



















Preview text:
PHÁP LUẬT THỜI LÊ SƠ
CÂU 2. HÃY TRÌNH BÀY CÁC ĐẶC TRƯNG CƠ BẢN CỦA HÌNH PHẠT
TRONG QUỐC TRIỀU HÌNH LUẬT
Các đặc trưng cơ bản của hình phạt trong quốc triều hình luật
3.1. Hình phạt thể hiện tính dã man, tàn bạo.
Tính dã man, tàn bạo của hình phạt trong pháp luật thời Ngô - Đinh - Tiền Lê chỉ
được phản ánh rất ít trong Đại Việt sử ký toàn thư. Sang đến thời Lý - Trần - Hồ thì tính
chất dã man, tàn bạo này được thể hiện rõ hơn trong từng hình phạt của hệ thống ngũ
hình cũng như ngoài ngũ hình. Cho đến các triều đại sau này thì hệ thống ngũ hình vẫn
tiếp tục được sử dụng thể hiện ở việc nó được quy định trong cả các bộ luật thành văn kể
cả triều Lê và triều Nguyễn đó là bộ Quốc Triều hình luật và Hoàng Việt Luật lệ. Các
hình phạt chủ yếu tác động vào thân thể người phạm tội. Đặc điểm này của hình phạt
trong pháp luật phong kiến Việt Nam chủ yếu bị chi phối bởi nhiều yếu tố của lịch sử,
đặc biệt là sự ảnh hưởng từ hệ thống hình phạt của pháp luật phong kiến Trung Quốc.
Ví dụ: Hình phạt chém bêu đầu ở bậc thứ 2 của tội Tử trong ngũ hình, là chém đầu
sau đó đem treo ở những chỗ đông người qua lại như cổng chợ, ngã tư đường…Hay bậc
thứ 3 trong tội Tử là lăng trì - xẻo từng miếng thịt rồi mổ bụng, moi ruột cho đến chết,
sau đó còn bị cắt rời chân tay và bẻ gãy hết xương. Mục đính của những hình phạt này là
nhằm trừng trị người phạm tội và răn đe đối với tất cả mọi người nói chung và bản thân
người phạm tội nói riêng. Có những tội trong luật hình sự Việt Nam hiện hành mức án
cao nhất chỉ đến 5 năm tù (tội loạn luân) thì trong Quốc triều hình luật xử tội chết (tội nội
loạn: gian dâm với người trong họ hàng, gia đình). Có thể thấy, những hình phạt trong
ngũ hình nói riêng và trong Quốc triều hình luật nói chung có ưu điểm là có tính răn đe
cao, tuy nhiên nó lại có nhược điểm là rất dã man và tàn bạo. Chính vì sự dã man mà
những hình phạt đó đến ngày nay hầu hết bị xóa bỏ hoặc giảm nhẹ đi rất nhiều.
Những hình phạt dã man, tàn bạo không chỉ lấy đi tính mạng của người phạm tội
mà còn hạ thấp danh dự, nhân phẩm của họ. Có những tội phạm bị gông cùm, dải đi khắp
thành để dân chúng ném, chửi. Những hình phạt trên còn đánh vào tâm lý của người dân.
Tính dã man tàn bạo còn thể hiện dấu ấn của hình phạt suốt đời như là hình phạt thích chữ.
3.2. Hình phạt có tính phổ biến.
Hình phạt không chỉ được áp dụng đối với tội phạm mà còn đối với các hành vi vi
phạm trong mọi lĩnh vực như dân sự, hành chính, đất đai, hôn nhân gia đình, luân thường
đạo lý,… Cũng có những hành vi mà theo pháp luật hiện đại thì đó chỉ là những vi phạm
về mặt đạo đức nhưng theo Quốc triều hình luật đều bị coi là tội phạm và đều bị áp dụng
hình phạt. Ví dụ như quy định tại điều 317, về đạo đức trong hôn nhân gia đình. Trong
hình sự, tại điều 428, về tội ăn cướp rồi lại hiếp dâm.
Bởi pháp luật thời kỳ phong kiến, trong đó đặc biệt là hình luật là công cụ hữu hiệu
cho việc cai trị của nhà vua và giai cấp thống trị; mặt khác kỹ thuật lập pháp thời kỳ này
còn thấp nên các ngành luật còn chưa được phân hóa rõ ràng, cho nên hình phạt mới được
sử dụng làm chế tài chung cho các vi phạm pháp luật. Tuy nhiên, những quy định đó 1
cũng có ưu điểm là hướng tới điều chỉnh những quan hệ xã hội liên quan đến mọi mặt của
đời sống của nhân dân, trong đó luôn có sự kết hợp hài hoà giữa luật tục, lễ nghi và tư
tưởng Nho giáo. Tính bao quát và tỉ mỉ của Quốc triều hình luật thể hiện rất rõ khả năng
làm luật rất đặc sắc và chu toàn của nhà làm luật thời Lê vào thế kỷ XV. Sự bao quát tỉ
mỉ đó vừa tạo ra cho bộ luật một sự chặt chẽ, vừa tạo cho nó một tầm vóc tương đối toàn diện.
3.3. Mức hình phạt thường được ấn định một cách chi tiết trong hầu hết các điều khoản
Quốc triều hình luật là bộ luật thành văn nổi tiếng và có giá trị bậc nhất trong cổ
pháp Việt Nam. Bộ luật này gồm 722 Điều, được chia làm 13 Chương, đa phần các điều
luật được xây dựng theo phương thức cả 3 bộ phận là giả định, quy định và chế tài đồng
thời xuất hiện trực tiếp, thậm chí ngay trong cùng một Điều luật. Đa phần các quy phạm
pháp luật trong Bộ luật được xây dựng theo phương thức xuất hiện đầy đủ cả ba bộ phận
là giả định, quy định và chế tài trực tiếp. Quốc triều hình luật có cách quy định chế tài
dưới dạng cố định. Dựa trên nhiều căn cứ như: hậu quả phạm tội, nhân thân người phạm
tội, địa vị xã hội gia đình của người phạm tội, công cụ và phương tiện phạm tội... Với
mỗi một vi phạm cụ thể thì có một hình phạt cụ thể tương ứng; mức độ tăng nặng hay
giảm nhẹ cũng được quy định ngay sau đó một cách cụ thể, rõ ràng. Ví dụ:
Điều 429 Quốc Triều hình luật: “Ăn trộm lần đầu tức là nhân thân còn tốt thì bị lưu
đi châu ngoài. Những kẻ mà đã có tiếng, kẻ trộm tái phạm tức là nhân thân không được tốt thì bị chém”.
Điều 466 Quốc Triều hình luật quy định: “đánh người gãy răng, sứt tai mũi, cột một
mắt, gãy ngón tay, ngón chân, giập xương hay lấy nước sôi lửa làm người bị thương,
rụng tóc thì xử tội đồ làm khao đinh...”.
Điều 283 Hoàng Việt Luật lệ quy định: “phàm đã tiến hành ăn trộm nhưng không
lấy được đồ thì phạt 50 roi miễn xăm chữ... Lấy được đồ thì 1 lạng trở xuống phạt 60 trượng”.
Với cách mô tả hành vi vi phạm pháp luật và chế tài đối với chủ thể thực hiện hành
vi đó rõ ràng như vậy, người dân sẽ biết được hành vi nào nên làm, hành vi nào nên
tránh. Quan khi xử án căn cứ vào tình tiết định khung cũng biết được cần phải xử như thế
nào, mức cụ thể ra sao, không được vượt quá mức tối đa cũng không được dưới mức tối
thiểu. Như vậy việc áp dụng pháp luật đã trở lên dễ dàng hơn, thể hiện rõ tính cụ thể và
tính phân hoá cao trong luật khiến quan lại khi xét xử không thể tự ý tăng nặng hoặc giảm
nhẹ hình phạt, góp phần nâng cao hiệu quả áp dụng hình phạt, hạn chế khả năng phát sinh những hành vi tiêu cực.
3.4. Hình phạt mang tính cứng nhắc
Luật hình ngày nay thường quy định cho mỗi loại tội phạm mức hình phạt nhẹ nhất
tới mức hình phạt nặng nhất để thẩm phán có quyền lựa chọn mức hình phạt thích ứng
với từng tội cụ thể trong giới hạn luật định. Nhưng Quốc triều hình luật đã quy định tỉ mỉ
từng hình phạt cụ thể cho từng hành vi và hậu quả phạm tội cụ thể. Một phần cũng ảnh
hưởng bởi pháp luật Trung Quốc và quan niệm đồng nhất pháp luật với luật hình. Ví dụ Điều 579. 2
Ngoài ra hình phạt còn được quy định chi tiết, tỉ mỉ, cố định trong điều luật căn cứ
vào công cụ, phương tiện phạm tội, nhân thân người phạm tội, địa vị trong gia đình và
trong xã hội của người phạm tội và người bị hại…Đối với trường hợp một người phạm
nhiều tội thì Điều 37 quy định “người nào phạm 2 tội trở lên cùng phát hiện ra một lúc thì
theo tội nặng mà định tội, còn tội nhẹ hơn giảm một bậc. Nếu tội phát Nếu tội phát 4 hiện
trước chưa định, mà tội sau lại phát hiện ra thì cứ theo 2 tội mà xử án, kể tang vật mà định tội”
Quy định hình phạt một cách cứng nhắc và chi tiết như thế có ưu điểm mang tính
khái quát, giúp cho những người áp dụng các quy định về hình phạt một cách dễ dàng vì
hình phạt đã được quy định chi tiết, cố định. Nhưng cũng có nhược điểm đó là không thể
dự tính được hết mọi trường hợp xảy ra.
3.5. Hình phạt tiếp thu mang tính sáng tạo từ Trung Quốc
Hình phạt trong pháp luật phong kiến Việt Nam nói chung và trong Quốc triều hình
luật nói riêng có sự ảnh hưởng của pháp luật phong kiến Trung Quốc. Bởi vì Trung Quốc
là 1 nước lớn và có nền văn hóa chính trị pháp lý cao. Các nước xung quanh trong đó có
nước ta chịu ảnh hưởng 1 phần cũng là điều dễ hiểu. Bên cạnh đó việc nước ta bị phong
kiến phương bắc đô hộ gần 1000 năm, nên trong quá trình xây dựng và phát triển pháp
luật đã tiếp thu một cách sáng tạo, chọn lọc.
Hình phạt trong Quốc triều hình luật cũng giống như hình phạt của pháp luật phong
kiến Trung Quốc, đều mang tính cứng nhắc. Mọi vi phạm đều áp dụng hình phạt. Tuy
nhiên, pháp luật Việt Nam cũng có nhiều điểm sáng tạo. Pháp luật Việt Nam đã tiếp thu
nhóm hình phạt ngũ hình tuy nhiên có sự sáng tạo.
Ngũ hình của Trung Quốc rất hài hoà nếu đặt vào Đại Việt và có sự thay đổi sáng
tạo dựa trên điều kiện địa lý và có sự khác biệt so với pháp luật phong kiến Trung Quốc
và phù hợp với phong tục Đại Việt.
Ví dụ như hình phạt Trượng trong Quốc triều hình luật chỉ áp dụng đối với nam
giới, điều này càng cho thấy sự nhân đạo hơn của pháp luật phong kiến Việt Nam và phù
hợp với phong tục tôn trọng phụ nữ ở nước ta.
Đặc điểm này cho thấy tính sáng tạo của các nhà làm luật phong kiến Việt Nam để
phù hợp với các yếu tố tự nhiên, xã hội của đất nước. Đồng thời thể hiện tinh thần yêu
nước, lòng tự hào dân tộc.
3.6. Một số đặc trưng khác
Ngoài những đặc trưng cơ bản kể trên, hệ thống hình phạt trong pháp luật phong
kiến Việt Nam còn có một số đặc trưng khác. Bên cạnh hình phạt chính, bộ luật còn quy
định các hình phạt bổ sung. Không chỉ sử dụng các hình phạt mang tính chất dã man, tàn
bạo, các nhà nước phong kiến Việt Nam còn sử dụng một số hình phạt mang tính chất
“hành chính” như phạt tiền hoặc cho chuộc tội bằng tiền. Các hình phạt này đều được áp
dụng phổ biến trong Quốc triều hình luật. Đặc điểm này cũng góp phần tạo nên sự cân
bằng cho chế tài hình sự, áp dụng chung cho mọi loại vi phạm. Ngoài ra việc chuộc tội
bằng tiền phần nào đã giảm nhẹ sự hà khắc của hình phạt đối với người phạm tội.
Ngoài ra các quy định về các loại hình phạt thời Lê vẫn mang tính nhân đạo ở
những hình phạt nhất định đối với người phụ nữ. Phụ nữ phạm tội không bị áp dụng một
số hình phạt như trượng hình, riêng lưu hình thì đàn bà chỉ bị đánh roi, thích chữ vào mặt, 3
bắt phải làm việc nhưng không phải đeo xiềng xích như đàn ông; đàn bà phải tội tử hình
trở xuống, nếu đang có thai thì phải để sinh đẻ sau 100 ngày mới được đem hành hình.
Nếu ngục quan làm trái luật thì phải chịu tội.Ví dụ Điều 680.
Một số tội, nếu người phạm tội là phụ nữ thì được giảm nhẹ, như việc xử lý tội ăn
trộm, ăn cướp, mà theo đó, Điều 429, 441 quy định: “Ăn trộm có cầm khí giới thì xử tội
ăn cướp và có giết người thì xử tội giết người. Đàn bà được giảm tội”, hoặc trường hợp
đầy tớ ăn trộm đồ của chủ, nếu là “tớ gái thì được giảm tội”.
Luật cũng quy định một số vấn đề khác liên quan đến phụ nữ, như cấm “lấy thuốc
sảy thai làm người sảy thai, hay là người xin thuốc sảy thai cũng đều xử đồ. Vì sảy
thai mà chết thì người cho thuốc bị xử theo tội giết người” (Điều 424). Với một số tội,
mức xử phạt đối với phụ nữ còn nhẹ hơn đàn ông, chẳng hạn, Điều 450 quy định: “…Kẻ
lạ vào vườn người ta thì xử biếm, đàn bà được giảm một bậc”. Tổng kết: 1. Một số ưu điểm:
- Đã có sự phân biệt về tính chất của hành vi phạm tội, các hình phạt cũng được quy định
với mức độ khác nhau để phù hợp với từng đối tượng cụ thể. Điều này thể hiện sự logic
và khoa học của nhà làm luật lúc bấy giờ.
- Hình phạt trong Quốc triều hình luật góp phần thể hiện tinh thần nhân đạo, những giá trị
tích cực của Nho giáo, có sự chú trọng và áp dụng các nguyên tắc tiến bộ như nguyên tắc
nhân đạo, công bằng,…khi có sự phân biệt các chủ thể phạm tội như trẻ em, người già, phụ nữ,... 2. Một số hạn chế:
- Các quy định về hình phạt còn cứng nhắc với khung hình phạt cố định, không thể bao
quát hết được mọi trường hợp xảy ra trong thực tế cuộc sống. Do đó, tính ứng dụng thực
tế của pháp luật còn hạn chế.
- Các hình phạt trong trường hợp đặc biệt dù đã có sự phân biệt và ưu tiên với những chủ
thể đặc biệt, nhưng vẫn còn những hình phạt rất dã man. Ví dụ như: Lăng trì, khiêu, trảm,...
- Việc áp dụng hình phạt cũng phần nào thể hiện tư tưởng giai cấp, thiên vị tầng lớp
thống trị khi xét đến nhân thân người phạm tội là quan, thần,…nên vẫn chưa hoàn toàn
đạt được sự công bằng. KẾT LUẬN:
Có thể thấy Quốc triều hình luật đã tiếp tục kế thừa và phát huy các điểm tiến bộ
các bộ luật của thời Lý, Trần. Nó là sự pháp điển hóa tư tưởng chính trị và đạo đức Nho
giáo. Quốc triều hình luật là có một bước tiến khá căn bản trong việc cải thiện địa vị của 4
người phụ nữ trong xã hội phong kiến, hình phạt cho phạm nhân nữ bao giờ cũng thấp
hơn so với phạm nhân nam. Tuy nhiên, các điều luật vẫn chưa có tính bao quát cao, chưa
chỉ rõ dấu hiệu đặc trưng của tội phạm mà đi vào mô tả chi tiết hành vi phạm tội và hậu
quả của hành vi đó. Bên cạnh đó, chưa có sự phân hoá rõ ràng giữa các hình phạt trong
các lĩnh vực, chẳng hạn như các chế tài trong lĩnh vực hình sự và dân sự, hành chính chưa
tách bạch với nhau, gây khó khăn trong việc xác định tội và áp dụng.
Quốc triều hình luật là thành tựu lập pháp của nhiều triều vua Lê. Đó là sự kết tinh
văn hoá pháp lý và sự sáng tạo thời Lê Sơ – một thời kỳ rực rỡ và hết sức vẻ vang. Đó
còn là thời kỳ pháp luật được đề cao trong đạo trị nước. Việc xây dựng được bộ luật thể
hiện được nhãn quan chiến lược với tầm nhìn sâu xa, bao quát của vua Lê Thánh Tông
đối với thời cuộc lúc bấy giờ. Có thể thấy Quốc triều hình luật là một giá trị tinh thần,
một thành quả trí tuệ để trở thành tinh hoa văn hóa, tri thức của Việt Nam, xứng đáng
được tiếp tục phát huy trong công cuộc xây dựng nhà nước pháp quyền hiện nay.
CÂU 3. HÃY LÀM SÁNG TỎ TÍNH GIAI CẤP VÀ TÍNH XÃ HỘI CỦA PHÁP
LUẬT NHÀ LÊ SƠ THÔNG QUA QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ HÌNH SỰ
Tính giai cấp của pháp luật nhà Lê sơ được phản ánh thông qua:
2.1. Các nguyên tắc của pháp luật hình sự
2.1.1. Nguyên tắc quân chủ chuyên chế
Như đã đề cập, pháp luật thời nhà Lê tồn tại chủ yếu dưới dạng hình luật. Do đó,
việc duy trì và bảo vệ chế độ quân chủ chuyên chế là nhiệm vụ quan trọng của hình luật
nhà Lê. Đặc điểm cơ bản của chế độ quân chủ chuyên chế là sự tập trung quyền lực vào
nhà vua. Tuy không được thể hiện cụ thể trong điều khoản nào của Quốc triều hình luật
nhưng các quy định về tội phạm và hình phạt đã phản ánh điều đó.
Đầu tiên, phải kể đến sự ảnh hưởng của pháp luật Trung Quốc đến Quốc triều
hình luật, bởi Việt Nam và Trung Quốc vốn có sự giao thoa về văn hóa rất sớm, trải dài
hơn 10 thế kỷ trong đó có văn hóa pháp lý. Trong thời kỳ phong kiến, Trung Quốc là một
quốc gia có nền pháp luật phát triển cao ở khu vực Đông Á. Vì vậy, pháp luật phong kiến
Trung Quốc có ảnh hưởng sâu sắc đến pháp luật phong kiến Việt Nam nói chung và việc
Quốc triều hình luật tiếp thu pháp luật của nhà Đường, nhà Minh nói riêng là lẽ đương
nhiên. Các chế định được vay mượn từ luật nhà Đường, nhà Minh được thể hiện trong
lĩnh vực hình sự với nội dung chủ yếu là đề cao tư tưởng trung quân của đạo Nho, thiết
lập củng cố trật tự phong kiến trong xã hội theo lễ nghi Nho giáo.
Pháp luật hình sự nhà Lê quy định tội thập ác là các tội phạm xâm hại đến các
quan hệ xã hội quan trọng nhất của chế độ phong kiến, quy định chế tài hình sự nghiêm
khắc nhất đối với các tội này và không được giảm nhẹ đối với bất cứ tầng lớp nào. Đó là
các tội được quy định tại Điều 2 QTHL. Có thể thấy, các hành vi nhằm chống lại nhà
nước phong kiến, nhằm đe dọa hoặc xâm phạm đến tính mạng, tài sản và các quyền lợi
của nhà vua đều phải chịu hình phạt tàn khốc 5
Ngoài những điều khoản vay mượn từ pháp luật Trung Quốc, Quốc triều hình
luật còn có 407/722 điều khoản là những điều khoản riêng biệt chỉ có trong bộ luật nhà
Lê. Được phân bổ tập trung nhiều nhất ở các chương như Danh lệ (22 Điều), Vệ cấm (30
Điều),... Sở dĩ có sự khác biệt này là bởi nhiều nguyên nhân nhưng một trong số đó là do
xuất phát từ tình hình chính trị, kinh tế, xã hội lúc bấy giờ khi tầng lớp đại công thần khai
quốc luôn là mối quan ngại của các vua nhà Lê sơ bởi họ có vai trò, thế lực rất lớn. Từ lẽ
đó, trong các điều khoản riêng biệt của Quốc triều hình luật ngay cả quan chức nếu có
hành vi xâm phạm đến sự an toàn của vương quyền cũng bị nghiêm trị với hình phạt tàn
khốc thể hiện qua các điều khoản nhằm hạn chế thế lực ảnh hưởng (Điều 78, 168,...), hạn
chế sự lạm quyền (Điều 49, 150,...) với mục đích buộc họ phải tuyệt đối trung thành, tận tâm với nhà vua.
2.2.2 Nguyên tắc phân hóa trách nhiệm hình sự
Do chịu ảnh hưởng của tư tưởng Nho giáo, cũng như các quan điểm giai cấp hẹp
hòi mà trách nhiệm hình sự trong Quốc triều hình luật không chỉ được phân hóa theo
mức độ nguy hiểm của hành vi cùng các tình tiết khách quan khác như hoàn cảnh,
phương tiện, công cụ, hậu quả, ... mà còn phân hóa theo nguyên tắc mang đậm tính giai cấp tiêu biểu là:
- Phân hóa trách nhiệm hình sự theo địa vị xã hội:
Được thể hiện ở Điều 3 Quốc triều hình luật quy
định tám hạng người được nghị
xét giảm tội (Bát nghị). Đối tượng được nghị xét giảm tội ở đây là những người có địa vị
xã hội cao quý như họ hàng của nhà vua, hoàng thái hậu (nghị thân, nghị tân); những
người thân cận vua, được nhà vua tin cậy (nghị cố); những người có đức, có tài, có công
được nhà vua trọng dụng (nghị hiền, nghị năng, nghị công); những viên quan có chức cao (nghị quý) … Cụ thể:
Căn cứ tại Điều 4 Quốc triều hình luật quy định những người thuộc diện Bát
nghị, trừ khi phạm tôi thập ác, còn nếu phạm vào tử tội thì các quan nghị án phải khai rõ
tội trạng và hình phạt nên xử thế nào, và dâng lên vua để vua quyết định, nếu phạm từ tội
lưu trở xuống thì được giảm một bậc. Như vậy, việc quyết định hình phạt phải căn cứ vào
nhân thân người phạm tội.
Cũng theo Điều 10 Quốc triều hình luật quy định chính sách miễn lao dịch cho
cựu thần công huân phạm tội. Luật này quy định chế độ miễn giảm cho những người từng
có công, trung thành với đất nước, ngoài ra không cho ai được như thế.
Nguyên tắc này thể hiện bản chất giai cấp của Bộ Quốc triều hình luật khi ban
hành các điều khoản ưu tiên cho một số nhóm đối tượng nhất định, với chế độ miễn giảm nhất định.
2.2. Quy định về tội phạm trong Quốc triều hình luật 6
Quốc triều hình luật không ghi nhận định nghĩa pháp lý của khái niệm tội phạm,
mà chỉ quy định những hành vi nhằm đe dọa cho chế độ phong kiến là tội phạm và phải chịu hình phạt.
Theo Quốc triều hình luật, quan hệ giữa người phạm tội và nạn nhân xét về địa vị
xã hội theo lễ giáo phong kiến là yếu tố ảnh hưởng không nhỏ đến mức độ nặng nhẹ của
hình phạt. Sự ảnh hưởng này tuân theo quy luật: Mức độ nguy hiểm của tội phạm tỷ lệ
thuận với địa vị của nạn nhân và tỷ lệ nghịch với địa vị của chủ thể của tội phạm. Thể
hiện ở chỗ cùng là mưu giết người nhưng Bộ Luật chia thành nhiều trường hợp theo giai
cấp như điều 415 quy đinh: “Những kẻ mưu giết người thì xử tội lưu đi châu gần...”
nhưng tại Điều 417 quy định: “Nô tỳ mà mưu giết chủ, thì đều phải tội chém...”
2.3. Hệ thống hình phạt trong Quốc triều hình luật
Hệ thống hình phạt trong Quốc triều hình luật được chia làm 02 loại là ngũ hình và
các hình phạt khác ngoài ngũ hình, trong đó các hình phạt thuộc về ngũ hình giữ vai trò
chủ đạo. Điều này thể hiện rõ tính giai cấp của pháp luật trong quan điểm của các nhà
làm luật thời bấy giờ, đó là việc đánh giá tính nghiêm khắc của từng loại hình phạt cũng
như vai trò của các hình phạt trong việc duy trì trật tự xã hội có lợi cho nhà nước phong kiến.
Các nguyên tắc quyết định hình phạt cũng được phân hóa theo địa vị xã hội của
người phạm tội, điển hình là:
- Nguyên tắc giảm nhẹ hình phạt: Theo nguyên tắc này, những người phạm tội
được giảm hình phạt bị áp dụng hình phạt lưu trở xuống sẽ được giảm hình phạt một bậc.
Tuy nhiên nguyên tắc này không áp dụng với người phạm tội thập ác và những người
được xét giảm phải thuộc trường hợp bát nghị được quy định tại Điều 3 Quốc triều hình luật.
- Nguyên tắc chuộc tội bằng tiền: Theo Quốc triều hình luật, bất kỳ người nào
phạm tội với lỗi vô ý và bị áp dụng hình phạt lưu trở xuống thì được thục tội (thục tội có
nghĩa là chuộc tội bằng tiền).
Quy định về thục tội là một giá trị độc đáo của Quốc triều hình luật. Dưới góc
nhìn của luật hình sự ngày nay thì thục tội có bản chất pháp lý là biện pháp miễn chấp
hành hình phạt. Tuy nhiên, thục tội vẫn chịu ảnh hưởng của sự phân biệt giai cấp khi quy
định những người thuộc hàng nghị thân (như thành viên hoàng tộc, quan lại thân cận,...)
mà phạm tội thì dù với bất kỳ hình thức nào cũng được chuộc tội khi bị áp dụng hình phạt
xuy, trượng, thích chữ vào mặt theo Điều 6. Trong khi nhưng người không thuộc hàng
nghị thân chỉ được áp dụng nguyên tắc chuộc tội bằng tiền khi phạm tội với lỗi cố ý và bị
áp dụng hình phạt lưu trở xuống. Nhận xét: 7
Tóm lại, cũng giống các bộ luật phong kiến khác, Quốc triều hình luật cũng thể
hiện rõ bản chất giai cấp của nó. Ở chỗ, hầu hết các khoản vay mượn từ pháp luật Trung
Quốc trong Quốc triều hình luật dù thuộc lĩnh vực nào cũng nhằm chủ yếu đề cao đức
trung quân, bảo vệ tuyệt đối quan hệ vua tôi, đề cao đạo hiếu đễ, bảo vệ trật tự gia đình
phong kiến. Chỉ một số ít điều khoản trong số đó có liên quan trực tiếp đến cuộc sống của
dân chúng. Tuy nhiên, mục tiêu cuối cùng của những điều khoản trên vẫn là tăng cường
việc tập trung quyền lực nhà nước vào nhà vua, bảo vệ tuyệt đối nhà vua và triều đình.
Xét ở khía cạnh lợi ích của triều đại, sự phục tùng quyền lực của dân chúng, sự
ngưỡng mộ phẩm cách đạo đức chính trị lí tưởng của dân chúng – tất cả đều góp phần
củng cố vững chắc địa vị, quyền lực của nhà vua.
3. Ưu điểm và nhược điểm tính giai cấp của pháp luật hình sự nhà Lê sơ * Về ưu điểm:
- Nhà nước dành nhiều sự ưu ái cho những người từng có công, trung thành với
đất nước nhằm khuyến khích những thế hệ về sau lập nhiều chiến công góp phần xây dựng đất nước
- Tính chất dã man, tàn bạo của hình phạt trong Quốc triều hình luật đã khiến
người dân cảm thấy hỏn lọn, giật gân dẫn đến thái độ tôn trọng pháp luật, không dám
phạm tội, góp phần hạn chế được phần nào các hành vi phạm tội.
- Đã có các điều khoản riêng biệt nhằm hạn chế ảnh hưởng của quan chức đến vị
trí độc tôn của nhà vua với các hình phạt nghiêm khắc * Về nhược điểm:
- Các hình phạt mang tính hà khắc như chém đầu thị chúng, lăng trì (xẻo chậm, róc
thịt cho chết dần), thích chữ đã cướp đi nhiều tính mạng hay bắt tội nhân phải chịu những
hình phạt mà tội của họ chưa đáng phải chịu. Những người phạm tội mặc dù đã hoàn
lương, tự sửa chữa những lỗi lầm của mình nhưng vì những vết tích để lại từ các hình
phạt không thể xoá bỏ đã gây cho họ nhiều mặc cảm, khó hoà nhập với cuộc sống.
Nguyên nhân dẫn đến các quy định hình phạt mang tính tàn khốc đối với người phạm tội
như trên, đặc biệt là các tội phạm liên quan đến việc xâm phạm đến vương vị, vương
quyền là do bộ máy nhà nước cầm quyền theo chế độ quân chủ chuyên chế và sự ảnh
hưởng của tư tưởng Nho giáo xem vua là thiên mệnh;
- Quy định về chuộc tội bằng tiền trong QTHL mặc dù là một chế định nhân đạo vì
bất kỳ người nào phạm tội với lỗi vô ý và bị áp dụng hình phạt lưu trở xuống thì được
thục tội. Tuy nhiên, vẫn có sự phân biệt giai cấp ở việc quy định những người thuộc hàng
nghị thân phạm tội dù bất kỳ hình thức nào (vô ý hay cố ý) thì đều được miễn áp dụng
hình phạt lưu trở xuống (như xuy, trượng, thích chữ vào mặt) và thay bằng chuộc tội
bằng tiền được quy định tại Điều 6 QTHL. Điều này thể hiện tính chất đặc trưng của chế 8
độ phong kiến – nơi mà những người có địa vị xã hội cao, thuộc hàng Bát nghị vẫn được
hưởng những chính sách ưu đãi hơn so với dân thường.
- Pháp luật mang nặng ý chí của giai cấp thống trị thông qua những cải cách của
Lê Thánh Tông bằng tư tưởng chỉ đạo: lớn nhỏ ràng buộc nhau, nặng nhẹ kìm chế nhau,
địa phương gắn liền với trung ương.
III. Tính xã hội của pháp luật nhà Lê sơ thông qua quy định của pháp luật về hình sự
2. Tính xã hội của pháp luật thể hiện qua: 2.1. Chính sách nhân đạo
Hệ thống hình phạt của Quốc triều hình luật thể hiện tính chất nhân đạo khi quy
định riêng mức hình phạt dành cho người phạm tội là phụ nữ và hình phạt đối với phụ nữ
có thai. Theo quy định tại Điều 1 thì hình phạt trượng chỉ áp dụng cho đàn ông và xuy
hình (đánh roi) áp dụng cho cả nam hoặc nữ phạm tội nhưng chủ yếu là cho nữ giới. Còn
đối với phụ nữ đang có thai và 100 ngày sau khi sinh con thì được phép hoãn hình phạt theo Điều 680.
Tính chất nhân đạo của Quốc triều hình luật còn được thể hiện ở các quy định
phản ánh chính sách hình sự khoan hồng đối với những người phạm tội là người già, tàn
tật và trẻ em cũng như đối với người phạm tội chủ động tự thú khi chưa bị phát giác
(Điều 18). Điển hình trong Quốc triều hình luật không quy định một mức độ khoan hồng
chung cho những người già từ 70 tuổi trở lên, trẻ em từ 15 tuổi trở xuống và những người
bị tàn tật mà quy định các mức độ khoan hồng khác nhau tùy theo độ tuổi và mức độ tàn
tật của họ. Sự giảm nhẹ được quy định theo tỷ lệ thuận với độ tuổi của người già và tỷ lệ
nghịch với độ tuổi của trẻ em theo Điều 16. Quốc triều hình luật còn lưu ý đến thời điểm
phạm tội có lợi cho tội nhân khi áp dụng luật tại điều 17.
Biện pháp cho chuộc tội bằng tiền được xem là biện pháp chấp hành hình phạt
mang tính nhân đạo vì đã cho phép những người phạm tội được miễn chấp hành những
hình phạt tàn ác nếu họ đã nộp những khoản tiền chuộc theo quy định. Như đã phân tích,
biện pháp này được quy định áp dụng chủ yếu cho đối tượng được hưởng chính sách hình
sự ưu đãi (bát nghị) và cho các đối tượng được hưởng chính sách hình sự khoan hồng nêu trên.
Quốc triều hình luật cũng quy định các hình phạt đặc biệt nghiêm khắc đối với
những kẻ xâm phạm tính mạng, sức khỏe của người khác tại Điều 479. Điều này thể hiện
pháp luật hình sự thời Lê đã bước đầu phân biệt lỗi cố ý và vô ý, từ đó quy định trách
nhiệm hình sự đối với lỗi cố ý nặng hơn lỗi vô ý.
Bên cạnh bảo vệ các giá trị quyền con người, thời nhà Lê còn đặc biệt chú trọng
đến vấn đề gia đình. Do chịu ảnh hưởng của các quan điểm Nho giáo cùng với đạo hiếu
truyền thống của người Việt, xem gia đình là cơ sở quan trọng bậc nhất để tạo lập kỉ 9
cương và ổn định xã hội, nghiêm cấm sự tố cáo ông bà, cha mẹ theo quy định tại Điều
485, 504 Quốc triều hình luật. Đây là đặc điểm rất đặc sắc của Quốc Triều Hình Luật,
thể hiện rõ ưu thế của đạo đức, ngay cả trong trường hợp có sự xung đột giữa pháp luật
và đạo đức thì đạo đức vẫn được coi là cái gốc để điều chỉnh hành vi của con người.
2.2. An ninh quốc gia, toàn vẹn lãnh thổ
Sau hơn 1000 năm Bắc thuộc, và với cuộc xâm lược của nhà Minh cách đó không
xa là một bài học đắt giá cho dân tộc ta trong việt giữ gìn nền an ninh quốc phòng. Chịu
ảnh hưởng tư tưởng trung quân của Nho giáo, Quốc Triều Hình Luật đưa ra các hình phạt
cho những người phạm vào kỉ cương phép nước và trật tự xã hội, mưu mô làm việc đại
nghịch, mưu mô theo giặc phản nước phải chịu hình phạt cao nhất là xử tử ở Điều 411, 412.
Như vậy, thấy rằng vào thời Lê sơ, ý thức bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ và an ninh Tổ
quốc là một nhu cầu thường trực và quan trọng vì đất nước có yên ổn thì nhân dân mới
được an cư lạc nghiệp.
2.3. Kiểm soát, hạn chế quyền lực quan lại trong hoạt động áp dụng pháp luật
Trong pháp luật hình sự của Quốc triều hình luật có trên 50% tổng số điều luật
quy định về tội phạm liên quan đến quan, tướng các cấp bởi ông cha ta đã sớm nhận thấy
muốn ổn định và phát triển nước nhà, muốn xóa bỏ mâu thuẫn giữa địa chủ và nông dân
thì biện pháp tốt nhất là trừng trị thật nghiêm mọi hành vi phạm tội của quan, tướng các
cấp. Điển hình theo Điều 458 Quốc triều hình luật quy định quan xã phường không kịp
thời truy bắt kẻ cướp tại bản xã, bản phường khi có vụ việc xảy ra thì chịu tội đồ.
Thực tế chứng minh, vua Lê Thánh Tông đã cho xử lý rất nặng đối với các vụ việc
mà người vi phạm là các quan chức của nhà nước. Người thi hành pháp luật cần phải tuân
thủ pháp luật trước tiên, cho nên, thời hạn phải đưa một vụ việc vi phạm pháp luật ra xử
lý được quy định rất cụ thể; đặc biệt, đối với những trường hợp các cá nhân, cơ quan nhà
nước có thẩm quyền quan tâu việc phải có nghĩa vụ tâu trình nhà vua bãi bỏ những điều
gây tổn hại, bất lợi cho dân, nếu biết mà không can ngăn sẽ bị biếm hay bãi chức theo
Điều 625 Quốc triều hình luật.
Xét về nội dung phần các tội phạm trong Quốc triều hình luật thì các điều luật
liên quan đến quan chức các cấp được xem là một đặc điểm nổi bật không chỉ vì chiếm
một tỷ lệ khá cao mà còn vì ý nghĩa của đội ngũ quan chức trong việc đảm bảo trật tự, kỷ
cương cũng như sự ổn định và phát triển của xã hội. Thêm vào đó, các quy định này
được ban hành trong lòng nhà nước phong kiến trung ương tập quyền, nơi mà quyền lợi
của vua cũng như quyền lợi của giai cấp địa chủ phong kiến rất được coi trọng, càng làm
tăng thêm giá trị của Quốc triều hình luật.
2.4. Nguyên tắc “vô luật bất hình” 10
Một trong những nguyên tắc cơ bản của hoạt động xét xử thời Lê Thánh Tông là
nguyên tắc "vô luật bất hình". Tức là khi xét xử, các quan xử án chỉ được truy cứu trách
nhiệm hình sự khi có tội danh đã được pháp luật ghi nhận cụ thể cho hành vi phạm tội
tương ứng, còn nếu hành vi chưa được quy định, chưa có tên trong pháp luật hình sự thì
không được xử lý hình sự, không phải chịu trách nhiệm hình sự. Đây cũng chính là tiền
đề cho nguyên tắc áp dụng pháp luật hình sự hiện đại ngày nay được quy định tại Điều 2
BLHS 2015: “chỉ người nào phạm một tội đã được Bộ luật Hình sự quy định mới phải
chịu trách nhiệm hình sự”.
Theo Điều 685, Quốc triều hình luật quy định việc áp dụng pháp luật đòi hỏi phải
có căn cứ pháp lý rõ ràng, phải là các quy định trong luật chứ không phải là các quyết
định cá biệt. Điều này đảm bảo tính thống nhất trong áp dụng pháp luật, tránh sự tùy tiện
việc áp dụng pháp luật của quan lại. Bên cạnh đó, Điều 683 Quốc triều hình luật cũng
khẳng định rằng Quốc triều hình luật không thừa nhận việc xét xử khi viện dẫn các văn
bản áp dụng pháp luật để luận tội cho dù đó là bản án do vua xét xử.
Việc đảm bảo nguyên tắc này là cơ sở của việc đảm bảo cho pháp luật được thực
hiện trong đời sống xã hội, đảm bảo sự tự do của con người và hạn chế sự xâm phạm lợi
ích của công dân từ phía các cơ quan nhà nước. * Nhận xét:
Pháp luật hình sự dù có hệ thống các hình phạt nghiêm khắc, nhưng vẫn thể hiện
tinh thần nhân đạo khi đã bước đầu phân biệt được lỗi cố ý, vô ý trong quá trình xác định
tính chất của hành vi cũng như truy cứu trách nhiệm hình sự; đề cao nguyên tắc "vô luật
bất hình"; nhân đạo với nhóm người yếu thế trong xã hội, như miễn giảm trách nhiệm đối
với người già, trẻ em, phụ nữ có thai, người tàn tật; trường hợp quan lại bạo hành, tra tấn,
ngược đãi tù nhân bị nghiêm trị.
Các quy định nghiêm khắc áp dụng trong mỗi vi phạm lễ nghi gia đình của Quốc
Triều Hình Luật có tác động rất lớn đến sự tự điều chỉnh hành vi trong gia đình khiến họ
sớm có ý thức về nghĩa vụ, trách nhiệm với bản thân và làm tròn bổn phận ở từng vị trí cụ
thể với gia đình mình. Như vậy, bộ luật đã hỗ trợ đắc lực cho sự giáo dục đạo đức trong
gia đình, trong xã hội, đã dùng pháp luật để xây dựng, củng cố những chuẩn mực và giá
trị đạo đức truyền thống.
3. Ưu điểm và nhược điểm tính xã hội của pháp luật hình sự nhà Lê sơ * Về ưu điểm:
- Các hình phạt được quy định cụ thể, chi tiết gắn với từng hành vi phạm tội trong
từng điều luật. Điều này có ưu điểm làm cho quan xử án không thể tự ý tăng nặng hoặc
giảm nhẹ hình phạt một cách tùy tiện. Từ đó, bảo đảm tính công bằng của pháp luật;
- Cải thiện địa vị của người phụ nữ trong xã hội phong kiến; 11
- Thể hiện tính chất nhân đạo, bảo vệ dân thường trong long xã hội phong kiến. Ví
dụ: Điều 21 quy định số tiền phạt đối với các quan thay đổi tùy theo cấp bậc càng cao thì
số tiền phạt càng lớn, giữa người dân thường và người có phẩm tước thì số tiền phạt đối
với người có phẩm tước cao hơn
- Tư tưởng Nho giáo được đưa vào các điều khoản của pháp luật hình sự góp phần
định hướng hành vi của dân chúng, ổn định trật tự xã hội vì đã kết hợp sức mạnh của tập
quán, lễ nghi trong dân gian với sức mạnh cưỡng chế của Nhà nước. Điển hình theo Điều
136 Quốc triều hình luật quy định những kẻ ương ngạnh ngỗ ngược, không theo giáo
hóa, không giữ lễ của kẻ bề tôi thì xử tội lưu;
- Đề cao tính chính đáng và hợp pháp của quyết định áp dụng pháp luật thông quan
nguyên tắc “vô luật bất hình”
* Về nhược điểm:
- Việc chưa quy định rõ ràng về độ tuổi chịu trách nhiệm hình sự trong QTHL dẫn
đến tùy tiện trong áp dụng khi không quy định mức tuổi tối thiểu phải chịu trách nhiệm hình sự;
- Mặc dù có nhiều quy định tiến bộ trong việc bảo vệ quyền lợi của người phụ nữ
trong xã hội phong kiến nhưng vẫn duy trì sự bất bình đẳng giữa vợ chồng, sự bất bình đẳng trong xã hội;
- Chưa ban hành nhiều quy định về hành vi hiếp dâm trẻ vị thành niên, chỉ duy
nhất một điều luật được ghi rõ ràng về tội ấu dâm trong số 722 điều luật của Quốc triều
hình luật là Điều 404
CÂU 4. HÃY LÀM SÁNG TỎ TÍNH CHẤT BÌNH ĐẲNG THỎA THUẬN TRONG
QUY ĐỊNH VỀ PHÁP LUẬT HỢP ĐỒNG THỜI LÊ SƠ.
Quy định QTHL về hợp đồng và tính chất bình đẳng, thỏa thuận trong quy định
pháp luật thời Lê Sơ.
Để khế ước có giá trị pháp lý phải đáp ứng đủ bốn điều kiện sau:
+ Thứ nhất, điều kiện về chủ thể (Điều 342, 558, 579) -> Các bên tham gia khế
ước đáp ứng được những điều kiện do nhà nước quy định thì được xem là chủ thể của khế
ước. QTHL đã có những quy định về chủ thể có quyền thiết lập khế ước phải là những
người có năng lực chủ thể nhất định.
Khi ký kết hợp đồng thường có hai bên: bên chuyển và bên nhận chuyển tài sản.
+ Chủ thể đem tài sản giao kết hợp đồng phải là chủ sở hữu, tài sản được giao kết
phải thuộc quyền sở hữu của bên chuyển bất kể hợp đồng đó là mua bán, cầm cố, cho
thuê, trao đổi,… Nếu bên chuyển không phải chủ sở hữu tài sản thì giao dịch đó bị xem là
vô hiệu -> Điều 342 QTHL: “Bán ruộng đất của công cấp cho hay ruộng đất khẩu phần,
thì xử 60 trượng, biếm hai tư; truy thu số tiền bán và ruộng đất sung vào của công. Đem
cầm, thì xử phạt 60 trượng và bắt chuộc” .Trường hợp này tài sản không phải của mình
mà thuộc sở hữu nhà nước nhưng lại đem bán. 12
-> Điều 579 QTHL: “Những người nhận của ai gửi súc vật và của cải mà đem
dùng hay tiêu đi thì xử phạt 80 trượng và đền tiền theo như số tổn thất”. Trường hợp này
tài sản thuộc về người khác nhưng lại đem dùng riêng (như bán, cho thuê…)
+ Chủ thể nhận tài sản: có thể là bất kỳ người nào. Tuy nhiên trong một số trường
hợp nhất định nhằm bảo đảm ổn định kinh tế, an ninh quốc phòng, pháp luật nghiêm cấm
người Việt thực hiện các giao dịch với người dân tộc Trung Hoa (nhất là người Man Liêu
ở biên giới phía Bắc Đại Việt) -> Điều 593 QTHL: “Người Kinh không được cho người
Man Liêu vay nợ, trái luật thì xử biếm hai tư; số tiền cho vay phải sung công”
-> Các quy định trên thể hiện sự quan tâm đối với vấn đề chủ sở hữu tài sản chuyển
nhượng, đặc biệt đối với tài sản nhà nước mà người đại diện là nhà vua. Pháp luật cũng
bảo vệ tuyệt đối quyền của chủ sở hữu (bất kể đó là công hữu hay tư hữu).
+ Thứ hai, điều kiện về ý chí
. Về việc ký, điểm chỉ: Theo Quốc triều thư khế thể thức, để hợp đồng phản
ánh đúng ý nguyện của các bên và được pháp luật bảo vệ, nhất thiết phải ghi rõ sự “tự
nguyện” của mình trong hợp đồng (mẫu số 5, số 7…) đồng
thời phải có chữ ký hoặc
điểm chỉ của các bên. Thông qua những quy định này, tính tự nguyện không chỉ phản ánh
ý chí của các bên mà còn cụ thể hóa bằng hành vi (ký, điểm chỉ)
.Nguyên tắc tự do kết ước (Đoạn 2 tr.255 GT)
Bản chất của hợp đồng là sự thỏa thuận ý chí giữa các bên, vì vậy nếu như các chủ
thể tham gia vào quan hệ hợp đồng không được tự do thể hiện những quyết định của
mình, thì đó không phải là hợp đồng và cũng không phải là mối quan hệ mà các nhà lập
pháp muốn xác lập. Các bên tự do thể hiện ý chí của mình, tự do đưa ra các nguyện vọng
của mình và tự do xem xét các điều kiện của bên kia. Theo các nhà lập pháp hiện đại, tự
do ý chí của chủ thể còn được thể hiện bằng sự thống nhất giữa ý chí và sự thể hiện ý chí
của chủ thể tham gia quan hệ hợp đồng. Do đó, đây là một nguyên tắc rất quan trọng cần
phải được bảo đảm khi các bên muốn tham gia vào quan hệ hợp đồng. Trong xã hội mà
sự phân biệt đẳng cấp còn quá lớn, sự tự do, tự nguyện giữa các bên là vô cùng khó khăn
nếu không có một cơ chế pháp lý rõ ràng. Tuy nhiên thông qua các quy định pháp luật về
hợp đồng nhà Lê khi đề cập đến sự bình đẳng, tự do, tự nguyện dường như đã bỏ sang một bên tính giai cấp.
BLDS 2015 hiện nay đã quy định trực tiếp về việc tiến hành nguyên tắc tự do ý chí.
Tuy nhiên đối với pháp luật thời Lê Sơ với vị trí nằm trong giai đoạn đầu tiên của sự hình
thành pháp luật dân sự thành văn, các nhà làm luật lúc bấy giờ chỉ thể hiện nguyên tắc
này một cách gián tiếp qua Điều 355 “Người nào ức hiếp để mua ruộng đất của người
khác thì biếm hai tư và cho lấy lại tiền mua”. -> Trường hợp này người bán không tự
nguyện muốn giao dịch nhưng do chịu ảnh hưởng, sự đe dọa của bên mua mà chấp nhận
khế ước. Do đó, pháp luật quy định giao dịch vô hiệu, người mua phải lấy lại tiền và chịu
xử phạt. Mặc dù không đề cập đến vấn đề giao kết khế ước hay giải thích khế ước như
thế nào, nhưng mọi hành vi lừa dối, cưỡng ép, đe dọa buộc một bên phải tham gia khế
ước trái với ý chí của họ đều khiến khế ước bị vô hiệu và bên lừa dối, cưỡng ép, đe dọa
phải gánh chịu chế tài hình sự. Trong xã hội phong kiến, chủ thể của hành vi vi phạm về
lĩnh vực này chủ yếu là những người giàu có, có quyền thế, có địa vị hoặc thậm chí là các 13
quan cai quản. Nhà làm luật hoàn toàn nhận thức được điều này, bời vì trong xã hội đó
tầng lớp dưới thường là đối tượng bị chèn ép bởi những chủ thể có địa vị cao hơn, điều
này dẫn đến sự bất bình đẳng về mặt địa vị khi giao kết khế ước. Chính vì thế ngoài quy
định tại Điều 355, QTHL còn thêm một quy định tại Điều 638, theo đó: “Các quan cai
quản quân dân cùng nhà quyền quý mà sách nhiễu vay mượn tài sản của dân trong quản
hạt thì khép vào tội uổng pháp và phải trả lại tài sản cho dân”. Quy định này thể hiện sự
quan tâm tới vấn đề con người trong pháp luật phong kiến thời Lê Sơ.
. Nguyên tắc thiện chí, trung thực, ngay thẳng trong giao kết và thực hiện
Khế ước (Đoạn 3 tr 255 GT)
Là nguyên tắc quan trọng đảm bảo cho sự tự nguyện thỏa thuận ý chí giữa các bên
tham gia khế ước. Về nguyên tắc, sự tự nguyện thỏa thuận chỉ đạt được khi các bên có
đầy đủ, trung thực về lượng thông tin cần có khi tham gia giao dịch, và điều này sẽ bị phá
vỡ nếu một bên dùng những thủ đoạn, cách thức để che giấu những gì mà đáng lẽ bên kia
cần biết, hay làm cho bên kia hiểu biết sai lệch những gì vốn có.
Pháp luật thời Lê gián tiếp đề cập đến nguyên tắc này, bằng những quy định trừng
trị nghiêm khắc người có hành vi gian dối, không trung thực trong khi thiết lập khế ước.
Lừa dối là dùng những thủ đoạn xảo quyệt như nói dối, dùng thủ đoạn xấu để làm người
khác hiểu sai sự thật và tham gia giao dịch với mình. Nhà Lê đã có những quy định về
hình thức lừa dối. Thế kỷ XV, nhà nước đã tiêu chuẩn hóa các đơn vị đo lường “Trong
các chợ tại kinh thành và thôn quê, những người mua bán không theo đúng cân, thước,
thăng, đấu của nhà nước mà làm riêng của mình thì xử tội biếm hoặc đồ” (Điều 187
QTHL). Việc kiểm dụng cụ đo lường cũng phải dựa trên những quy chế của nhà nước và
do những viên chức chuyên môn thực hiện một cách thường xuyên, chặt chẽ. Ngoài ra,
nhà Lê cũng chú trọng tới việc bán hàng phải đúng tiêu chuẩn, chất lượng phải phù hợp
với chủng loại hàng hóa. Điều 191 QTHL quy định những người làm đồ khí dụng giả dối
và vải lụa ngắn hẹp để đem bán thì bị tội xuy đánh 50 roi, biếm một tư, hàng hóa phải
xung công. Không chỉ đòi hỏi sự trung thực của người bán, người thợ, QTHL còn nghiêm
trị đối với tất cả đối tượng khác có hành vi gian dối trong việc xác lập khế ước: Điều 377
Nhà nước trừng trị người chồng sau mạo tên con người chồng trước mà bán điền sản;
Điều 382 Người bán ruộng đất không thuộc quyền sở hữu của mình…
+ Thứ ba, nội dung của khế ước phải phù hợp với quy định của pháp luật (Điều
73, 74, 75, 76) -> Các bên được quyền thỏa thuận khi giao kết khế ước tuy nhiên khế ước
có thể trái pháp luật khi các bên thỏa thuận những nội dung mà pháp luật cấm hoặc các
bên thỏa thuận những nội dung vượt quá giới hạn pháp luật cho phép. Chẳng hạn quy
định tại các điều 73, 74, 75, 76 nghiêm cấm việc mua bán, cầm cố, trao đổi tài sản là vũ
khí, sản vật quý hiếm (các loại sừng tê giác, ngà voi, trân …), những người bán ruộng đất
ở bờ cõi, nô tỳ và voi ngựa cho người nước ngoài đều phải chịu tội chém.
Đối với khế ước cho vay, các bên không được thỏa thuận mức lãi suất vượt quá giới
hạn cho phép của pháp luật. => Cụ thể tại Điều 587 BLHĐ quy định: “Cho vay nợ hay
cầm đồ đạc mỗi tháng được ăn lời là 15 tiền kẽm mỗi quan. Dù lâu năm cũng không 14
được tính quá một gốc một lời, trái luật bị biếm một tư, mất tiền lời. Nếu tính lời vào gốc
rồi bắt làm văn khế thì bị xử tội nặng thêm một bậc”. và Điều 638: “Các quan cai quản
nhân dân cùng những nhà quyền quý nếu đem của cải đồ vật của mình cho dân vay
mượn, để lấy giá cao hay lãi nặng thì cũng xử tội như thế; những của cải đồ vật ấy phải
bị tịch thu sung công” Điều này nhằm tránh tình trạng lợi dụng lúc túng thiếu của người
cầm cố, vay tiền, cũng như quan lại hay người giàu có lợi dụng quyền thế bức hiếp, bóc
lột người nghèo khổ đi cầm cố. Lưu ý rằng Điều 587 quy định dù lâu năm cũng không
được tính quá một gốc một lời nên người cho vay chỉ thu tiền lãi bằng tối đa tiền gốc.
+ Thứ tư, điều kiện về hình thức của khế ước phải phù hợp với quy định pháp
luật (Điều 366)-> Nếu loại HĐ nào pháp luật không bắt buộc về mặt hình thức thì có thể
thỏa thuận bằng miệng (khẩu ước) hoặc văn bản (văn khế, văn tự). Tuy nhiên đối với 1 số
loại HĐ mà pháp luật (mà cụ thể là QTTKTT) quy định phải lập thành văn bản thì phải
tuân theo như khi giao dịch các loại tài sản như đất đai, nhà cửa, trâu bò bắt buộc phải lập
thành văn bản nếu ko sẽ ko có giá trị pháp lý.
QTHL về nội dung có những sự tham khảo theo pháp luật nhà Đường và nhà
Minh của Trung Quốc, tuy nhiên đồng thời QTHL cũng có những sự cải tiến, sáng tạo
hơn. Ví dụ như trong luật nhà Đường, nhà Minh không nói rõ về cách thức các văn tự,
chứng thư, chúc thư. Những điều này lại được quy định rất rõ trong Quốc triều hình luật,
điều này thể hiện một sự tiến bộ, sáng tạo của các nhà làm luật trong giai đoạn này. Cụ
thể lập HĐ bằng văn bản buộc các bên chủ thể phải là người biết chữ; trường hợp một
trong hai hoặc cả hai bên không biết chữ thì việc ký kết hợp đồng phải được tiến hành
trước mặt xã trưởng, cụ thể là phải nhờ quan trưởng trong làng viết hộ và làm chứng
(Điều 366 BLHĐ) -> Quy định này cho thấy, pháp luật Lê đã có những quan niệm bước
đầu về việc công chứng, thể hiện sự quản lý của nhà nước đối với một số loại tài sản, khế
ước nhất định. Vì phần lớn cư dân Việt Nam thời phong kiến đều mù chữ nên quy định
như trên là cần thiết để bảo đảm tính khách quan của khế ước cũng như bảo vệ những
người nông dân nghèo khỏi sự lừa dối khi giao kết khế ước. Do đó vai trò của người quan
trưởng, người viết thay, người làm chứng vô cùng quan trọng.
CÂU 5. HÃY ĐÁNH GIÁ NHỮNG ĐIỂM TIẾN BỘ VỀ QUY ĐỊNH THỪA KẾ TRONG QTHL.
* Thừa kế theo di chúc (Thừa kế theo chúc thư)
(1) Điểm tiến bộ về việc thừa nhận và đề cao ý chí của người để lại di chúc.
Tại Điều 390 Quốc triều hình luật “Người làm cha mẹ phải liệu sẵn tuổi già mà lập chúc thư” BLDS: Đ. 609 15
Điểm tiến bộ: sớm quyết định về khối di sản của mình tránh việc tranh chấp sau khi
người đó mất Thừa nhận tuyệt đối ý chí của người để l
ại di sản tức là việc phân chia di
sản sẽ phụ thuộc vào ý chí của người chết thể hiện qua di chúc.
Nguyên nhân: Khi vua LTT lên ngôi thì trước đó ông đã chứng kiến nhiều cuộc binh biến
tranh giành gia sản lớn nhất dó là ngôi vua
hiểu được tầm quan trọng của di sản khi
không có di chúc và ý chí của người chết khi để lại di chúc đó.
(2) Điểm tiến bộ thứ hai là hình thức của di chúc
2.1. Di chúc bằng văn bản
Hình thức của di chúc được quy định tại Điều 366 QTHL “những người làm chúc thư,
văn khế mà không nhờ quan trưởng trong làng viết thay và chứng kiến thì phải phạt 80
trượng, phạt tiền theo viê ‰c nă ‰ng nhẹ. Chúc thư, văn khế ấy không có giá trị. Nếu biết chữ
mà viết lấy thì được”. Người không biết chữ phải nhờ trưởng thôn viết và làm chứng nếu
ko thì di chúc vô. Nếu người lập di chúc biêt chữ thì không cần người viết và làm chứng,
di chúc vẫn phát sinh hiệu lực
Luật triều nhà Trần: “…phàm làm chúc thư… nếu là giấy tờ về ruộng đất, vay mượn thì
người làm chứng in tay ở ba dòng trước, người bán in tay ở bốn dòng sau”
Đánh giá sơ bộ: Nhà Trần khá sơ sài, đến nhà Lê đã tiến bộ hơn và phù hợp đến hiện nay Nguyên nhân?
Thời Lê sơ nước ta sử dụng hệ thống chữ viết của TQ
khó học và tiếp cận số lượng
người biết chữ rất ít
Phải có người làm chứng (đại diện của NN) chứng nhận sự xác
thực của di chúc trg trường hợp người lập di chúc ko biết chữ. Điểm tiến bộ:
Đề cao vai trò của NN trong việc điều chỉnh các mối quan hệ dân sự NN phong kiến ít
can thiệp vào vấn đề dân sự nhưng nhà nước Lê sơ đã có sự tiến bộ khi có sự điều chỉnh tiến bộ
Đề cao trách nhiệm của cá nhân với khối di sản mà mình mong muốn để lại Trách
nhiệm của người để lại di sản mà không biết chữ là phải nhờ cậy NN xác minh về ý chí
của mình với khối di sản, không được tùy tiện nhờ vả người biết chữ khác tránh tình
trạng giả mạo tranh chấp giữa con chấu
thậm chí là gtranh chấp gia tộc mất an ninh 16
Bảo đảm môi trường dân sự trong lành và khiến cho phong tục cũn vì thế ngày càng thuần hậu hơn 2.2. Di chúc miệng
Quy định hiện hành Đ.629 BLDS
Theo QTHL tại Điều 388 “Nếu có đã có lệnh cha mẹ và chúc thư, thì phải theo đúng, trái
thì phải mất phần mình”
Hỏi: Mn hiểu như nào?
Trả lời: Theo QTHL thì hình thưc
di chúc miệng được thể hiện qua “lệnh cha mẹ” và các đồng thừa kế (con cháu) phải tuân
theo ai (các đồng thừa kế) làm trái s
ẽ bị xem là bất hiếu và bị truất quyền thừa kế. Đánh giá sự phù hợp:
Nguyên nhân và điểm tiến bộ:
Hiện nay, dù đã trải qua hàng nghìn năm lịch sử nhưng di chúc miệng vẫn tồn tại bởi lẽ
người dân ở nông thôn khi về già thường phân chia di sản của mình dươi hình thức công
khai trước họ hàng, người thân về sự định và thường từ chối lập di chúc bằng văn bản.
Điều này quay về những thế kỷ trước khi QTHL đang có hiệu lực lại càng đúng hơn bởi
thời điểm này số lượng người dân biết chữ rất ít nên hình thức di chúc miệng được ưa
chuộng và trở thành nếp sống dân sự cho đến hiện tại. Việc QTHL thừa nhận di chúc
miệng đã thể hiện sự tiến bộ khi trước đó ở Luật nhà Lý, Trần chưa có sự thừa nhận về di
chúc miệng thì QTHL đã thừa nhận thể hiện sự phù hợp với nền kinh tế nông nghiệp ở thời điểm đó
phù hợp giữa kiến trúc thượng tầng và cơ sở hạ tầng. Sự phù hợp trên
cũng được xem là điểm tiến bộ bởi sự “phù hợp” này vẫn được lưu truyền đến thời điểm
hiện tại khi BLDS 2015 vẫn thừa nhận di chúc miệng.
(3) Áp dụng các chế tài dân sự xử phạt những hành vi vi phạm tính minh bạch,
trung thực trong thừa kế nhằm thu lợi bất chính.
Theo QTHL: Đ.354 “…tranh giành nhà đất thì phải biếm hai tư. Nếu đã có chúc thư mà
còn cố tranh giành thì cũng xử biếm như thế và phải tước mất cả phần của mình nữa…”
các bạn hiểu ntn??? Trả lời: Nếu tranh chấp thừa kế xảy ra giữa những người thừa
kế thì bên có lỗi sẽ bị biếm hai tư và khi xét ra phần tranh chấp đã có chúc thì bên có lỗi
chịu thêm chế tài tước mất phần đáng lẽ mình được hưởng. Biếm hai tư theo QTHL nghĩa
là bị phạt thêm 60 trượng
Chế tài dân sự theo BLDS: Hiện nay chưa có quy định về việc nếu có người hoặc đồng
thừa kế làm sai di chúc sẽ bị xử phạt như thế nào mà sẽ xử lý theo con đường Tòa án 17
nếu phân chia di sản sai thì phải kiện ra Tòa và yêu cầu Tòa vô hiệu văn bản phân chia di sản thừa kế. Điểm tiến bộ:
Hình phạt ở thời Lê sơ mang nă ‰ng tính chất trừng trị và áp dụng không chỉ hình sự mà
còn trong các lĩnh vực khác như dân sự, hôn nhân gia đình, tố tụng… Tuy nhiên hình
phạt (chế tài) ở chế định thừa kế đã giảm đi tính khắc nghiệt của hình luật vừa thể hiện
tính răn đe vừa thể hiện tính chất dân sự
khi không thực hiện theo chúc thư sẽ vừa có
chế tài hình sự nhưng nhẹ (đánh thêm 60 trượng) và cả chế tài dân sự (tước phần thừa kế)
Quy định này hạn chế tối đa tranh chấp sai trái và tăng tính đoàn kết gia đình bởi lẽ nếu ai
có ý định làm sai lời di huấn cha mẹ phải cân nhắc vì sẽ đối mặt với thực tế: ngoài mất
phần thừa kế còn phải chịu hình phạt theo luật định.
Quy định này thực hiện được các mục đích: ổn định trật tự gia đình, duy trì an ninh, trật
tự xã hội, củng cố thuần phong mỹ tục, chống các hành vi nguy hại cho xã hội từ trg gia
đình cần được các nhà lập pháp đương
đại tiếp thu, nghiên cứu, vận dụng vào đời sống dân sự hiện nay.
*Thừa kế theo pháp luật (mở thừa kế theo pháp luật):
Không chỉ quy định về thừa kế theo chúc thư, nhà lập pháp triều Lê sơ còn đề ra
các giải pháp nhằm ngăn chặn hiệu quả những tranh chấp về di sản trong trường hợp
người quá cố không lập t chúc thư hoặc không kịp lập chúc thư hay có thể có chúc thư
nhưng không hợp pháp vì vi phạm các điều kiện tại Điều 366.
(1) Chế định thừa kế theo PL và di sản dùng vào việc thờ cúng
Trong trường hợp này thì Quốc triều hình luật cho phép những người thừa kế thỏa
thuận chia di sản của cha mẹ nhưng không được trái với pháp luật, cụ thể phải trích 1/20
của tổng số di sản làm phần hương hỏa thờ cúng người để lại di sản. Theo luật định, con
trai trưởng là người được thừa kế ruộng hương hỏa: “Cha mẹ mất cả, có ruộng đất, chưa
kịp để lại chúc thư, mà anh em chị em tự chia nhau, thì lấy một phần 20 số ruộng đất làm
phần hương hỏa, giao cho người con trai trưởng giữ, còn thì chia nhau” (Điều 388). Điều 388
TƯƠNG TỰ: điểm a, b khoản 1 Điều 650
Điều 388 – “lấy một phần 20 số ruộng đất
Điều 645 – “Di sản dành dùng vào việc làm phần hương hỏa” thờ cúng”
nhà lập pháp khẳng định quyền sở hữu tuyệt đối về tài sản của người để lại di
sản được Nhà nước bảo hộ. Nhà nước đứng ra giúp đỡ người có di sản phân chia khối tài 18
sản mà lúc sống họ kịp chia. Trong phân chia di sản Nhà nước buộc những người thừa kế
phải trích lại một phần tài sản để thờ cúng người để lại di sản và tìm mọi cách nhằm duy
trì phần tài sản đó mãi mãi. Đây là một giải pháp có tính chất tâm linh nhưng lại là yếu tố
bảo đảm sự gắn kết gia đình trong truyền thống uống nước nhớ nguồn và trật tự gia
phong đã hình thành từ rất lâu trong đời sống của dân tộc.
(2) Truất quyền thừa kế
Nếu con trai trưởng bị phế tật (tàn tật) hoặc phá tán gia sản không thể thờ cúng
được cha mẹ thì luật cho phép chọn con thứ (Điều 389, Điều 392).
Điều 389, Điều 392 – “phá tán gia sản
Tương tự tin thần Điều 621 – “Người
không thể thờ cúng được cha mẹ thì luật
không được quyền hưởng di sản”. cho phép chọn con thứ”
(3) Thừa nhận quyền thừa kế của phụ nữ và có quyền thờ cúng ông bà tổ tiên
Trong thừa kế ruộng hương hỏa, pháp luật ưu tiên quyền thừa kế cho con của vợ
cả, ngành trưởng (Điều 389) và cho nam giới (các Điều 392, 393, 396, 398). Tuy nhiên,
nếu “Người giữ hương hỏa có con trai trưởng thì dùng con trai trưởng, không có con trai
trưởng thì dùng con gái trưởng, ruộng đất hương hỏa thì cho lấy một phần hai mươi” (Điều 391).
Điều 609 “Cá nhân có quyền hưởng di sản Điều 391
theo di chúc hoặc theo pháp luật”
Điều 610 “Mọi cá nhân đều bình đẳng về
quyền hưởng di sản theo pháp luật”
Nhà lập pháp tuy trong thời đại phong kiến và đặc biệt là nhà Lê sơ chịu sự ảnh
hưởng sâu sắc của Nho giáo nhưng vẫn có quy định tiến bộ: thừa nhận quyền thừa kế của
phụ nữ và quyền được thờ cúng của họ
quy định vượt lên trên sự hạn chế của Nho
giáo là sự không tôn trọng phụ nữ thể hiện sự tiến bộ của QTHL t rg chế định thừa kế.
Sự tỉ mỉ trong lập pháp về thừa kế theo pháp luật đã cho thấy mối quan tâm đặc
biệt của nhà lập pháp triều Lê sơ trong tìm kiếm các giải pháp điều chỉnh quan hệ tình
cảm gia đình với mong muốn duy trì tế bào của xã hội trong trạng thái lành mạnh giúp
cho xã hội phát triển ổn định. 19
(4) Sự tiến bộ khi pháp luật bảo vệ bên yếu thế trong quan hệ thừa kế
Trong thừa kế theo pháp luật, người thừa kế phải là con cháu, nếu không có con
cháu thì mới chia cho cha mẹ. Về cơ bản vợ, chồng không phải là người thừa kế của
nhau. Tuy nhiên, pháp luật quy định thì được hưởng một phần di sản để sống hết đời mình.
Tiến bộ về sự nhân đạo khi bảo vệ bên yếu thế trong cuộc hôn nhân vợ góa,
hoặc chồng góa không có người nương tựa khi cuộc hôn nhân kết thúc do một bên mất
thì bên còn lại vẫn có quyền được hưởng gia sản
sự tiến bộ được thể hiện khi ở thời
điểm phong kiến nhưng bên yếu thế trong quan hệ dân sự đã được nhà lập pháp chú ý đến
và cho đến hiện nay thì hệ thống dân luật vẫn luôn là “cánh tay” để giúp đỡ các bên yếu thế trg quan hệ dân sự.
(5) Thừa nhận thừa kế thế vị
Khi mở thừa kế theo pháp luật, di sản được chia cho các con của người chết. Nếu
người con nào đã chết thì phần của người con chết đó được chia cho các con của người
đó (tức cháu). Trường hợp này được gọi là thừa kế thế vị trong pháp luật đương đại (Điều 374).
Điều 374 - người con nào đã chết thì phần
Điều 652 – Thừa kế thế vị
của người con chết đó được chia cho các con của người đó Thừa kế thế vị?
Là trường hợp con cháu của người thừa kế thế vào vị trí của
người thừa kế để hưởng di sản do người quá cố để lại.
Sự tiến bộ: Nhà lập pháp đã dự đoán được việc sẽ có việc người thừa kế mất và di
sản sẽ không tìm được ai thừa kế
sự tiến bộ khi nhà lập pháp quan tâm và dự đoán
được trường hợp trong quan hệ dân sự mà đến nay vẫn được giữ trong BLDS.
(6) Thừa nhận tài sản chung riêng của vợ chồng trong quan hệ thừa kế
=> Quyền sở hữu về tài sản của vợ chồng với ba loại: tài sản của chồng, của vợ có
trước hôn nhân và của hai vợ chồng tạo ra trong hôn nhân (Điều 375 Quốc triều hình
luật) cũng có thể được dùng làm tài sản chia thừa kế cho thấy trường hợp hôn nhân không
có người nối dõi (không có con) mà người chết trước không để lại di chúc thì nếu chồng
chết trước vợ, tài sản riêng của chồng sẽ được chia làm 2 phần bằng nhau, một phần dành
cho người trong họ nhà chồng để lo việc tế tự, phần còn lại dành cho vợ để phụng dưỡng 20