




Preview text:
Phương pháp điều chỉnh của pháp luật là gì? Đặc điểm và ví dụ
1. Khái niệm Pháp luật và Điều chỉnh pháp luật
Pháp luật là hệ thống những quy tắc xử sự mang tính bắt buộc chung do Nhà
nước ban hành hoặc thừa nhận và đảm bảo thực hiện, thể hiện ý chí của giai
cấp thống trị và là nhân tố điều chỉnh các quan hệ xã hội phát triển phù hợp
với lợi ích của giai cấp mình.
Trong xã hội xã hội chủ nghĩa, pháp luật vẫn là một phương tiện quan trọng
bậc nhất để điều chỉnh các quan hệ xã hội, tổ chức, quản lý xã hội, bảo đảm
sự ổn định và phát triển của xã hội, phù hợp với những mục đích mà nhà
nước và xã hội đặt ra.
Sự tác động qua lại giữa pháp luật và các quan hệ xã hội rất đa dạng, phức
tạp. Một mặt, các quan hệ xã hội (đặc biệt là những quan hệ kinh tế, chính trị)
có vai trò quyết định đối với pháp luật, mặt khác, chính bản thân các quan hệ
xã hội lại là đối tượng tác động có mục đích của pháp luật. Sự tác động của
pháp luật lên cá quan hệ xã hội thường xảy ra theo hai hướng:
- Đối vơi những quan hệ xã hội phù hợp với tiến trình phát triển xã hội, đáp
ứng lợi ích của nhân dân thì pháp luật bảo vệ, củng cố và tạo điều kiện cho chúng phát triển.
- Đối với những quan hệ xã hội không đáp ứng được lợi ích của nhân dân
không phù hợp với quy luật phát triển của xã hội thì pháp luật ngăn cản, kìm
hãm sự phát triển của chúng và từng bước loại trừ chúng ra khỏi đời sống xã hội.
Pháp luật tác động lên các quan hệ xã hội bằng cách quy định cho các bên
tham gia các quan hệ đó một số quyền và nghĩa vụ pháp lý nhất định, đồng
thời pháp luật cũng xác định cả những điều kiện để bảo đảm cho các quyền
và nghĩa vụ pháp lý đó được thực hiện. Vì vậy, khi tham gia vào các quan hệ
do pháp luật điều chỉnh, các chủ thể buộc phải tự điều khiển các hành vi của
mình sao cho phù hợp với các yêu cầu của pháp luật.
Như vậy, điều chỉnh pháp luật là quá trình nhà nước dùng pháp luật (với tư
cách là công cụ điều chỉnh) tác động lên hành vi của các thành viên trong xã
hội nhằm đạt được những mục đích đề ra.
2. Phương pháp điều chỉnh của pháp luật là gì?
Phương pháp điều chỉnh của pháp luật là tổ hợp các phương tiện, biện pháp,
cách thức do pháp luật quy định, có sự thống nhất bên trong, thông qua đó,
pháp luật tác động vào các quan hệ xã hội một cách đồng bộ làm nảy sinh,
xác lập, bảo vệ, phát triển hoặc phòng ngừa, ngăn cấm, hạn chế đến sự nảy
sinh, tồn tại, phát triển các quan hệ xã hội mà nhà cầm quyền mong muốn
trong các linh vực hoạt động nhất định của Nhà nước, xã hội và công dân.
Phương pháp điều chỉnh và đối tượng điều chỉnh là căn cứ để phân chia các
ngành luật trong hệ thống pháp luật.
3. Đặc điểm của phương pháp điều chỉnh pháp luật
Do nhà nước (thông qua các cơ quan có thẩm quyền) đặt ra; được ghi nhận
trong quy phạm pháp luật; được nhà nước đảm bảo thực hiện trên cơ sở có
thể áp dụng các biện pháp cưỡng chế nhà nước trong những trường hợp cần thiết.
Các cách thức tác động pháp luật lên các quan hệ xã hội có thể là cấm đoán
(không cho phép tiến hành một số hoạt động nhất định), bắt buộc (buộc phải
thực hiện một số hoạt động nhất định) hoặc cho phép (được phép hoạt động
trong một phạm vi nhất định)
Mỗi ngành luật có những phương pháp điều chỉnh riêng. Lý do của sự khác
biệt đó là vì có sự khác nhau về:
- chủ thể tham gia quan hệ pháp luật
- trật tự hình thành quan hệ pháp luật
- quyền và nghĩa vụ của các bên tham gia quan hệ pháp luật
- các biện pháp đảm bảo việc thực hiện các quyền và nghĩa vụ khác nhau
4. Ví dụ phương pháp điều chỉnh của Luật Hiến pháp
+ phương pháp bắt buộc: Bắt buộc, cách thức này được Sử dụng để điều
chỉnh quan hệ xã hội liên quan đến việc thực hiện quyền lực Nhà nước và
xác định nghĩa vụ của công dân. Theo cách thức này quy phạm Luật Hiến
pháp buộc chủ thể quan hệ pháp Luật Hiến pháp phải thực hiện hành vi nhất
định. (Ví dụ: công dân phải thực hiện nghĩa vụ quân sự và tham gia nền quốc phòng toàn dân)
+ phương pháp cho phép: Cho phép, cách thức này được sử dụng để điều
chỉnh các quan hệ xã hội gắn với việc xác định quyền công dân và quyền hạn
của các cơ quan Nhà nước. Theo cách thức này quy phạm Luật Hiến pháp
cho phép chủ thể quan hệ pháp Luật Hiến pháp thực hiện hành vi nhất định.
(Ví dụ: Công dân đủ 18 tuổi trở lên có quyền bầu cử)
+ Phương pháp cấm đoán: Cấm đoán, cách thức này được sử dụng để điều
chỉnh một số quan hệ xã hội liên quan đến quyền công dân và hoạt động của
các cơ quan Nhà nước. Theo cách này quy phạm pháp luật Hiến pháp. Chủ
thể quan hệ pháp Luật Hiến pháp thực hiện hành vi nhất định. (Ví dụ: nghiêm
cấm phân biệt đối xử, cưỡng bức lao động, sử dụng nhân công lao động
dưới độ tuổi lao động).
5. Ví dụ phương pháp điều chỉnh của Luật dân sự
+ Các chủ thể tham gia các quan hệ tài sản và các quan hệ nhân thân do luật
dân sự điều chỉnh độc lập về tổ chức và tài sản, bình đẳng với nhau về địa vị
pháp lí. Độc lập về tổ chức và tài sản là tiền đề tạo ra sự bình đẳng trong các
quan hệ mà các chủ thể tham gia. Bởi các quan hệ tài sản mà luật dân sự
điều chỉnh mang tính chất hàng hoá - tiền tệ và đền bù tương đương là đặc
trưng khi trao đổi. Nếu không độc lập về tài sản và bình đẳng về địa vị pháp lí
thì sẽ không tạo ra sự đền bù tương đương. Sự bình đẳng và độc lập được
thể hiện ngay cả trong trường hợp các chủ thể có các mối quan hệ khác mà
họ không bình đẳng (trong quan hệ hành chính, lao động...) và chính sự bình
đẳng, độc lập của các chủ thể mới tạo được tiền đề cho sự tự định đoạt sau
này. Nếu vợ chồng tặng cho nhau tài sản trong thời kì hôn nhân mà nguồn
gốc tài sản tặng cho có được từ tài sản chung thì quan hệ tặng cho đó chủ
yếu mang màu sắc tình cảm, chứ không làm dịch chuyển quyền sở hữu sang
cho người được tặng cho vì khi xác lập quan hệ tặng cho này không có sự
độc lập về tài sản giữa vợ và chồng.
+ Pháp luật dân sự ghi nhận quyền tự định đoạt của các chủ thể trong việc
tham gia các quan hệ tài sản. Khi tham gia vào các quan hệ tài sản, mỗi chủ
thể đều đặt ra những mục đích với những động cơ nhất định. Bởi vậy, việc
lựa chọn một quan hệ cụ thể do các chủ thể tự quyết định, căn cứ vào khả
năng, điều kiện, mục đích mà họ tham gia vào các quan hệ đó. Khi tham gia
vào các quan hệ cụ thể, các chủ thể tuỳ ý theo ý chí của mình lựa chọn đối
tác sẽ tham gia, nội dung quan hệ mà họ tham gia, cách thức, biện pháp thực
hiện các quyền và nghĩa vụ. Trong nhiều trường hợp, các chủ thể có thể tự
đặt ra các biện pháp bảo đảm, hình thức và phạm vi trách nhiệm, cách thức
áp dụng trách nhiệm khi bên này hay bên kia không thực hiện hay thực hiện không đúng thoả thuận.
Tuy nhiên, việc tự định đoạt của các chủ thể khi tham gia vào các quan hệ
không đồng nghĩa với tự do, tuỳ tiện trong việc tạo lập, thay đổi, chấm dứt
các quan hệ đó. Đặc điểm chung các quan hệ tài sản và quan hệ nhân thân là
đa dạng, phức tạp. Bởi vậy, các quy phạm pháp luật không thể dự liệu hết
được các quan hệ đang tồn tại và phát triển. Cho nên, pháp luật đưa ra
những giới hạn, vạch ra những hành lang an toàn, cần thiết, trong đó các chủ
thể có quyền tự do hành động. Giới hạn đó được xác định bởi các nguyên tắc
được quy định trong BLDS và thể hiện rõ nét nhất ở Điều 3 BLDS năm
2015: “Việc xác lập, thực hiện quyền, nghĩa vụ dân sự không được xâm phạm
đến lợi ích của Nhà nước, lợi ích công cộng, quyển, lợi ích hợp pháp của
người khác”. Khi vi phạm nguyên tắc này, làm thiệt hại đến quyền và lợi ích
hợp pháp của chủ thể khác sẽ bị coi là vi phạm pháp luật dẫn đến hậu quả
pháp lí, phải bồi thường thiệt hại. Cam kết, thoả thuận là tự nguyện nhưng
sau khi đã tự nguyện cam kết, thoả thuận, các chủ thể buộc phải tham gia
vào quan hệ dân sự đó. Mặt khác, trong một số trường hợp, nhằm bảo vệ
quyền lợi của một số chủ thể nhất định, pháp luật đã hạn chế quyền tự định
đoạt đó (như quy định về điều kiện chuyển quyền sử dụng đất, về người
được hưởng di sản không phụ thuộc nội dung của di chúc...).
+ Xuất phát từ sự bình đẳng giữa các chủ thể, quyền tự định đoạt của họ khi
tham gia các quan hệ dân sự, cho nên đặc trưng của phương pháp giải quyết
các tranh chấp dân sự là hoà giải. Đây là nguyên tắc được quy định tại Điều 7
BLDS năm 2015 - Nguyên tắc hoà giải. Việc thực hiện hay từ chối một quyền
tài sản của các chủ thể thuộc phạm vi tự định đoạt của họ (tuy nhiên, chỉ
trong trường hợp quyền của họ không đồng thời là nghĩa vụ mà pháp luật quy
định). Cho nên, việc giải quyết các tranh chấp dân sự do các bên tự thoả
thuận. Nếu không thể thoả thuận hoặc hoà giải được, toà án chỉ giải quyết
trong phạm vi yêu cầu của nguyên đơn.
+ Các quan hệ mà luật dân sự điều chỉnh chủ yếu là các quan hệ tài sản
mang tính chất hàng hoá và tiền tệ, việc vi phạm nghĩa vụ của một bên trong
quan hệ đó dẫn đến thiệt hại về tài sản đối với bên kia. Bởi vậy, trách nhiệm
dân sự trước tiên là trách nhiệm tài sản. Trách nhiệm của bên vi phạm đối với
bên bị vi phạm và hậu quả của việc áp dụng hách nhiệm là phục hồi tình
ưạng tài sản của bên bị thiệt hại. Trong quan hệ dân sự, các chủ thể có
quyền tự định đoạt. Cho nên, họ có thể quy định trách nhiệm và phương thức
áp dụng trách nhiệm cùng hậu quả của nó (những thoả thuận này phải phù
hợp với pháp luật). Bởi vậy, trách nhiệm dân sự không chỉ do pháp luật quy
định mà còn do các bên thoả thuận về điều kiện phát sinh và hậu quả của nó.
Thông thường, các phương pháp điều chỉnh pháp luật được chia thành hai
loại đặc trưng là phương pháp mệnh lệnh và phương pháp tự định đoạt (thỏa
thuận). Phương pháp mệnh lệnh dùng để điều chỉnh các quan hệ xã hội mà
trong đó có một bên tham gia là nhà nước (cơ quan nhà nước có thẩm
quyền). Phương pháp tự định đoạt thường dùng để điều chỉnh các quan hệ
xã hội mà các bên tham gia có địa vị bình đẳng với nhau.
6. Nguyên tắc thực hiện phương pháp điều chỉnh của pháp luật.
- Phương pháp điều chỉnh của pháp luật được thực hiện theo nguyên tắc
quyền uy, có tính bắt buộc thi hành, phục tùng như trong luật hành chính, hình sự
- Phương pháp điều chỉnh của pháp luật được thực hiện theo nguyên tắc
thoả thuận, bình đẳng như đối với quan hệ hôn nhân gia đinh, quan hệ dân sự,
- Phương pháp điều chỉnh của pháp luật được thực hiện theo nguyên tắc tuỳ
nghi lựa chọn - có nghĩa là pháp luật cho phép chủ thể pháp luật được phép
lựa chọn một trong những cách xử lí mà pháp luật đã đề ra như: có thể đưa
vào tài sản chung của vợ chồng hoặc giữ nguyên tài sản thuộc quyền sở hữu
riêng trước khi kết hôn, thoả thuận về các điều kiện trong khi kí kết các hợp
đồng kinh tế, hợp đồng dân sự,...
Document Outline
- Phương pháp điều chỉnh của pháp luật là gì? Đặc đi
- 1. Khái niệm Pháp luật và Điều chỉnh pháp luật
- 2. Phương pháp điều chỉnh của pháp luật là gì?
- 3. Đặc điểm của phương pháp điều chỉnh pháp luật
- 4. Ví dụ phương pháp điều chỉnh của Luật Hiến pháp
- 5. Ví dụ phương pháp điều chỉnh của Luật dân sự
- 6. Nguyên tắc thực hiện phương pháp điều chỉnh của