











Preview text:
lOMoAR cPSD| 59691467
Đề 20: Phân tích các loại cảm giác (nội dung, ứng dụng), từ đó đưa ra ý kiến của
nhóm anh/chị về cách ứng dụng của các loại cảm giác trong học tập, cuộc sống và
rèn luyện cảm giác của mình. MỞ ĐẦU
Trong quá trình nhận thức, những sự vật, hiện tượng ở xung quanh chúng ta
đều có những thuộc tính bề ngoài như màu sắc, hình dáng, kích thước,... Những
thuộc tính này tác động đến các giác quan trong cơ thể, tạo ra những cảm giác khác
nhau ở con người. Cảm giác, nằm trong giai đoạn nhận thức cảm tính, từ đó trở thành
cơ sở đầu tiên, tạo ra những nhận thức cao hơn của con người về thế giới quanh. Để
hiểu rõ hơn về các loại cảm giác, từ đó nắm vững được định nghĩa và cách thức hoạt
động của chúng, bài của nhóm sẽ tập trung phân tích về các loại cảm giác, ứng dụng
của chúng và thảo luận về cách rèn luyện cảm giác trong các hoạt động sống của con người. NỘI DUNG I.
Cảm giác 1. Khái niệm chung về cảm giác
Cảm giác là hiện tượng tâm lí đơn giản nhất, khởi đầu cho hoạt động nhận
thức và đời sống tâm lý của con người. Cảm giác được định nghĩa là quá trình nhận
thức phản ánh từng thuộc tính riêng lẻ, bề ngoài của sự vật, hiện tượng và trạng thái
bên trong của cơ thể khi chúng đang trực tiếp tác động vào các giác quan của chúng ta1.
2. Đặc điểm của cảm giác
Đầu tiên, cảm giác là quá trình nhận thức, có nảy sinh, có diễn biến và có kết
thúc. Các sự vật, hiện tượng trong hiện thực khách quan và các trạng thái tâm sinh lí
của chính con người đã kích thích gây ra cảm giác.
Theo đó, cảm giác không chỉ phản ánh từng thuộc tính riêng lẻ, không liên kết
với nhau của sự vật, hiện tượng mà còn phản ánh cả những trạng thái bên trong cơ
thể thông qua hoạt động của các giác quan. Tuy nhiên, cảm giác không phản ánh
được trọn vẹn các thuộc tính của sự vật, hiện tượng. Có thể nhận thấy rằng
1 Trường Đại học Luật Hà Nội, Giáo trình Tâm lí học đại cương, NXB Tư pháp, 2024, trang 110. lOMoAR cPSD| 59691467
cảm giác chỉ nảy sinh, diễn biến khi sự vật, hiện tượng đang trực tiếp tác động vào
các giác quan của chúng ta.
Ở đặc điểm cuối cùng, không giống với cảm giác của động vật, cảm giác của
con người khác xa về chất, mang bản chất xã hội và lịch sử. Điều này được thể hiện
thông qua những yếu tố như: Đối tượng phản ánh của cảm giác ở người bao gồm cả
những thuộc tính có sẵn trong tự nhiên và sản phẩm do lao động của con người sáng
tạo ra; cơ chế sinh lý ở cảm giác ở người có cả hệ thống tín hiệu thứ nhất, thứ hai
(ngôn ngữ); cảm giác người chỉ là mức độ định hướng đầu tiên chứ không phải là
hiện tượng cao nhất, duy nhất như ở một số động vật, chịu ảnh hưởng từ nhiều hiện
tượng tâm lí khác và được tạo theo phương thức đặc thù của xã hội.
3. Vai trò của cảm giác
Là mức độ nhận thức đơn giản nhất mở đầu cho hoạt động nhận thức, những
vai trò quan trọng của cảm giác được biểu hiện như sau:
Thứ nhất, cảm giác là hình thức định hướng đầu tiên của con người trong hiện
thực khách quan, tạo nên mối liên hệ trực tiếp giữa cơ thể và môi trường xung quanh.
Các giác quan chính là phương tiện giúp hình thành mối liên hệ này, chúng chuyển
đổi những tác động từ sự vật, hiện tượng xung quanh để hỗ trợ quá trình hình thành nhận thức.
Thứ hai, cảm giác cung cấp nguyên liệu cho các hình thức nhận thức cao hơn.
V.I.Lênin cho rằng “Cảm giác là viên gạch xây nên lâu đài nhận thức”, khẳng định
rằng không có cảm giác thì không thể có tri giác hay tâm lí nói chung.
Cuối cùng, cảm giác là điều kiện quan trọng để đảm bảo trạng thái hoạt động
của vỏ não, nhờ đó đảm bảo hoạt động thần kinh của con người được bình thường.
Việc “đói cảm giác” có thể gây ra sự rối loạn các chức năng tâm sinh lí của con người.
4. Các quy luật cơ bản của cảm giác
Cảm giác của con người hoạt động dựa trên ba quy luật cơ bản: Quy luật
ngưỡng cảm giác, quy luật thích ứng cảm giác và quy luật về sự tác động qua lại lẫn nhau của cảm giác.
4.1 Quy luật ngưỡng cảm giác. lOMoAR cPSD| 59691467
Cảm giác cần được tạo ra bởi sự kích thích vào các giác quan. Tuy nhiên,
không phải bất cứ kích thích nào vào giác quan cũng tạo ra cảm giác. Cần một giới
hạn để các kích thích có thể tạo ra cảm giác, gọi là ngưỡng cảm giác, gồm ngưỡng
cảm giác phía trên và phía dưới. Theo đó, ngưỡng cảm giác phía trên là cường độ
kích thích tối đa mà ở đó vẫn có thể gây được cảm giác và ngưỡng cảm giác phía
dưới là cường độ kích thích tối thiểu để tạo ra cảm giác. Phạm vi giữa hai ngưỡng
này là vùng cảm giác được, tồn tại vùng phản ánh tốt nhất ở trong. Ngoài ra còn tồn
tại ngưỡng sai biệt, mức chênh lệch tối thiểu giữa hai kích thích cùng loại mà con
người vẫn có thể phân biệt được.
4.2. Quy luật thích ứng của cảm giác.
Để phản ánh được tốt nhất và bảo vệ hệ thần kinh, cảm giác của con người có
khả năng thích ứng với những kích thích từ bên ngoài và mỗi cảm giác lại có những
mức độ thích ứng khác nhau. Thích ứng là khả năng thay đổi độ nhạy cảm của các
giác quan cho phù hợp với sự thay đổi của cường độ kích thích, được phát triển do
hoạt động và rèn luyện. Khi cường độ kích thích tăng thì độ nhảy cảm giảm và ngược
lại. Nếu quá trình kích thích kéo dài, cảm giác có thể suy yếu dần rồi mất đi.
4.3. Quy luật về sự tác động qua lại lẫn nhau giữa các cảm giác.
Các cảm giác của con người không tồn tại một cách độc lập, tách rời mà luôn
tác động qua lại lẫn nhau. Một cảm giác này có thể ảnh hưởng đến một cảm giác
khác dựa vào quy luật sau: Sự kích thích yếu lên một cơ quan phân tích này sẽ gia
tăng độ nhạy cảm của một cơ quan phân tích kia và ngược lại. Sự tác động lẫn nhau
này có thể diễn ra một cách đồng thời hoặc nối tiếp ở những cảm giác cùng loại,
khác loại. Theo đó, sự thay đổi của một kích thích cùng loại xảy ra trước đó hoặc
đồng thời gọi là hiện tượng tương phản trong cảm giác, gồm tương phản nối tiếp và đồng thời.
II. Các loại cảm giác và ứng dụng dụng của chúng 1. Cảm giác cơ bản 1.1. Cảm giác nhìn
Cảm giác nhìn (thị giác) là một loại cảm giác được nảy sinh từ sự tác động
của các sóng ánh sáng phát ra từ sự vật vào mắt. Thông qua thị giác, chúng ta nhận
được đến 85% thông tin từ môi trường xung quanh. Thị giác không chỉ là nguồn cảm
giác quan trọng nhất mà còn là cơ sở cho tri giác nhìn nhằm giúp chúng ta nhận thức lOMoAR cPSD| 59691467
về màu sắc, hình dạng và không gian. Nhờ vào thị giác, con người có khả năng quan
sát và đánh giá thế giới xung quanh một cách toàn diện và chi tiết.
Trong cuộc sống hàng ngày, cảm giác nhìn đóng vai trò chủ chốt trong việc
nhận thức, học hỏi và tương tác với môi trường. Điển hình như khi chúng ta đi bộ
trên đường, thị giác giúp nhận biết chướng ngại vật, phương tiện giao thông, biển
báo và những nguy cơ tiềm ẩn. Ngoài ra, trong các hoạt động như lái xe, làm việc
trên máy tính, hoặc thưởng thức nghệ thuật, thị giác là giác quan then chốt giúp
chúng ta hoàn thành những công việc phức tạp đó. Với tầm quan trọng to lớn trong
việc thu nhận thông tin, thị giác chiếm phần lớn lượng thông tin mà con người thu
thập được từ thế giới bên ngoài, điều này đã được thể hiện qua câu nói "Trăm nghe không bằng một thấy". 1.2. Cảm giác nghe
Cảm giác nghe hay còn được biết đến là thính giác. Đây là loại cảm giác được
nảy sinh từ sự chuyển động của sóng âm thanh có bước sóng từ 16 đến 20.000 hertz
và tác động vào màng tai. Ở đây, cơ quan phân tích thính giác sẽ tiếp nhận và xử lý
âm thanh, giúp phản ánh các thuộc tính như cường độ, cao độ, và sắc thái của âm
thanh đó. Âm thanh sẽ truyền đến từ mọi phía giúp chúng ta hình dung rõ hơn về
môi trường xung quanh, đặc biệt là những âm thanh mà mắt không thể trực tiếp quan
sát. Qua đó thấy rằng, thính giác và thị giác có chức năng bổ trợ lẫn nhau để giúp
chúng ta trải nghiệm thế giới một cách toàn diện hơn.
Trong đời sống, thính giác không chỉ giúp con người giao tiếp mà còn tạo ra
các kết nối xã hội. Nhờ khả năng nghe, chúng ta có thể nhận biết giọng nói của người
thân, nghe nhạc và cảm nhận các âm thanh từ thiên nhiên như tiếng chim hót hay
tiếng mưa rơi. Đặc biệt, cảm giác nghe còn đóng vai trò trong việc cảnh báo, giúp
nhận biết những nguy cơ từ âm thanh như tiếng còi xe, tiếng chuông báo động,....
Vậy nên, thính giác nhằm góp phần duy trì an toàn và nâng cao chất lượng cuộc sống của con người.
1.3. Cảm giác ngửi
Cảm giác ngửi hay khứu giác là cảm giác được nảy sinh do các phân tử hóa
học hòa lẫn trong không khí tác động vào các tế bào cảm nhận mùi trong mũi, miệng
và cuống họng. Khứu giác giúp chúng ta nhận biết các mùi hương khác nhau, từ đó lOMoAR cPSD| 59691467
phản ứng với những mùi dễ chịu hoặc khó chịu. Đây được coi là giác quan có khả
năng kích hoạt cảm xúc và ký ức mạnh mẽ nhất, vì mùi hương thường liên quan đến
những trải nghiệm cá nhân và tình cảm.
Chính vì vậy, khứu giác có ý nghĩa vô cùng lớn trong cuộc sống, không chỉ
giúp con người thưởng thức các hương thơm dễ chịu mà còn cảnh báo về các mùi
nguy hiểm khác. Ví dụ như khi ngửi thấy mùi khói, chúng ta có thể biết được nguy
cơ cháy và đưa ra các phản ứng kịp thời. Ngoài ra, cảm giác ngửi còn có khả năng
gợi nhớ những kỷ niệm và cảm xúc liên quan vì một mùi hương quen thuộc có thể
kích hoạt những ký ức sâu sắc về các sự kiện trong quá khứ. Sự liên kết chặt chẽ
giữa khứu giác và cảm xúc cũng là lý do tại sao một số mùi hương có thể tạo ra cảm
giác thoải mái hoặc căng thẳng tùy vào từng bối cảnh. 1.4. Cảm giác nếm
Cảm giác nếm (vị giác) được nảy sinh do các thuộc tính hóa học của các chất
hòa tan trong nước bọt tác động vào bộ máy thụ cảm của vị giác là các nụ vị giác
(núm vị giác) được xếp lại với nhau tạo thành những cấu trúc trên lưỡi. Thông
thường, mỗi người sẽ có khoảng 10.000 nụ giác trong miệng và phần lớn là ở trên
lưỡi nhưng cũng có thể trên vòm miệng hoặc phần phía sau của họng. Chính vì vậy,
vị giác giúp chúng ta nhận biết được các vị ngọt, mặn, chua, đắng và umami. Cảm
giác này không chỉ giúp tận hưởng thực phẩm mà còn là cơ chế bảo vệ giúp chúng
ta phát hiện thực phẩm không an toàn.
Trong cuộc sống hàng ngày, cảm giác nếm giúp con người tận hưởng được
những món ăn ngon, khám phá được các hương vị mới lạ. Việc kết hợp cảm giác
nếm với cảm giác ngửi giúp gia tăng sự phong phú trong trải nghiệm ẩm thực. Chẳng
hạn, khi thưởng thức một bữa ăn, nếu mất cảm giác ngửi thì việc phân biệt các hương
vị khác nhau cũng trở nên khó khăn hơn. Bên cạnh đó, cảm giác nếm còn giúp chúng
ta phát hiện những thực phẩm có hại hoặc ôi thiu, đóng vai trò bảo vệ sức khỏe. Điều
này đặc biệt quan trọng trong việc phòng tránh ngộ độc thực phẩm bởi một vị lạ hoặc
đắng có thể là dấu hiệu của sự hỏng hóc trong thực phẩm. lOMoAR cPSD| 59691467
2. Cảm giác cơ thể 2.1. Xúc giác
Xúc giác là cảm giác được tạo nên do những kích thích cơ học và nhiệt học
tác động lên da. Da là một cơ quan đa năng, ngoài việc bảo vệ con người khỏi bị tổn
thương và giữ các dịch trong cơ thể, nó còn chứa các đầu mút thần kinh mang lại
cảm giác được tỳ vào da, sự ấm và lạnh. Bất cứ thứ gì tiếp xúc với da của con người
đều cung cấp kích thích xúc giác. Sự kích thích này làm tăng trải nghiệm của cảm
giác đụng chạm.2 Từ những tiếp xúc trên bề mặt đó, các dây thần kinh sẽ gửi tín hiệu
về não bộ và hình thành nên cảm giác. Da là cơ quan cảm giác lớn nhất của con
người vì diện tích bề mặt của da rất lớn.
Trong đời sống hàng ngày, xúc giác đóng vai trò quan trọng trong việc giúp
con người cảm nhận những tác động, kích thích qua da từ hoạt động cầm, nắm, sờ,
chạm. Nhờ có xúc giác mà ta cảm nhận được vật nào nóng, vật nào lạnh, thứ gì dễ
chịu, thứ gì không để từ đó có những phản ứng phù hợp. Ví dụ như khi chạm vào
bình nước mới đun, xúc giác sẽ cho ta biết cảm giác nóng để lập tức bỏ tay ra. Đối
với người khiếm thị, xúc giác còn là phương tiện không thể thiếu để nhận biết và đọc được chữ nổi.
2.2. Cảm giác tiền đình
Cảm giác tiền đình là một phần chính của cảm giác cân bằng, cho ta biết cơ
thể của chúng ta được định hướng như thế nào trong không gian và về những chuyển
động chung của đầu. Các tế bào cảm thụ loại thông tin này là hai túi tiền đình và ba
ống bán nguyệt ở trong tai trong của chúng ta. Những túi tiền đình chứa một chất
lỏng nhờn và những tinh thể rất nhỏ gọi là sỏi tai ở phần cuối của tế bào hình lông.
Các ống bán nguyệt thì chứa đầy chất lỏng, có hình vòng cung với những sợi lông
nhỏ.3 Cảm giác này hình thành khi chúng ta di chuyển, các sỏi tai cũng theo đó
chuyển dịch trong túi tiền đình, kéo theo chất lỏng trong ống bán nguyệt cũng di
chuyển, kích thích những phần cuối tế bào hình lông. Từ đó kích hoạt những tế bào
thần kinh dọc các dây thần kinh thính giác, báo hiệu cho bộ não về tốc độ di chuyển
và hướng di chuyển của đầu.
2 Trường Đại học Luật Hà Nội, Giáo trình Tâm lí học đại cương, 2024, tr. 116
3 Trường Đại học Luật Hà Nội, Giáo trình Tâm lí học đại cương, 2024, tr. 117 lOMoAR cPSD| 59691467
Nhờ có cảm giác tiền đình mà con người có thể cảm nhận được tư thế, vị trí
của đầu, chân, tay mình trong không gian và nhờ đó mà giữ được thăng bằng. Thăng
bằng được duy trì là nhờ có sự phối hợp của các cơ chế điều hòa tiền đình và cơ chế
điều hòa vận động thị giác. Chẳng hạn như khi đọc sách trên một chiếc ô tô đang
chuyển động, sự xung đột giữa tín hiệu của thị giác với tín hiệu từ tiền đình sẽ khiến
ta cảm thấy buồn nôn để biết bỏ sách xuống. Những người bị mất cảm giác tiền đình
do tai nạn hay ốm đau thì hầu như không thể định hướng, thường hay bị té ngã và chóng mặt.
2.3. Cảm giác vận động
Cảm giác vận động cho con người biết về vị trí các phần cơ thể so với những
phần khác. Thông tin cảm giác vận động đến từ những cơ quan cảm thụ ở các khớp
xương, cơ bắp và dây chằng. Những cơ quan thụ cảm nằm ở khớp xương phản ứng
trước áp lực kèm theo ở vị trí khác nhau của tứ chi và những thay đổi về áp lực kèm
theo sự vận động của các khớp xương. Trong khi đó, những cơ quan thụ cảm nằm ở
cơ bắp và dây chằng lại phản ứng trước những thay đổi về sức căng kèm theo sự co và giãn cơ.4
Trong đời sống thực tế, con người có thể điều khiển tất cả các chuyển động
của cơ thể như giơ tay, giơ chân, đứng lên, ngồi xuống là nhờ vào thông tin cảm giác
vận động. Cảm giác vận động không chỉ được ứng dụng vào việc di chuyển, đi lại
hàng ngày mà còn giúp chúng ta tăng cường thể dục thể thao, cải thiện sức khỏe,
chống lại bệnh tật và có được tinh thần phấn chấn hơn. 2.4. Cảm giác đau
Cảm giác đau là một phần của hệ thống cảnh báo nhằm ngăn cản chúng tiếp
tục các hoạt động có thể gây hại cho cơ thể. Giống như những cảm giác khác, cảm
giác đau được tạo ra bởi não. Các điểm thụ cảm cảm giác đau nằm trên khắp cơ thể
chúng ta, không chỉ trên bề mặt da và mạng lưới vật chất cảm nhận được cảm giác
này cũng phủ lên toàn bộ cơ thể chúng ta. Mỗi thụ thể đau tạo thành một đầu của tế
bào thần kinh, được kết nối với đầu kia của tủy sống bằng một sợi thần kinh dài hoặc
sợi trục. Khi thụ thể đau bị kích hoạt, nó sẽ gửi tín hiệu lên sợi thần kinh.5 4
Trường Đại học Luật Hà Nội, Giáo trình Tâm lí học đại cương, 2024, tr. 118 lOMoAR cPSD| 59691467 5
Chuyên trang sức khoẻ Bệnh viện Vinmec, Các thụ cảm đau là gì? Vì sao bạn có cảm giác đau?,
https://www.vinmec.com/vie/bai-viet/cac-thu-cam-dau-la-gi-vi-sao-ban-co-cam-giac-dau-vi, truy cập ngày
Sau đó bắt đầu từ tủy sống, các xung động thần kinh được truyền tới não rồi tới vùng
vỏ não, tại đây vị trí và cường độ của cơn đau được xác định để từ đó phản ứng với cơn đau.
Cảm giác đau có ý nghĩa vô cùng quan trọng với con người bởi nó cung cấp
cảnh báo cho cơ thể để kịp thời kiểm soát cơn đau. Chẳng hạn như khi bị đứt tay,
cảm giác đau ở tay cho ta biết cần phải xử lý vết thương; khi bị viêm ruột thừa, cảm
giác đau ở quanh rốn cũng cảnh báo cho ta ruột thừa đang gặp vấn đề để tới bệnh
viện cắt bỏ. Hay như khi bị ngã và bị đau đầu gối, cảm giác đau cho ta biết cần xoa
đầu gối để tín hiệu từ cảm giác chạm vào đó sẽ tạm thời chặn tín hiệu đau từ nơi bị
thương truyền đến não. Do đó, cảm giác đau góp phần duy trì trạng thái an toàn và
khỏe mạnh cho cơ thể con người.
III. Ứng dụng của các loại cảm giác trong học tập, cuộc sống và cách rèn luyện
cảm giác của bản thân.
1. Ứng dụng của các loại cảm giác cơ bản và cách rèn luyện cảm giác của bản thân.
1.1. Ứng dụng của các loại cảm giác cơ bản trong học tập, cuộc sống.
Trong học tập, các cảm giác cơ thể giúp ta tạo ra những sự thú vị, hấp dẫn khi
kết nạp những kiến thức, từ đó tạo ra những nguồn cảm hứng học tập mới mẻ. Cảm
giác thị giác sử dụng các sóng ánh sáng phát ra từ các sự vật trong môi trường giáo
dục để tiếp thu các con số, chữ cái và hình ảnh để học tập những kiến thức mới. Ví
dụ như, ta ngồi học trong lớp ta cảm giác được bài giảng của cô giáo toán từ những
con số trên bảng thông qua cơ quan thị giác. Cảm giác thính giác nảy sinh do chuyển
động sóng âm thanh tác động vào màng nhĩ giúp ta lắng nghe được mọi thứ xung
quanh. Trong giờ văn, cô giáo giảng bài ta cảm giác được bài học đó thông qua nghe
được những lời cô giáo giảng. Ứng dụng linh hoạt hai loại cảm giác này không giúp
cho ta hiểu bài mà giúp ta thấy được những hình ảnh, cuộc sống của thế giới xung quanh chúng ta.
Trong cuộc sống, nếu không có sự ứng dụng các loại cảm giác thì ta khó thể
nào cảm nhận được sự đa dạng về đời sống chúng ta. Cảm giác thị giác giúp ta cảm lOMoAR cPSD| 59691467 8/10/2024
nhận được tòa nhà bên đường rất sáng thông qua những hình ảnh tòa ảnh tác động
đôi mắt của ta. Cảm giác thính giác cho ta cảm giác được bà hàng xóm đang rất nóng
tính thông qua lời nói của bà hàng xóm đang cãi nhau. Đây là ta sử dụng đôi tai để
cảm giác sự vật, hiện tượng của thế giới xung quanh. Ngoài ra, cảm giác khứu giác
cho ta cảm giác thấy được rằng công viên A không được trong lành thông qua tế bào
của bộ máy thụ cảm khứu giác ở con người, ta ngửi thấy được mùi hôi thối từ xác
chết cá nên đưa ra cảm giác đó. Cuối cùng, cảm giác nếm tạo nên cho ta cảm giác
quả cam trên bàn rất chua bởi ta đã nếm quả cam đó tác động vào bộ máy thụ cảm
của vị giác và đưa cảm giác như vậy.
1.2. Cách rèn luyện các loại cảm giác cơ bản của bản thân.
Để cải thiện cuộc sống của bản thân, mỗi người cần rèn luyện các loại cảm
giác cơ bản của chính mình. Trong đời sống hiện nay, có rất nhiều thông tin được
truyền tải qua đôi mắt. Tuy nhiên, thực trạng tỷ lệ các bệnh lý liên quan về mặt hiện
nay đang ngày càng gia tăng và trẻ hóa, khiến việc rèn luyện mắt trở thành một việc
cần thiết. Những phương pháp rèn luyện thị giác sau đây có thể được áp dụng: Giữ
cho đầu ngay, cố gắng đưa mắt rất nhanh từ phải sang trái, tập trung ánh mắt vào các
vật thể mút tầm mắt. Cách rèn luyện này giúp cho việc cải thiện tri giác ngoại vi. Từ
đó, nó giúp cho ta những quyết định và hành động phù hợp trong các tình huống
khác nhau trong cuộc sống, không những vậy nó cung cấp thông tin cần thiết cho ta
giao tiếp và tương tác với mọi người xung quanh. Phương pháp thứ hai là ta sử dụng
một cây bút chì được giữ ngang tầm tay ở phía trước mắt. Giữ bút chì vuông góc với
sàn rồi từ từ vẽ về phía mũi. Mục tiêu là tập trung vào cây bút chì đang di chuyển.
Khi nhìn thấy hình ảnh kép, bút chì phải được đưa ra khỏi mũi, lặp lại nhiều lần quá
trình trong mỗi buổi tập. Bài tập này tạo điều kiện cho sự phát triển của mắt và tăng cơ mắt.
Cảm giác nghe có chức năng bổ sung trải nghiệm về thế giới xung quanh. Tuy
không thể thay đổi được thính lực, nhưng có thể thay đổi cách lắng nghe bằng cách
chặn mọi đường tải vào của các cảm giác khác đang cạnh tranh sức chú ý với thính
giác. Chẳng hạn, khi ta xem tivi có thể nhờ người thân ngồi cạnh trò chuyện rồi nhắm
mắt lại, dành toàn bộ tâm trí tâm trung vào câu chuyện đang thảo luận và cố gắng lOMoAR cPSD| 59691467
loại bỏ phần âm nhạc phát ra từ Tivi. Với phương pháp này sẽ giúp ta dần dần nhận
biết, kiểm soát âm thanh đến từ nhiều nguồn phát ra từ môi trường xung quanh một cách tốt hơn.
Việc ứng dụng linh hoạt các giác quan để cảm nhận sẽ giúp con người có trải
nghiệm phong phú hơn về thế giới xung quanh. Cách rèn luyện cảm giác ngửi tốt
nhất là ta chỉ ngửi nhẹ nhàng, từ từ để có thể phân biệt hương thơm xung quanh
chúng ta, không nên cố dùng sức quá mức. Đối với cảm giác nếm, để rèn luyện cảm
giác này, thông qua việc luyện tập hằng ngày khi ăn một món ăn ta nhai chậm lại để
có thể thưởng thức từ từ thấy rõ hương vị món ăn và để cảm nhận được hậu vị ở
họng, cảm nhận được rõ toàn bộ hương vị món ăn. Đồng thời, giống với các loại
cảm giác khác, nên tránh tiếp xúc với nhiệt độ quá nóng hoặc quá lạnh, làm giảm
khả năng của cơ quan cảm thụ vị giác.
2. Ứng dụng các loại cảm giác cơ thể trong học tập, cuộc sống và cách rèn
luyện cảm giác cơ thể. 2.1.
Ứng dụng các loại cảm giác cơ thể trong học tập, cuộc
sống. Trong học tập, xúc giác cùng cảm giác vận động hỗ trợ lẫn nhau,
giúp cho người học có thể cảm nhận, từ đó có hiểu biết để sử dụng các
dụng cụ học tập, thực hiện các hoạt động trong việc học cả trên lớp và thể
dục thể thao một cách thuận lợi. Ví dụ, hoạt động viết bài có sự tham gia
của xúc giác và cảm giác hoạt động trong việc cầm nắm bút sao cho
đúng, việc làm thế nào để cầm bút, hoạt động tay ra sao để viết được chữ.
Khi cảm giác tiền đình hoạt động bình thường, không ảnh hưởng đến cơ
thể, giúp cho trạng thái cân bằng của con người được duy trì l là một
đóng góp lớn, đảm bảo việc học diễn ra bình thường. Cảm giác đau cũng
góp một phần vai trò, chẳng hạn như khi cơ thể có thể nhận biết được
những mối nguy hiểm thông qua những trải nghiệm đau từng có, chẳng
hạn như việc cơ thể nhận biết được khoảng cách an toàn khi quan sát thí
nghiệm khoa học hay biết cách sử dụng đúng kéo để không tạo ra vết thương.
Trong cuộc sống thường ngày, việc ứng dụng linh hoạt các loại cảm giác cơ thể
đem lại đa dạng những lợi ích cho con người. Đối với xúc giác, loại cảm giác này lOMoAR cPSD| 59691467
giúp con người có thể sờ, nắm, chạm,…,có những tương tác với thế giới xung quanh,
từ đó giúp cảm nhận được các tác động, kích thích đến từ các sự vật, hiện tượng.
Trong đời sống, khi xảy ra rối loạn tiền đình hoặc mất cảm giác tiền đình, con người
hầu như không thể định hướng, dễ bị té ngã hoặc chóng mặt. Như vậy, tiền đình đóng
vai trò quan trọng trong việc đảm bảo hoạt động của cơ thể diễn ra một cách cân
bằng, thuận lợi. Đối với cảm giác vận động, việc phát triển cảm giác này giúp thực
hiện các hoạt động hằng ngày một cách chính xác, linh hoạt, cải thiện sức khỏe và
giảm nguy cơ chấn thương. Cảm giác đau là cơ chế cảnh báo quan trọng của cơ thể,
giúp bảo vệ chúng ta khỏi các tổn thương nghiêm trọng hơn. Trong cuộc sống, việc
trải qua cảm giác đau một lần có thể giúp chúng ta tránh được sự việc tương tự trong tương lai. 2.2.
Cách rèn luyện các loại cảm giác cơ thể của bản thân.
Việc rèn luyện các loại cảm giác cơ thể không chỉ đảm bảo cho việc chúng hoạt động
một cách hiệu quả mà còn giúp nâng cao chất lượng cuộc sống . Đối với xúc giác,
cơ quan cảm giác lớn nhất của con người, để bảo vệ và tạo điều kiện cho xúc giác
hoạt động, cần tránh ở trong môi trường có nhiệt độ quá cao hoặc quá thấp. Chẳng
hạn, nếu tay quá lạnh sẽ làm tổn thương tới các đầu dây thần kinh ở đầu ngón tay.
Do đó, cần đeo găng tay khi ra ngoài vào trời mùa đông, nhiệt độ xuống thấp gây
ảnh hưởng. Đối với cảm giác vận động và cảm giác tiền đình, cách rèn luyện tốt nhất
là thông qua tập thể dục thể thao cũng như có một lối sống lành mạnh. Có thể rèn
cho bản thân thói quen tập thể dục hằng ngày hoặc bổ sung hình thức học năng động,
những bài tập nhẹ nhàng giữa các tiết học nhằm rèn luyện cảm giác, cải thiện sức
khỏe, lưu thông khí huyết, giúp việc máu lên não ổn định hơn. Ngoài ra, các bài tập
yoga, thiền cũng giúp cải thiện tâm trạng, thoải mái, lạc quan hơn. Cuối cùng, đối
với cảm giác đau, ngoài việc có được kinh nghiệm thông qua trải nghiệm, cũng cần
rèn luyện việc phân tích tình huống để tránh khỏi những cảm giác đau không đáng có. KẾT LUẬN
Thông qua những phân tích ở trên, có thể thấy cảm giác không chỉ là phương
tiện gắn kết con người và thế giới xung quanh mà còn có những ứng dụng riêng, lOMoAR cPSD| 59691467
đóng góp vai trò quan trọng trong các hoạt động của con người. Việc hiểu rõ các loại
cảm giác và ứng dụng của chúng mang lại những lợi ích thiết thực trong việc nâng
cao chất lượng cuộc sống, đòi hỏi chúng ta cần tìm hiểu và rèn luyện những loại cảm giác này.
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO *Giáo trình:
1. Trường Đại học Luật Hà Nội, Giáo trình Tâm lí học đại cương, NXB Tư pháp, 2024.
2. Trường Đại học Sư phạm, Giáo trình tâm lí học đại cương, NXB Đại học Sư phạm, 2022. *