châu về tình thương con người, đó ". .là niềm hân hoan
say mê, vừa là một nỗi đau đớn khắc khoải, một mối quan hoài thường trực về số phận, hạnh phúc của những người chung quanh mình".
7, Giá trị nhân đạo trong tác phẩm
Giá trị nhân đạo là một giá trị cơ bản của những tác phẩm văn học chân chính được tạo nên bởi niềm cảm thông
sâu sắc của nhà văn với nỗi đau của những con người, những cảnh đời bất hạnh trong cuộc sống. Đồng thời, nhà
văn còn thể hiện sự nâng niu, trân trọng với những nét đẹp trong tâm hồn và niềm tin khả năng vươn dậy của
con người dù trong bất kỳ hòan cảnh nào của cuộc đời.
- Biểu hiện ở sự đồng cảm của nhà văn đối với cuộc đời người lao động sau chiến tranh. Nhà văn đã nhìn thấu
và miêu tả chân thực cuộc sống nhọc nhằn, cơ cực, khốn khổ của những con người lao động thông qua hình
tượng người đàn bà hàng chài. Nguyễn Minh Châu đã dành biết bao yêu thương cho số phận bất hạnh của chị
(phân tích nỗi khổ của người đàn bà: xấu xí, nghèo khổ, nạn nhân của bạo hành gia đình).
- Không chỉ dừng lại ở đó, nhà văn còn lí giải những nguyên nhân gây nên đau khổ cho con người. Từ đó, ông
phê phán, lên án hành động vũ phu thô bạo của người chồng trong đối xử với VỢ, con (các em miêu tả cảnh
người chồng đánh vợ). Đồng thời, thể hiện nỗi lo âu, khắc khoải về tình trạng nghèo cực, tối tăm của con người
(cảnh đói nghèo, cơ cực, tình trạng bất ổn, bất trắc trong cuộc sống . .là nguyên nhân sâu xa của sự bạo hành và
sự nhịn nhục chịu đựng); bày tỏ niềm trắc trở trước cuộc sống của thế hệ tương lai (qua cách nhìn của nhà văn đối với cậu bé Phác).
- Tác giả đã khẳng định, ngợi ca vẻ đẹp của con người lao động mà tiêu biểu là người đàn bà hàng chài và đặt
niềm tin vào phẩm chất tốt đẹp của họ: Đó là vẻ đẹp của lòng vị tha, sự thấu hiểu lẽ đời và tình mẫu tử sâu nặng
(phân tích câu chuyện của người đàn bà ở tòa án huyện). Trong hoàn cảnh đau khổ, nghèo khó, tăm tối vẫn ngời
lên vẻ đẹp của tình yêu thương, của đức hi sinh thầm lặng.
- Tư tưởng nhân đạo mang tính triết lí của tác phẩm, còn được thể hiện ở việc nhà văn đặt ra vấn đề : làm thế
nào để giải phóng con người khỏi những bi kịch gia đình, bi kịch cuộc sống con người muốn thoát khỏi đau
khổ, tăm tối, man rợ cần những giải pháp thiết thực chứ không phải chỉ là thiện chí hoặc các lí thuyết đẹp đẽ
nhưng xa rời thực tiễn, cần rút ngắn khoảng cách giữa văn chương và hiện thực đời sống.
> Tp thể hiện quan niệm nghệ thuật của nhà văn ở giai đọan sáng tác thứ hai : Văn học nghệ thuật phải gắn bó
với cuộc sống phải vì con người. . Quan niệm ấy đã khiến tác phẩm của Nguyễn Minh Châu Ở giai đọan này
giàu nhân bản.Đọc tác phẩm của ông, người ta đau đớn, day dứt về thân phận con người và tràn đầy khát vọng làm người cao đẹp.
KB: Nguyễn Minh Châu, Nam Cao và Nguyễn Huy Tưởng đều là những người có nhận thức rất sâu sắc và tinh tế về
mối quan hệ giữa nghệ thuật và cuộc đời. Nam Cao từng thốt lên rằng “Chao ôi, nghệ thuật không cần phải là ánh
trăng lừa dối, không nên là ánh trăng lừa dối; nghệ thuật chỉ có thể là tiếng kêu đau khổ kia, thoát ra từ những kiếp
lầm than…”, còn Nguyễn Huy Tưởng viết trong Vũ Như Tô rằng: “Nghệ thuật mà không gắn liền với đời sống thì
đó nó chỉ là những bông hoa ác mà thôi”. Nguyễn Minh Châu cũng đồng những quan điểm vậy, ông sâu sắc nhận ra
rằng “Ngọc lành có vết, việc đời đa đoan”, làm chi đâu có cảnh toàn bích, toàn mỹ, chẳng qua ấy chỉ là bề nổi, ẩn
sâu sau đó là những hiện thực phũ phàng. Mà từ đó người nghệ sĩ phải dùng một đôi mắt đa diện, thấu hiểu để nhìn
nhận những vẻ đẹp đạo đức và nhân văn, chớ nên chạy theo những vẻ đẹp dẫu hào nhoáng mà trống rỗng, vô hồn.
Document Outline

  • TB:
  • 2, Phân tích tình huống truyện để thấy được ý nghĩ
  • 3, Phân tích nhân vật: Người đàn bà hàng chài.
  • 3.1.Trong tác phẩm và đoạn trích, người đàn bà hàng ch
  • 3.2.Vẻ đẹp tâm hồn của người đàn bà hàng chài trước hế
  • –Sâu xa của lý do không bỏ chồng chính là sự nhân h
  • 3.3.Phía sau sự thất học, lam lũ là người phụ nữ thâm
  • 3.4.Vượt lên trên tất cả, người đàn bà hàng chài là ng
  • 3.5.Cách nhìn nhận cuộc sống và con người của nhà văn