




Preview text:
Quốc hiệu là gì? Quy định, ý nghĩa của quốc hiệu Việt Nam 1. Khái niệm Quốc hiệu
Quốc hiệu là tên gọi chính thức của một nước, một quốc gia. Đối với các dân
tộc, việc đặt quốc hiệu, tên nước gắn liền với một sự kiện có tầm quan trọng
ý nghĩa của một phương thức khẳng tại của một nước, một quốc gia có thổ
riêng, có dân cư đông đảo với về độc lập, có chủ quyền.
Trong lịch sử Việt Nam, việc đặt quốc hiệu, đổi tên nước luôn gắn liền với
một số sự kiện trọng đại, đánh dấu một thời kì phát triển mới của đất nước
đang được mở ra, khẳng định quyền tồn tại trong độc lập, tự chủ với tính
cách là một quốc gia, một nhà nước độc lập, có lãnh thổ, sông núi riêng và
một biên thuy, có phong tục, pháp luật riêng: 18 đời Vua Hùng dựng nước và
giữ nước đặt tên nước là Văn Lang; Thục Phán An Dương Vương được Vua
Hùng nhường ngôi đổi tên nước là Âu Lạc. Thế kỉ thứ VI, Lý Bí đánh thắng
quân Lương, giành được quyền độc lập, lên ngôi Hoàng đế - Lý Nam Đế, đặt
tên nước là Vạn Xuân; Đinh Bộ Lĩnh giữa thế kỉ thứ X, dẹp được loạn 12 sứ
quân, thống nhất đất nước, lên ngôi Hoàng đế, đặt tên nước là Đại Cổ Việt
(năm 968); Lý Công Uẩn lên làm vua, đổi tên nước là Đại Việt và dời đô từ
Hoa Lư về Thăng Long mở ra một trang sử mới trong lịch sử dân tộc; Lê Lợi
cùng với quân dân sau 10 năm chiến đấu, lật đổ được ách nô dịch của triều
đại nhà Minh, giành được quyền độc lập, tự chủ cho dân tộc, khôi phục lại tên
nước Đại Việt; Gia Long thắng được triều đại Tây Sơn, đặt quyền cai trị lên
cả nước, đặt quốc hiệu Việt Nam, với tư cách là một quốc gia thống nhất.
Trong thời đại ngày nay, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam và
Chủ tịch Hồ Chí Minh, năm 1945 nhân dân Việt Nam làm Cách mạng tháng
Tám thành công, lật đổ ách thống trị thực dân và chế độ quân chủ, lập nên
nước Việt Nam dân chủ cộng hoà, kháng chiến chống Mĩ đại thắng, miền
Nam hoàn toàn giải phóng, đất nước thống nhất và kì họp đầu tiên của Quốc
hội thống nhất đã quyết định đổi tên nước Việt Nam dân chủ cộng hoà thành
Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
2. Quốc hiệu Việt Nam có từ khi nào?
Quan niệm phổ biến từ trước và nhiều kết quả nghiên cứu gần đây thường
khẳng định quốc hiệu Việt Nam xuất hiện từ đầu thời Nguyễn, bởi vì chính sử
của cả nước ta lẫn Trung Quốc đều ghi nhận cụ thể việc này. Năm 1802, sau
khi lên ngôi, Nguyễn Ánh (vua Gia Long) phái 2 đoàn sứ giả sang Trung Quốc.
Một đoàn do Thượng thư Bộ Hộ là Trịnh Hoài Đức làm chánh sứ, đem giao
trả lại sách ấn mà triều Thanh phong cho nhà Tây Sơn. Đoàn kia do Thượng
thư Bộ Binh là Lê Quang Định làm chánh sứ, xin phong vương cho Nguyễn
Ánh và xin đặt quốc hiệu là Nam Việt.
Cũng năm 1802, nhà Thanh chuẩn danh xưng quốc hiệu nước ta là Việt Nam.
Nhưng đến năm Gia Long thứ 3 (1804), sứ giả nhà Thanh là Tế Bá Sâm mới
mang cáo sắc, quốc ấn đến Thăng Long để làm lễ phong vương cho Nguyễn Ánh.
Thực ra, không phải tới tận đầu thời Nguyễn, cái tên Việt Nam xuất hiện và
có xuất xứ như vậy. Tên gọi Việt Nam được biết đến, ít nhất từ thế kỷ 14,
thường thấy trong nhiều thư tịch đương thời: Việt Nam thế chí của Hồ Tông
Thốc, Lịch triều hiến chương loại chí của Phan Huy Chú, Dư địa chí của
Nguyễn Trãi, Trình tiên sinh quốc ngữ văn của Nguyễn Bỉnh Khiêm, Vân đài
loại ngữ của Lê Quý Đôn…
Tên gọi Việt Nam lần đầu tiên chính thức trở thành quốc hiệu của nước ta
vào năm 1804. Nó được xác lập bởi một văn bản pháp lý quan trọng (chiếu)
của Nhà nước Nguyễn, niên hiệu Gia Long thứ 3 (cách đây 202 năm) và đã
được thông báo cho nhà Thanh. Trong Dụ Am văn tập của Phan Huy Ích có
chép nguyên bản bài Tuyên cáo về việc đặt quốc hiệu mới của vua Gia Long
(Nguyễn Ánh) vào năm 1804, nội dung như sau:
“Xuống chiếu cho thần dân trong thiên hạ đều biết:
Trẫm nghĩ, xưa nay các bậc đế vương dựng nước, ắt có đặt quốc hiệu để tỏ
sự đổi mới, hoặc nhân tên đất lúc mới khởi lên, hoặc dùng chữ nghĩa tốt đẹp,
xét trong sử sách chứng cớ đã rõ ràng. Nước ta: sao chùa Dực, chân, cõi
Việt hùng cường. Từ lâu đã có tên Văn Lang, Vạn Xuân còn thô kệch. Đến
đời Đinh Tiên Hoàng gọi là Đại Cồ Việt nhưng người Trung Quốc vẫn gọi là
Giao Chỉ. Từ thời Lý về sau, quen dùng tên An Nam do nhà Tống phong cho
ngày trước. Tuy thế, vận hội dù có đổi thay nhưng trải qua bao đời vẫn giữ
theo tên cũ, thực là trái với nghĩa chân chính của việc dựng nước vậy. Trẫm
nối nghiệp xưa, gây dựng cơ đồ, bờ cõi đất đai rộng nhiều hơn trước. Xem
qua sổ sách, trẫm xét núi sông nên đặt tên tốt để truyền lâu dài… Ban đổi tên
An Nam làm nước Việt Nam, đã tư sang Trung Quốc biết rõ”.
Sau khi lên nối ngôi Gia Long, vua Minh Mạng cho đổi quốc hiệu là Đại Nam
(1838), cái tên Việt Nam không còn thông dụng như trước nữa. Tuy nhiên, từ
cuối thế kỷ 19 và đầu thế kỷ 20, hai tiếng Việt Nam được sử dụng trở lại bởi
các nhà sử học và chí sĩ yêu nước, trong nhiều tác phẩm và tên tổ chức
chính trị: Phan Bội Châu viết Việt Nam vong quốc sử (1905) rồi cùng Cường
Để thành lập Việt Nam Công hiến hội (1908), Việt Nam quang phục hội
(1912); Phan Chu Trinh viết Pháp-Việt liên hiệp hậu chi Tân Việt Nam, Trần
Trọng Kim viết Việt Nam sử lược, Nguyễn Ái Quốc thành lập Việt Nam Thanh
niên Cách mạng đồng chí hội (năm 1925) và Việt Nam độc lập đồng minh hội (năm 1941)…
Ngày 9-3-1945, Nhật đảo chính Pháp, trao chính quyền hình thức cho Bảo
Đại. Bảo Đại đổi lại quốc hiệu từ Đại Nam thành Việt Nam. Ngày 19-8-1945,
Cách mạng tháng Tám thành công, Bảo Đại thoái vị. Ngày 2-9-1945, Chủ tịch
Hồ Chí Minh đọc Tuyên ngôn độc lập, khai sinh nước Việt Nam Dân Chủ
Cộng Hòa. Hiến pháp năm 1946 chính thức thể chế hóa danh hiệu này. Từ
đấy, quốc hiệu Việt Nam được sử dụng phổ biến với đầy đủ ý nghĩa thiêng
liêng, toàn diện nhất của nó.
3. Ý nghĩa quốc hiệu trong văn bản
Quốc hiệu là tên chính thức của một quốc gia, không chỉ có ý nghĩa biểu thị
chủ quyền lãnh thổ mà còn là danh xưng chính thức được dùng trong ngoại
giao; biểu thị thể chế và mục tiêu chính trị của một nước. Dù thể hiện dưới
dạng tiếng nói hay chữ viết, đối với mỗi công dân, quốc hiệu luôn là lòng tự hào dân tộc.
Trải qua mấy ngàn năm lịch sử, ở mỗi giai đoạn, nước ta từng có những quốc
hiệu như Văn Lang, Âu Lạc, Vạn Xuân, Đại Cồ Việt… Từ ngày 2.7.1976,
Quốc hội khóa VI nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã quyết định đổi thành
quốc hiệu “Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam” cho đến ngày nay. Tuy vậy,
hiện nay vẫn có nhiều văn bản không thể hiện quốc hiệu, khiến nhiều người
thắc mắc: liệu có vi phạm gì không?
Thật ra, ngoài những văn bản của cơ quan Đảng, Đoàn TNCS Hồ Chí Minh
có quy định riêng, thì các văn bản do Nhà nước ban hành hoặc một số văn
bản hành chính thông thường do công dân soạn thảo cũng cần ghi quốc hiệu,
bởi lẽ: Xét về tính chính trị, quốc hiệu hiện nay khẳng định Nhà nước Việt
Nam có hình thức chính thể là cộng hòa XHCN, có chế độ chính trị dân chủ
XHCN và là nhà nước đơn nhất, thống nhất toàn vẹn lãnh thổ. Đặc biệt, dòng
tiêu ngữ đi kèm (Độc lập - Tự do - Hạnh phúc) khẳng định mục tiêu có tính
bản chất trong quá trình xây dựng Chủ nghĩa cộng sản - chế độ chính trị mà
toàn Đảng, toàn dân ta hướng đến; là thành quả, khát khao mà nhiều thế hệ
nhân dân đã đổ mồ hôi, hy sinh xương máu để xây dựng qua trường kỳ lịch
sử, nên ghi nhận quốc hiệu là thể hiện lòng yêu nước của mỗi công dân.
Về tính pháp lý, quốc hiệu nước ta đã được thể chế hóa trong Hiến pháp
1992. Cụ thể hóa Hiến pháp, tại Thông tư liên tịch số 55/2005/TTLT-BNV-
VPCP và Thông tư số 01/2011/TT-BNV về hướng dẫn thể thức và kỹ thuật
trình bày văn bản cũng đã quy định quốc hiệu trở thành một trong các thành
phần của văn bản. Vì vậy, việc ghi quốc hiệu còn có ý nghĩa pháp lý quan
trọng, là sự tôn trọng Hiến pháp và pháp luật.
Thiếu quốc hiệu, văn bản không chỉ thiếu tính trang trọng mà đối với những
văn bản quản lý nhà nước còn trở thành bất hợp pháp.
4. Trình bày Quốc hiệu, Tiêu ngữ trong văn bản của Quốc hội
Trình bày Quốc hiệu, Tiêu ngữ trong văn bản của Quốc hội, Ủy ban Thường
vụ Quốc hội, Chủ tịch nước được quy định tại Điều 30 Nghị quyết
351/2017/UBTVQH14 quy định thể thức và kỹ thuật trình bày văn bản quy
phạm pháp luật của Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Chủ tịch nước như sau:
1. Quốc hiệu được trình bày bằng chữ in hoa, cỡ chữ 12, kiểu chữ đứng,
đậm, đặt cân đối ở phía trên cùng, bên phải trang đầu tiên của văn bản.
2. Tiêu ngữ được trình bày bằng chữ in thường, cỡ chữ 14, kiểu chữ đứng,
đậm, đặt canh giữa phía dưới Quốc hiệu; chữ cái đầu của các từ được viết
hoa, giữa các từ có gạch nối (-), có cách chữ; phía dưới có đường kẻ ngang,
nét liền, có độ dài bằng độ dài của dòng chữ.
Trên đây là quy định về Trình bày Quốc hiệu, Tiêu ngữ trong văn bản của
Quốc hội. Để hiểu rõ hơn về vấn đề này bạn nên tham khảo thêm tại Nghị quyết 351/2017/UBTVQH14.
5. Hợp đồng dân sự không có quốc hiệu, tiêu ngữ có bị vô hiệu không?
Điều 116 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định, giao dịch dân sự là hợp đồng
hoặc hành vi pháp lý đơn phương làm phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt
quyền, nghĩa vụ dân sự. Theo đó, giao dịch dân sự được thể hiện bằng lời
nói, bằng văn bản hoặc bằng hành vi cụ thể (căn cứ Điều 119 Bộ luật Dân sự năm 2015).
Nếu Luật quy định giao dịch dân sự phải được thể hiện bằng văn bản có công
chứng, chứng thực, đăng ký thì phải tuân theo quy định đó.
Như vậy, hình thức của hợp chỉ là điều kiện để hợp đồng có hiệu lực nếu
Luật có quy định. Hiện nay, tại các văn bản pháp luật khác không có yêu cầu
hợp đồng phải bắt buộc có quốc hiệu, tiêu ngữ. Do đó, việc hợp đồng không
có quốc hiệu, tiêu ngữ không phải điều kiện làm hợp đồng vô hiệu.
Ngoài ra, căn cứ Điều 129 Bộ luật Dân sự, giao dịch dân sự vi phạm quy định
về hình thức sẽ bị vô hiệu trừ 02 trường hợp sau đây:
- Hợp đồng không đúng quy định của Luật mà một bên hoặc các bên đã thực
hiện ít nhất 2/3 nghĩa vụ thì nếu có yêu cầu (một bên hoặc các bên), Tòa án
ra quyết định công nhận hiệu lực của giao dịch đó;
- Hợp đồng vi phạm quy định bắt buộc về công chứng, chứng thực mà một
bên hoặc các bên đã thực hiện ít nhất 2/3 nghĩa vụ thì theo yêu cầu của một
bên hoặc các bên, Tòa án ra quyết định công nhận hiệu lực của giao dịch đó.
Khi đó, các bên không phải công chứng, chứng thực.
Căn cứ các quy định này, việc không có tiêu ngữ, quốc hiệu không phải điều
kiện để hợp đồng vô hiệu. Do đó, khi hợp đồng không có quốc hiệu, tiêu ngữ
nhưng nội dung hợp đồng không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo
đức xã hội thì hợp đồng đó vẫn sẽ có hiệu lực.
Document Outline
- Quốc hiệu là gì? Quy định, ý nghĩa của quốc hiệu V
- 1. Khái niệm Quốc hiệu
- 2. Quốc hiệu Việt Nam có từ khi nào?
- 3. Ý nghĩa quốc hiệu trong văn bản
- 4. Trình bày Quốc hiệu, Tiêu ngữ trong văn bản của
- 5. Hợp đồng dân sự không có quốc hiệu, tiêu ngữ có