lOMoARcPSD| 61470371
CÂU 4 ĐIỂM
1. Trình bày vai trò của môi trường đến sự phát triển nhân cách
- Sự phát triển nhân cách là một quá trình cải biến toàn bộ các sức mạnh về thể chất và tinh thần cả
về lượng chất, tính đến đặc điểm của mỗi lứa tuổi. Sự phát triển nhân cách thể hiện qua những
dấu hiệu sau:
+ Sự phát triển về mặt thể chất: tăng trưởng về chiều cao, cân nặng,...
+ Sự phát triển về mặt tâm lý: biến đổi cơ bản trong quá trình nhận thức, tình cảm,...
+ Sự phát triển về mặt hội: thể hiện thái độ, hành vi ứng xử trong các mối quan hệ với
những người xung quanh,..
- Các yếu tố ảnh hưởng đến sự phát triển nhân cách.
+ Di truyền và bẩm sinh
+ Môi trường
+ Giáo dục
+ Hoạt động có nhân
- Môi trường tự nhiên hội với các điều kiện kinh tế, thể chế hội, chuẩn mực đạo đức,...tác
động mạnh đến quá trình hình thành và phát triển động cơ, mục đích,... chiều hướng phát triển của
cá nhân
- Môi trường là điều kiện để phát triển nhân cách, nó kìm hãm hoặc thúc đẩy nhân cách.
VD: Khi còn nhỏ, Mạnh Tử sống với mẹ. Mạnh rất chú trọng đến việc giáo dục con trai, nhất
là trong giai đoạn thơ ấu. Lần đầu tiên, hai mẹ con sống gần nghĩa địa. Mạnh Tử bắt chước những
người đưa tang: đào huyệt, khóc lóc... Bà Mạnh thấy môi trường không phù hợp nên chuyển nhà.
Lần thứ hai, hchuyển đến gần chợ. Mạnh Tử lại bắt chước những người buôn bán, nói thách, mặc
cả. Bà Mạnh lại thấy không ổn nên chuyển nhà lần nữa. Lần thứ ba, họ đến gần một trường học.
đây, Mạnh Tử bắt chước lễ nghi, đọc sách, học hành... Bà Mạnh rất hài lòng và quyết định ở lại vì
cho rằng đây là môi trường tốt để con học tập và trưởng thành.
- Tuy nhiên mức độ ảnh hưởng của môi trường bị “khúc xạ” bởi yếu tố giáo dục, bởi trình độ nhận
thức, niềm tin, quan điểm, ý chí, xu hướng và năng lực của từng cá nhân. Mỗi người có lăng kính
riêng khi nhìn nhận thế giới, nên sự tác động của môi trường cũng sẽ bị "khúc xạ" theo cách họ
cảm nhận và lựa chọn
VD: Một người sống trong môi trường đầy cám dỗ thể chọn con đường sai trái, nhưng người
khác lại lấy đó làm động lực để tránh xa cái xấu và sống tử tế hơn.
- Nhưng cũng không nên tuyệt đối hóa hay xem nhẹ vai trò của môi trường. không tuyệt đối hóa bởi
môi trường tốt điều kiện thuận lợi, nhưng bản thân người học cần ý chí, sự nỗ lực định
hướng đúng đắn thì mới thành công. Không phải ai sống trong môi trường tốt cũng nên người,
ngược lại: nhiều người trưởng thành và vươn lên từ hoàn cảnh khó khăn, nghèo nàn. Không
xem nhẹ bởi trẻ nhỏ rất dễ bắt chước và học theo xung quanh. Môi trường không lành mạnh dễ tạo
điều kiện cho trẻ hình thành thói quen xấu. Môi trường tích cực, năng động, định hướng giúp trẻ
phát triển đạo đức, trí tuệ và lối sống tốt hơn.
- Do đó, khi giáo dục học sinh cần áp dụng phương pháp nêu gương kết hợp với c môi trường giáo
dụng khác nhau.
2. Phương pháp thuyết trình trong dạy học (trang 79 - Giáo trình)
lOMoARcPSD| 61470371
- Phương pháp giáo dục là: cách thức hoạt động của gv hs trong quá trình dạy học được tiến hành
dưới vai trò chủ đạo của giáo viên nhằm thực hiện tối ưu mục tiêu, nhiệm vụ dạy học
- PP thuyết trình là pp gv dùng lời nói để trình bày giải thích nd bài học một cách hệ thống và logic
cho hs tiếp thu
- Cách thức:
+ Kể chuyện: gv tường thuật các sự kiện hiện tượng có hệ thống, đc sd nhiều trong môn khxh
+ Giải thích: gv dùng luận cứ số liệu để giải thích, cm, làm sáng tỏ vấn đề
+ Diễn giảng : gv trình bày ndht nhất định có hệ thống. đc sd nhiều ở lớp cuối thpt và đh
- Ưu điểm:
+ Gv có thể trình bày 1 khối lượng kiến thức lớn trong tg ngắn
+ Hs có thể học đc cách tư duy logic, cách đặt, giải quyết vấn đề. cách diễn đạt chính xác, rõ ràng,
súc tích
+ Là pp dễ thực hiện nhất, ko cần tbdh nào
+Khi đc nâng lên là thuyết trình sẽ kích thích đc tính tích cực tư duy của hs
+Nếu kết hợp minh họa bằng các pttq, vấn đáp, thảo luận thực hành sẽ kích thích tính năng động
của hs
- Nhược điểm:
+hs dễ hình thành thói quen thụ động, chóng mệt, thiếu sáng tạo ghi nhớm bền vững +
Hs thiếu cơ hội ptr ngôn ngữ nói
+ Gv khó chú ý đến trình độ nhận thức và ktr sự lĩnh hội tri thức của hs
- Yêu cầu hs:
+Ngôn ngữ biểu đạt và nd logic, phù hợp.
+ Phát âm rõ ràng chính xác, tốc độ tần số âm thanh vừa phải
+Ngôn ngữ có nh thuyết phục, giản dị, tự nhiên, thiện cảm, giàu hình ảnh +Nên
kết hợp vs cá phương pháp khác như trực quan, vấn đáp….
-Kết luận sư phạm của phương pháp thuyết trình:
+Là phương pháp giáo viên truyền đạt kiến thức bằng lời nói mạch lạc, có hệ thống.
+Giúp học sinh tiếp thu nội dung mới, đặc biệt là kiến thức khái quát, trừu tượng.
+Phát huy vai trò chủ động của giáo viên trong tổ chức và dẫn dắt bài học.
+Có khả năng truyền cảm hứng nếu biết kết hợp giọng điệu, ví dụ, hình ảnh sinh động.
+Dễ dẫn đến học sinh thụ động nếu chỉ tiếp thu một chiều.
+Cần kết hợp với các phương pháp khác (hỏi đáp, thảo luận, nêu vấn đề...) để tăng hiệu quả.
+Phù hợp nhất khi dùng để giới thiệu bài mới, tổng kết, hoặc giảng giải những nội dung khó.
3. Phân tích vai trò của yếu tố giáo dục trong sự hình thành, phát triển nhân cách (Trang 20)
- Giáo dục quá trình hoạt động phối hợp thống nhất giữa chủ thể (nhà giáo dục) đối tượng
(người được giáo dục) nhằm hình thành và phát triển nhân cách theo những yêu cầu của xã hội.
Đây quá trình tác động tự giác mục đích, nội dung, phương pháp, phương tiện,.... được
lựa chọn, tổ chức một cách khoa học giúp cho mọi cá nhân chiếm lĩnh được những kinh nghiệm,
những giá trị xã hội của nhân loại bằng con đường ngắn nhất.
lOMoARcPSD| 61470371
- Giáo dục đóng vai trò chủ đạo đối với quá trình hình thành, phát triển nhân cách. Bởi vì nó thực
hiện theo định hướng thống nhất vì mục đích nhân cách lý tưởng hội yêu cầu. Ba lực lượng
giáo dục là gia đình, nhà trường và đoàn thể xã hội:
+ Nhà trường có vai trò, vị trí vô cùng quan trọng trong thực hiện mục đích, nội dung giáo
dục bằng các phương pháp khoa học có tác động mạnh nhất giúp cho học sinh hình thành
năng lực ngăn ngừa, đấu tranh những ảnh hưởng tiêu cực từ môi trường và di truyền bẩm
sinh.
+ Giáo dục gia đình được tiến hành sớm nhất tkhi đứa trẻ chào đời tạo nên những phẩm chất
nhân cách đầu tiên quan trọng làm nền tảng cho giáo dục nhà trường.
+ Giáo dục hội qua các đoàn thể các tổ chức nhà nước với thể chế chính trị, pháp luật, n
hóa đạo đức, góp phần thúc đẩy quá trình phát triển nhân cách toàn diện theo sự phát triển
xã hội.
- Giáo dục không chỉ vạch ra chiều hướng, mục tiêu hình thành phát triển nhân cách của học
sinh mà còn tổ chức chỉ đạo, dẫn dắt học sinh thực hiện quá trình đó đến kết quả mong muốn.
- Giáo dục những tác động tự giác có điều khiển, có thể mang lại những tiến bộcác yếu tố di
truyền bẩm sinh hoặc môi trường, hoàn cảnh không thể tạo ra được do tác động tự phát.
- Giáo dục sức mạnh cải biến những nét tính cách, hành vi phẩm chất lệch lạc không phù hợp
với yêu cầu chuẩn mực của xã hội.
- Giáo dục có tầm quan trọng đặc biệt với những người khuyết tật hoặc thiểu năng do bệnh tật, tai
nạn hoặc bẩm sinh, di truyền tạo ra. Nhờ sự can thiệp sớm, nhòe phương pháp giáo dục, rèn
luyện đặc biệt cùng với sự hỗ trợ của phương pháp khoa học thể giúp cho người khuyết tật,
thiểu năng phục hồi một phần chức năng đã mất hoặc phát triển các chức năng khác nhằm bù tr
những chức năng bị khiếm khuyết, giúp cho họ hòa nhập vào cuộc sống cộng đồng.
- Để phát huy vai trò chủ đạo của mình, giáo dục cần tích cực góp phần cải tạo môi trường sống
làm cho nó ngày càng lành mạnh, văn minh, thống nhất tác động của các lực lượng giáo dục theo
mục tiêu chung phát triển nhân cách; đồng thời phát hiện phát triển những tiềm năng bên trong
mỗi người học, biến chúng trở thành hiện thực, Đặc biệt tránh tuyệt đối hóa vai trò của giáo dục,
coi giáo dục là “vạn năng”.
KLSP:
- Giáo dục lực lượng chủ đạo trong hình thành phát triển nhân cách, với mục tiêu ràng
phương pháp khoa học.
- Phối hợp ba môi trường gia đình, nhà trường hội để cùng định hướng, bồi đắp nền
tảng và mở rộng kinh nghiệm cho học sinh.
- Tác động có điều khiển kế hoạch giúp khắc phục giới hạn di truyền, i trường, đồng thời
điều chỉnh hành vi lệch chuẩn.
- Cải tạo môi trường sống phát hiện, nuôi dưỡng tiềm năng nhân, nhưng không tuyệt đối
hóa vai trò giáo dục—phải kết hợp với nỗ lực của chính người học.
4. Phân tích bản chất của quá trình dạy học theo quan điểm nhận thức luận.
-KN Quá trình dạy học: quá trình dưới sự tổ chức hướng dẫn của giáo viên học sinh tự giác, tích cực,
chủ động, sáng tạo, tự tổ chức, tự điều khiển hoạt động học tập và nhận thức của mình nhằm thực hiện tốt
lOMoARcPSD| 61470371
mục tiêu dạy học. Theo giáo trình quá trình dạy học sự thống nhất biện chứng của 2 thành tố cơ bản trong
quá trình dạy học - hoạt động dạy và hoạt động học.
-Bản chất của quá trình giáo dục: quá trình nhận thức độc đáo của học sinh dưới vai trò chủ đạo của giáo
viên.
+ Sự học tập của học sinh sự phản ánh thế giới khách quan vào não người. sự phản ánh đó tính
chất cải tạo mức độ cao nhất của sáng tạo. Sự phản anh ấy không thụ động như chiếc
gương bao giờ cũng bị khúc xạ qua lăng kính chủ quan của mỗi người như thông qua trí thức
kinh nghiệm…
+ Quá trình học tập của học sinh cũng diễn ra theo công thức nổi tiếng của Lênin về quá trình nhận
thức: “ từ trực quan sinh động đến tư duy chiều tượng từ tư duy trừu tượng đến thực tiễnư Vd: khi
học bài thơ Tây Tiến của Quang Dũng học sinh được xem 1 video về vùng núi Tây Bắc hoặc cuộc
hành quân của những người lính ở nơi đây Ban đầu, học sinh cảm nhận vẻ đẹp của bài thơ qua hình
ảnh, âm thanh, cảm xúc (trực quan sinh động). Sau đó, các em phân tích nghệ thuật, hình tượng để
hiểu sâu sắc tinh thần bi tráng của người lính, các ý nghĩa ở tầng dưới vb (tư duy trừu tượng). Cuối
cùng, vận dụng kiến thức để viết bài cảm nhận về vẻ đẹp người lính(thực tiễn).
-Sự giống và khác nhau giữa nhận Thức của học sinh vs nhà khoa học:
+Giống:
Đều quá trình phản ánh thế giới khách quan diễn ra theo con đường nhận thức Lênin đãchỉ
ra: TQ - TDTT - TT.
Đều làm cho vốn hiểu biết của chủ thể được phong phú thêm hoàn thiện thêm.
Nhà khoa học
học sinh
Diễn ra theo con đường thử và sai để tìm ra cái mới
Diễn ra theo con đường thẳng đã được khám phá
Tìm ra cái mới
Tái tạo
Tri thức khoa học -> Cô đơn độc quyền
Tri thức phổ thông
Được tiến hành theo các khâu của quá trình dạy học
Vd: lĩnh hội kiến thức mới -> làm thí nghiệm-> cũng
cố -> luyện tập -> đánh giá => nhầm biến chúng
thành tài sản của bản thân
Hình thành phẩm chất theo yêu cầu xã hội
Dưới vai trò chủ đạo của Giáo viên
có quá trình kiểm tra, đánh giá
=> Trong 1 thời gian nhất định, học sinh có thể lĩnh hội Khối lượng tri thức rất lớn 1 cách thuận lợi.
KLSP:Quá trình dạy học cần chú ý tới tính độc đáo để tránh sự đồng nhất quá trình nhận thức chung của
loài người với quá trình nhận thức của học sinh. Song phải không quá coi trọng tính độc đáo thiếu
lOMoARcPSD| 61470371
quan tâm đến việc tổ chức cho học sinh tự tìm hiểu và tập tham gia các hoạt động tìm tòi khám phá khoa
học vừa sức, nâng cao dần để chuẩn bị cho họ tự khai thác tri thức, tham gia nghiên cứu khoa học.
VD: khi dạy bài “Hiện tượng mưa axit” trong môn Hóa học, giáo viên không chỉ giảng lý thuyết một
chiều, mà cho học sinh thảo luận nhóm, đặt câu hỏi, làm thí nghiệm đơn giản để khơi gợi sự tò mò (các quá
trình dạy học ) Đồng thời, giáo viên cũng hướng dẫn cách tra cứu tài liệu, trình bày báo cáo để rèn luyện
kỹ năng nghiên cứu khoa học. Như vậy, vừa tôn trọng cách tiếp cận riêng của từng em, vừa giúp các em
làm quen dần với con đường tự học, tự tìm hiểu tri thức.
______________________
5. Phân tích động lực của quá trình dạy học
- Quá trình dạy học vận động phát triển do không ngừng giải quyết các mâu thuẫn bên trong
bên ngoài. Theo triết học duy vật biện chứng, mọi sự vật và hiện tượng không ngừng phát triển do
có sự đấu tranh và thống nhất giữa các mặt đối lập.
- Mâu thuẫn bên trong của quá trình dạy học là mâu thuẫn giữa các thành tố và giữa các yếu tố trong
từng thành tcủa quá trình dạy học. Mâu thuẫn bên ngoài là mâu thuẫn giữa sự tiến bộ khoa học,
CN, văn hóa, sự phát triển kinh tế - xã hội với tùng thành tố trong quá trình dạy học.
VD: Văn hóa sử dụng mạng xã hội và công nghệ số phổ biến ở học sinh, nhưng giáo viên vẫn chủ yếu sử
dụng phương pháp thuyết giảng truyền thống, ít tương tác, ít ứng dụng công nghệ Học sinh chán học,
thiếu hứng thú, hiệu quả học tập giảm.
- Mâu thuẫn cơ bản của quá tnh dạy học là mâu thuẫn giữa 1 bên là nhiệm vụ học tập do tiến trình
dạy học đề ra một bên là trình độ tri thức, năng, xảo trình độ phát triển trí tuệ hiện có
của người học. Dấu hiệu của mâu thuẫn này thể hiện việc học sinh gặp khó khăn khi tiếp cận
nhiệm vụ, lúng túng trong quá trình giải quyết bài học, cần sự hỗ trợ từ giáo viên hoặc bạn bè. Đồng
thời, học sinh bắt đầu nảy sinh nhu cầu nhận thức – đặt câu hỏi, tò mò và mong muốn tìm hiểu để
vượt qua thử thách. Sau khi được hỗ trợ và luyện tập, học sinh có thể hoàn thành nhiệm vụ tương
tự một cách độc lập, cho thấy mâu thuẫn đã được giải quyết năng lực đã phát triển. Việc nhận
diện và điều chỉnh mâu thuẫn hợp lý là điều kiện quan trọng để nâng cao hiệu quả học tập.
- Để chuyển hóa mâu thuẫn thành động lực cần 3 điều kiện: phải được người học ý thức đầy đủ và
sâu sắc. Phải nhận thức rõ yêu cầu của
học tập, thấy đánh giá đúng trình độ của bản thân để nảy sinh nên nhu cầu giải quyết
khó khăn nhằm hoàn thành nhiệm vụ học tập
+ Mâu thuẫn phải khó khăn vừa sức, được đề ra ở mức độ tương ứng với giới hạn trên của vùng
phát triển gần nhất của học sinh mà họ có thể tự giải quyết được với sự nỗ lực cao nhất về
trí lực và thể lực.
+ Mâu thuẫn phải do tiến trình học dẫn đến. Mâu thuẫn xuất hiện tại thời điểm nào đó là sự tất
yếu trên con đường vận động đi lên của quá trình dạy học nói chung và quá trình nhận thức
của học sinh nói riêng. Nhiệm vụ của người giáo viên là không nên lảng tránh mà cần làm
cho mâu thuẫn xuất hiện đúng lúc để mâu thuẫn trở nên sâu sắc.
+
Mâu thuẫn
lOMoARcPSD| 61470371
VD: Khi dạy khái niệm số âm, giáo viên đưa ra bài toán: "Nhiệt độ buổi sáng là 3°C, buổi tối
giảm đi 5°C. Nhiệt độ buổi tối bao nhiêu?" Học sinh lúng túng chưa biết số âm. Mâu
thuẫn xuất hiện tự nhiên trong quá trình học, buộc học sinh phải đối mặt với giới hạn hiểu biết
của mình. Giáo viên tận dụng thời điểm này để giới thiệu số âm, từ đó thúc đẩy nhận thức.
KLSP: Người giáo viên cần nhận thức rằng mâu thuẫn trong quá trình dạy học tất yếu vai trò
quan trọng trong việc thúc đẩy sự phát triển nhận thức của học sinh. Do đó, thay vì né tránh, giáo viên cần
chủ động tạo ra tổ chức các tình huống dạy học có mâu thuẫn phù hợp với trình độ của học sinh, đảm
bảo mâu thuẫn xuất hiện đúng lúc, vừa sức mang tính thách thức. Giáo viên không chỉ giúp học sinh
vượt qua giới hạn hiện tại, còn góp phần hình thành năng lực tư duy, phát triển ý chí tạo động lực
học tập bền vững cho các em.
6. Phân tích phương pháp nêu gương trong QTDH (trang 126)
- Phương pháp giáo dục: nt
- pp nêu gương: nhà giáo sd các tấm gương sáng của cá nhân tập thể hoặc hành động của bản thân
như là 1 mẫu mực để kích thích ng học cảm phục noi theo và làm theo những gương đó để đạt mục
đích gd đề ra
- Cơ sở PP nêu gương: Tính bắt chước của trẻ em
+ Sự bắt chước phụ thuộc vào độ tuổi, vốn kinh nghiệm và trình độ phát triển trí tuệ, đạo đức
ở các em.
- Các yêu cầu:
+ Căn cứ vào mục đích và nd gd mà lựa chọn tấm gương điển hình để gd các hs
+ Giúp hs thái độ, cách xử đúng đắn với mọi hành vi cử chỉ vs ng xung quanh, bt tiếp thu
học tập cái tốt và lên án, phê phán cái xấu
+Gv cần biết phối hợp giữa nêu gương giải thích đàm thoại. về các chuẩn mực hành vi xh
+Ng gv cần phải làm gương sáng cho hs noi theo bên cạnh nêu gương ng khác
- KLSP
- Phương pháp nêu gương một công cụ giáo dục hiệu quả, giúp định hướng hành vi hình
thành phẩm chất đạo đức cho người học
- Việc nêu gương sáng giúp truyền cảm hứng, tạo động lực học tập và rèn luyện cho người học một
cách trực quan, sinh động.
- Gương mẫu thể đến từ thực tiễn đời sống, lịch sử, văn hóa hoặc chính từ những người xung
quanh, tạo sự gần gũi và dễ tiếp nhận.
- Người giáo dục cần lựa chọn hình mẫu phù hợp với đặc điểm tâm lý, lứa tuổi và hoàn cảnh của
người học để đạt hiệu quả cao.
- Bản thân người giáo dục cần tấm gương sống động, thống nhất giữa lời nói hành động, để
tạo niềm tin và sự noi theo.
- Phương pháp nêu gương không chỉ giúp "dạy" mà còn truyền cảm hứng sống tích cực, góp phần
quan trọng trong việc hình thành nhân cách toàn diện cho người học
- Ví dụ: Thầy Nguyễn Thành Nam người sáng lập Đại học FPT thường xuyên kể về Steve Jobs
như một tấm gương sáng tạo, dấn thân và dám khác biệt. Trong các buổi nói chuyện, ông từng nói:
- “Steve Jobs không học xong đại học, nhưng lại thay đổi cả thế giới bằng iPhone, bằng triết
‘Think Different’. Tôi muốn sinh viên FPT học được tinh thần sáng tạo và kiên định với con đường
của mình như thế.
lOMoARcPSD| 61470371
7. Phân tích phương pháp tôn trọng nhân cách và yêu cầu đối với con người trong công tác giáo
dục (Trang 104)
- Khái niệm nguyên tắc giáo dục:
+ Nguyên tắc là những luận điểm được rút ra từ các quy luật, những nguyên lý như những tiền đề
có giá trị chỉ dẫn các hoạt động phức tạp.
+ Có tính quy luật
+ Nắm được các nguyên tắc giáo dục sẽ giúp các nhà giaos dục kết hp được luận
- Nội dung nguyên tắc:
+ Tôn trọng nhân cách học sinh là tôn trọng nhân phẩm, tài năng, trí tuệ, tự do tư tưởng, nhu cầu,
nguyện vọng và thói quen sống của mỗi cá nhân: Tôn trọng nhân cách còn bao gồm tôn trọng
thân thể, không ai được xúc phạm đến phẩm giá và thân thể con người.
+ Tôn trọng nhân cách là tin tưởng con người, tin tưởng ở khả năng trí tuệ, khả năng lao động sáng
tạo của con người. Tin tưởng thể hiện sự mong muốn của các nhà giáo dục đối với đối tượng
giáo dục đồng thời thời cũng một biện pháp tế nhị buộc họ phải cố gắng hoàn thành
nhiệm vụ.
+ Yêu cầu hợp lý chính là sự đòi hỏi cao hơn thực tế em phải phấn đấu. Bằng hệ thống những mục
tiêu, những tiêu chuẩn nâng dần từng bước, thúc đẩy học sinh phải phấn đấu liên tục. Khi nhà
giáo dục đặt ra những yêu cầu hợp lý, học sinh sẽ cảm nhận sự tin ởng của giáo viên về
mình, như tiếp thêm sức mạnh để cố gắng nhiều hơn. Yêu cầu cao chính thể hiện niềm
tin và sự tôn trọng nhân cách con người.
Muốn giáo dục con người phải tôn trọng nhân cách con người và phải có những yêu cầu hợp lý
đối với con người. Vì:
- Tôn trọng nhân cách học sinh cần phải luôn đề ra các yêu cầu giúp học sinh vươn lên, phát triển
nhân cách tốt hơn.
- Đòi hỏi học sinh khi thực hiện các nhiệm vụ giáo dục cũng như trong quan hệ ứng xử sư phạm phải
thể hiện sự tôn trọng, yêu thương, dìu dắt các em tiến bộ.
Yêu cầu khi thực hiện nguyên tắc:
- Giáo viên không được xúc phạm đến nhân cách học sinh
- Tránh thái độ hay gắt, nhạo báng, mỉa mai, mệnh lệnh, áp đặt, những đồng thời tránh dễ dãi, xuề
xòa “vô nguyên tắc”.
- Luôn đánh giá cao hơn một chút so với cái họ có, đồng thời đòi hỏi cao hơn một chút so với
những gì họ đạt được. Tế nhị, khéo léo, có tình, có lý trong ứng xử sư phạm của giáo viên.
- Cần xác nhận những ưu điểm, những thành công của học sinh dù đó thành công nhỏ bé, phát huy
ưu điểm là cơ sở tạo ra những thành công mới trong quá trình phấn đấu của học sinh.
KLSP:
- Tôn trọng nhân cách: Không xúc phạm, luôn tin tưởng và tôn vinh giá trị riêng của từng học sinh.
- Yêu cầu hợp lý: Đặt mục tiêu cao hơn một chút để tạo động lực nhưng vẫn khả thi.
- Khích lệ kịp thời: Ghi nhận thành công, dù nhỏ, để củng cố niềm tin và thúc đẩy phát triển.
- Ứng xử tế nhị: Kết hợp tình cảm và lý trí, giữ kỷ luật nhưng tạo không khí an toàn, thân thiện.
8. Phân tích nhiệm vụ và quyền của nhà giáo được đề cập trong Luật 2019
lOMoARcPSD| 61470371
-KN nhà giáo: nhà giáo cách gọi chung của giáo viên giảng viên, chỉ chung người làm nhiệm vụ
giảng dạy, giáo dục trong nhà trường. Còn giáo viên người giảng dạy sở mầm non, tiểu học, cấp
hai, cấp ba, trình độ sơ cấp và trung cấp; giảng viên là người giảng dạy từ trình độ cao đẳng trở lên. - vụ:
Điều 69. Nhiệm vụ của nhà giáo
1. Giảng dạy, giáo dục theo mục tiêu, nguyên giáo dục, thực hiện đầy đủ chất lượng chương
trìnhgiáo dục.
Một giáo viên tiểu học dạy môn Toán theo đúng chương trình Bộ GD&ĐT ban hành, đảm bảo học sinh
nắm được kiến thức cơ bản và phát triển tư duy logic.
2. Gương mẫu thực hiện nghĩa vụ công dân, điều lệ nhà trường, quy tắc ứng xử của nhà giáo.
giáo A không đi muộn, không mặc đồ phản cảm, không dùng điện thoại trong giờ học, luôn tham gia
đầy đủ các hoạt động của trường.
3. Giữ gìn phẩm chất, uy tín, danh dự của nhà giáo; tôn trọng, đối xử công bằng với người học; bảo vệ
cácquyền, lợi ích chính đáng của người học.
Thầy B không thiên vị học sinh khá giỏi, luôn công bằng khi chấm điểm và cư xử với mọi học sinh, kể cả
em học yếu hay biệt.
4. Học tập, rèn luyện để nâng cao phẩm chất đạo đức, trình độ chính trị, chuyên môn, nghiệp vụ, đổi
mớiphương pháp giảng dạy, nêu gương tốt cho người học.
Cô C tham gia lớp tập huấn về phương pháp "Giáo dục ch cực" và áp dụng vào lớp mình để tăng sự hứng
thú học tập cho học sinh.
Điều 70. Quyền của nhà giáo
1. Được giảng dạy theo chuyên môn đào tạo.
Thầy D tốt nghiệp ngành Vật lý được phân công dạy môn Vật lý cấp THPT đúng chuyên ngành đào tạo của
mình.
2. Được đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ chính trị, chuyên môn, nghiệp vụ.
E được cử đi học lớp bồi dưỡng giáo viên cốt cán để nâng cao năng lực giảng dạy theo chương trình
GDPT mới.
3. Được hợp đồng thỉnh giảng, nghiên cứu khoa học tại sở giáo dục khác hoặc sở nghiên cứu khoahọc.
Thầy F là giảng viên đại học, ngoài công việc chính còn được mời giảng tại một trường cao đẳng khác vào
cuối tuần.
4. Được tôn trọng, bảo vệ nhân phẩm, danh dự và thân thể.
Khi một phụ huynh có hành vi xúc phạm giáo viên trên mạng xã hội, nhà trường và cơ quan chức năng đã
vào cuộc để bảo vệ uy tín cho giáo viên.
5. Được nghỉ theo quy định của Chính phủ các ngày nghỉ khác theo quy định của pháp luật.Vd: Cô
G được nghỉ hè 2 tháng theo đúng lịch nghỉ của nhà trường, ngoài ra còn được nghỉ lễ như 30/4, 1/5, Tết
Nguyên đán theo quy định.
=> KLSP: những cá nhân công tác trong lĩnh vực giáo dục cần nhận thức rõ, thậm chí thuộc về quyền
nghĩa vụ của mình để tránh xảy ra những tình huống xấu cần phải xử lý, áp dụng lý thuyết vào thực tiễn.
Ngoài ra, Sự cân bằng giữa quyền lợi trách nhiệm yếu tố then chốt để xây dựng hình ảnh nhà giáo
mẫu mực trong xã hội.
lOMoARcPSD| 61470371
___________________________________
9. Phân tích đảm bảo sự thống nhất giữa tính khoa học và tính nhiệm vụ trong dạy học
- Nguyên tắc dạy học hệ thống xác định những yêu cầu cơ bản, có tính chất xuất phát để chỉ đạo
việc xác định nội dung, phương pháp và hình thức tổ chức dạy học phù hợp với mục đích giáo dục,
với nhiệm vụ dạy học và với những tính quy luật của quá trình dạy học.
- Nguyên tắc đảm bảo sự thống nhất giữa tính khoa học và tính giáo dục trong dạy học đòi hỏi phải
trang cho người học những tri thức khoa học chân chính, phản ánh những thành tựu khoa học
công nghệ hiện đại. Giúp người học dần tiếp cận với phương pháp học tập, nhận thức,... một cách
khoa học. Từ đó dần hình thành thế giới quan khoa học, tình cảm và những phẩm chất đạo đức cao
quý của con người hiện đại.
- Tính chất giáo dục của dạy học, phương hướng tư tưởng và sức ảnh hưởng của tới học sinh là
do nội dung, phương pháp dạy học, sự tổ chức tiết học và do tác động của chính nhân cách người
giáo viên quyết đnh.
VD: Khi dạy bài “Biến đổi khí hậu” trong môn Địa lý, giáo viên không chỉ cung cấp kiến thức khoa học về
nguyên nhân hậu quả, mà còn giúp học sinh phân tích số liệu thực tế, hiểu trách nhiệm nhân trong
việc bảo vệ môi trường. Qua đó, học sinh vừa phát triển tư duy khoa học, vừa hình thành ý thức sống
trách nhiệm với xã hội và thiên nhiên.
- Để thực hiện nguyên tắc này, chúng ta cần phải:
+ Võ trang cho người học những kiến thức chân chính, hiện đại → giúp họ nắm được quy luật
phát triển của tự nhiên, xã hội,... có cái nhìn và thái độ đúng với xã hội.
+ Cung cấp thêm cho họ những hiểu biết sâu sắc về thiên nhiên, xã hội, con người,... Từ đó
giáo dục tinh thần trách nhiệm, nga vụ trước sự nghiệp CNH, HĐH đất nước.
+ Bồi dưỡng cho học sinh ý thức và năng lực phân tích, biết phê phán 1 cách đúng mức những
thông tin đăng tải trên MXH.
+ Vận dụng các phương pháp và nh thức tổ chức dạy học để học sinh làm quen , dần tiếp cận
với các hoạt động khoa học, rèn luyện tác phong, phẩm chất của người nghiên cứu khoa
học.
VD: Khi dạy bài “Cách phòng chống dịch bệnh”, giáo viên trang bị cho học sinh kiến thức khoa học về
virus và cách lây truyền. Giáo viên tổ chức hoạt động phân tích, đánh giá thông tin từ mạng xã hội để học
sinh biết chọn lọc, phản biện đúng đắn. Qua đó, học sinh phát triển ý thức trách nhiệm bảo vệ sức khỏe bản
thân và cộng đồng, đồng thời rèn luyện phương pháp tiếp cận khoa học trong học tập.
KLSP: Giáo viên cần trang bị cho học sinh kiến thức khoa học hiện đại đồng thời giáo dục phẩm chất
đạo đức và trách nhiệm xã hội. Việc lựa chọn nội dung, phương pháp và tổ chức dạy học hợp lý, cùng với
nhân cách mẫu mực của giáo viên, sẽ giúp học sinh phát triển duy khoa học và năng lực sống phù hợp
với yêu cầu của thời đại.
10. Phân tích nhiệm vụ và quyền của học sinh được đề cập trong Luật 2019
- Học sinh là người đang học tập trong hệ thống giáo dục phổ thông, được tổ chức và quản lý theo
chương trình, kế hoạch giáo dục do Bộ Giáo dục Đào tạo ban hành. Họ nhiệm vụ học
tập, rèn luyện và phát triển toàn diện về trí tuệ, đạo đức, thể chất và năng lực xã hội nhằm chuẩn bị
cho những bậc học cao hơn hoặc cho cuộc sống lao động sau này.
lOMoARcPSD| 61470371
Điều 82. Nhiệm vụ của người học
1. Học tập, rèn luyện theo chương trình, kế hoạch giáo dục, quy tắc ứng xử của sở giáo dục.
2. Tôn trọng nhà giáo, cán bộ người lao động của sở giáo dục; đoàn kết, giúp đỡ lẫn nhau trong
họctập, rèn luyện; thực hiện nội quy, điều lệ, quy chế của cơ sở giáo dục; chấp hành quy định của pháp
luật.
3. Tham gia lao động hoạt động hội, hoạt động bảo vệ môi trường phù hợp với lứa tuổi, sức khỏe
vànăng lực.
4. Giữ gìn, bảo vệ tài sản của sở giáo dục.
5. Góp phần xây dựng, bảo vệ và phát huy truyền thống của cơ sở giáo dục.
Điều 83. Quyền của người học
1. Được giáo dục, học tập để phát triển toàn diện và phát huy tốt nhất tiềm năng của bản thân.
2. Được tôn trọng; bình đẳng về cơ hội giáo dục và học tập; được phát triển tài năng, năng khiếu, sángtạo,
phát minh; được cung cấp đầy đủ thông tin về việc học tập, rèn luyện của mình.
3. Được học vượt lớp, học rút ngắn thời gian thực hiện chương trình, học độ tuổi cao hơn tuổi quy
định,học kéo dài thời gian, học lưu ban, được tạo điều kiện để học các chương trình giáo dục theo quy
định của pháp luật.
4. Được học tập trong môi trường giáo dục an toàn, lành mạnh.
5. Được cấp văn bằng, chứng chỉ, xác nhận sau khi tốt nghiệp cấp học, trình độ đào tạo hoàn
thànhchương trình giáo dục theo quy định.
6. Được tham gia hoạt động của đoàn thể, tổ chức xã hội trong cơ sở giáo dục theo quy định của phápluật.
7. Được sử dụng sở vật chất, thư viện, trang thiết bị, phương tiện phục vụ các hoạt động học tập,
vănhóa, thể dục, thể thao của cơ sở giáo dục.
8. Được trực tiếp hoặc thông qua đại diện hợp pháp của mình kiến nghị với sở giáo dục các giải
phápgóp phần xây dựng cơ sở giáo dục, bảo vệ quyền, lợi ích của người học.
9. Được hưởng chính sách ưu tiên của Nhà nước trong tuyển dụng vào các quan nhà nước nếu tốtnghiệp
loại giỏi và có đạo đức tốt.
10. Được cử người đại diện tham gia hội đồng trường theo quy định.
11. Đảm bảo sự thống nhất tính trực quan và đảm bảo phát triển tư duy lý thuyết
- Nguyên tắc này đòi hỏi trong quá trình dạy học phải làm cho học sinh tiếp xúc trực tiếp với sự vật,
hiện tượng hay hình tượng của chúng, từ đó hình thành những khái niệm,quy luật, lý thuyết.
- Và ngược lại, có thể nh hội những tri thức lí thuyết trước rồi xem xét những sự vật, hiện tượng cụ
thể sau. Trong việc vận dụng nguyên tắc này bao giờ cũng đảm bảo mối quan hệ qua lại giữa
duy cụ thể vối tư duy trừu tượng.
- Từ đó có thể nhận thấy rằng:
a) Tính trực quan có thể là điểm xuất phát chủ yếu ở các lớp dưới;
b) Tùy theo mức độ vận động của trẻ từ lớp dưới lên lớp trên thì điểm xuất phát của quá trình
dạyhọc là sự tiếp cận lịch sử đối với sự phát minh một quy luật nào đó. Lúc đầu nêu lên vấn đề,
tiếp theo là trình bày lịch sử giải quyết vấn đề đó và cuối cùng là trạng thái hiện nay. Sau đó cần
phải tiến hành công tác thực hành hoặc làm thí nghiệm. Đó là con đường có tính chất quy nạp -
lịch sử trong việc nghiên cứu tri thức.
lOMoARcPSD| 61470371
- Ở đây tính trực quan tham gia hai lần như là minh hoạ sự phát minh,nghĩa là sự phát minh đó diễn
ra trong lịch sử khoa học như thế nào vạch ra cách giải quyết vấn đề đó hiện nay ra sao. Tuy
nhiên cần thấy rằng trình bày theo quan điểm lịch sử chiếm nhiều thời gian học tập và không phải
bao giờ cũng cần thiết. Cơ sở xuất phát thể là những luận điểm thuyết, tiền đề của hệ thống
khái niệm đã được lĩnh hội ở những giai đoạn dạy học trước đây hoặc thậm chí được đưa vào bằng
con đường luận. Chỉ sau khi đã nắm được những định luật tính chất luận đó, trực quan
được sử dụng để minh hoạ sự vận dụng của chúng hoặc dưới hình thức thực hành phòng thí
nghiệm
- Để thực hiện nguyên tắc này cần:
+ Sử dụng phối hợp nhiều phương tiện trực quan khác nhau với tư cách là những phương tiện
và nguồn nhận thức.
+ Kết hợp việc trình bày các phương tiện trực quan với lời nói sinh động, diễn cảm, nghĩa là
kết hợp hai hệ thống tín hiệu.
+ Cần sử dụng lời nói giàu hình ảnh để giúp học sinh vận dụng những biểu tượng đã có để
hình thành những biểu tượng mới, qua đó hình thành những khái niệm, định luật mới.
+ Cần sử dụng một trong ba cách sử dụng nguyên tắc trực quan nêu trên cho phù hợp với lứa
tuổi, nội dung và hoàn cảnh cụ thể nhằm hình thành và phát triển tư duy lý thuyết cho họ.
Trong quá trình trình bày đồ dùng trực quan cần rèn luyện cho học sinh óc quan sát nhằm tìm kiếm
một cách nhanh chóng những dấu hiệu bản chất, từ đó rút ra được những kết luận có tính khái quát
+ Cần sử dụng phối hợp các hình thức tổ chức dạy học một cách hiệu quả
+ Để ra cho học sinh những bài tập nhận thức đòi hỏi phải thiết lập được mối quan hệ giữa cái
cụ thể với cái trừu tượng và ngược lại.
KLSP:
- Phải đảm bảo sự phối hợp nhịp nhàng giữa trực quan và tư duy trừu tượng trong quá trình
dạy học: Việc sử dụng phương tiện trực quan không chỉ công cụ minh họa còn sở để
hình thành và phát triển tư duy lý thuyết của học sinh. Ngược lại, lý thuyết có thể là điểm xuất phát
để hướng dẫn học sinh quan sát và tìm hiểu thực tiễn.
- Tính trực quan cần được sử dụng linh hoạt và phù hợp với từng độ tuổi, nội dung học tập và
hoàn cảnh cụ thể: lớp dưới, thể lấy trực quan làm điểm xuất phát chính. lớp trên, thể
bắt đầu tthuyết hoặc tiếp cận theo con đường lịch sử quy nạp, tùy vào đặc điểm nhận thức
của học sinh.
- Cần kết hợp lời nói sinh động với các phương tiện trực quan: Việc trình bày trực quan phải đi
đôi với lời giảng hấp dẫn, gợi hình, giúp học sinh dễ tiếp nhận thông tin và hình thành khái niệm,
quy luật mới.
- Phải rèn luyện cho học sinh năng lực quan sát có định hướng và tư duy khái quát: Không ch
dừng lại việc nhìn, học sinh cần học cách quan sát mục tiêu, phát hiện những dấu hiệu bản
chất của sự vật, hiện tượng và rút ra nhận xét mang tính lý luận.
- Cần tổ chức đa dạng các hình thức dạy học để tích lũy kinh nghiệm trực quan và khái niệm
hóa tri thức: Việc phối hợp dạy học nhân, nhóm, thực hành thí nghiệm, sử dụng đồ dùng dạy
học… là cần thiết để làm giàu vốn hình ảnh trực quan cho học sinh.
- Nhiệm vụ nhận thức của học sinh cần tạo được mối liên hệ giữa cái cụ thể và cái trừu tượng:
Học sinh cần được giao những bài tập, tình huống có tính chất liên kết giữa biểu tượng cảm tính
kiến thức lý luận để phát triển toàn diện tư duy.
lOMoARcPSD| 61470371
12. Phân tích phương pháp giao việc trong công tác giáo dục
-KN PP giáo dục: Cách thức hoạt động phối hợp thống nhất giữa học sinh và giáo viên nhằm đạt được mục
đích trong giáo dục ( Đảm bảo kết quả, kinh tế, thời gian, an toàn, thống nhất giữa phương pháp dạy
phương pháp học)
- Phương pháp giáo dục là một thành tố trong cấu trúc của quá trình giáo dục. Phương pháp giáo dục
cóliên quan mật thiết với các thành tố khác của quá trình giáo dục. Phương pháp giáo dục chịu sự chi phối
trực tiếp của nội dung giáo dục và quyết định trực tiếp sự thành bại của quá trình giáo dục.
-Nội dung pp giao việc : đây phương pháp giáo dục, trong đó, nhà giáo dục giao cho HS những công
việc cụ thể để các em làm nhằm cuốn hút các em tham gia vào các hoạt động đa dạng của tập thể qua ñó
mà thực hiện nghĩa vụ xã hội và thu được những kinh nghiệm ứng xử.
VD: Giáo viên tiểu học có thể phân công học sinh trực nhật, quét lớp hoặc trang trí bảng tin. Qua đó học
sinh được rèn luyện tinh thần trách nhiệm và kỹ năng giao tiếp với bạn bè khi làm việc tập thể.
- Tác dụng của phương pháp: Giúp HS có cơ hội thể hiện những kinh nghiệm ứng xử trong c mối
quanhệ xã hội và hình thành hành vi ứng xử qua thực hiện những công việc được giao.
-Ưu: học sinh chủ động, rèn kỹ năng tự học, tư duy độc lập và làm việc nhóm. Nhiệm vụ gắn với thực tiễn
làm tăng hứng thú học tập và phù hợp với dạy học phân hóa.
-Nhược: Học sinh thụ động dễ gặp khó khăn, việc đánh giá thiếu công bằng nếu không kiểm soát tốt. Giáo
viên mất nhiều thời gian thiết kế và hướng dẫn, dễ dẫn đến lệch mục tiêu nếu không theo sát.
-Những lưu ý khi thực hiện phương pháp:
+ Khi giao công việc cho HS cần tuân thủ các yêu cầu sư phạm chung khi tổ chức hoạt động. Thực hiện
phương pháp giao công việc cần theo một quy trình ràng điều chỉnh phù hợp với đối tượng. Trước
hết, giáo viên xác định nhiệm vụ cần giao phù hợp với mục tiêu giáo dục khả năng của học sinh tự
nguyện trên tinh thần bắt buộc. Sau phân công,gv theo dõi và hỗ trợ các em trong quá trình hiện. Thường
xuyên khích lệ, ghi nhận nỗ lực và động viên để tạo động lực tích cực.
+Có thể giao công việc một cách trực tiếp hoặc gián tiếp bằng cách gợi ý để tHS làm hoặc giao việc
thông qua tập thể.
+ Công việc giao nên đa dạngluân phiên để tất cả học sinh đều có cơ hội tham gia. Hướng dẫn học sinh
hiểu rõ tiêu chuẩn hoàn thành việc
=>KLSP: Các nhà sư phạm nên bắt đầu tviệc giao cho học sinh những nhiệm vụ đơn giản, phù hợp với
độ tuổi và năng lực. Sau đó, dần nâng cao mức độ phức tạp và tính tập thể của công việc để rèn luyện tinh
thần trách nhiệm và kỹ năng hợp tác. Cần giải thích ý nghĩa giáo dục của mỗi nhiệm vụ để học sinh nhận
thức đưc giá trị của việc mình làm. Cuối cùng, giáo viên cần quan sát, hỗ trợ và ghi nhận kịp thời để củng
cố hành vi tích cực và hình thành nhân cách bền vững cho học sinh.
13. Phân tích phương pháp vấn đáp trong dạy học
- Dạy học 1 bộ phận của quá trình giáo dục, quá trình tác động qua lại giữa giáo viên học
sinh, nhằm truyền thụ và lĩnh hội những kinh nghiệm lịch sử loài người để phát triển những năng
lực và phẩm chất của người học theo mục đích giáo dục
lOMoARcPSD| 61470371
- Phương pháp dạy học là cách thức hoạt động phối hợp thống nhất giữa giáo viên và học sinh trong
quá trình dạy học được tiến hành dưới vai trò chủ đạo của giáo viên nhằm thực hiện tối ưu mục tiêu
và các nhiệm vụ dạy học.
- Phương pháp vấn đáp trong dạy học là phương pháp dạy học trong đó giáo viên tổ chức thực hiện
quá trình hỏi và đáp giữa GV và HS nhằm làm sáng tỏ tri thức mới, rút ra những KL cần thiết.
- Các dạng câu hỏi trong phương pháp vấn đáp rất đa dạng. Theo nhiệm vụ dạy học, câu hỏi có thể
là câu hỏi tái hiện, gợi mở, củng cố kiến thức và câu hỏi ôn tập theo hướng tổng hợp hóa kiến thức.
Theo mức độ khái quát của vấn đề, thể chia thành câu hỏi khái quát và câu hỏi cụ thể theo nội
dung bài học. Ngoài ra, theo mức độ tham gia của học sinh trong hoạt động nhận thức, câu hỏi có
thể là câu hỏi tái tạo hoặc câu hỏi sáng tạo.
- Phương pháp vấn đáp có nhiều ưu điểm. Việc sử dụng linh hoạt, khéo léo câu hỏi trong bài giảng
sẽ kích thích duy tích cực, khả năng lập luận và diễn đạt của học sinh. Giáo viên và học sinh đều
có thể nhanh chóng hiểu được tình hình tiếp thu bài học để điều chỉnh hoạt động dạy - học cho phù
hợp. Đồng thời, phương pháp này còn giúp tạo không khí sôi nổi, sinh động trong giờ học. Giáo
viên cũng dễ dàng sửa chữa ngay những sai sót của học sinh trong quá trình trả lời.
- Tuy nhiên, phương pháp này cũng một số hạn chế. Nếu không sử dụng hợp sẽ làm mất thời
gian, ảnh hưởng đến kế hoạch dạy học dự kiến.
VD: Trong tiết Ngữ văn, khi dạy bài Chiếc lược ngà, giáo viên sử dụng vấn đáp để hỏi: “Chi tiết nào thể
hiện tình cảm cha con sâu nặng trong truyện?” Học sinh tích cực tham gia, nêu ý kiến đa chiều, giúp phát
triển tư duy và kỹ năng diễn đạt. Tuy nhiên, do quá tập trung vào trao đổi ý kiến, giáo viên không kịp chốt
lại kiến thức trọng tâm, khiến học sinh dễ hiểu bài theo cảm tính, thiếu hệ thống.
- Để xây dựng câu hỏi hiệu quả, cần lưu ý một số yêu cầu sau: Câu hỏi phải ràng, đơn giản, số
lượng vừa phải và tập trung vào trọng tâm bài học. Câu hỏi cần chính xác để học sinh hiểu đúng và
hình thành được u trả lời phù hợp. Giáo viên cần dựa vào nội dung bài học để xây dựng hệ thống
câu hỏi logic, chặt chẽ. Hệ thống câu hỏi nên được xây dựng từ dễ đến khó, từ cụ thể đến khái quát
và ngược lại, từ câu hỏi tái tạo đến câu hỏi sáng tạo.
KLSP: Phương pháp vấn đáp là một công cụ dạy học hiệu quả, giúp phát huy tính tích cực, tư duy độc
lập khả năng diễn đạt của học sinh. Để phát huy tối đa ưu điểm hạn chế nhược điểm, giáo viên cần
xây dựng hệ thống câu hỏi hợp lý, ràng, có tính gợi mở phù hợp với trình độ của học sinh. Việc sử
dụng linh hoạt, đúng lúc và đúng mức sẽ góp phần tạo không khí học tập sôi nổi, nâng cao chất lượng tiếp
thu bài học và điều chỉnh kịp thời hoạt động dạy – học.
14. Trình bày nguyên tắc giáo dục phát huy ưu điểm để khắc phục nhược điểm trong phương
pháp giáo dục
- Nguyên tắc gd là những luận điểm cơ bản có tính quy luật của lý luận gd có tác dụng chỉ đạo việc
lựa chọn vận dụng nd, pp các hình thức tổ chức gd nhằm thực hiện tối ưu mục đích, nhiệm
vụ gd
- Nguyên tắc lấy ưu điểm khắc phục khuyết điểm: nói nhiều ưu điểm của ng khác, giảm nói về nhược
điểm, sai lầm của ng khác đặc biệt sai lầm quá khứ, nhất thời, động viên bằng khen thưởng
khuyến khích phát triển hành vi tốt
- Yêu cầu thực hiện
+Tổ chức tốt các phong trào thi đua, theo dõi các điển hình gương mẫu, thường xuyên động viên khen
thưởng khích lệ hs
lOMoARcPSD| 61470371
+Mỗi năm tổng kết, đánh giá xếp loại khen thưởng những hs đạt thành tích cao trong học tập, tu
dưỡng
+ Cần có sự bao dung, độ lượng vs hs nâng đỡ khi hs vấp ngã, sai lầm cần cảm hóa họ, dẫn đến thành
công mới
+Ko đồng nghĩa vs bao che khuyết điểm, từ bỏ phê bình, trách phạt hay thổi phồng thành tích
-Kết luận phạm: Giáo dục phát huy ưu điểm để khắc phục nhược điểm +Là
phương pháp sư phạm lấy điểm mạnh của người học làm động lực phát triển.
+Giúp học sinh tự tin hơn, từ đó có động lực để cải thiện mặt còn yếu.
+Thay phê bình trực tiếp, giáo viên tìm ra điểm sáng để khuyến khích, rồi từng bước hỗ trợ học sinh
vượt qua khó khăn.
+Giúp học sinh không bị mặc cảm vì điểm yếu mà thay vào đó là cảm giác được tôn trọng, được tin tưng.
+Hiệu quả trong việc giáo dục học sinh cá biệt, rụt rè, hoặc có năng lực thiên lệch (giỏi nghệ thuật nhưng
yếu Toán, v.v.).
+Cần sự kiên nhẫn, quan sát tinh tế và cá thể hóa trong giáo dục.
Ví dụ thực tế: Thầy giáo dạy học sinh cá biệt qua năng khiếu vẽ
Thầy Trần Văn Hưng (giáo viên Mỹ thuật, Nội) từng có một học sinh học yếu, hay gây rối, nhưng lại
có năng khiếu vẽ rất tốt. Thay vì phê bình, thầy giao cho em phụ trách trang trí bảng lp, vẽ tranh minh họa
trong báo tường, rồi khen ngợi công khai trước lớp.
> “Sau vài tháng, em thay đổi rệt: ngoan hơn, học chăm hơn, bắt đầu tự xin làm lớp phó phụ trách
văn nghệ. Tôi chỉ đơn giản tìm thấy điểm mạnh đầu tiên cho em hội thể hiện nó.” Thầy Hưng
chia sẻ.
15. Trình bày vai trò của yếu tố bẩm sinh di truyền đến sự hình thành và phát triển nhân cách
- Di truyền là sự truyền lại từ thế hệ trước cho thế hệ sau những đặc điểm cấu trúc giải phẫu cơ thể;
về đặc điểm sinh học riêng như: màu da, màu tóc, vóc dáng, thể trạng, các chất hệ thần kinh,...
trước hết đảm bảo cho loài người tồn tại, thích ứng với những biến đổi của các điều kiện sinh
tồn và sau đó giúp loài người phát triển.
- Bẩm sinh những thuộc tính, đặc điểm sinh học ngay khi đứa trẻ mới sinh. Vai trò của bẩm
sinh, di truyền:
- Di truyền bẩm sinh chỉ là tiền đề vật chất (mầm mống) của sự phát triển tâm lí, nhân cách.
- Di truyền bẩm sinh nói lên chiều hướng, tốc độ, nhịp độ của sự phát triển. Những đứa trẻ có gen di
truyền về một lĩnh vực hoạt động nào đó sẽ sớm bộc lộ thiên hướng về lĩnh vực hoạt động đó.
- Di truyền bẩm sinh không phải yếu tố quyết định tương lai của nhân cách đó. Nói cách khác, đứa
trẻ muốn trở thành một tài năng cần phải có môi trường thuận lợi, những tác động giáo dục đúng
hướng và hoạt động tích cực của cá nhân.
- Trong quá trình giáo dục thế hệ trẻ, chúng ta cần quan tâm đúng mức yếu tố di truyền, bẩm sinh đó
là những mầm mống, tư chất sinh học có vai trò tiền đề phát triển một số phẩm chất, năng lực của
nhân ch. Tất nhiên nếu chúng ta quá coi nhẹ hoặc tuyệt đối hóa, đánh giá quá cao nhân tố di
truyền sinh học thì sẽ phạm sai lầm khi phân ch , so sánh đánh giá vị trí, vai trò, tác động của môi
trường, hoàn cảnh của giáo dục đối với quá trình hình thành và phát triển nhân ch. KLSP:
Bẩm sinh di truyền tiền đề vật chất quan trọng, góp phần định hướng sự phát triển nhân cách,
lOMoARcPSD| 61470371
nhưng không quyết định toàn bộ. Giáo dục cần tôn trọng, khai thác những chất sẵn của học
sinh, đồng thời tạo môi trường, điều kiện và định hướng phù hợp để phát triển nhân cách toàn diện.
Không nên tuyệt đối hóa cũng như xem nhẹ vai trò của yếu tố này trong quá trình giáo dục.
16. Phân tích phương pháp đàm thoại trong giáo dục ( giống như thảo luận, đưa ra vấn đề, lấy ý
kiến, quan điểm, suy nghix hs vấn đề đó ntn)
- Nằm trong nhóm pp hình thành ý thức và tình cảm cá nhân trong gd
- KN PP giáo dục: Cách thức hoạt động phối hợp thống nhất giữa học sinh giáo viên nhằm đạt
được mục đích trong giáo dục ( Đảm bảo kết quả, kinh tế, thời gian, an toàn, thống nhất giữa phương
pháp dạy và phương pháp học)
- Phương pháp giáo dục là một thành tố trong cấu trúc của quá trình giáo dục. Phương pháp giáo dục
có liên quan mật thiết với các thành tố khác của quá trình giáo dục. Phương pháp giáo dục chịu sự
chi phối trực tiếp của nội dung giáo dục và quyết định trực tiếp sự thành bại của quá trình giáo dục.
- Nội dung:
+ Được thực hiện chủ yếu bằng cách trao đổi ý kiến và quan điểm giữa nhà giáo dục với học sinh
giữa học sinh với nhau về 1 chủ đề nào đó thuộc các lĩnh vực kinh tế chính trị xã hội và đời sống.
+ Ưu điểm: thông qua đàm thoại nhà giáo dục kịp thời nắm bắt tâm tư tình cảm vốn kinh nghiệm từng
học sinh để có những tác động giáo dục tích hp
+ Nhược điểm: Phụ thuộc kỹ năng giáo viên, tốn thời gian, khó kiểm soát lớp đông, dễ lệch hướng nếu
thiếu dẫn dắt, khó đánh giá kết quả ngay.
+ Có thể diễn ra theo 2 cách: Đàm thoại tự nhiên và đàm thoại theo chủ đề
Đàm thoại tự nhiên: được dẫn đến 1 cách tự nhiên không tập trung vào 1 chủ đề nhất định. Thường
diễn ra trong bối cảnh không được chuẩn bị trước, trong các tình huống của cuộc sống hằng ngày
hay cuộc tiếp xúc giữa giáo viên và học sinh trong và ngoài giờ học
Đàm thoại theo chủ đề: những câu hỏi của chúng xoay quanh 1 chủ đề nhất định. Muốn hiệu quả
nhà giáo dục cần quan tâm đến nội dung chủ đề cần trao đổi, phải chuẩn bị kỹ các câu hỏi, sự kiện
để thông báo cho hs. Chủ đề cần thông báo trước để học sinh thời gian chuẩn bị ý kiến,quan
điểm ( thường là các sự kiện mang nội dung chính trị, đạo đức thẩm mỹ gắn với cuộc sống).
+ diễn ra dưới hình thức cá nhân hoặc tập thể:
DT Cá nhân: nhà giáo dục đàm thoại riêng với từng học sinh -> Phù hợp để giải quyết những vấn
đề cụ thể trong nhận thức tư tưởng tình cảm, nhất những vấn đề khó nói trước tập thể. Hình
thức này chỉ hiệu quả khi giữa người được giáo dục và nhà giáo dục quan hệ tốt, họ tin tưởng
vào nhau giáo dục, muốn nhà giáo dục chia sẻ và tháo gỡ băn khoăn cho họ
Đàm thoại tập thể được phát triển thành 2 mức độ: thảo luận và tranh luận
Thảo luận: nhà giáo dục tổ chức trao đổi giữa học sinh với nhau tạo điều kiện mỗi thành viên đóng góp ý
kiến tìm ra cách giải quyết. Tranh luận lại dựa trên sự va chạm ý kiến quan điểm khác nhau có khi
đối lập. => học sinh nâng cao tính khái quát vững vàng mềm dẻo các quan điểm đã tiếp thu
- những lưu ý khi thực hiện:
lOMoARcPSD| 61470371
Giáo viên có thể tham gia vào cuộc thảo luận và tranh luận với tư cách là người dẫn dắt định hướng những
vấn đề cần giải quyết nhưng tuyệt đối không được vội phê phán, tán dương những quan điểm sai lầm
cuộc sinh, hay buộc học sinh phải chấp nhận những quan điểm của mình.
=>KLSP: Giáo viên không áp đặt kết luận, mà tạo không gian để học sinh tự tìm ra tiếng nói riêng qua đối
thoại tranh luận. Mỗi cuộc đàm thoại trong lớp học một hội để gieo hạt giống duy độc lập
trưởng thành trong tâm hồn học trò, đàm thoại tạo hội, điều kiện cho giáo viên đc lắng nghe học sinh,
hiểu người gắn bó vs mình.
___________________________________________
17. Phân tích nguyên tắc đảm bảo tính cảm xúc tích cực của dạy học
- Dạy học 1 bộ phận của quá trình giáo dục, quá trình tác động qua lại giữa giáo viên học
sinh, nhằm truyền thụ và lĩnh hội những kinh nghiệm lịch sử loài người để phát triển những năng
lực và phẩm chất của người học theo mục đích giáo dục
- Phương pháp dạy học là cách thức hoạt động phối hợp thống nhất giữa giáo viên và học sinh trong
quá trình dạy học được tiến hành dưới vai trò chủ đạo của giáo viên nhằm thực hiện tối ưu mục tiêu
và các nhiệm vụ dạy học.
- Nguyên tắc đảm bảo tính cảm xúc tích cực trong dạy học đòi hỏi trong quá trình dạy học phải gây
cho người học sự hấp dẫn, hứng thú, lòng ham hiểu biết, niềm vui tác động mạnh mẽ đến tình
cảm của họ. Bởi tình cảm vai trò quan trọng đối với hoạt động của con người , thôi thúc con
người hành động, thậm chí xả thân cho sự nghiệp. Công việc mà được yêu thích sẽ được thực hiện
nhanh chóng hiệu quả lại ít tốn sức hơn. ngược lại, không yêu thích thì không những
không được động viên mà sức lực còn bị đè nén, không đạt được hiệu quả cao.
- Để thực hiện được nguyên tắc này trong quá trình dạy học, ta cần:
+ Quá trình dạy học cần liên hệ chặt chẽ với cuộc sống thực tế, với công cuộc xây dựng đất
nước và kinh nghiệm sống của học sinh. Điều này giúp học sinh hiểu ý nghĩa của việc học
và tạo hứng thú trong học tập.
+ Trong nội dung phương pháp dạy học, cần tăng cường hoạt động tích cực của học sinh.
Giáo viên cần tạo điều kiện để học sinh suy nghĩ, phát hiện và chủ động tìm hiểu, qua đó
hình thành tình cảm trí tuệ.
+ Sử dụng các trò chơi mang tính nhận thức để hỗ trợ quá trình học tập, giúp học sinh tiếp thu
kiến thức một cách tự nhiên và hứng thú.
+ Nên đưa vào giảng dạy các phương tiện nghệ thuật như văn học, âm nhạc, kịch… để kích
thích cảm xúc, làm giàu tình cảm phát triển toàn diện con người học sinh. Tuy nhiên,
cần sử dụng nghệ thuật đúng mức để tránh làm học sinh mất tập trung.
+ Cảm xúc trong quá trình dạy học phụ thuộc vào ngữ cảnh hoạt động học tập. Khi hoạt
động học tập phong phú và hấp dẫn, học sinh sẽ hứng thú và có nhu cầu tìm hiểu cao hơn.
Dạy học nên được tổ chức như một hình thức tham quan học tập hoặc hoạt động ngoại
khóa sinh động.
+ Giáo viên có ảnh hưởng lớn đến cảm xúc của học sinh. Khi giáo viên có cách diễn đạt sinh
động, giàu cảm xúc, hình ảnh và thể hiện được sự rung cảm thật sự với bài học, họ có thể
giúp học sinh
VD: Trong bài dạy ở môn Đạo đức (hoặc Giáo dục công dân), giáo viên cho học sinh xem một đoạn phim
ngắn về tình cảm cha mẹ con cái, sau đó yêu cầu các em chia sẻ một kỷ niệm xúc động với người thân.
lOMoARcPSD| 61470371
Tiếp theo, học sinh viết một bức thư gửi cho cha mẹ để thể hiện tình cảm và lòng biết ơn. Qua hoạt động
này, học sinh không chỉ hiểu bài sâu sắc mà còn được khơi dậy cảm xúc tích cực, phát triển kỹ năng diễn
đạt và bồi dưỡng phẩm chất đạo đức.hình thành cảm xúc tương ứng và khơi dậy trí tuệ, tư duy.
Để nâng cao hiệu quả dạy học, giáo viên cần chú trọng khơi dậy cảm xúc tích cực ở học sinh thông qua
nội dung gần gũi, phương pháp sinh động hoạt động học tập đa dạng. Khi học sinh hứng thú, yêu
thích việc học, các em sẽ chủ động, sáng tạo tiếp thu kiến thức hiệu quả n. Giáo viên không chỉ truyền
đạt tri thức mà còn là người truyền cảm hứng, giúp học sinh gắn kết tình cảm với bài học, từ đó phát triển
hài hòa cả trí tuệ và nhân cách.
18. Phân tích phương pháp khen thưởng trong giáo dục (trang 132)
- Pp gd: nt
- Pp khen thưởng: Phương pháp khen thưởng trong giáo dục phương pháp tác động phạm
nhằm khích lệ, động viên học sinh bằng cách biểu dương, ghi nhận những hành vi, kết quả học
tập, rèn luyện đạt yêu cầu hoặc vượt trội, từ đó tạo động lực tiếp tục cố gắng hình thành
những phẩm chất tích cực.
- Tác dụng:
+ Củng cố, phát huy phẩm chất tốt đẹp trong các nhân cũng như truyền thống tốt đẹp trong tập thể,
giúp cá nhân và tập thể khẳng định mình, vươn lên tu dưỡng, phấn đấu
+ Tạo động cơ thúc đẩy qtr gd đạt hiệu quả mong muốn nhờ đem lại sự vui sướng hân hoan,
- Yêu cầu:
+ Cần có sự đồng tình tán thưởng của dư luận tập thể
+ Đúng lúc đúng chỗ, công bằng, khách quan
- KLSP:
Việc khen thưởng kịp thời, công bằng phù hợp sẽ tạo niềm tin, sự hứng thú, từ đó thúc đẩy
học sinh phát triển toàn diện.
Khen thưởng đúng cách giúp học sinh tự tin, chủ động, yêu thích việc học, đồng thời góp phần
hình thành phẩm chất đạo đức tốt.
Tuy nhiên, nếu lạm dụng hoặc thiếu công bằng trong khen thưởng, thể dẫn đến tâm ganh đua,
ỷ lại hoặc so bì giữa học sinh.
vậy, ngưi giáo dục cần vận dụng linh hoạt, kết hợp hài hòa với các phương pháp khác (như
nêu gương, động viên, kỷ luật tích cực) để đạt hiệu quả giáo dục tối ưu.
Ví dụ: Giáo sư Ngô Bảo Châu và cách "khen đúng chỗ" để nuôi dưỡng tài năng trẻ
Giáo sư Ngô Bảo Châu – nhà toán học nổi tiếng, người đoạt Huy chương Fields – trong nhiều buổi
gặp gỡ học sinh giỏi, luôn chú trọng khen đúng điểm mạnh, đúng thời điểm, đặc biệt với những
học sinh có tư duy độc lập.
Trong một buổi giảng dạy tại Trại hè Toán học, thay khen ngợi kiểu chung chung, ông nói với
một học sinh:
> “Cách em đặt câu hỏi cho thấy em không chấp nhận những điều hiển nhiên. Đó là phẩm chất rất
quý trong nghiên cứu khoa học.”
19. Trình bày nguyên tắc giáo dục trong lao động bằng lao động -
Nguyên tắc giáo dục:
lOMoARcPSD| 61470371
+ Nguyên tắc là những luận điểm được rút ra từ các quy luật, những nguyên lý như những tiền đề
có giá trị chỉ dẫn các hoạt động phức tạp.
+ Có tính quy luật
+ Nắm được các nguyên tắc giáo dục sẽ giúp các nhà giáo dục kết hợp được lý luận
Nội dung nguyên tắc:
- Lao động phương thức sống, đồng thời con đường nh thành phát triển nhân cách. Lao
động sáng tạo ra mọi của cải vật chất và tinh thần, là nguồn gốc của mọi tình cảm, mọi phẩm chất
tốt đẹp của con người. Ngược lại sự nhàn rỗi, lười biếng là nguồn gốc nảy sinh mọi thói hư, tật xấu.
- Giáo dục bằng lao động như một phương tiện giáo dục để học sinh có cơ hội và điều kiện vận dụng
những kiến thức đã học vào cuộc sống, rèn luyện những đức tính, phẩm chất tốt đẹp. Do vậy, nhà
giáo dục cần phải tổ chức cho học sinh thực sự rèn luyện trong lao động.
- Yêu cầu khi thực hiện nguyên tắc:
+ Tổ chức cho học sinh tham gia vào các dạng hoạt động khác nhau từ việc nhỏ nhất hằng ngày
như vệ sinh trường, lớp.
+ Cần thu hút học sinh tham gia vào các hình thức lao động kỹ thuật, có tính sáng tạo, hấp dẫn,
tạo sự hứng thú như trồng hoa, cây cảnh, tạo môi trường xanh, sạch đẹp.
+ Tổ chức cho các em tham gia vào lao động tạo ra của cải vật chất trong vườn trường, xưởng
trường.
+ Cần giúp cho giáo viên và học sinh thái độ đúng đắn đối với người lao động, với công việc
lao động, với sản xuất lao động, ý thức hợp tác, tương trợ giúp đỡ nhau; cần khắc phục
những biểu hiện, những khuynh hướng không đúng trong lao động.
KLSP: Giáo dục trong lao động bằng lao động giúp học sinh rèn luyện nhân cách, phát triển phẩm
chất, kỹ năng sống và ý thức trách nhiệm. Nhà giáo dục cần tổ chức cho học sinh tham gia các hoạt động
lao động phù hợp, ý nghĩa, từ lao động hằng ngày đến lao động sáng tạo, góp phần hình thành thái độ
đúng đắn và tình yêu lao động ở học sinh.
20. Phân tích phương pháp quan sát trong dạy học ( câu này t ko thấy có trong giáo trình)
-Nằm trong nhóm pp hình thành ý thức và tình cảm cá nhân trong gd
-KN PP giáo dục: Cách thức hoạt động phối hợp thống nhất giữa học sinh và giáo viên nhằm đạt được mục
đích trong giáo dục ( Đảm bảo kết quả, kinh tế, thời gian, an toàn, thống nhất giữa phương pháp dạy
phương pháp học)
-Phương pháp giáo dục là một thành tố trong cấu trúc của quá trình giáo dục. Phương pháp giáo dục có liên
quan mật thiết với các thành tố khác của quá trình giáo dục. Phương pháp giáo dục chịu sự chi phối trực
tiếp của nội dung giáo dục và quyết định trực tiếp sự thành bại của quá trình giáo dục.
1. Khái niệm
Phương pháp quan sát là phương pháp dạy học khi giáo viên tố chức cho học sinh sử dụng các giác quan
khác nhau để tri giác các sự vật, hiện tượng một cách kế hoạch, trọng tâm để rút ra các đặc điểm,
tính chất của chúng.
Đối tượng quan sát có thể là vật thật, tranh ảnh, mô hình,...
2. Các bước tiến hành
lOMoARcPSD| 61470371
Giáo viên cần chuẩn bị chu đáo kế hoạch dạy học, xác định thời điểm tổ chức cho học sinh quan sát.
Chuẩn bị đầy đủ các đối tượng quan sát phù hợp với mục tiêu, nội dung bài học: tranh ảnh, mẫu vật,
đồ, bản đồ,...
Chuẩn bị hệ thống câu hỏi, bài tập để hướng dẫn học sinh quan sát các sự vật, hiện tượng có mục đích, có
trọng tâm.
Hệ thống câu hỏi cần được sắp xếp theo trình tự
3. Yêu cầu sư phạm
Giáo viên cần xác định rõ mục tiêu quan sát cụ thể, ngắn gọn bằng các câu hỏi rõ ràng.
Tố chức cho học sinh quan t ở trong lớp hoặc ngay trong môi trường tự nhiên và xã hội xung quanh.
Sử dụng hệ thống câu hỏi, bài tập phù hợp để hướng dẫn học sinh quan sát hiệu quả.
VD áp dụng phương pháp quan sát trong dạy học: Trong bài giảng về văn miêu tả tả đồ vật, giáo viên
mang vào lớp một chiếc trống thật để hs quan sát. Gv hướng dẫn học sinh quan sát theo trình tự bằng các
câu hỏi cụ thể như: “Thân trống hình dáng thế nào?”, “Mặt trống làm bằng chất liệu gì?”, “Âm thanh
trống vang lên sau khi nhẹ?”. Qua qtrình quan sát trực tiếp trả lời câu hỏi, học sinh dễ dàng ghi
nhớ đặc điểm của đồ vật và viết đoạn văn miêu tar đúng trọng tâm.
=> KLSP: trong quá trình dạy học, người gv cần linh hoạt kết hợp các phương pháp kích thích để tính tích
cực của hs, vì Thành công của dạy học nằm ở chính bản thân các em.
CÂU 2 ĐIỂM 21. Làm sáng tỏ
“Dưới ánh mặt trời, không có nghề nào quý bằng nghề dạy học”
Câu nói “Dưới ánh mặt trời, không nghề nào quý bằng nghề dạy học” thể hiện một chân lý sâu sắc về
vai trò và ý nghĩa cao quý của nghề giáo trong xã hội loài người. “Ánh mặt trời” ở đây được hiểu như ánh
sáng của tri thức, sự sống và văn minh nhân loại, là nguồn năng lượng nuôi dưỡng và phát triển tất cả mọi
lĩnh vực trong đời sống xã hội. Trong ánh sáng ấy, nghề dạy học được xem nghề đứng đầu bởi vì giáo
viên người truyền tải kiến thức, kinh nghiệm, đồng thời hình thành nhân cách, tưởng phẩm chất
đạo đức cho thế hệ trẻ. Người thầy như người gieo hạt giống tri thức đạo đức, tđó tạo nên nền tảng
vững chắc cho sự phát triển của từng nhân hội nói chung. Không chỉ dừng lại việc truyền thụ
kiến thức, nghề dạy học còn có ý nghĩa quan trọng trong việc giúp học sinh hình thành thế giới quan khoa
học, phát triển tư duy sáng tạo và khả năng giải quyết vấn đề, chuẩn bị cho các em trở thành công dân
trách nhiệm năng lực trong hội hiện đại. Mọi ngành nghề khác đều cần nền tảng giáo dục tốt để
phát triển; từ bác sĩ, kỹ sư, nhà khoa học đến nghệ sĩ đều trưởng thành tsự dạy dỗ và đào tạo của người
thầy. Vì thế, giáo dục chính là yếu tố quyết định sự tiến bộ và phát triển bền vững của đất nước. Hơn nữa,
nghề dạy học một nghề đặc biệt đòi hỏi người thầy không chỉ kiến thức chuyên môn vững vàng
còn cần tâm huyết, lòng yêu thương, sự kiên nhẫn và trách nhiệm cao cả. Người thầy không chỉ dạy chữ
còn dạy người, đồng hành dẫn dắt học sinh trên con đường phát triển toàn diện về ttuệ, đạo đức
tình cảm. Chính vậy, nghề dạy học mang trong mình sứ mệnh thiêng liêng, công việc cao quý
được xã hội tôn vinh hơn bất cứ nghề nào khác.
22. Câu 27 của đề 30 câu
Câu nói “Sản phẩm giáo dụcthành quả chung của tất cả lực lượng giáo dục và của chính người được
giáo dục” đã khái quát một cách toàn diện và sâu sắc bản chất của quá trình giáo dục – một quá trình phức
lOMoARcPSD| 61470371
hợp, mang tính xã hội cao, không thể tách rời khỏi sự phối hợp của nhiều yếu tố. Trước hết, cần hiểu rằng
sản phẩm giáo dục không chỉ đơn thuần là kết quả học tập như điểm số hay bằng cấp, mà là sự hình thành
và phát triển toàn diện của con người cả về trí tuệ, đạo đức, lối sống và năng lực hành động. Quá trình này
không thể chỉ do một lực lưng duy nhất đảm nhiệm, mà cần có sự tham gia đồng bộ của ba lực lượng giáo
dục chính: gia đình, nhà trường hội. Gia đình môi trường giáo dục đầu tiên lâu dài nhất, góp
phần hình thành những thói quen, phẩm chất đạo đức và cách ứng xử ban đầu cho trẻ. Ntrường đóng vai
trò trung tâm trong việc truyền thụ kiến thức, rèn luyện kỹ năng, đồng thời tạo môi trường kỷ luật và phát
triển năng lực duy, giao tiếp. Trong khi đó, xã hội với các thiết chế văn hóa, truyền thông, cộng đồng…
tác động mạnh mẽ đến tưởng, thái độ định hướng giá trị của người học thông qua các chuẩn mực
và quan hệ xã hội.
Tuy nhiên, dù các lực lượng giáo dục bên ngoài có phối hợp chặt chẽ và tạo điều kiện tốt đến đâu, thì yếu
tố mang tính quyết định vẫn ý thức, thái độ sự chủ động của chính người học. Người học không
phải là chiếc bình để “rót đầy” kiến thức, mà là chủ thể tích cực cần biết tiếp nhận, phản biện, tự hoàn thiện
bản thân qua quá trình học tập rèn luyện. Nếu học sinh thiếu ý chí, động lực hoặc phó mặc hoàn toàn
cho người khác, thì mọi tác động giáo dục sẽ trở nên hình thức và thiếu hiệu quả. Ngược lại, khi người học
có tinh thần cầu tiến, ý thức tự học và khả năng phản hồi tích cực với các yếu tố giáo dục xung quanh, họ
sẽ biến các tác động ấy thành nội lực, từ đó phát triển một cách bền vững và sâu sắc hơn.
Vì thế, có thể khẳng định rằng sản phẩm của giáo dục tức một con người phát triển toàn diện chính là
kết quả của một quá trình phối hợp đa chiều, trong đó mọi lực lượng giáo dục đều đóng vai trò quan
trọng, nhưng không lực lượng nào có thể thay thế được vai trò trung tâm của chính người học. Nhận thức
điều này không chỉ giúp nâng cao hiệu quả giáo dục, còn nhấn mạnh tinh thần trách nhiệm sự
phối hợp chặt chẽ giữa gia đình, nhà trường, xã hội và bản thân mỗi người học trong sự nghiệp hình thành
nên những thế hệ công dân vừa có trí tuệ, vừa có đạo đức, biết sống và cống hiến vì cộng đồng.
23. Câu 28 của đề 30 câu: Giáo dục 9/10 là động viên khích lệ
Câu “Giáo dục chín phần mười là động viên khích lệ” hiểu đơn giản là trong suốt quá trình dạy và
học, việc thắp lên niềm tin, khơi gợi hứng khởi và khẳng định giá trị của học sinh quan trọng gấp
chín lần so với việc chỉ truyền tải kiến thức khô khan. Cụ thể:
- Khơi dậy cảm xúc tích cực: Theo nguyên tắc đảm bảo tính cảm xúc tích cực, khi học sinh được
khích lệ chỉ một lời khen, một ánh mắt tin tưởng sẽ sinh ra hứng thú lòng ham hiểu
biết. Cảm xúc tích cực này thúc đẩy các em tự giác tìm tòi, chủ động tham gia, biến việc học thành
trải nghiệm hấp dẫn chứ không phải gánh nặng.
- Tập trung khai thác điểm mạnh: Nguyên tắc phát huy ưu điểm nhấn mạnh rằng khích lệ đúng
chỗ giúp học sinh nhận ra tin tưởng vào năng lực bản thân. Khi các em cảm thấy “mình làm
được”, các em sẽ thêm tự tin để khắc phục nhược điểm, từ đó tạo nên vòng xoáy thành công liên
tục.
- Thỏa mãn nhu cầu tâm lý cơ bản: Dựa vào tháp nhu cầu của Maslow, khích lệ giúp học sinh cảm
thấy được chấp nhận (nhu cầu xã hội), được tôn trọng (nhu cầu kính trọng) và sau cùng là có động
lực để tự thể hiện (nhu cầu tự thực hiện). Một khi những nhu cầu này được đáp ứng, các em sẽ
vươn lên mạnh mẽ hơn để khám phá kiến thức và phát triển bản thân.

Preview text:

lOMoAR cPSD| 61470371 CÂU 4 ĐIỂM
1. Trình bày vai trò của môi trường đến sự phát triển nhân cách
- Sự phát triển nhân cách là một quá trình cải biến toàn bộ các sức mạnh về thể chất và tinh thần cả
về lượng và chất, có tính đến đặc điểm của mỗi lứa tuổi. Sự phát triển nhân cách thể hiện qua những dấu hiệu sau:
+ Sự phát triển về mặt thể chất: tăng trưởng về chiều cao, cân nặng,...
+ Sự phát triển về mặt tâm lý: biến đổi cơ bản trong quá trình nhận thức, tình cảm,...
+ Sự phát triển về mặt xã hội: thể hiện ở thái độ, hành vi ứng xử trong các mối quan hệ với
những người xung quanh,..
- Các yếu tố ảnh hưởng đến sự phát triển nhân cách. + Di truyền và bẩm sinh + Môi trường + Giáo dục + Hoạt động có nhân
- Môi trường tự nhiên và xã hội với các điều kiện kinh tế, thể chế xã hội, chuẩn mực đạo đức,...tác
động mạnh đến quá trình hình thành và phát triển động cơ, mục đích,... chiều hướng phát triển của cá nhân
- Môi trường là điều kiện để phát triển nhân cách, nó kìm hãm hoặc thúc đẩy nhân cách.
VD: Khi còn nhỏ, Mạnh Tử sống với mẹ. Bà Mạnh rất chú trọng đến việc giáo dục con trai, nhất
là trong giai đoạn thơ ấu. Lần đầu tiên, hai mẹ con sống gần nghĩa địa. Mạnh Tử bắt chước những
người đưa tang: đào huyệt, khóc lóc... Bà Mạnh thấy môi trường không phù hợp nên chuyển nhà.
Lần thứ hai, họ chuyển đến gần chợ. Mạnh Tử lại bắt chước những người buôn bán, nói thách, mặc
cả. Bà Mạnh lại thấy không ổn nên chuyển nhà lần nữa. Lần thứ ba, họ đến gần một trường học. Ở
đây, Mạnh Tử bắt chước lễ nghi, đọc sách, học hành... Bà Mạnh rất hài lòng và quyết định ở lại vì
cho rằng đây là môi trường tốt để con học tập và trưởng thành.
- Tuy nhiên mức độ ảnh hưởng của môi trường bị “khúc xạ” bởi yếu tố giáo dục, bởi trình độ nhận
thức, niềm tin, quan điểm, ý chí, xu hướng và năng lực của từng cá nhân. Mỗi người có lăng kính
riêng khi nhìn nhận thế giới, nên sự tác động của môi trường cũng sẽ bị "khúc xạ" theo cách họ cảm nhận và lựa chọn
VD: Một người sống trong môi trường đầy cám dỗ có thể chọn con đường sai trái, nhưng người
khác lại lấy đó làm động lực để tránh xa cái xấu và sống tử tế hơn.
- Nhưng cũng không nên tuyệt đối hóa hay xem nhẹ vai trò của môi trường. không tuyệt đối hóa bởi
môi trường tốt là điều kiện thuận lợi, nhưng bản thân người học cần có ý chí, sự nỗ lực và định
hướng đúng đắn thì mới thành công. Không phải ai sống trong môi trường tốt cũng nên người, và
ngược lại: Có nhiều người trưởng thành và vươn lên từ hoàn cảnh khó khăn, nghèo nàn. Không
xem nhẹ bởi trẻ nhỏ rất dễ bắt chước và học theo xung quanh. Môi trường không lành mạnh dễ tạo
điều kiện cho trẻ hình thành thói quen xấu. Môi trường tích cực, năng động, có định hướng giúp trẻ
phát triển đạo đức, trí tuệ và lối sống tốt hơn.
- Do đó, khi giáo dục học sinh cần áp dụng phương pháp nêu gương kết hợp với các môi trường giáo dụng khác nhau.
2. Phương pháp thuyết trình trong dạy học (trang 79 - Giáo trình) lOMoAR cPSD| 61470371
- Phương pháp giáo dục là: cách thức hoạt động của gv và hs trong quá trình dạy học được tiến hành
dưới vai trò chủ đạo của giáo viên nhằm thực hiện tối ưu mục tiêu, nhiệm vụ dạy học
- PP thuyết trình là pp gv dùng lời nói để trình bày giải thích nd bài học một cách hệ thống và logic cho hs tiếp thu - Cách thức:
+ Kể chuyện: gv tường thuật các sự kiện hiện tượng có hệ thống, đc sd nhiều trong môn khxh
+ Giải thích: gv dùng luận cứ số liệu để giải thích, cm, làm sáng tỏ vấn đề
+ Diễn giảng : gv trình bày ndht nhất định có hệ thống. đc sd nhiều ở lớp cuối thpt và đh - Ưu điểm:
+ Gv có thể trình bày 1 khối lượng kiến thức lớn trong tg ngắn
+ Hs có thể học đc cách tư duy logic, cách đặt, giải quyết vấn đề. cách diễn đạt chính xác, rõ ràng, súc tích
+ Là pp dễ thực hiện nhất, ko cần tbdh nào
+Khi đc nâng lên là thuyết trình sẽ kích thích đc tính tích cực tư duy của hs
+Nếu kết hợp minh họa bằng các pttq, vấn đáp, thảo luận thực hành sẽ kích thích tính năng động của hs - Nhược điểm:
+hs dễ hình thành thói quen thụ động, chóng mệt, thiếu sáng tạo ghi nhớ kém bền vững +
Hs thiếu cơ hội ptr ngôn ngữ nói
+ Gv khó chú ý đến trình độ nhận thức và ktr sự lĩnh hội tri thức của hs - Yêu cầu hs:
+Ngôn ngữ biểu đạt và nd logic, phù hợp.
+ Phát âm rõ ràng chính xác, tốc độ tần số âm thanh vừa phải
+Ngôn ngữ có tính thuyết phục, giản dị, tự nhiên, thiện cảm, giàu hình ảnh +Nên
kết hợp vs cá phương pháp khác như trực quan, vấn đáp….
-Kết luận sư phạm của phương pháp thuyết trình:
+Là phương pháp giáo viên truyền đạt kiến thức bằng lời nói mạch lạc, có hệ thống.
+Giúp học sinh tiếp thu nội dung mới, đặc biệt là kiến thức khái quát, trừu tượng.
+Phát huy vai trò chủ động của giáo viên trong tổ chức và dẫn dắt bài học.
+Có khả năng truyền cảm hứng nếu biết kết hợp giọng điệu, ví dụ, hình ảnh sinh động.
+Dễ dẫn đến học sinh thụ động nếu chỉ tiếp thu một chiều.
+Cần kết hợp với các phương pháp khác (hỏi đáp, thảo luận, nêu vấn đề...) để tăng hiệu quả.
+Phù hợp nhất khi dùng để giới thiệu bài mới, tổng kết, hoặc giảng giải những nội dung khó. 3.
Phân tích vai trò của yếu tố giáo dục trong sự hình thành, phát triển nhân cách (Trang 20)
- Giáo dục là quá trình hoạt động phối hợp thống nhất giữa chủ thể (nhà giáo dục) và đối tượng
(người được giáo dục) nhằm hình thành và phát triển nhân cách theo những yêu cầu của xã hội.
Đây là quá trình tác động tự giác có mục đích, có nội dung, phương pháp, phương tiện,.... được
lựa chọn, tổ chức một cách khoa học giúp cho mọi cá nhân chiếm lĩnh được những kinh nghiệm,
những giá trị xã hội của nhân loại bằng con đường ngắn nhất. lOMoAR cPSD| 61470371
- Giáo dục đóng vai trò chủ đạo đối với quá trình hình thành, phát triển nhân cách. Bởi vì nó thực
hiện theo định hướng thống nhất vì mục đích nhân cách lý tưởng mà xã hội yêu cầu. Ba lực lượng
giáo dục là gia đình, nhà trường và đoàn thể xã hội:
+ Nhà trường có vai trò, vị trí vô cùng quan trọng trong thực hiện mục đích, nội dung giáo
dục bằng các phương pháp khoa học có tác động mạnh nhất giúp cho học sinh hình thành
năng lực ngăn ngừa, đấu tranh những ảnh hưởng tiêu cực từ môi trường và di truyền bẩm sinh.
+ Giáo dục gia đình được tiến hành sớm nhất từ khi đứa trẻ chào đời tạo nên những phẩm chất
nhân cách đầu tiên quan trọng làm nền tảng cho giáo dục nhà trường.
+ Giáo dục xã hội qua các đoàn thể các tổ chức nhà nước với thể chế chính trị, pháp luật, văn
hóa đạo đức, góp phần thúc đẩy quá trình phát triển nhân cách toàn diện theo sự phát triển xã hội.
- Giáo dục không chỉ vạch ra chiều hướng, mục tiêu hình thành và phát triển nhân cách của học
sinh mà còn tổ chức chỉ đạo, dẫn dắt học sinh thực hiện quá trình đó đến kết quả mong muốn.
- Giáo dục là những tác động tự giác có điều khiển, có thể mang lại những tiến bộ mà các yếu tố di
truyền bẩm sinh hoặc môi trường, hoàn cảnh không thể tạo ra được do tác động tự phát.
- Giáo dục có sức mạnh cải biến những nét tính cách, hành vi phẩm chất lệch lạc không phù hợp
với yêu cầu chuẩn mực của xã hội.
- Giáo dục có tầm quan trọng đặc biệt với những người khuyết tật hoặc thiểu năng do bệnh tật, tai
nạn hoặc bẩm sinh, di truyền tạo ra. Nhờ có sự can thiệp sớm, nhòe có phương pháp giáo dục, rèn
luyện đặc biệt cùng với sự hỗ trợ của phương pháp khoa học có thể giúp cho người khuyết tật,
thiểu năng phục hồi một phần chức năng đã mất hoặc phát triển các chức năng khác nhằm bù trừ
những chức năng bị khiếm khuyết, giúp cho họ hòa nhập vào cuộc sống cộng đồng.
- Để phát huy vai trò chủ đạo của mình, giáo dục cần tích cực góp phần cải tạo môi trường sống
làm cho nó ngày càng lành mạnh, văn minh, thống nhất tác động của các lực lượng giáo dục theo
mục tiêu chung phát triển nhân cách; đồng thời phát hiện và phát triển những tiềm năng bên trong
mỗi người học, biến chúng trở thành hiện thực, Đặc biệt tránh tuyệt đối hóa vai trò của giáo dục,
coi giáo dục là “vạn năng”. ⇒ KLSP:
- Giáo dục là lực lượng chủ đạo trong hình thành và phát triển nhân cách, với mục tiêu rõ ràng và phương pháp khoa học.
- Phối hợp ba môi trường – gia đình, nhà trường và xã hội – để cùng định hướng, bồi đắp nền
tảng và mở rộng kinh nghiệm cho học sinh.
- Tác động có điều khiển và có kế hoạch giúp khắc phục giới hạn di truyền, môi trường, đồng thời
điều chỉnh hành vi lệch chuẩn.
- Cải tạo môi trường sống và phát hiện, nuôi dưỡng tiềm năng cá nhân, nhưng không tuyệt đối
hóa vai trò giáo dục—phải kết hợp với nỗ lực của chính người học.
4. Phân tích bản chất của quá trình dạy học theo quan điểm nhận thức luận.
-KN Quá trình dạy học: là quá trình dưới sự tổ chức hướng dẫn của giáo viên học sinh tự giác, tích cực,
chủ động, sáng tạo, tự tổ chức, tự điều khiển hoạt động học tập và nhận thức của mình nhằm thực hiện tốt lOMoAR cPSD| 61470371
mục tiêu dạy học. Theo giáo trình quá trình dạy học là sự thống nhất biện chứng của 2 thành tố cơ bản trong
quá trình dạy học - hoạt động dạy và hoạt động học.
-Bản chất của quá trình giáo dục: là quá trình nhận thức độc đáo của học sinh dưới vai trò chủ đạo của giáo viên.
+ Sự học tập của học sinh là sự phản ánh thế giới khách quan vào não người. sự phản ánh đó có tính
chất cải tạo mà mức độ cao nhất của nó là sáng tạo. Sự phản anh ấy không thụ động như chiếc
gương mà bao giờ cũng bị khúc xạ qua lăng kính chủ quan của mỗi người như thông qua trí thức kinh nghiệm…
+ Quá trình học tập của học sinh cũng diễn ra theo công thức nổi tiếng của Lênin về quá trình nhận
thức: “ từ trực quan sinh động đến tư duy chiều tượng từ tư duy trừu tượng đến thực tiễnư Vd: khi
học bài thơ Tây Tiến của Quang Dũng học sinh được xem 1 video về vùng núi Tây Bắc hoặc cuộc
hành quân của những người lính ở nơi đây Ban đầu, học sinh cảm nhận vẻ đẹp của bài thơ qua hình
ảnh, âm thanh, cảm xúc (trực quan sinh động). Sau đó, các em phân tích nghệ thuật, hình tượng để
hiểu sâu sắc tinh thần bi tráng của người lính, các ý nghĩa ở tầng dưới vb (tư duy trừu tượng). Cuối
cùng, vận dụng kiến thức để viết bài cảm nhận về vẻ đẹp người lính(thực tiễn).
-Sự giống và khác nhau giữa nhận Thức của học sinh vs nhà khoa học: +Giống:
● Đều là quá trình phản ánh thế giới khách quan diễn ra theo con đường nhận thức mà Lênin đãchỉ ra: TQ - TDTT - TT.
● Đều làm cho vốn hiểu biết của chủ thể được phong phú thêm hoàn thiện thêm. Nhà khoa học học sinh
Diễn ra theo con đường thử và sai để tìm ra cái mới
Diễn ra theo con đường thẳng đã được khám phá Tìm ra cái mới Tái tạo
Tri thức khoa học -> Cô đơn độc quyền Tri thức phổ thông
Được tiến hành theo các khâu của quá trình dạy học
Vd: lĩnh hội kiến thức mới -> làm thí nghiệm-> cũng
cố -> luyện tập -> đánh giá => nhầm biến chúng
thành tài sản của bản thân
Hình thành phẩm chất theo yêu cầu xã hội
Dưới vai trò chủ đạo của Giáo viên
có quá trình kiểm tra, đánh giá
=> Trong 1 thời gian nhất định, học sinh có thể lĩnh hội Khối lượng tri thức rất lớn 1 cách thuận lợi.
KLSP:Quá trình dạy học cần chú ý tới tính độc đáo để tránh sự đồng nhất quá trình nhận thức chung của
loài người với quá trình nhận thức của học sinh. Song phải không vì quá coi trọng tính độc đáo mà thiếu lOMoAR cPSD| 61470371
quan tâm đến việc tổ chức cho học sinh tự tìm hiểu và tập tham gia các hoạt động tìm tòi khám phá khoa
học vừa sức, nâng cao dần để chuẩn bị cho họ tự khai thác tri thức, tham gia nghiên cứu khoa học.
VD: khi dạy bài “Hiện tượng mưa axit” trong môn Hóa học, giáo viên không chỉ giảng lý thuyết một
chiều, mà cho học sinh thảo luận nhóm, đặt câu hỏi, làm thí nghiệm đơn giản để khơi gợi sự tò mò (các quá
trình dạy học ) Đồng thời, giáo viên cũng hướng dẫn cách tra cứu tài liệu, trình bày báo cáo để rèn luyện
kỹ năng nghiên cứu khoa học. Như vậy, vừa tôn trọng cách tiếp cận riêng của từng em, vừa giúp các em
làm quen dần với con đường tự học, tự tìm hiểu tri thức. ______________________
5. Phân tích động lực của quá trình dạy học
- Quá trình dạy học vận động và phát triển do không ngừng giải quyết các mâu thuẫn bên trong và
bên ngoài. Theo triết học duy vật biện chứng, mọi sự vật và hiện tượng không ngừng phát triển do
có sự đấu tranh và thống nhất giữa các mặt đối lập.
- Mâu thuẫn bên trong của quá trình dạy học là mâu thuẫn giữa các thành tố và giữa các yếu tố trong
từng thành tố của quá trình dạy học. Mâu thuẫn bên ngoài là mâu thuẫn giữa sự tiến bộ khoa học,
CN, văn hóa, sự phát triển kinh tế - xã hội với tùng thành tố trong quá trình dạy học.
VD: Văn hóa sử dụng mạng xã hội và công nghệ số phổ biến ở học sinh, nhưng giáo viên vẫn chủ yếu sử
dụng phương pháp thuyết giảng truyền thống, ít tương tác, ít ứng dụng công nghệ → Học sinh chán học,
thiếu hứng thú, hiệu quả học tập giảm.
- Mâu thuẫn cơ bản của quá trình dạy học là mâu thuẫn giữa 1 bên là nhiệm vụ học tập do tiến trình
dạy học đề ra và một bên là trình độ tri thức, kĩ năng, kĩ xảo và trình độ phát triển trí tuệ hiện có
của người học. Dấu hiệu của mâu thuẫn này thể hiện ở việc học sinh gặp khó khăn khi tiếp cận
nhiệm vụ, lúng túng trong quá trình giải quyết bài học, cần sự hỗ trợ từ giáo viên hoặc bạn bè. Đồng
thời, học sinh bắt đầu nảy sinh nhu cầu nhận thức – đặt câu hỏi, tò mò và mong muốn tìm hiểu để
vượt qua thử thách. Sau khi được hỗ trợ và luyện tập, học sinh có thể hoàn thành nhiệm vụ tương
tự một cách độc lập, cho thấy mâu thuẫn đã được giải quyết và năng lực đã phát triển. Việc nhận
diện và điều chỉnh mâu thuẫn hợp lý là điều kiện quan trọng để nâng cao hiệu quả học tập.
- Để chuyển hóa mâu thuẫn thành động lực cần 3 điều kiện: phải được người học ý thức đầy đủ và sâu + Mâu thuẫn sắc
. Phải nhận thức rõ yêu cầu của
học tập, thấy và đánh giá đúng trình độ của bản thân để nảy sinh nên nhu cầu giải quyết
khó khăn nhằm hoàn thành nhiệm vụ học tập
+ Mâu thuẫn phải khó khăn vừa sức, được đề ra ở mức độ tương ứng với giới hạn trên của vùng
phát triển gần nhất của học sinh mà họ có thể tự giải quyết được với sự nỗ lực cao nhất về trí lực và thể lực.
+ Mâu thuẫn phải do tiến trình học dẫn đến. Mâu thuẫn xuất hiện tại thời điểm nào đó là sự tất
yếu trên con đường vận động đi lên của quá trình dạy học nói chung và quá trình nhận thức
của học sinh nói riêng. Nhiệm vụ của người giáo viên là không nên lảng tránh mà cần làm
cho mâu thuẫn xuất hiện đúng lúc để mâu thuẫn trở nên sâu sắc. lOMoAR cPSD| 61470371
VD: Khi dạy khái niệm số âm, giáo viên đưa ra bài toán: "Nhiệt độ buổi sáng là 3°C, buổi tối
giảm đi 5°C. Nhiệt độ buổi tối là bao nhiêu?" Học sinh lúng túng vì chưa biết số âm. Mâu
thuẫn xuất hiện tự nhiên trong quá trình học, buộc học sinh phải đối mặt với giới hạn hiểu biết
của mình. Giáo viên tận dụng thời điểm này để giới thiệu số âm, từ đó thúc đẩy nhận thức.
⇒ KLSP: Người giáo viên cần nhận thức rằng mâu thuẫn trong quá trình dạy học là tất yếu và có vai trò
quan trọng trong việc thúc đẩy sự phát triển nhận thức của học sinh. Do đó, thay vì né tránh, giáo viên cần
chủ động tạo ra và tổ chức các tình huống dạy học có mâu thuẫn phù hợp với trình độ của học sinh, đảm
bảo mâu thuẫn xuất hiện đúng lúc, vừa sức và mang tính thách thức. Giáo viên không chỉ giúp học sinh
vượt qua giới hạn hiện tại, mà còn góp phần hình thành năng lực tư duy, phát triển ý chí và tạo động lực
học tập bền vững cho các em.
6. Phân tích phương pháp nêu gương trong QTDH (trang 126)
- Phương pháp giáo dục: nt
- pp nêu gương: nhà giáo sd các tấm gương sáng của cá nhân tập thể hoặc hành động của bản thân
như là 1 mẫu mực để kích thích ng học cảm phục noi theo và làm theo những gương đó để đạt mục đích gd đề ra
- Cơ sở PP nêu gương: Tính bắt chước của trẻ em
+ Sự bắt chước phụ thuộc vào độ tuổi, vốn kinh nghiệm và trình độ phát triển trí tuệ, đạo đức ở các em. - Các yêu cầu:
+ Căn cứ vào mục đích và nd gd mà lựa chọn tấm gương điển hình để gd các hs
+ Giúp hs có thái độ, cách cư xử đúng đắn với mọi hành vi cử chỉ vs ng xung quanh, bt tiếp thu
học tập cái tốt và lên án, phê phán cái xấu
+Gv cần biết phối hợp giữa nêu gương và giải thích đàm thoại. về các chuẩn mực và hành vi xh
+Ng gv cần phải làm gương sáng cho hs noi theo bên cạnh nêu gương ng khác - KLSP
- Phương pháp nêu gương là một công cụ giáo dục hiệu quả, giúp định hướng hành vi và hình
thành phẩm chất đạo đức cho người học
- Việc nêu gương sáng giúp truyền cảm hứng, tạo động lực học tập và rèn luyện cho người học một
cách trực quan, sinh động.
- Gương mẫu có thể đến từ thực tiễn đời sống, lịch sử, văn hóa hoặc chính từ những người xung
quanh, tạo sự gần gũi và dễ tiếp nhận.
- Người giáo dục cần lựa chọn hình mẫu phù hợp với đặc điểm tâm lý, lứa tuổi và hoàn cảnh của
người học để đạt hiệu quả cao.
- Bản thân người giáo dục cần là tấm gương sống động, thống nhất giữa lời nói và hành động, để
tạo niềm tin và sự noi theo.
- Phương pháp nêu gương không chỉ giúp "dạy" mà còn truyền cảm hứng sống tích cực, góp phần
quan trọng trong việc hình thành nhân cách toàn diện cho người học
- Ví dụ: Thầy Nguyễn Thành Nam – người sáng lập Đại học FPT – thường xuyên kể về Steve Jobs
như một tấm gương sáng tạo, dấn thân và dám khác biệt. Trong các buổi nói chuyện, ông từng nói:
- “Steve Jobs không học xong đại học, nhưng lại thay đổi cả thế giới bằng iPhone, bằng triết lý
‘Think Different’. Tôi muốn sinh viên FPT học được tinh thần sáng tạo và kiên định với con đường của mình như thế.” lOMoAR cPSD| 61470371
7. Phân tích phương pháp tôn trọng nhân cách và yêu cầu đối với con người trong công tác giáo dục (Trang 104)
- Khái niệm nguyên tắc giáo dục:
+ Nguyên tắc là những luận điểm được rút ra từ các quy luật, những nguyên lý như những tiền đề
có giá trị chỉ dẫn các hoạt động phức tạp. + Có tính quy luật +
Nắm được các nguyên tắc giáo dục sẽ giúp các nhà giaos dục kết hợp được lý luận - Nội dung nguyên tắc:
+ Tôn trọng nhân cách học sinh là tôn trọng nhân phẩm, tài năng, trí tuệ, tự do tư tưởng, nhu cầu,
nguyện vọng và thói quen sống của mỗi cá nhân: Tôn trọng nhân cách còn bao gồm tôn trọng
thân thể, không ai được xúc phạm đến phẩm giá và thân thể con người.
+ Tôn trọng nhân cách là tin tưởng con người, tin tưởng ở khả năng trí tuệ, khả năng lao động sáng
tạo của con người. Tin tưởng là thể hiện sự mong muốn của các nhà giáo dục đối với đối tượng
giáo dục và đồng thời thời cũng là một biện pháp tế nhị buộc họ phải cố gắng hoàn thành nhiệm vụ.
+ Yêu cầu hợp lý chính là sự đòi hỏi cao hơn thực tế em phải phấn đấu. Bằng hệ thống những mục
tiêu, những tiêu chuẩn nâng dần từng bước, thúc đẩy học sinh phải phấn đấu liên tục. Khi nhà
giáo dục đặt ra những yêu cầu hợp lý, học sinh sẽ cảm nhận sự tin tưởng của giáo viên về
mình, như là tiếp thêm sức mạnh để cố gắng nhiều hơn. Yêu cầu cao chính là thể hiện niềm
tin và sự tôn trọng nhân cách con người.
⇒ Muốn giáo dục con người phải tôn trọng nhân cách con người và phải có những yêu cầu hợp lý
đối với con người. Vì:
- Tôn trọng nhân cách học sinh cần phải luôn đề ra các yêu cầu giúp học sinh vươn lên, phát triển nhân cách tốt hơn.
- Đòi hỏi học sinh khi thực hiện các nhiệm vụ giáo dục cũng như trong quan hệ ứng xử sư phạm phải
thể hiện sự tôn trọng, yêu thương, dìu dắt các em tiến bộ.
● Yêu cầu khi thực hiện nguyên tắc:
- Giáo viên không được xúc phạm đến nhân cách học sinh
- Tránh thái độ hay gắt, nhạo báng, mỉa mai, mệnh lệnh, áp đặt, những đồng thời tránh dễ dãi, xuề xòa “vô nguyên tắc”.
- Luôn đánh giá cao hơn một chút so với cái mà họ có, đồng thời đòi hỏi cao hơn một chút so với
những gì họ đạt được. Tế nhị, khéo léo, có tình, có lý trong ứng xử sư phạm của giáo viên.
- Cần xác nhận những ưu điểm, những thành công của học sinh dù đó là thành công nhỏ bé, phát huy
ưu điểm là cơ sở tạo ra những thành công mới trong quá trình phấn đấu của học sinh. ⇒ KLSP:
- Tôn trọng nhân cách: Không xúc phạm, luôn tin tưởng và tôn vinh giá trị riêng của từng học sinh.
- Yêu cầu hợp lý: Đặt mục tiêu cao hơn một chút để tạo động lực nhưng vẫn khả thi.
- Khích lệ kịp thời: Ghi nhận thành công, dù nhỏ, để củng cố niềm tin và thúc đẩy phát triển.
- Ứng xử tế nhị: Kết hợp tình cảm và lý trí, giữ kỷ luật nhưng tạo không khí an toàn, thân thiện.
8. Phân tích nhiệm vụ và quyền của nhà giáo được đề cập trong Luật 2019 lOMoAR cPSD| 61470371
-KN nhà giáo: nhà giáo là cách gọi chung của giáo viên và giảng viên, chỉ chung người làm nhiệm vụ
giảng dạy, giáo dục trong nhà trường. Còn giáo viên là người giảng dạy ở cơ sở mầm non, tiểu học, cấp
hai, cấp ba, trình độ sơ cấp và trung cấp; giảng viên là người giảng dạy từ trình độ cao đẳng trở lên. - vụ:
Điều 69. Nhiệm vụ của nhà giáo
1. Giảng dạy, giáo dục theo mục tiêu, nguyên lý giáo dục, thực hiện đầy đủ và có chất lượng chương trìnhgiáo dục.
Một giáo viên tiểu học dạy môn Toán theo đúng chương trình Bộ GD&ĐT ban hành, đảm bảo học sinh
nắm được kiến thức cơ bản và phát triển tư duy logic.
2. Gương mẫu thực hiện nghĩa vụ công dân, điều lệ nhà trường, quy tắc ứng xử của nhà giáo.
Cô giáo A không đi muộn, không mặc đồ phản cảm, không dùng điện thoại trong giờ học, luôn tham gia
đầy đủ các hoạt động của trường.
3. Giữ gìn phẩm chất, uy tín, danh dự của nhà giáo; tôn trọng, đối xử công bằng với người học; bảo vệ
cácquyền, lợi ích chính đáng của người học.
Thầy B không thiên vị học sinh khá giỏi, luôn công bằng khi chấm điểm và cư xử với mọi học sinh, kể cả
em học yếu hay cá biệt.
4. Học tập, rèn luyện để nâng cao phẩm chất đạo đức, trình độ chính trị, chuyên môn, nghiệp vụ, đổi
mớiphương pháp giảng dạy, nêu gương tốt cho người học.
Cô C tham gia lớp tập huấn về phương pháp "Giáo dục tích cực" và áp dụng vào lớp mình để tăng sự hứng
thú học tập cho học sinh.
Điều 70. Quyền của nhà giáo
1. Được giảng dạy theo chuyên môn đào tạo.
Thầy D tốt nghiệp ngành Vật lý được phân công dạy môn Vật lý cấp THPT đúng chuyên ngành đào tạo của mình.
2. Được đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ chính trị, chuyên môn, nghiệp vụ.
Cô E được cử đi học lớp bồi dưỡng giáo viên cốt cán để nâng cao năng lực giảng dạy theo chương trình GDPT mới.
3. Được hợp đồng thỉnh giảng, nghiên cứu khoa học tại cơ sở giáo dục khác hoặc cơ sở nghiên cứu khoahọc.
Thầy F là giảng viên đại học, ngoài công việc chính còn được mời giảng tại một trường cao đẳng khác vào cuối tuần.
4. Được tôn trọng, bảo vệ nhân phẩm, danh dự và thân thể.
Khi một phụ huynh có hành vi xúc phạm giáo viên trên mạng xã hội, nhà trường và cơ quan chức năng đã
vào cuộc để bảo vệ uy tín cho giáo viên.
5. Được nghỉ hè theo quy định của Chính phủ và các ngày nghỉ khác theo quy định của pháp luật.Vd: Cô
G được nghỉ hè 2 tháng theo đúng lịch nghỉ của nhà trường, ngoài ra còn được nghỉ lễ như 30/4, 1/5, Tết
Nguyên đán theo quy định.
=> KLSP: những cá nhân công tác trong lĩnh vực giáo dục cần nhận thức rõ, thậm chí thuộc về quyền và
nghĩa vụ của mình để tránh xảy ra những tình huống xấu cần phải xử lý, áp dụng lý thuyết vào thực tiễn.
Ngoài ra, Sự cân bằng giữa quyền lợi và trách nhiệm là yếu tố then chốt để xây dựng hình ảnh nhà giáo mẫu mực trong xã hội. lOMoAR cPSD| 61470371
___________________________________
9. Phân tích đảm bảo sự thống nhất giữa tính khoa học và tính nhiệm vụ trong dạy học
- Nguyên tắc dạy học là hệ thống xác định những yêu cầu cơ bản, có tính chất xuất phát để chỉ đạo
việc xác định nội dung, phương pháp và hình thức tổ chức dạy học phù hợp với mục đích giáo dục,
với nhiệm vụ dạy học và với những tính quy luật của quá trình dạy học.
- Nguyên tắc đảm bảo sự thống nhất giữa tính khoa học và tính giáo dục trong dạy học đòi hỏi phải
võ trang cho người học những tri thức khoa học chân chính, phản ánh những thành tựu khoa học
công nghệ hiện đại. Giúp người học dần tiếp cận với phương pháp học tập, nhận thức,... một cách
khoa học. Từ đó dần hình thành thế giới quan khoa học, tình cảm và những phẩm chất đạo đức cao
quý của con người hiện đại.
- Tính chất giáo dục của dạy học, phương hướng tư tưởng và sức ảnh hưởng của nó tới học sinh là
do nội dung, phương pháp dạy học, sự tổ chức tiết học và do tác động của chính nhân cách người giáo viên quyết định.
VD: Khi dạy bài “Biến đổi khí hậu” trong môn Địa lý, giáo viên không chỉ cung cấp kiến thức khoa học về
nguyên nhân và hậu quả, mà còn giúp học sinh phân tích số liệu thực tế, hiểu trách nhiệm cá nhân trong
việc bảo vệ môi trường. Qua đó, học sinh vừa phát triển tư duy khoa học, vừa hình thành ý thức sống có
trách nhiệm với xã hội và thiên nhiên.
- Để thực hiện nguyên tắc này, chúng ta cần phải:
+ Võ trang cho người học những kiến thức chân chính, hiện đại → giúp họ nắm được quy luật
phát triển của tự nhiên, xã hội,... có cái nhìn và thái độ đúng với xã hội.
+ Cung cấp thêm cho họ những hiểu biết sâu sắc về thiên nhiên, xã hội, con người,... Từ đó
giáo dục tinh thần trách nhiệm, nghĩa vụ trước sự nghiệp CNH, HĐH đất nước.
+ Bồi dưỡng cho học sinh ý thức và năng lực phân tích, biết phê phán 1 cách đúng mức những
thông tin đăng tải trên MXH.
+ Vận dụng các phương pháp và hình thức tổ chức dạy học để học sinh làm quen , dần tiếp cận
với các hoạt động khoa học, rèn luyện tác phong, phẩm chất của người nghiên cứu khoa học.
VD: Khi dạy bài “Cách phòng chống dịch bệnh”, giáo viên trang bị cho học sinh kiến thức khoa học về
virus và cách lây truyền. Giáo viên tổ chức hoạt động phân tích, đánh giá thông tin từ mạng xã hội để học
sinh biết chọn lọc, phản biện đúng đắn. Qua đó, học sinh phát triển ý thức trách nhiệm bảo vệ sức khỏe bản
thân và cộng đồng, đồng thời rèn luyện phương pháp tiếp cận khoa học trong học tập.
⇒ KLSP: Giáo viên cần trang bị cho học sinh kiến thức khoa học hiện đại đồng thời giáo dục phẩm chất
đạo đức và trách nhiệm xã hội. Việc lựa chọn nội dung, phương pháp và tổ chức dạy học hợp lý, cùng với
nhân cách mẫu mực của giáo viên, sẽ giúp học sinh phát triển tư duy khoa học và năng lực sống phù hợp
với yêu cầu của thời đại.
10. Phân tích nhiệm vụ và quyền của học sinh được đề cập trong Luật 2019
- Học sinh là người đang học tập trong hệ thống giáo dục phổ thông, được tổ chức và quản lý theo
chương trình, kế hoạch giáo dục do Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành. Họ có nhiệm vụ học
tập, rèn luyện và phát triển toàn diện về trí tuệ, đạo đức, thể chất và năng lực xã hội nhằm chuẩn bị
cho những bậc học cao hơn hoặc cho cuộc sống lao động sau này. lOMoAR cPSD| 61470371
Điều 82. Nhiệm vụ của người học
1. Học tập, rèn luyện theo chương trình, kế hoạch giáo dục, quy tắc ứng xử của cơ sở giáo dục.
2. Tôn trọng nhà giáo, cán bộ và người lao động của cơ sở giáo dục; đoàn kết, giúp đỡ lẫn nhau trong
họctập, rèn luyện; thực hiện nội quy, điều lệ, quy chế của cơ sở giáo dục; chấp hành quy định của pháp luật.
3. Tham gia lao động và hoạt động xã hội, hoạt động bảo vệ môi trường phù hợp với lứa tuổi, sức khỏe vànăng lực.
4. Giữ gìn, bảo vệ tài sản của cơ sở giáo dục.
5. Góp phần xây dựng, bảo vệ và phát huy truyền thống của cơ sở giáo dục.
Điều 83. Quyền của người học
1. Được giáo dục, học tập để phát triển toàn diện và phát huy tốt nhất tiềm năng của bản thân.
2. Được tôn trọng; bình đẳng về cơ hội giáo dục và học tập; được phát triển tài năng, năng khiếu, sángtạo,
phát minh; được cung cấp đầy đủ thông tin về việc học tập, rèn luyện của mình.
3. Được học vượt lớp, học rút ngắn thời gian thực hiện chương trình, học ở độ tuổi cao hơn tuổi quy
định,học kéo dài thời gian, học lưu ban, được tạo điều kiện để học các chương trình giáo dục theo quy định của pháp luật.
4. Được học tập trong môi trường giáo dục an toàn, lành mạnh.
5. Được cấp văn bằng, chứng chỉ, xác nhận sau khi tốt nghiệp cấp học, trình độ đào tạo và hoàn
thànhchương trình giáo dục theo quy định.
6. Được tham gia hoạt động của đoàn thể, tổ chức xã hội trong cơ sở giáo dục theo quy định của phápluật.
7. Được sử dụng cơ sở vật chất, thư viện, trang thiết bị, phương tiện phục vụ các hoạt động học tập,
vănhóa, thể dục, thể thao của cơ sở giáo dục.
8. Được trực tiếp hoặc thông qua đại diện hợp pháp của mình kiến nghị với cơ sở giáo dục các giải
phápgóp phần xây dựng cơ sở giáo dục, bảo vệ quyền, lợi ích của người học.
9. Được hưởng chính sách ưu tiên của Nhà nước trong tuyển dụng vào các cơ quan nhà nước nếu tốtnghiệp
loại giỏi và có đạo đức tốt.
10. Được cử người đại diện tham gia hội đồng trường theo quy định.
11. Đảm bảo sự thống nhất tính trực quan và đảm bảo phát triển tư duy lý thuyết
- Nguyên tắc này đòi hỏi trong quá trình dạy học phải làm cho học sinh tiếp xúc trực tiếp với sự vật,
hiện tượng hay hình tượng của chúng, từ đó hình thành những khái niệm,quy luật, lý thuyết.
- Và ngược lại, có thể lĩnh hội những tri thức lí thuyết trước rồi xem xét những sự vật, hiện tượng cụ
thể sau. Trong việc vận dụng nguyên tắc này bao giờ cũng đảm bảo mối quan hệ qua lại giữa tư
duy cụ thể vối tư duy trừu tượng.
- Từ đó có thể nhận thấy rằng:
a) Tính trực quan có thể là điểm xuất phát chủ yếu ở các lớp dưới;
b) Tùy theo mức độ vận động của trẻ từ lớp dưới lên lớp trên thì điểm xuất phát của quá trình
dạyhọc là sự tiếp cận lịch sử đối với sự phát minh một quy luật nào đó. Lúc đầu nêu lên vấn đề,
tiếp theo là trình bày lịch sử giải quyết vấn đề đó và cuối cùng là trạng thái hiện nay. Sau đó cần
phải tiến hành công tác thực hành hoặc làm thí nghiệm. Đó là con đường có tính chất quy nạp -
lịch sử trong việc nghiên cứu tri thức. lOMoAR cPSD| 61470371
- Ở đây tính trực quan tham gia hai lần như là minh hoạ sự phát minh,nghĩa là sự phát minh đó diễn
ra trong lịch sử khoa học như thế nào và vạch ra cách giải quyết vấn đề đó hiện nay ra sao. Tuy
nhiên cần thấy rằng trình bày theo quan điểm lịch sử chiếm nhiều thời gian học tập và không phải
bao giờ cũng cần thiết. Cơ sở xuất phát có thể là những luận điểm lý thuyết, tiền đề của hệ thống
khái niệm đã được lĩnh hội ở những giai đoạn dạy học trước đây hoặc thậm chí được đưa vào bằng
con đường lý luận. Chỉ sau khi đã nắm được những định luật có tính chất lý luận đó, trực quan
được sử dụng để minh hoạ sự vận dụng của chúng hoặc dưới hình thức thực hành ở phòng thí nghiệm
- Để thực hiện nguyên tắc này cần:
+ Sử dụng phối hợp nhiều phương tiện trực quan khác nhau với tư cách là những phương tiện và nguồn nhận thức.
+ Kết hợp việc trình bày các phương tiện trực quan với lời nói sinh động, diễn cảm, nghĩa là
kết hợp hai hệ thống tín hiệu. +
Cần sử dụng lời nói giàu hình ảnh để giúp học sinh vận dụng những biểu tượng đã có để
hình thành những biểu tượng mới, qua đó hình thành những khái niệm, định luật mới.
+ Cần sử dụng một trong ba cách sử dụng nguyên tắc trực quan nêu trên cho phù hợp với lứa
tuổi, nội dung và hoàn cảnh cụ thể nhằm hình thành và phát triển tư duy lý thuyết cho họ.
Trong quá trình trình bày đồ dùng trực quan cần rèn luyện cho học sinh óc quan sát nhằm tìm kiếm
một cách nhanh chóng những dấu hiệu bản chất, từ đó rút ra được những kết luận có tính khái quát
+ Cần sử dụng phối hợp các hình thức tổ chức dạy học một cách hiệu quả
+ Để ra cho học sinh những bài tập nhận thức đòi hỏi phải thiết lập được mối quan hệ giữa cái
cụ thể với cái trừu tượng và ngược lại. ⇒ KLSP:
- Phải đảm bảo sự phối hợp nhịp nhàng giữa trực quan và tư duy trừu tượng trong quá trình
dạy học: Việc sử dụng phương tiện trực quan không chỉ là công cụ minh họa mà còn là cơ sở để
hình thành và phát triển tư duy lý thuyết của học sinh. Ngược lại, lý thuyết có thể là điểm xuất phát
để hướng dẫn học sinh quan sát và tìm hiểu thực tiễn.
- Tính trực quan cần được sử dụng linh hoạt và phù hợp với từng độ tuổi, nội dung học tập và
hoàn cảnh cụ thể: Ở lớp dưới, có thể lấy trực quan làm điểm xuất phát chính. Ở lớp trên, có thể
bắt đầu từ lý thuyết hoặc tiếp cận theo con đường lịch sử – quy nạp, tùy vào đặc điểm nhận thức của học sinh.
- Cần kết hợp lời nói sinh động với các phương tiện trực quan: Việc trình bày trực quan phải đi
đôi với lời giảng hấp dẫn, gợi hình, giúp học sinh dễ tiếp nhận thông tin và hình thành khái niệm, quy luật mới.
- Phải rèn luyện cho học sinh năng lực quan sát có định hướng và tư duy khái quát: Không chỉ
dừng lại ở việc nhìn, học sinh cần học cách quan sát có mục tiêu, phát hiện những dấu hiệu bản
chất của sự vật, hiện tượng và rút ra nhận xét mang tính lý luận.
- Cần tổ chức đa dạng các hình thức dạy học để tích lũy kinh nghiệm trực quan và khái niệm
hóa tri thức: Việc phối hợp dạy học cá nhân, nhóm, thực hành thí nghiệm, sử dụng đồ dùng dạy
học… là cần thiết để làm giàu vốn hình ảnh trực quan cho học sinh.
- Nhiệm vụ nhận thức của học sinh cần tạo được mối liên hệ giữa cái cụ thể và cái trừu tượng:
Học sinh cần được giao những bài tập, tình huống có tính chất liên kết giữa biểu tượng cảm tính và
kiến thức lý luận để phát triển toàn diện tư duy. lOMoAR cPSD| 61470371
12. Phân tích phương pháp giao việc trong công tác giáo dục
-KN PP giáo dục: Cách thức hoạt động phối hợp thống nhất giữa học sinh và giáo viên nhằm đạt được mục
đích trong giáo dục ( Đảm bảo kết quả, kinh tế, thời gian, an toàn, thống nhất giữa phương pháp dạy và phương pháp học) -
Phương pháp giáo dục là một thành tố trong cấu trúc của quá trình giáo dục. Phương pháp giáo dục
cóliên quan mật thiết với các thành tố khác của quá trình giáo dục. Phương pháp giáo dục chịu sự chi phối
trực tiếp của nội dung giáo dục và quyết định trực tiếp sự thành bại của quá trình giáo dục.
-Nội dung pp giao việc : đây là phương pháp giáo dục, trong đó, nhà giáo dục giao cho HS những công
việc cụ thể để các em làm nhằm cuốn hút các em tham gia vào các hoạt động đa dạng của tập thể qua ñó
mà thực hiện nghĩa vụ xã hội và thu được những kinh nghiệm ứng xử.
VD: Giáo viên tiểu học có thể phân công học sinh trực nhật, quét lớp hoặc trang trí bảng tin. Qua đó học
sinh được rèn luyện tinh thần trách nhiệm và kỹ năng giao tiếp với bạn bè khi làm việc tập thể. -
Tác dụng của phương pháp: Giúp HS có cơ hội thể hiện những kinh nghiệm ứng xử trong các mối
quanhệ xã hội và hình thành hành vi ứng xử qua thực hiện những công việc được giao.
-Ưu: học sinh chủ động, rèn kỹ năng tự học, tư duy độc lập và làm việc nhóm. Nhiệm vụ gắn với thực tiễn
làm tăng hứng thú học tập và phù hợp với dạy học phân hóa.
-Nhược: Học sinh thụ động dễ gặp khó khăn, việc đánh giá thiếu công bằng nếu không kiểm soát tốt. Giáo
viên mất nhiều thời gian thiết kế và hướng dẫn, dễ dẫn đến lệch mục tiêu nếu không theo sát.
-Những lưu ý khi thực hiện phương pháp:
+ Khi giao công việc cho HS cần tuân thủ các yêu cầu sư phạm chung khi tổ chức hoạt động. Thực hiện
phương pháp giao công việc cần theo một quy trình rõ ràng và điều chỉnh phù hợp với đối tượng. Trước
hết, giáo viên xác định nhiệm vụ cần giao phù hợp với mục tiêu giáo dục và khả năng của học sinh tự
nguyện trên tinh thần bắt buộc. Sau phân công,gv theo dõi và hỗ trợ các em trong quá trình hiện. Thường
xuyên khích lệ, ghi nhận nỗ lực và động viên để tạo động lực tích cực.
+Có thể giao công việc một cách trực tiếp hoặc gián tiếp bằng cách gợi ý để tự HS làm hoặc giao việc thông qua tập thể.
+ Công việc giao nên đa dạng và luân phiên để tất cả học sinh đều có cơ hội tham gia. Hướng dẫn học sinh
hiểu rõ tiêu chuẩn hoàn thành việc
=>KLSP: Các nhà sư phạm nên bắt đầu từ việc giao cho học sinh những nhiệm vụ đơn giản, phù hợp với
độ tuổi và năng lực. Sau đó, dần nâng cao mức độ phức tạp và tính tập thể của công việc để rèn luyện tinh
thần trách nhiệm và kỹ năng hợp tác. Cần giải thích rõ ý nghĩa giáo dục của mỗi nhiệm vụ để học sinh nhận
thức được giá trị của việc mình làm. Cuối cùng, giáo viên cần quan sát, hỗ trợ và ghi nhận kịp thời để củng
cố hành vi tích cực và hình thành nhân cách bền vững cho học sinh.
13. Phân tích phương pháp vấn đáp trong dạy học
- Dạy học là 1 bộ phận của quá trình giáo dục, là quá trình tác động qua lại giữa giáo viên và học
sinh, nhằm truyền thụ và lĩnh hội những kinh nghiệm lịch sử loài người để phát triển những năng
lực và phẩm chất của người học theo mục đích giáo dục lOMoAR cPSD| 61470371
- Phương pháp dạy học là cách thức hoạt động phối hợp thống nhất giữa giáo viên và học sinh trong
quá trình dạy học được tiến hành dưới vai trò chủ đạo của giáo viên nhằm thực hiện tối ưu mục tiêu
và các nhiệm vụ dạy học.
- Phương pháp vấn đáp trong dạy học là phương pháp dạy học trong đó giáo viên tổ chức thực hiện
quá trình hỏi và đáp giữa GV và HS nhằm làm sáng tỏ tri thức mới, rút ra những KL cần thiết.
- Các dạng câu hỏi trong phương pháp vấn đáp rất đa dạng. Theo nhiệm vụ dạy học, câu hỏi có thể
là câu hỏi tái hiện, gợi mở, củng cố kiến thức và câu hỏi ôn tập theo hướng tổng hợp hóa kiến thức.
Theo mức độ khái quát của vấn đề, có thể chia thành câu hỏi khái quát và câu hỏi cụ thể theo nội
dung bài học. Ngoài ra, theo mức độ tham gia của học sinh trong hoạt động nhận thức, câu hỏi có
thể là câu hỏi tái tạo hoặc câu hỏi sáng tạo.
- Phương pháp vấn đáp có nhiều ưu điểm. Việc sử dụng linh hoạt, khéo léo câu hỏi trong bài giảng
sẽ kích thích tư duy tích cực, khả năng lập luận và diễn đạt của học sinh. Giáo viên và học sinh đều
có thể nhanh chóng hiểu được tình hình tiếp thu bài học để điều chỉnh hoạt động dạy - học cho phù
hợp. Đồng thời, phương pháp này còn giúp tạo không khí sôi nổi, sinh động trong giờ học. Giáo
viên cũng dễ dàng sửa chữa ngay những sai sót của học sinh trong quá trình trả lời.
- Tuy nhiên, phương pháp này cũng có một số hạn chế. Nếu không sử dụng hợp lý sẽ làm mất thời
gian, ảnh hưởng đến kế hoạch dạy học dự kiến.
VD: Trong tiết Ngữ văn, khi dạy bài Chiếc lược ngà, giáo viên sử dụng vấn đáp để hỏi: “Chi tiết nào thể
hiện tình cảm cha con sâu nặng trong truyện?” Học sinh tích cực tham gia, nêu ý kiến đa chiều, giúp phát
triển tư duy và kỹ năng diễn đạt. Tuy nhiên, do quá tập trung vào trao đổi ý kiến, giáo viên không kịp chốt
lại kiến thức trọng tâm, khiến học sinh dễ hiểu bài theo cảm tính, thiếu hệ thống.
- Để xây dựng câu hỏi hiệu quả, cần lưu ý một số yêu cầu sau: Câu hỏi phải rõ ràng, đơn giản, số
lượng vừa phải và tập trung vào trọng tâm bài học. Câu hỏi cần chính xác để học sinh hiểu đúng và
hình thành được câu trả lời phù hợp. Giáo viên cần dựa vào nội dung bài học để xây dựng hệ thống
câu hỏi logic, chặt chẽ. Hệ thống câu hỏi nên được xây dựng từ dễ đến khó, từ cụ thể đến khái quát
và ngược lại, từ câu hỏi tái tạo đến câu hỏi sáng tạo.
⇒ KLSP: Phương pháp vấn đáp là một công cụ dạy học hiệu quả, giúp phát huy tính tích cực, tư duy độc
lập và khả năng diễn đạt của học sinh. Để phát huy tối đa ưu điểm và hạn chế nhược điểm, giáo viên cần
xây dựng hệ thống câu hỏi hợp lý, rõ ràng, có tính gợi mở và phù hợp với trình độ của học sinh. Việc sử
dụng linh hoạt, đúng lúc và đúng mức sẽ góp phần tạo không khí học tập sôi nổi, nâng cao chất lượng tiếp
thu bài học và điều chỉnh kịp thời hoạt động dạy – học.
14. Trình bày nguyên tắc giáo dục phát huy ưu điểm để khắc phục nhược điểm trong phương pháp giáo dục
- Nguyên tắc gd là những luận điểm cơ bản có tính quy luật của lý luận gd có tác dụng chỉ đạo việc
lựa chọn và vận dụng nd, pp và các hình thức tổ chức gd nhằm thực hiện tối ưu mục đích, nhiệm vụ gd
- Nguyên tắc lấy ưu điểm khắc phục khuyết điểm: nói nhiều ưu điểm của ng khác, giảm nói về nhược
điểm, sai lầm của ng khác đặc biệt là sai lầm quá khứ, nhất thời, động viên bằng khen thưởng
khuyến khích phát triển hành vi tốt - Yêu cầu thực hiện
+Tổ chức tốt các phong trào thi đua, theo dõi các điển hình gương mẫu, thường xuyên động viên khen thưởng khích lệ hs lOMoAR cPSD| 61470371
+Mỗi năm có tổng kết, đánh giá xếp loại khen thưởng những hs đạt thành tích cao trong học tập, tu dưỡng
+ Cần có sự bao dung, độ lượng vs hs nâng đỡ khi hs vấp ngã, sai lầm cần cảm hóa họ, dẫn đến thành công mới
+Ko đồng nghĩa vs bao che khuyết điểm, từ bỏ phê bình, trách phạt hay thổi phồng thành tích
-Kết luận sư phạm: Giáo dục phát huy ưu điểm để khắc phục nhược điểm +Là
phương pháp sư phạm lấy điểm mạnh của người học làm động lực phát triển.
+Giúp học sinh tự tin hơn, từ đó có động lực để cải thiện mặt còn yếu.
+Thay vì phê bình trực tiếp, giáo viên tìm ra điểm sáng để khuyến khích, rồi từng bước hỗ trợ học sinh vượt qua khó khăn.
+Giúp học sinh không bị mặc cảm vì điểm yếu mà thay vào đó là cảm giác được tôn trọng, được tin tưởng.
+Hiệu quả trong việc giáo dục học sinh cá biệt, rụt rè, hoặc có năng lực thiên lệch (giỏi nghệ thuật nhưng yếu Toán, v.v.).
+Cần sự kiên nhẫn, quan sát tinh tế và cá thể hóa trong giáo dục.
Ví dụ thực tế: Thầy giáo dạy học sinh cá biệt qua năng khiếu vẽ
Thầy Trần Văn Hưng (giáo viên Mỹ thuật, Hà Nội) từng có một học sinh học yếu, hay gây rối, nhưng lại
có năng khiếu vẽ rất tốt. Thay vì phê bình, thầy giao cho em phụ trách trang trí bảng lớp, vẽ tranh minh họa
trong báo tường, rồi khen ngợi công khai trước lớp.
> “Sau vài tháng, em thay đổi rõ rệt: ngoan hơn, học chăm hơn, và bắt đầu tự xin làm lớp phó phụ trách
văn nghệ. Tôi chỉ đơn giản là tìm thấy điểm mạnh đầu tiên và cho em cơ hội thể hiện nó.” – Thầy Hưng chia sẻ.
15. Trình bày vai trò của yếu tố bẩm sinh di truyền đến sự hình thành và phát triển nhân cách
- Di truyền là sự truyền lại từ thế hệ trước cho thế hệ sau những đặc điểm cấu trúc giải phẫu cơ thể;
về đặc điểm sinh học riêng như: màu da, màu tóc, vóc dáng, thể trạng, các tư chất hệ thần kinh,...
trước hết nó đảm bảo cho loài người tồn tại, thích ứng với những biến đổi của các điều kiện sinh
tồn và sau đó giúp loài người phát triển.
- Bẩm sinh là những thuộc tính, đặc điểm sinh học có ngay khi đứa trẻ mới sinh. Vai trò của bẩm sinh, di truyền:
- Di truyền bẩm sinh chỉ là tiền đề vật chất (mầm mống) của sự phát triển tâm lí, nhân cách.
- Di truyền bẩm sinh nói lên chiều hướng, tốc độ, nhịp độ của sự phát triển. Những đứa trẻ có gen di
truyền về một lĩnh vực hoạt động nào đó sẽ sớm bộc lộ thiên hướng về lĩnh vực hoạt động đó.
- Di truyền bẩm sinh không phải yếu tố quyết định tương lai của nhân cách đó. Nói cách khác, đứa
trẻ muốn trở thành một tài năng cần phải có môi trường thuận lợi, những tác động giáo dục đúng
hướng và hoạt động tích cực của cá nhân.
- Trong quá trình giáo dục thế hệ trẻ, chúng ta cần quan tâm đúng mức yếu tố di truyền, bẩm sinh đó
là những mầm mống, tư chất sinh học có vai trò tiền đề phát triển một số phẩm chất, năng lực của
nhân cách. Tất nhiên nếu chúng ta quá coi nhẹ hoặc tuyệt đối hóa, đánh giá quá cao nhân tố di
truyền sinh học thì sẽ phạm sai lầm khi phân tích , so sánh đánh giá vị trí, vai trò, tác động của môi
trường, hoàn cảnh và của giáo dục đối với quá trình hình thành và phát triển nhân cách. ⇒ KLSP:
Bẩm sinh di truyền là tiền đề vật chất quan trọng, góp phần định hướng sự phát triển nhân cách, lOMoAR cPSD| 61470371
nhưng không quyết định toàn bộ. Giáo dục cần tôn trọng, khai thác những tư chất sẵn có của học
sinh, đồng thời tạo môi trường, điều kiện và định hướng phù hợp để phát triển nhân cách toàn diện.
Không nên tuyệt đối hóa cũng như xem nhẹ vai trò của yếu tố này trong quá trình giáo dục.
16. Phân tích phương pháp đàm thoại trong giáo dục ( giống như thảo luận, đưa ra vấn đề, lấy ý
kiến, quan điểm, suy nghix hs vấn đề đó ntn)
- Nằm trong nhóm pp hình thành ý thức và tình cảm cá nhân trong gd
- KN PP giáo dục: Cách thức hoạt động phối hợp thống nhất giữa học sinh và giáo viên nhằm đạt
được mục đích trong giáo dục ( Đảm bảo kết quả, kinh tế, thời gian, an toàn, thống nhất giữa phương
pháp dạy và phương pháp học)
- Phương pháp giáo dục là một thành tố trong cấu trúc của quá trình giáo dục. Phương pháp giáo dục
có liên quan mật thiết với các thành tố khác của quá trình giáo dục. Phương pháp giáo dục chịu sự
chi phối trực tiếp của nội dung giáo dục và quyết định trực tiếp sự thành bại của quá trình giáo dục. - Nội dung:
+ Được thực hiện chủ yếu bằng cách trao đổi ý kiến và quan điểm giữa nhà giáo dục với học sinh và
giữa học sinh với nhau về 1 chủ đề nào đó thuộc các lĩnh vực kinh tế chính trị xã hội và đời sống.
+ Ưu điểm: thông qua đàm thoại nhà giáo dục kịp thời nắm bắt tâm tư tình cảm vốn kinh nghiệm từng
học sinh để có những tác động giáo dục tích hợp
+ Nhược điểm: Phụ thuộc kỹ năng giáo viên, tốn thời gian, khó kiểm soát lớp đông, dễ lệch hướng nếu
thiếu dẫn dắt, khó đánh giá kết quả ngay.
+ Có thể diễn ra theo 2 cách: Đàm thoại tự nhiên và đàm thoại theo chủ đề
● Đàm thoại tự nhiên: được dẫn đến 1 cách tự nhiên không tập trung vào 1 chủ đề nhất định. Thường
diễn ra trong bối cảnh không được chuẩn bị trước, trong các tình huống của cuộc sống hằng ngày
hay cuộc tiếp xúc giữa giáo viên và học sinh trong và ngoài giờ học
● Đàm thoại theo chủ đề: những câu hỏi của chúng xoay quanh 1 chủ đề nhất định. Muốn hiệu quả
nhà giáo dục cần quan tâm đến nội dung chủ đề cần trao đổi, phải chuẩn bị kỹ các câu hỏi, sự kiện
để thông báo cho hs. Chủ đề cần thông báo trước để học sinh có thời gian chuẩn bị ý kiến,quan
điểm ( thường là các sự kiện mang nội dung chính trị, đạo đức thẩm mỹ gắn với cuộc sống).
+ diễn ra dưới hình thức cá nhân hoặc tập thể:
● DT Cá nhân: nhà giáo dục đàm thoại riêng với từng học sinh -> Phù hợp để giải quyết những vấn
đề cụ thể trong nhận thức tư tưởng và tình cảm, nhất là những vấn đề khó nói trước tập thể. Hình
thức này chỉ hiệu quả khi giữa người được giáo dục và nhà giáo dục có quan hệ tốt, họ tin tưởng
vào nhau giáo dục, muốn nhà giáo dục chia sẻ và tháo gỡ băn khoăn cho họ
● Đàm thoại tập thể được phát triển thành 2 mức độ: thảo luận và tranh luận
Thảo luận: nhà giáo dục tổ chức trao đổi giữa học sinh với nhau tạo điều kiện mỗi thành viên đóng góp ý
kiến và tìm ra cách giải quyết. Tranh luận lại dựa trên sự va chạm có ý kiến quan điểm khác nhau có khi
đối lập. => học sinh nâng cao tính khái quát vững vàng mềm dẻo các quan điểm đã tiếp thu
- những lưu ý khi thực hiện: lOMoAR cPSD| 61470371
Giáo viên có thể tham gia vào cuộc thảo luận và tranh luận với tư cách là người dẫn dắt định hướng những
vấn đề cần giải quyết nhưng tuyệt đối không được vội vã phê phán, tán dương những quan điểm sai lầm
cuộc sinh, hay buộc học sinh phải chấp nhận những quan điểm của mình.
=>KLSP: Giáo viên không áp đặt kết luận, mà tạo không gian để học sinh tự tìm ra tiếng nói riêng qua đối
thoại và tranh luận. Mỗi cuộc đàm thoại trong lớp học là một cơ hội để gieo hạt giống tư duy độc lập và
trưởng thành trong tâm hồn học trò, đàm thoại tạo cơ hội, điều kiện cho giáo viên đc lắng nghe học sinh,
hiểu người gắn bó vs mình.
___________________________________________
17. Phân tích nguyên tắc đảm bảo tính cảm xúc tích cực của dạy học
- Dạy học là 1 bộ phận của quá trình giáo dục, là quá trình tác động qua lại giữa giáo viên và học
sinh, nhằm truyền thụ và lĩnh hội những kinh nghiệm lịch sử loài người để phát triển những năng
lực và phẩm chất của người học theo mục đích giáo dục
- Phương pháp dạy học là cách thức hoạt động phối hợp thống nhất giữa giáo viên và học sinh trong
quá trình dạy học được tiến hành dưới vai trò chủ đạo của giáo viên nhằm thực hiện tối ưu mục tiêu
và các nhiệm vụ dạy học.
- Nguyên tắc đảm bảo tính cảm xúc tích cực trong dạy học đòi hỏi trong quá trình dạy học phải gây
cho người học sự hấp dẫn, hứng thú, lòng ham hiểu biết, niềm vui và tác động mạnh mẽ đến tình
cảm của họ. Bởi tình cảm có vai trò quan trọng đối với hoạt động của con người , thôi thúc con
người hành động, thậm chí xả thân cho sự nghiệp. Công việc mà được yêu thích sẽ được thực hiện
nhanh chóng và có hiệu quả lại ít tốn sức hơn. Và ngược lại, không yêu thích thì không những
không được động viên mà sức lực còn bị đè nén, không đạt được hiệu quả cao.
- Để thực hiện được nguyên tắc này trong quá trình dạy học, ta cần:
+ Quá trình dạy học cần liên hệ chặt chẽ với cuộc sống thực tế, với công cuộc xây dựng đất
nước và kinh nghiệm sống của học sinh. Điều này giúp học sinh hiểu ý nghĩa của việc học
và tạo hứng thú trong học tập.
+ Trong nội dung và phương pháp dạy học, cần tăng cường hoạt động tích cực của học sinh.
Giáo viên cần tạo điều kiện để học sinh suy nghĩ, phát hiện và chủ động tìm hiểu, qua đó
hình thành tình cảm trí tuệ.
+ Sử dụng các trò chơi mang tính nhận thức để hỗ trợ quá trình học tập, giúp học sinh tiếp thu
kiến thức một cách tự nhiên và hứng thú.
+ Nên đưa vào giảng dạy các phương tiện nghệ thuật như văn học, âm nhạc, kịch… để kích
thích cảm xúc, làm giàu tình cảm và phát triển toàn diện con người học sinh. Tuy nhiên,
cần sử dụng nghệ thuật đúng mức để tránh làm học sinh mất tập trung.
+ Cảm xúc trong quá trình dạy học phụ thuộc vào ngữ cảnh và hoạt động học tập. Khi hoạt
động học tập phong phú và hấp dẫn, học sinh sẽ hứng thú và có nhu cầu tìm hiểu cao hơn.
Dạy học nên được tổ chức như một hình thức tham quan học tập hoặc hoạt động ngoại khóa sinh động.
+ Giáo viên có ảnh hưởng lớn đến cảm xúc của học sinh. Khi giáo viên có cách diễn đạt sinh
động, giàu cảm xúc, hình ảnh và thể hiện được sự rung cảm thật sự với bài học, họ có thể giúp học sinh
VD: Trong bài dạy ở môn Đạo đức (hoặc Giáo dục công dân), giáo viên cho học sinh xem một đoạn phim
ngắn về tình cảm cha mẹ – con cái, sau đó yêu cầu các em chia sẻ một kỷ niệm xúc động với người thân. lOMoAR cPSD| 61470371
Tiếp theo, học sinh viết một bức thư gửi cho cha mẹ để thể hiện tình cảm và lòng biết ơn. Qua hoạt động
này, học sinh không chỉ hiểu bài sâu sắc mà còn được khơi dậy cảm xúc tích cực, phát triển kỹ năng diễn
đạt và bồi dưỡng phẩm chất đạo đức.hình thành cảm xúc tương ứng và khơi dậy trí tuệ, tư duy.
⇒ Để nâng cao hiệu quả dạy học, giáo viên cần chú trọng khơi dậy cảm xúc tích cực ở học sinh thông qua
nội dung gần gũi, phương pháp sinh động và hoạt động học tập đa dạng. Khi học sinh có hứng thú, yêu
thích việc học, các em sẽ chủ động, sáng tạo và tiếp thu kiến thức hiệu quả hơn. Giáo viên không chỉ truyền
đạt tri thức mà còn là người truyền cảm hứng, giúp học sinh gắn kết tình cảm với bài học, từ đó phát triển
hài hòa cả trí tuệ và nhân cách.
18. Phân tích phương pháp khen thưởng trong giáo dục (trang 132) - Pp gd: nt
- Pp khen thưởng: Phương pháp khen thưởng trong giáo dục là phương pháp tác động sư phạm
nhằm khích lệ, động viên học sinh bằng cách biểu dương, ghi nhận những hành vi, kết quả học
tập, rèn luyện đạt yêu cầu hoặc vượt trội, từ đó tạo động lực tiếp tục cố gắng và hình thành
những phẩm chất tích cực. - Tác dụng:
+ Củng cố, phát huy phẩm chất tốt đẹp trong các nhân cũng như truyền thống tốt đẹp trong tập thể,
giúp cá nhân và tập thể khẳng định mình, vươn lên tu dưỡng, phấn đấu
+ Tạo động cơ thúc đẩy qtr gd đạt hiệu quả mong muốn nhờ đem lại sự vui sướng hân hoan, - Yêu cầu:
+ Cần có sự đồng tình tán thưởng của dư luận tập thể
+ Đúng lúc đúng chỗ, công bằng, khách quan - KLSP:
● Việc khen thưởng kịp thời, công bằng và phù hợp sẽ tạo niềm tin, sự hứng thú, từ đó thúc đẩy
học sinh phát triển toàn diện.
● Khen thưởng đúng cách giúp học sinh tự tin, chủ động, yêu thích việc học, đồng thời góp phần
hình thành phẩm chất đạo đức tốt.
● Tuy nhiên, nếu lạm dụng hoặc thiếu công bằng trong khen thưởng, có thể dẫn đến tâm lý ganh đua,
ỷ lại hoặc so bì giữa học sinh.
● Vì vậy, người giáo dục cần vận dụng linh hoạt, kết hợp hài hòa với các phương pháp khác (như
nêu gương, động viên, kỷ luật tích cực) để đạt hiệu quả giáo dục tối ưu.
● Ví dụ: Giáo sư Ngô Bảo Châu và cách "khen đúng chỗ" để nuôi dưỡng tài năng trẻ
● Giáo sư Ngô Bảo Châu – nhà toán học nổi tiếng, người đoạt Huy chương Fields – trong nhiều buổi
gặp gỡ học sinh giỏi, luôn chú trọng khen đúng điểm mạnh, đúng thời điểm, đặc biệt với những
học sinh có tư duy độc lập.
● Trong một buổi giảng dạy tại Trại hè Toán học, thay vì khen ngợi kiểu chung chung, ông nói với một học sinh:
● > “Cách em đặt câu hỏi cho thấy em không chấp nhận những điều hiển nhiên. Đó là phẩm chất rất
quý trong nghiên cứu khoa học.”
19. Trình bày nguyên tắc giáo dục trong lao động và bằng lao động - Nguyên tắc giáo dục: lOMoAR cPSD| 61470371
+ Nguyên tắc là những luận điểm được rút ra từ các quy luật, những nguyên lý như những tiền đề
có giá trị chỉ dẫn các hoạt động phức tạp. + Có tính quy luật +
Nắm được các nguyên tắc giáo dục sẽ giúp các nhà giáo dục kết hợp được lý luận ● Nội dung nguyên tắc:
- Lao động là phương thức sống, đồng thời là con đường hình thành và phát triển nhân cách. Lao
động sáng tạo ra mọi của cải vật chất và tinh thần, là nguồn gốc của mọi tình cảm, mọi phẩm chất
tốt đẹp của con người. Ngược lại sự nhàn rỗi, lười biếng là nguồn gốc nảy sinh mọi thói hư, tật xấu.
- Giáo dục bằng lao động như một phương tiện giáo dục để học sinh có cơ hội và điều kiện vận dụng
những kiến thức đã học vào cuộc sống, rèn luyện những đức tính, phẩm chất tốt đẹp. Do vậy, nhà
giáo dục cần phải tổ chức cho học sinh thực sự rèn luyện trong lao động.
- Yêu cầu khi thực hiện nguyên tắc:
+ Tổ chức cho học sinh tham gia vào các dạng hoạt động khác nhau từ việc nhỏ nhất hằng ngày
như vệ sinh trường, lớp.
+ Cần thu hút học sinh tham gia vào các hình thức lao động kỹ thuật, có tính sáng tạo, hấp dẫn,
tạo sự hứng thú như trồng hoa, cây cảnh, tạo môi trường xanh, sạch đẹp.
+ Tổ chức cho các em tham gia vào lao động tạo ra của cải vật chất trong vườn trường, xưởng trường.
+ Cần giúp cho giáo viên và học sinh có thái độ đúng đắn đối với người lao động, với công việc
lao động, với sản xuất lao động, có ý thức hợp tác, tương trợ giúp đỡ nhau; cần khắc phục
những biểu hiện, những khuynh hướng không đúng trong lao động.
KLSP: Giáo dục trong lao động và bằng lao động giúp học sinh rèn luyện nhân cách, phát triển phẩm
chất, kỹ năng sống và ý thức trách nhiệm. Nhà giáo dục cần tổ chức cho học sinh tham gia các hoạt động
lao động phù hợp, có ý nghĩa, từ lao động hằng ngày đến lao động sáng tạo, góp phần hình thành thái độ
đúng đắn và tình yêu lao động ở học sinh.
20. Phân tích phương pháp quan sát trong dạy học ( câu này t ko thấy có trong giáo trình)
-Nằm trong nhóm pp hình thành ý thức và tình cảm cá nhân trong gd
-KN PP giáo dục: Cách thức hoạt động phối hợp thống nhất giữa học sinh và giáo viên nhằm đạt được mục
đích trong giáo dục ( Đảm bảo kết quả, kinh tế, thời gian, an toàn, thống nhất giữa phương pháp dạy và phương pháp học)
-Phương pháp giáo dục là một thành tố trong cấu trúc của quá trình giáo dục. Phương pháp giáo dục có liên
quan mật thiết với các thành tố khác của quá trình giáo dục. Phương pháp giáo dục chịu sự chi phối trực
tiếp của nội dung giáo dục và quyết định trực tiếp sự thành bại của quá trình giáo dục. 1. Khái niệm
• Phương pháp quan sát là phương pháp dạy học khi giáo viên tố chức cho học sinh sử dụng các giác quan
khác nhau để tri giác các sự vật, hiện tượng một cách có kế hoạch, có trọng tâm để rút ra các đặc điểm, tính chất của chúng.
• Đối tượng quan sát có thể là vật thật, tranh ảnh, mô hình,... 2. Các bước tiến hành lOMoAR cPSD| 61470371
• Giáo viên cần chuẩn bị chu đáo kế hoạch dạy học, xác định rõ thời điểm tổ chức cho học sinh quan sát.
• Chuẩn bị đầy đủ các đối tượng quan sát phù hợp với mục tiêu, nội dung bài học: tranh ảnh, mẫu vật, sơ đồ, bản đồ,...
• Chuẩn bị hệ thống câu hỏi, bài tập để hướng dẫn học sinh quan sát các sự vật, hiện tượng có mục đích, có trọng tâm.
• Hệ thống câu hỏi cần được sắp xếp theo trình tự 3. Yêu cầu sư phạm
• Giáo viên cần xác định rõ mục tiêu quan sát cụ thể, ngắn gọn bằng các câu hỏi rõ ràng.
• Tố chức cho học sinh quan sát ở trong lớp hoặc ngay trong môi trường tự nhiên và xã hội xung quanh.
• Sử dụng hệ thống câu hỏi, bài tập phù hợp để hướng dẫn học sinh quan sát hiệu quả.
VD áp dụng phương pháp quan sát trong dạy học: Trong bài giảng về văn miêu tả – tả đồ vật, giáo viên
mang vào lớp một chiếc trống thật để hs quan sát. Gv hướng dẫn học sinh quan sát theo trình tự bằng các
câu hỏi cụ thể như: “Thân trống có hình dáng thế nào?”, “Mặt trống làm bằng chất liệu gì?”, “Âm thanh
trống vang lên sau khi gõ nhẹ?”. Qua quá trình quan sát trực tiếp và trả lời câu hỏi, học sinh dễ dàng ghi
nhớ đặc điểm của đồ vật và viết đoạn văn miêu tar đúng trọng tâm.
=> KLSP: trong quá trình dạy học, người gv cần linh hoạt kết hợp các phương pháp kích thích để tính tích
cực của hs, vì Thành công của dạy học nằm ở chính bản thân các em.
CÂU 2 ĐIỂM 21. Làm sáng tỏ
“Dưới ánh mặt trời, không có nghề nào quý bằng nghề dạy học”
Câu nói “Dưới ánh mặt trời, không có nghề nào quý bằng nghề dạy học” thể hiện một chân lý sâu sắc về
vai trò và ý nghĩa cao quý của nghề giáo trong xã hội loài người. “Ánh mặt trời” ở đây được hiểu như ánh
sáng của tri thức, sự sống và văn minh nhân loại, là nguồn năng lượng nuôi dưỡng và phát triển tất cả mọi
lĩnh vực trong đời sống xã hội. Trong ánh sáng ấy, nghề dạy học được xem là nghề đứng đầu bởi vì giáo
viên là người truyền tải kiến thức, kinh nghiệm, đồng thời hình thành nhân cách, lý tưởng và phẩm chất
đạo đức cho thế hệ trẻ. Người thầy như người gieo hạt giống tri thức và đạo đức, từ đó tạo nên nền tảng
vững chắc cho sự phát triển của từng cá nhân và xã hội nói chung. Không chỉ dừng lại ở việc truyền thụ
kiến thức, nghề dạy học còn có ý nghĩa quan trọng trong việc giúp học sinh hình thành thế giới quan khoa
học, phát triển tư duy sáng tạo và khả năng giải quyết vấn đề, chuẩn bị cho các em trở thành công dân có
trách nhiệm và năng lực trong xã hội hiện đại. Mọi ngành nghề khác đều cần có nền tảng giáo dục tốt để
phát triển; từ bác sĩ, kỹ sư, nhà khoa học đến nghệ sĩ đều trưởng thành từ sự dạy dỗ và đào tạo của người
thầy. Vì thế, giáo dục chính là yếu tố quyết định sự tiến bộ và phát triển bền vững của đất nước. Hơn nữa,
nghề dạy học là một nghề đặc biệt đòi hỏi ở người thầy không chỉ kiến thức chuyên môn vững vàng mà
còn cần có tâm huyết, lòng yêu thương, sự kiên nhẫn và trách nhiệm cao cả. Người thầy không chỉ dạy chữ
mà còn dạy người, đồng hành và dẫn dắt học sinh trên con đường phát triển toàn diện về trí tuệ, đạo đức
và tình cảm. Chính vì vậy, nghề dạy học mang trong mình sứ mệnh thiêng liêng, là công việc cao quý và
được xã hội tôn vinh hơn bất cứ nghề nào khác.
22. Câu 27 của đề 30 câu
Câu nói “Sản phẩm giáo dục là thành quả chung của tất cả lực lượng giáo dục và của chính người được
giáo dục” đã khái quát một cách toàn diện và sâu sắc bản chất của quá trình giáo dục – một quá trình phức lOMoAR cPSD| 61470371
hợp, mang tính xã hội cao, không thể tách rời khỏi sự phối hợp của nhiều yếu tố. Trước hết, cần hiểu rằng
sản phẩm giáo dục không chỉ đơn thuần là kết quả học tập như điểm số hay bằng cấp, mà là sự hình thành
và phát triển toàn diện của con người cả về trí tuệ, đạo đức, lối sống và năng lực hành động. Quá trình này
không thể chỉ do một lực lượng duy nhất đảm nhiệm, mà cần có sự tham gia đồng bộ của ba lực lượng giáo
dục chính: gia đình, nhà trường và xã hội. Gia đình là môi trường giáo dục đầu tiên và lâu dài nhất, góp
phần hình thành những thói quen, phẩm chất đạo đức và cách ứng xử ban đầu cho trẻ. Nhà trường đóng vai
trò trung tâm trong việc truyền thụ kiến thức, rèn luyện kỹ năng, đồng thời tạo môi trường kỷ luật và phát
triển năng lực tư duy, giao tiếp. Trong khi đó, xã hội – với các thiết chế văn hóa, truyền thông, cộng đồng…
– tác động mạnh mẽ đến tư tưởng, thái độ và định hướng giá trị của người học thông qua các chuẩn mực và quan hệ xã hội.
Tuy nhiên, dù các lực lượng giáo dục bên ngoài có phối hợp chặt chẽ và tạo điều kiện tốt đến đâu, thì yếu
tố mang tính quyết định vẫn là ý thức, thái độ và sự chủ động của chính người học. Người học không
phải là chiếc bình để “rót đầy” kiến thức, mà là chủ thể tích cực cần biết tiếp nhận, phản biện, tự hoàn thiện
bản thân qua quá trình học tập và rèn luyện. Nếu học sinh thiếu ý chí, động lực hoặc phó mặc hoàn toàn
cho người khác, thì mọi tác động giáo dục sẽ trở nên hình thức và thiếu hiệu quả. Ngược lại, khi người học
có tinh thần cầu tiến, ý thức tự học và khả năng phản hồi tích cực với các yếu tố giáo dục xung quanh, họ
sẽ biến các tác động ấy thành nội lực, từ đó phát triển một cách bền vững và sâu sắc hơn.
Vì thế, có thể khẳng định rằng sản phẩm của giáo dục – tức một con người phát triển toàn diện – chính là
kết quả của một quá trình phối hợp đa chiều, trong đó mọi lực lượng giáo dục đều đóng vai trò quan
trọng, nhưng không lực lượng nào có thể thay thế được vai trò trung tâm của chính người học. Nhận thức
rõ điều này không chỉ giúp nâng cao hiệu quả giáo dục, mà còn nhấn mạnh tinh thần trách nhiệm và sự
phối hợp chặt chẽ giữa gia đình, nhà trường, xã hội và bản thân mỗi người học trong sự nghiệp hình thành
nên những thế hệ công dân vừa có trí tuệ, vừa có đạo đức, biết sống và cống hiến vì cộng đồng.
23. Câu 28 của đề 30 câu: Giáo dục 9/10 là động viên khích lệ
Câu “Giáo dục chín phần mười là động viên khích lệ” hiểu đơn giản là trong suốt quá trình dạy và
học, việc thắp lên niềm tin, khơi gợi hứng khởi và khẳng định giá trị của học sinh quan trọng gấp
chín lần so với việc chỉ truyền tải kiến thức khô khan. Cụ thể:
- Khơi dậy cảm xúc tích cực: Theo nguyên tắc đảm bảo tính cảm xúc tích cực, khi học sinh được
khích lệ — dù chỉ một lời khen, một ánh mắt tin tưởng — sẽ sinh ra hứng thú và lòng ham hiểu
biết. Cảm xúc tích cực này thúc đẩy các em tự giác tìm tòi, chủ động tham gia, biến việc học thành
trải nghiệm hấp dẫn chứ không phải gánh nặng.
- Tập trung khai thác điểm mạnh: Nguyên tắc phát huy ưu điểm nhấn mạnh rằng khích lệ đúng
chỗ giúp học sinh nhận ra và tin tưởng vào năng lực bản thân. Khi các em cảm thấy “mình làm
được”, các em sẽ thêm tự tin để khắc phục nhược điểm, từ đó tạo nên vòng xoáy thành công liên tục.
- Thỏa mãn nhu cầu tâm lý cơ bản: Dựa vào tháp nhu cầu của Maslow, khích lệ giúp học sinh cảm
thấy được chấp nhận (nhu cầu xã hội), được tôn trọng (nhu cầu kính trọng) và sau cùng là có động
lực để tự thể hiện (nhu cầu tự thực hiện). Một khi những nhu cầu này được đáp ứng, các em sẽ
vươn lên mạnh mẽ hơn để khám phá kiến thức và phát triển bản thân.