



Preview text:
Quan điểm toàn diện là gì? Ý nghĩa, yêu cầu và ví dụ thực tiễn?
1. Quan điểm toàn diện là gì?
Quan điểm toàn diện là quan điểm được phản ánh trong phương pháp luận
triết học, là quan điểm khi nghiên cứu và xem xét hiện tượng, sự vật hay sự
việc thì cần phải quan tâm đến tất cả các yếu tố từ gián tiếp đến trung gian có
liên quan đến sự vật. Quan điểm toàn diện mang tính đúng đắn trong các
hoạt động hay là trong đánh giá một đối tượng nhất định nào đó. Các nhà
nghiên cứu sẽ chỉ ra tính hợp lý cần thiết trong nhu cầu phản ánh chính xác
và hiệu quả đối tượng. Từ đó đưa ra các đánh giá mới mang tính khách và
hiệu quả. Thực tế thì quan điểm này vẫn giữ nguyên giá trị khi cần thiết trong
đánh giá hay phán xét đối tượng nào đó. Quan điểm thể hiện được vai trò
của người thực hiện khi phân tích trên các đối tượng. Khi tiến hành nghiên
cứu và xem xét các sự vật, hiện tượng hay sự việc nào đó cần phải chú tâm
đến các yếu tố có liên quan đến sự vật, sự việc hay hiện tượng đó. Hay chính
là chú tâm đến tất cả những tác động lên chủ thể đang quan tâm. Không chỉ
dừng lại ở việc nhìn nhận theo tính chất tích cực hay cảm xúc mà cần phải
tiến hành nhìn nhận trên lý trí, kinh nghiệm và trình độ đánh giá chuyên môn
thì mới mang lại hiệu quả tốt nhất.
Quan điểm toàn diện xuất phát từ mối liên hệ nằm trong nguyên lý phổ biến
các hiện tượng, sự vật trên thế giới. Với các tính chất trong tác động và phản
ánh kết quả khác nhau thì phải có quan điểm toàn diện vì bất kỳ mối quan hệ
nào cũng sẽ tồn tại sự vật và sự việc. Không có bất cứ sự vật nào tồn tại một
cách riêng biệt hay chỉ chịu tác động từ duy nhất một yếu tố có khả năng tồn
tại cô lập, độc lập với sự vật khác. Khi nghiên cứu và phân tích sẽ cho thấy
rằng nếu muốn đánh giá chủ thể một cách hiệu quả nhất thì cần nhìn nhận
chủ thể đó một cách toàn diện và bày tỏ rõ quan điểm.
2. Cơ sở lý luận về quan điểm toàn diện
Quan điểm toàn diện được thể hiện từ cơ sở phương pháp luận khoa học của
chủ nghĩa duy vật biện chứng. Với các tính chất thể hiện trong tính khách
quan, tính phổ biến và tính phong phú, đa dạng của các mối liên hệ và sự
phát triển của tất cả các sự vật, hiện tượng trong tự nhiên, xã hội và tư duy.
Sự tác động qua lại lẫn nhau như thế sẽ giúp các sự vật được phản ánh với
tính chất đa dạng trong thực tế; một sự vật được nhìn nhận theo các yếu tố
tác động và những tác động nên các yếu tố khác. Với chủ nghĩa duy vật biện
chứng thì những phản ánh trên sự vật đều được giải thích. Quan điểm toàn
diện đòi hỏi để có được nhận thức đúng đắn về sự vật, hiện tượng, chúng ta
phải xem xét trong mối liên hệ qua lại giữa các bộ phận; các yếu tố, các thuộc
tính khác nhau với chính sự vật, hiện tượng đó. Đồng thời quan điểm toàn
diện đòi hỏi phải phân biệt từng mối liên hệ phải chú ý tới mối liên hệ bên
trong, mối liên hệ bản chất, mối liên hệ chủ yếu, mối liên hệ tất nhiên,... để
hiểu rõ bản chất của sự vật và có phương pháp tác động phù hợp nhằm đem
lại hiệu quả cao trong hoạt động của bản thân.
Trong tính chất duy vật biện chứng những nhìn nhận và đánh giá được xây
dựng từ nhiều chiều và phản ánh những kết quả tồn tại trên thị trường.
Những nguyên nhân được tìm ra có nguyên nhân trực tiếp hay tác động
không trực tiếp và phản ánh năng lực, khả năng và cái nhìn nhiều chiều của một chủ thể.
3. Ý nghĩa của quan điểm toàn diện
Khi phân tích bất cứ đối tượng nào thì cần vận dụng lý thuyết, hiểu biết một
cách hệ thống thì sẽ xem xét được cấu thành nên những yếu tố, những bộ
phận nào với mối quan hệ ràng buộc và tương tác nào thì từ đó phát hiện ra
thuộc tính chung của hệ thống vốn không có ở mỗi yếu tố. Chúng ta cần xem
xét sự vật trong tính mở của nó tức xem xét xem trong mối quan hệ với các
hệ thống khác với các yếu tố tạo thành môi trường vận động và phát triển của
nó; xem xét tất cả các mặt, các mối liên hệ của sự vật và các khẩu trung của
nó. Phải nắm được và đánh giá đúng vị trí, vai trò của từng mặt, từng mối liên
hệ trong quá trình cấu thành sự vật. Bản thân quan điểm toàn diện đã bao
gồm quan điểm lịch sự vì vậy khi xem xét, hiện tượng phải đặt sự vật hiện
tượng vào đúng không gian, thời gian mà sự vật, sự việc và hiện tượng tồn tại.
4. Yêu cầu của quan điểm toàn diện
Mối quan hệ của quan điểm toàn diện có thể là giữa các yếu tố, các bộ phận
giữa sự vật này với sự vật khác giữa các mối liên hệ trực tiếp với mối liên hệ
gián tiếp. Cái nhìn mang tính phiến diện sẽ không mang đến hiệu quả trong
công tác thực hiện mà ngực lại sẽ có thể tạo ra những nhận định hay các
quan điểm mang tính lệch lạc; cũng như sẽ mang đến những quyết định
không đúng đắn cho mục tiêu của thực hiện phản ánh quan điểm.
Theo quan điểm toàn diện thì con người cần nhận thức sự vật qua mối quan
hệ qua lại và mối quan hệ này có thể là giữa các yếu tố, các bộ phận, giữa sự
vật này với sự vật khác; giữa mối liên hệ trực tiếp với mối liên hệ gián tiếp.
Khi chúng ta nhìn nhận quan điểm toàn diện thì mới đưa ra được các nhận
thức đúng đắn. Không những thế quan điểm toàn diện còn đòi hỏi con người
phải chú ý và biết phân biệt từng mối liên hệ đó là mối liên hệ chủ yếu với tất
yếu, mối liên hệ bên trong và bên ngoài, mối liên hệ về bản chất. Quan điểm
toàn diện đòi hỏi con người phải chú ý và phân biệt từng mối liên hệ, cách
nhìn nhận trên các khía cạnh khác nhau phản ánh những đặc trung riêng biệt.
Từ đó làm nên tính đa dạng của chủ thể trong cách thể hiện trên thực tế. Bởi
vậy mà việc quan tâm và phân tích từng yếu tố được thể hiện trên cơ sơ cụ
thể. Bên cạnh đó, quan điểm toàn diện còn đòi hỏi con người phải nắm bắt
được khuynh hướng phát triển của sự vật trong tương lai. Những nhìn nhận
mang đến phản ánh như thế nào cho phù hợp hay cơ sở để phát triển trong
tương lai; hoặc những yếu tố biến động có thể được đánh giá mang đến
những nhận định nhất định cần thiết giúp cho việc thực hiện các hoạt động
tác động trên sự vật được tiến hành hiệu quả đáp ứng các mong muốn của chủ thể tiến hành.
5. Ví dụ chứng minh quan điểm toàn diện
Quan điểm toàn diện thể hiện trong tất cả các hoạt động có tác động của
phản ánh quan điểm. Ví dụ trong đánh giá một con người với những mặt
khác nhau phản ánh trong con người họ; không thể chỉ thực hiện quan sát
phiến diện từ những thể hiện bên ngoài để đánh giá tính cách, thái độ và
năng lực của họ. Cũng không thể chỉ dựa trên một một hành động để phán
xét con người hay phán xét cách sống của họ. Khi đánh giá cần có thời gian
cho quá trình quan sát tổng thể từ những phản ánh trong bản chất con người;
các mối quan hệ của người này với người khác; cách cư xử cũng như việc
làm trong quá khứ và hiện tại. Những nhìn nhận và đánh gia streen từng khía
cạnh và kết hợp với nhau sẽ tạo ra những quan điểm toàn diện từ đó mà
cách nhìn nhận một người được thực hiện hiệu quả với các căn cứ rõ ràng;
chứ không phải chỉ là phù phiếm, giả định của nhận định.
Hay trong công cuộc đổi mới của Đảng Cộng sản Việt Nam không những chú
ý đến mối liên hệ nội tại mà còn chú trọng đến mối liên hệ giữa sự vật này với
sự vật khác. Qua quá trình đổi mới thì chúng ta đã sử dụng đồng bộ các
phương tiện cũng như biện pháp khác nhau để mang lại hiệu quả cao nhất;
không những chỉ vận dụng được nguồn lực đất nước mà còn cần tận dụng
sự giúp đỡ các các nước láng giềng.
Document Outline
- Quan điểm toàn diện là gì? Ý nghĩa, yêu cầu và ví
- 1. Quan điểm toàn diện là gì?
- 2. Cơ sở lý luận về quan điểm toàn diện
- 3. Ý nghĩa của quan điểm toàn diện
- 4. Yêu cầu của quan điểm toàn diện
- 5. Ví dụ chứng minh quan điểm toàn diện