Phân tích tám câu thơ cuối đoạn trích Kiều
lầu Ngưng Bích siêu hay
1. Phân tích tám câu thơ cuối trong đoạn trích Kiều lầu Ngưng
Bích (mẫu 1)
Nguyễn Du chính ngọn cờ đầu đưa nền văn học chữ m của dân tộc ta
phát triển tới đỉnh cao với kiệt tác truyện Kiều. Người ta đọc truyện ấn
tượng với nó không chỉ bởi tài năng của Nguyễn Du mà lẽ bởi tấm lòng
nhân đạo của ông dành cho người phụ nữ tài hoa nhưng bạc mệnh. Với tám
câu thơ cuối đoạn trích Kiều lầu Ngưng Bích chính bức tranh m trạng
đầy xúc động của Thúy Kiều qua cách nhìn cảnh vật.
Đoạn trích Kiều lầu Ngưng Bích nằm phần Gia biến lưu lạc khi gia
đình gặp cơn loạn lạc, Kiều đã quyết định bán mình để chuộc cha. Trải qua
bao gian khổ Kiều đã bị đưa ra sống lầu Ngưng Bích. Trong tâm
trạng của một con người xa quê nhớ nhà trước khung cảnh của lầu Ngưng
Bích một nỗi buồn mênh mang đã khiến cho Kiều những cảm xúc:
Buồn trông cửa bể chiều hôm
Thuyền ai thấp thoáng cánh buồm xa xa
Hai câu thơ t cảnh biển khơi mênh mông dưới ánh chiều tà, thời điểm buổi
chiều luôn thời điểm gọi buồn gợi nhớ đặc biệt là đối với những kẻ tha
hương xa xứ. Hình ảnh biển bao la nhưng chỉ một con thuyền thấp thoáng
xa xa, lúc ẩn lúc hiện như như không. Chính sự lẻ loi, đơn của chiếc
thuyền đã hình ảnh ẩn dụ cho thân phận vơ, lẻ loi của Kiều.
Buồn trông ngọn nước mới sa
Hoa trôi man mác biết về đâu
Hình ảnh thuyền trôi định nhưng đến cánh hoa cũng định cũng chẳng
biết về đâu. Cánh hoa rơi nơi sóng nước Kiều lại liên tưởng đến thân phận
của nh, cuộc đời nàng cũng giống như một đóa hoa phù dung sớm nở tối
tàn, bị gió dập ng dồi. Xa cha m cuộc đời Kiều giống như cánh chim lạc
bầy trong giông tố, không tự quyết định được phương hướng tương lai
của mình. Kiều nhắm mắt mặc dòng đời đẩy
Buồn trông nội cỏ rầu rầu
Chân mây mặt đất một màu xanh xanh
Màu cỏ đây không còn cỏ non xanh tận chân trời giống n ngày tiết
Thanh minh nội cỏ rầu rầu, chính một màu vàng úa, héo hắt, thê
lương. Màu xanh xanh nhưng lại nhàn nhạt tạo cho cỏ cây không còn nét
tươi thêm vẻ tạo nên một sắc buồn tẻ nhạt. Tuổi thanh xuân của Kiều
với i năng trời p nét đẹp của mình nhưng Kiều đã phải chôn vùi tuổi
thanh xuân ấy lầu Ngưng Bích.
Buồn trông gió cuốn mặt dềnh
Ầm ầm tiếng sóng kêu quanh ghế ngồi
Hình ảnh biển khơi đang êm không một chút âm thanh nhưng cuối khổ
thơ lại tiếng sóng ầm ầm, tiếng ng bốn phía như muốn cuốn hết đi thân
phận nhỏ của Kiều, như chỉ trực chờ đẩy con người xuống vực thẳm.
Sóng gió biển khơi hay thực chất sóng gió cuộc đời đang chờ đón Kiều. Đó
chính những âm thanh báo hiệu một tương lai đầy bất chấp đ sau đó Kiều
liên tiếp gặp những khổ cực trong cuộc đời mình.
Với ngòi bút tài hoa tinh tế của Nguyễn Du cảnh tình uốn lượn song
song. Cảnh vật thay đổi tạo thành một bộ bức tranh tứ bình về tâm trạng của
Kiều với các câu hỏi tu từ, một loạt các từ láy đã gợi hình ảnh gợi cảm góp
phần khơi dậy những cơn sóng trong lòng của Kiều. Với đoạn trích Kiều lầu
Ngưng Bích đã cho ta thấy những nét m trạng của Kiều, giúp ta
những sự cảm đau đớn về tương lai của Kiều phía trước. Đồng thời thể
hiện được cái tài, cái tâm của Nguyễn Du.
Với 8 câu thơ ngắn gọn nhưng đã thể hiện được i tài của Nguyễn Du trong
bút pháp tả cảnh ngụ tình với tấm lòng nhân đạo của ông người đọc như cảm
thông với số phận của nàng Kiều. Đồng thời n án hội phong kiến đã đẩy
những con người tài hoa nhưng không được hội coi trọng.
2. Phân tích tám câu thơ cuối trong đoạn trích Kiều lầu Ngưng
Bích (mẫu 2)
Khi nhắc tới đại thi hào Nguyễn Du ta không thể không nhớ tới tài năng sử
dụng ngôn ngữ bậc thầy của ông. Một trong những đoạn trích tiêu biểu miêu
tả nội tâm nhân vật xuất sắc nhất của Nguyễn Du đó chính đoạn trích Kiều
lầu Ngưng Bích. Với tám câu thơ cuối của đoạn trích ta thể cảm nhận
được tâm trạng đau đớn, buồn tủi đơn của Kiều lầu Ngưng Bích qua
tài năng, nghệ thuật xuất sắc của đại thi hào.
Tám câu thơ cuối đoạn trích Kiều lầu Ngưng ch chính đỉnh cao trong
nghệ thuật tả cảnh ngụ tình của Nguyễn Du. Với bốn cặp thơ lục bát không
chỉ cho thấy được sự đau đớn đơn của Thúy Kiều khi bị giam lỏng lầu
Ngưng Bích còn mang tới những dự cảm về một tương lai sóng gió cuộc
đời.
Mở đầu bức tranh tâm trạng điệp ngữ Buồn trông được lặp lại bốn lần tạo
thành điệp khúc buồn bộc lộ nội tâm nhân vật với một nỗi buồn đang dâng lên
tầng tầng lớp lớp
Buồn trông cửa bể chiều hôm
Thuyền ai thấp thoáng cánh buồm xa xa
Cảnh vật lầu Ngưng Bích n thấu hiểu đồng điệu với nỗi đau của Thúy
Kiều. Hình ảnh hoàng hôn gợi một cảnh chiều buồn, cả không gian mênh
mông thời gian qua con mắt của Kiều hình nh hoàng hôn ấy thật trầm
buồn uất giống như những nỗi sầu đang trào dâng trong tâm hồn của nàng.
Chiều hôm khi bóng đêm dần bao phủ. Đây chính khoảng thời gian yên
tĩnh để con người ta sống chậm lại, để những chiêm nghiệm suy ngẫm
về cuộc đời. Với không gian chiều mênh mông trước biển cả rộng lớn,
Thúy Kiều cũng tủi phận nghĩ về thân phận mình. Kiều thấm thía hơn nữa
sự đơn bé nhỏ tình cảnh trớ trêu của bản thân mình. Không gian rộng
lớn hình ảnh chiếc thuyền nh bé khiến cho m trạng của người con gái
xa nhà càng thêm buồn tủi, đơn, xót xa.
Kiều mong mỏi một mái ấm gia đình, một người để dựa vào thế
nhưng Thuyền ai thấp thoáng chính là biểu tượng của sự sống người
nhưng sự thấp thoáng đây t xa xa đã cho thấy điều ảo, mịt mờ
không thật. Với nghệ thuật đảo ngữ đã nhấn mạnh sự nhỏ bé, xa xôi, mờ
ảo của con thuyền nơi cửa bể. Chiếc thuyền lênh đênh n Kiều mờ mịt
không bến, không bờ, không phương hướng giống như cuộc đời của Kiều.
Khi ngắm nhìn cảnh mặt biển phía xa Kiều cảm thấy buồn nên đã tìm về
cảnh vật xung quanh mình gần hơn để thể quan sát càng hơn để không
còn thấy thấp thoáng, không còn thấy mịt như con thuyền kia nữa. Thế
nhưng
Buồn trông ngọn nước mới sa
Hoa trôi man mác biết về đâu
Giữa dòng nước đang cuộn chảy phía dưới chân kìa những cánh hoa đang
xoay tròn, bị cuốn trôi đi. Cánh hoa mỏng manh y chính ẩn dụ về số phận
của người con gái chìm nổi giữa dòng đời, gợi nhắc về một số phận đầy bi
kịch của nàng. Câu hỏi tu từ hoa trôi man mác biết về đâu giống n xoáy
vào trong tâm của người đọc. Ta thấy sự tuyệt vọng thấy sự buông xuôi
của Kiều.
Buồn trông nội cỏ rầu rầu
Chân mây mặt nước một màu xanh xanh
Hình ảnh ngọn cỏ không còn xanh non n trước mà đã rầu rầu càng nhấn
mạnh thêm nỗi ưu phiền của nàng. Trong khung cảnh vắng lặng ấy Kiều
muốn nghe được một tiếng vọng lại của một lời hồi đáp của con người để
nàng cảm thấy an ủi được thấy đỡ đơn
Buồn trông gió cuốn mặt dềnh
Ầm ầm tiếng sóng vây quanh ghế ngồi
Cả sáu câu thơ đầu đều không một chút âm thanh nhưng hai câu thơ
cuối tiếng sóng ầm ầm th hiện sự đột ngột bất ngờ. Từ ầm m cũng dự
đoán tương lai về một số phận, về những bi kịch Kiều phải chịu đựng tiếp
theo.
Qua tám câu thơ ta thấy được bút pháp tả cảnh ngụ tình tài hoa của Nguyễn
Du. Đó chính tâm trạng của người con xa xứ, của một con người tài hoa
nhưng bạc mệnh bị hội ruồng bỏ.

Preview text:

Phân tích tám câu thơ cuối đoạn trích Kiều ở
lầu Ngưng Bích siêu hay
1. Phân tích tám câu thơ cuối trong đoạn trích Kiều ở lầu Ngưng
Bích (mẫu 1)
Nguyễn Du chính là ngọn cờ đầu đưa nền văn học chữ Nôm của dân tộc ta
phát triển tới đỉnh cao với kiệt tác truyện Kiều. Người ta đọc truyện và ấn
tượng với nó không chỉ bởi tài năng của Nguyễn Du mà có lẽ bởi tấm lòng
nhân đạo của ông dành cho người phụ nữ tài hoa nhưng bạc mệnh. Với tám
câu thơ cuối đoạn trích Kiều ở lầu Ngưng Bích chính là bức tranh tâm trạng
đầy xúc động của Thúy Kiều qua cách nhìn cảnh vật.
Đoạn trích Kiều ở lầu Ngưng Bích nằm ở phần Gia biến và lưu lạc khi gia
đình gặp cơn loạn lạc, Kiều đã quyết định bán mình để chuộc cha. Trải qua
bao gian khổ Kiều đã bị Tú Bà đưa ra sống ở lầu Ngưng Bích. Trong tâm
trạng của một con người xa quê và nhớ nhà trước khung cảnh của lầu Ngưng
Bích một nỗi buồn mênh mang đã khiến cho Kiều có những cảm xúc:
Buồn trông cửa bể chiều hôm
Thuyền ai thấp thoáng cánh buồm xa xa
Hai câu thơ tả cảnh biển khơi mênh mông dưới ánh chiều tà, thời điểm buổi
chiều luôn là thời điểm gọi buồn gợi nhớ đặc biệt là đối với những kẻ tha
hương xa xứ. Hình ảnh biển bao la nhưng chỉ có một con thuyền thấp thoáng
xa xa, lúc ẩn lúc hiện như có như không. Chính sự lẻ loi, cô đơn của chiếc
thuyền đã là hình ảnh ẩn dụ cho thân phận bơ vơ, lẻ loi của Kiều.
Buồn trông ngọn nước mới sa
Hoa trôi man mác biết là về đâu
Hình ảnh thuyền trôi vô định nhưng đến cánh hoa cũng vô định cũng chẳng
biết về đâu. Cánh hoa rơi nơi sóng nước Kiều lại liên tưởng đến thân phận
của mình, cuộc đời nàng cũng giống như một đóa hoa phù dung sớm nở tối
tàn, bị gió dập sóng dồi. Xa cha mẹ là cuộc đời Kiều giống như cánh chim lạc
bầy trong giông tố, không tự quyết định được phương hướng và tương lai
của mình. Kiều nhắm mắt mặc dòng đời xô đẩy
Buồn trông nội cỏ rầu rầu
Chân mây mặt đất một màu xanh xanh
Màu cỏ ở đây không còn là cỏ non xanh tận chân trời giống như ngày tiết
Thanh minh mà là nội cỏ rầu rầu, chính là một màu vàng úa, héo hắt, thê
lương. Màu xanh xanh nhưng lại nhàn nhạt tạo cho cỏ cây không còn nét
tươi mà thêm vẻ ủ rũ tạo nên một sắc buồn tẻ nhạt. Tuổi thanh xuân của Kiều
với tài năng trời phú và nét đẹp của mình nhưng Kiều đã phải chôn vùi tuổi
thanh xuân ấy ở lầu Ngưng Bích.
Buồn trông gió cuốn mặt dềnh
Ầm ầm tiếng sóng kêu quanh ghế ngồi
Hình ảnh biển khơi đang êm ả không có một chút âm thanh nhưng cuối khổ
thơ lại là tiếng sóng ầm ầm, tiếng sóng bốn phía như muốn cuốn hết đi thân
phận nhỏ bé của Kiều, như chỉ trực chờ đẩy con người xuống vực thẳm.
Sóng gió biển khơi hay thực chất là sóng gió cuộc đời đang chờ đón Kiều. Đó
chính là những âm thanh báo hiệu một tương lai đầy bất chấp để sau đó Kiều
liên tiếp gặp những khổ cực trong cuộc đời mình.
Với ngòi bút tài hoa và tinh tế của Nguyễn Du cảnh và tình uốn lượn song
song. Cảnh vật thay đổi tạo thành một bộ bức tranh tứ bình về tâm trạng của
Kiều với các câu hỏi tu từ, một loạt các từ láy đã gợi hình ảnh gợi cảm góp
phần khơi dậy những cơn sóng trong lòng của Kiều. Với đoạn trích Kiều ở lầu
Ngưng Bích đã cho ta thấy rõ những nét tâm trạng của Kiều, giúp ta có
những sự cảm đau đớn về tương lai của Kiều ở phía trước. Đồng thời thể
hiện được cái tài, cái tâm của Nguyễn Du.
Với 8 câu thơ ngắn gọn nhưng đã thể hiện được cái tài của Nguyễn Du trong
bút pháp tả cảnh ngụ tình với tấm lòng nhân đạo của ông người đọc như cảm
thông với số phận của nàng Kiều. Đồng thời lên án xã hội phong kiến đã đẩy
những con người tài hoa nhưng không được xã hội coi trọng.
2. Phân tích tám câu thơ cuối trong đoạn trích Kiều ở lầu Ngưng Bích (mẫu 2)
Khi nhắc tới đại thi hào Nguyễn Du ta không thể không nhớ tới tài năng sử
dụng ngôn ngữ bậc thầy của ông. Một trong những đoạn trích tiêu biểu miêu
tả nội tâm nhân vật xuất sắc nhất của Nguyễn Du đó chính là đoạn trích Kiều
ở lầu Ngưng Bích. Với tám câu thơ cuối của đoạn trích ta có thể cảm nhận
được tâm trạng đau đớn, buồn tủi và cô đơn của Kiều ở lầu Ngưng Bích qua
tài năng, nghệ thuật xuất sắc của đại thi hào.
Tám câu thơ cuối đoạn trích Kiều ở lầu Ngưng Bích chính là đỉnh cao trong
nghệ thuật tả cảnh ngụ tình của Nguyễn Du. Với bốn cặp thơ lục bát không
chỉ cho thấy được sự đau đớn cô đơn của Thúy Kiều khi bị giam lỏng ở lầu
Ngưng Bích mà còn mang tới những dự cảm về một tương lai sóng gió cuộc đời.
Mở đầu bức tranh tâm trạng là điệp ngữ Buồn trông được lặp lại bốn lần tạo
thành điệp khúc buồn bộc lộ nội tâm nhân vật với một nỗi buồn đang dâng lên tầng tầng lớp lớp
Buồn trông cửa bể chiều hôm
Thuyền ai thấp thoáng cánh buồm xa xa
Cảnh vật ở lầu Ngưng Bích như thấu hiểu đồng điệu với nỗi đau của Thúy
Kiều. Hình ảnh hoàng hôn gợi một cảnh chiều buồn, cả không gian mênh
mông và thời gian qua con mắt của Kiều hình ảnh hoàng hôn ấy thật trầm
buồn và uất giống như những nỗi sầu đang trào dâng trong tâm hồn của nàng.
Chiều hôm là khi bóng đêm dần bao phủ. Đây chính là khoảng thời gian yên
tĩnh để con người ta sống chậm lại, để có những chiêm nghiệm và suy ngẫm
về cuộc đời. Với không gian chiều tà mênh mông trước biển cả rộng lớn,
Thúy Kiều cũng tủi phận và nghĩ về thân phận mình. Kiều thấm thía hơn nữa
sự cô đơn bé nhỏ và tình cảnh trớ trêu của bản thân mình. Không gian rộng
lớn và hình ảnh chiếc thuyền nhỏ bé khiến cho tâm trạng của người con gái
xa nhà càng thêm buồn tủi, cô đơn, xót xa.
Kiều mong mỏi một mái ấm gia đình, một người để dựa vào thế
nhưng Thuyền ai thấp thoáng chính là biểu tượng của sự sống có người
nhưng sự thấp thoáng ở đây và từ xa xa đã cho thấy điều hư ảo, mịt mờ mà
không có thật. Với nghệ thuật đảo ngữ đã nhấn mạnh sự nhỏ bé, xa xôi, mờ
ảo của con thuyền nơi cửa bể. Chiếc thuyền lênh đênh như Kiều mờ mịt
không bến, không bờ, không phương hướng giống như cuộc đời của Kiều.
Khi ngắm nhìn cảnh mặt biển phía xa Kiều cảm thấy buồn nên đã tìm về
cảnh vật xung quanh mình gần hơn để có thể quan sát kĩ càng hơn để không
còn thấy thấp thoáng, không còn thấy mịt mù như con thuyền kia nữa. Thế nhưng
Buồn trông ngọn nước mới sa
Hoa trôi man mác biết là về đâu
Giữa dòng nước đang cuộn chảy phía dưới chân kìa những cánh hoa đang
xoay tròn, bị cuốn trôi đi. Cánh hoa mỏng manh ấy chính là ẩn dụ về số phận
của người con gái chìm nổi giữa dòng đời, gợi nhắc về một số phận đầy bi
kịch của nàng. Câu hỏi tu từ hoa trôi man mác biết là về đâu giống như xoáy
vào trong tâm tư của người đọc. Ta thấy sự tuyệt vọng và thấy sự buông xuôi của Kiều.
Buồn trông nội cỏ rầu rầu
Chân mây mặt nước một màu xanh xanh
Hình ảnh ngọn cỏ không còn xanh non như trước mà đã rầu rầu càng nhấn
mạnh thêm nỗi ưu phiền của nàng. Trong khung cảnh vắng lặng ấy Kiều
muốn nghe được một tiếng vọng lại của một lời hồi đáp của con người để
nàng cảm thấy an ủi và được thấy đỡ cô đơn
Buồn trông gió cuốn mặt dềnh
Ầm ầm tiếng sóng vây quanh ghế ngồi
Cả sáu câu thơ đầu đều không có một chút âm thanh nhưng ở hai câu thơ
cuối tiếng sóng ầm ầm thể hiện sự đột ngột bất ngờ. Từ ầm ầm cũng là dự
đoán tương lai về một số phận, về những bi kịch mà Kiều phải chịu đựng tiếp theo.
Qua tám câu thơ ta thấy được bút pháp tả cảnh ngụ tình tài hoa của Nguyễn
Du. Đó chính là tâm trạng của người con xa xứ, của một con người tài hoa
nhưng bạc mệnh bị xã hội ruồng bỏ.
Document Outline

  • Phân tích tám câu thơ cuối đoạn trích Kiều ở lầu N
    • 1. Phân tích tám câu thơ cuối trong đoạn trích Kiề
    • 2. Phân tích tám câu thơ cuối trong đoạn trích Kiề