



















Preview text:
CÔNG TY: VỐN, QUẢN LÝ VÀ TRANH CHẤP THEO LUẬT
DOANH NGHIỆP 2005
Được xuất bản theo hợp đồng sử dụng tác phẩm tại Việt Nam giữa tác giả
Nguyễn Ngọc Bích và công ty TNHH Sách Phương Nam
Mọi sao chép, trích dẫn phải có sự đồng ý bằng văn bản của công ty TNHH Sách Phương Nam LỜI NÓI ĐẦU
Quyển sách quý vị đang cầm trong tay là công việc tiếp nối của một
quyển sách, do một trong hai chúng tôi soạn, có tựa là Công ty cổ phần:
Vốn và Quản lý, xuất bản cuối năm 1999, sau đó được tái bản một lần,
và một ấn bản mới ra đời năm 2003. Các quyển sách ấy đáp ứng nhu cầu xuất hiện vào lúc đó.
Quyển sách này cũng có cùng mục đích như ba quyển cũ, nhưng đáp
ứng các yêu cầu khác xuất hiện kể từ khi có Luật Doanh Nghiệp ban
hành năm 2005. Các yêu cầu mới là: những khái niệm và định chế đã tồn
tại ở các nước đã khá lâu mà nay do nhu cầu hội nhập chúng ta bị buộc
phải đem vào; việc thực hiện luật công ty kể từ năm 1990 đến nay đã để
lại một số thực tiễn mà bây giờ có thể trình bày để độc giả có thông tin
áp dụng trong hoàn cảnh của mình; cuối cùng là những sửa đổi của LDN
2005 so với LDN 2000 trong cố gắng thống nhất hóa các loại hình doanh nghiệp.
Cho các mục đích trên, hai chúng tôi viết chung quyển này để trình
bày vừa lý thuyết vừa thực tiễn của định chế công ty ở ta, cho đến giữa năm 2008.
Cách trình bày của chúng tôi không thay đổi so với các lần trước. Đó
là cố gắng trình bày các khái niệm gốc rễ của từng đề tài; vì “cây công
ty” của chúng ta mới có 18 tuổi, muốn cải tiến nó thì không thể lấy ngọn
của “cây cổ thụ” của các công ty ở nước ngoài, vốn đã cả trăm tuổi, để
ghép ngọn vào cây của ta. Công ty là thành quả của con người, để phát
triển nó cần các yếu tố như: tư duy nhất định, luật lệ phù hợp, các
phương tiện vật chất thích ứng và - quan trọng nhất - tâm lý phù hợp của
tất cả những người có liên quan, cả ở bên ngoài lẫn bên trong công ty.
Các yếu tố ấy không cho phép đốt giai đoạn khi bắt chước hay sáng tạo
có tính kế thừa mà chỉ có thể rút ngắn thời gian nhờ đi sau nên học hỏi
được những thất bại của người trước. Một định chế phức tạp như thế
không cho phép ai “đi tắt, đón đầu”.
Với mục đích và cách làm trình bày ở trên, quyển sách này có năm
phần, đi theo một tuần tự như sau. Thoạt đầu, Phần một, chúng tôi trình
bày công ty là gì, nó có những tính chất căn bản nào? Tiếp theo, Phần hai,
chúng tôi trả lời câu hỏi: công ty huy động vốn từ đâu, và nền kinh tế đáp
ứng các yêu cầu về vốn liếng của nó như thế nào? Sau đó, Phần ba,
chúng tôi trình bày các cách quản lý và điều hành của nó, dựa trên luật, có
so sánh và nêu lên các khái niệm mới du nhập. Trong Phần bốn, chúng tôi
trình bày cách thức mà công ty được quản trị một cách khoa học. Và cuối
cùng là ghi lại một số vụ tranh chấp trong các công ty đã diễn ra. Trong
khi trình bày, chúng tôi có thêm các thực tiễn thích hợp. Mục đích và khó
khăn của mỗi phần được trình bày khi mở đầu.
So với các sách hiện nay cùng chủ đề xuất bản tại Anh, Mỹ thì quyển
này không có cách trình bày giống họ. Họ trình bày và sắp xếp các nội
dung trên nền tảng của việc chỉ đạo công ty (corporate governance). Như
độc giả sẽ biết khi đọc Phần bốn, việc chỉ đạo công ty chỉ có thể thực
hiện ở trình độ quản trị hiện đại. Công ty của chúng ta - đa số - chưa lên
đến trình độ quản trị theo khoa học, cho nên nếu sắp xếp nội dung của
quyển sách này như ở nước ngoài thì chưa phù hợp vì độc giả khó nắm
bắt vấn đề được trình bày, lại còn hoang mang, giống như đang còn tập
bơi ở hồ tắm sâu một thước thì bị ném ra sông lớn.
Khi trình bày về vốn, quản lý và tranh chấp, chúng tôi chỉ lấy khung
cảnh của công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên và công ty cổ phần,
vì các loại hình khác không tương đồng về tính chất với hai loại hình trên
trong ba chủ đề của quyển sách. Tuy vậy, khi trình bày về thực tiễn của
công ty, chúng tôi có đề cập các công ty cổ phần hóa, tức là các công ty đã
chuyển đổi loại hình từ doanh nghiệp nhà nước sang công ty cổ phần.
Quyển sách chắc chắn sẽ không có hình thức như quý vị đang thấy,
nếu không có sự tài trợ của Công ty Luật hợp danh DC; mà nhờ đó chúng
tôi đã có thể đề nghị nhà xuất bản Tri Thức và nhà phân phối là Công ty
Cổ phần Văn hóa Phương Nam định một giá nào đó để sao cho quyển
sách đến tay các bạn sinh viên càng nhiều càng tốt.
Quyển sách này chắc chắn cũng không có nội dung như quý vị sẽ đọc
nếu không có sự trợ giúp quý báu của các vị đã giúp đỡ chúng tôi trong
quá trình soạn thảo và thu thập tài liệu. Hai anh em chúng tôi không thể
“tự lực cánh sinh” khi soạn thảo! Cho nên chúng tôi xin được chuyển lời
cảm ơn chân thành đến một số đồng nghiệp trẻ - ở Hà Nội, luật sư Đậu
Anh Tuấn, thạc sĩ Phan Đức Hiếu; ở TP. Hồ Chí Minh, luật sư Trần Thị
Minh Xuân - về sự giúp đỡ mà các anh chị đã dành cho chúng tôi.
Chúng tôi mong muốn được trình bày nhiều nhất lên độc giả như có
thể được nhờ hoàn cảnh may mắn của mỗi người khi làm việc và sự học
hỏi không ngừng của mình. Tuy nhiên cố gắng và mong muốn là một lẽ,
sai sót ắt sẽ có ở đây, lại là một chuyện khác. Chúng tôi xin nhận trách
nhiệm và mong độc giả chỉ giáo.
Hà Nội và TP. Hồ Chí Minh, tháng 11 năm 2008
Nguyễn Ngọc Bích
Nguyễn Đình Cung BẢNG CHỮ TẮT
Trong quyển sách này, một số từ viết tắt dùng trong nhiều chương
được ghi dưới đây. Ngoài ra trong mỗi chương có một vài chữ tắt nhất
định và chúng chỉ được ghi trong các chương ấy. BĐL Bản Điều lệ BGĐ Ban Giám đốc BKS Ban Kiểm soát BQL Ban Quản lý CT
Chủ tịch Hội đồng quản trị CTCP Công ty cổ phần
Công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở CTTNHH2/TNHH2 lên ĐHĐCĐ
Đại hội đồng cổ đông
Bản điều lệ mẫu áp dụng cho các công ty niêm ĐLM yết DNNN Doanh nghiệp nhà nước DNTN Doanh nghiệp tư nhân GCNĐKKD
Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh GĐ Giám đốc HĐQT/HĐTV
Hội đồng quản trị/ Hội đồng thành viên LDN Luật Doanh nghiệp LDS Luật Dân sự QĐT Quỹ đầu tư TGĐ Tổng Giám đốc TNHH Trách nhiệm hữu hạn TNHH1
Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên TTCK Thị trường chứng khoán
Thành viên Hội đồng quản trị/Thành viên Hội
TVHĐQT/TVHĐTV đồng thành viên UBCKNN
Ủy ban Chứng khoán Nhà nước UBGDCK
Ủy ban Giao dịch Chứng khoán (của Mỹ) XNQD Xí nghiệp quốc doanh PHẦN MỘT THUỘC TÍNH CỦA CÔNG TY CHƯƠNG MỘT
Sự hình thành của công ty trong lịch sử và theo thực tế
Cách tìm hiểu
Công ty đề cập trong sách này là công ty trách nhiệm hữu hạn hai
thành viên trở lên (“CTTNHH2”) và công ty cổ phần (“CTCP”).
Chúng tôi không xem xét các loại hình khác của định chế công ty
ở ta vì khi nói về chúng trong ba lĩnh vực: vốn, quản trị và tranh
chấp thì tính chất của chúng khác nhau. Và do có phần tranh chấp
ở đây nên chúng tôi thêm CTTNHH2 ngoài CTCP đã có sẵn.
Trong phần này, chúng ta xem xét thuộc tính của công ty để hiểu
những lý do làm nền tảng cho các quy định về vốn, quản lý và
về các tranh chấp trong nội bộ công ty; đặc biệt là tính trách
nhiệm hữu hạn mà luật dành cho những người bỏ vốn vào công
ty. Một mục đích nữa ở đây là giải thích các khái niệm cơ bản và
sự phát triển của các loại hình công ty.
Chúng ta xem qua sự hình thành của định chế công ty trong lịch
sử thế giới, lịch sử Việt Nam và lý giải nó theo thực tế, sau đó
đến các thuộc tính, rồi đến các văn kiện pháp lý cấu tạo nên
công ty theo Luật Doang Nghiệp (LDN) 2005.
I. SỰ HÌNH THÀNH CÔNG TY TRONG LỊCH SỬ THẾ GIỚI
Theo những nghiên cứu mới nhất về CTCP [1] thì loại hình công ty
này là một ý tưởng cách mạng diễn biến theo một quá trình rất dài, thậm
chí đã có ngay từ 3.000 năm trước Công nguyên, từ người Assyria,
Phoenicia rồi người Hy Lạp. Họ đã lập ra những tổ chức để kinh doanh
thương mại ở vùng Địa Trung Hải.
Đến thời của người La Mã, tầng lớp quý tộc lập ra những societas
(hội xã) lúc đầu là để phụ các hiệp sĩ thu thuế nông nghiệp, sau đó là để
đi chinh phục các lãnh thổ và đúc khí giới, áo giáp cung cấp cho các đoàn
quân viễn chinh. Các societas không thay đổi nhiều mà chỉ là những nhóm
tập hợp các cá nhân với các hợp đồng thu thuế ngắn hạn. Ở tầng lớp thứ
dân, những người thợ thủ công và thương gia mở các collegia hay corpora
(công ty), tự bầu ra người quản lý và được cấp phép hoạt động. Theo
William Blackstone, luật gia vĩ đại vào thế kỷ XVIII của Anh, vinh dự
phát minh ra corpora hoàn toàn thuộc về người La Mã. Họ đã đưa ra
những khái niệm nền tảng về luật lệ công ty, nhất là ý tưởng một nhóm
người họp lại với nhau tạo nên một thực thể tách rời khỏi họ. Họ nối
kết công ty với gia đình (familia) tạo ra đơn vị căn bản của xã hội. Các
socii (người cộng tác hoặc đối tác) giao một số lớn quyền quản lý cho
các magister (thầy), để lớp người này điều khiển những người được họ
ủy quyền tại các địa phương và lập báo cáo. Công ty đấy cũng có một
hình thức trách nhiệm hữu hạn nào đó.
Sau khi đế quốc La Mã sụp đổ, Hồi giáo với thế giới Ả Rập nổi lên
và phát triển. Tiếp theo sau là Trung Quốc. Tuy nhiên, tại những nơi này,
người ta đã không thiết lập được những tổ chức giống như công ty, nên
đã không phát triển lên hơn được mà trái lại tàn lụi dần.
Trong thời Trung cổ, có hai tổ chức do người La Mã để lại đã được
phục hồi. Đó là giới thương gia tại Italia và các công ty của họ, cùng các
guild (phường hội) được chính quyền cấp phép tại miền bắc Âu châu.
Tại Italia, từ thế kỷ thứ 9 trở đi, các công ty hàng hải xuất hiện ở
Almafi và Venise. Lúc đầu họ làm theo mô hình của người Hồi giáo, sau
đó chuyển về lối cũ để gom vốn và trông nom việc buôn bán bằng
thuyền theo từng chuyến; mỗi chuyến kéo dài vài tháng. Sự sắp xếp theo
cách này rất hấp dẫn đối với những người có tiền ngồi ở nhà. Họ có thể
phân tán rủi ro ra nhiều chuyến hàng và tránh được sự truân chuyên khi đi
biển. Sự hùn hạp dần dần trở nên phức tạp hơn, việc tài trợ được tăng
lên và trải ra cho nhiều chuyến, lại có thêm cả người nước ngoài tham
gia, cơ cấu về quyền sở hữu cũng được thiết lập. Chẳng hạn, các
thương gia ở Venise lập ra tổ hợp (consortium) thuê tàu của chính quyền
để vận chuyển hàng hóa; và chi phí cho mỗi chuyến đi được thu góp
bằng cách phát hành 24 phần hùn cho những người cộng tác.
Vào thế kỷ XII, một hình thức tổ chức hơi khác với loại trên một chút
đã xuất hiện ở Florence và một số thị trấn xa bờ biển. Đó là compagnia .
Lúc đầu tổ chức này có tính cách gia đình và hoạt động trên căn bản chịu
trách nhiệm liên đới, những người cộng tác chịu trách nhiệm chung với
nhau về giá trị của món hàng mà họ nắm giữ. Danh từ compagnia có gốc
Latin là cum và pania, nghĩa là cùng nhau bẻ chiếc bánh.
Giống như tổ chức của Venise, compagnia cũng từ từ trở nên tinh vi
hơn để thu hút những người ngoài gia đình. Có lẽ ngay từ năm 1340, các
tổ chức này đã áp dụng kế toán kép để giữ cho các văn phòng của họ ở
nước ngoài hoạt động trung thực. Một thương gia ở Genoa sẽ ghi vào sổ
sách của mình là “đã thanh toán” cho số tiền gửi cho văn phòng của mình
ở Bruges; còn nơi sau ghi “đã nhận”. Hơn nữa, thay vì gửi tiền kim loại,
các thương gia lớn bắt đầu tin nhau và dùng thương phiếu. Thực sự,
compagnia đã liên kết chặt chẽ với banchi, tức là ngân hàng (banchi là cái
ghế dài mà những người Italia cho vay tiền thường ngồi, sau này “cái
ghế” trở thành “ngân hàng”) và ngân hàng Italia là bậc thầy về sử dụng thương phiếu.
Ở miền bắc Âu châu, các thương gia cũng bắt chước các hình thức
kinh doanh mà người Italia đã đi tiên phong. Có doanh nghiệp ở vùng
Ravensberg bên Đức tập họp ba gia đình thành công ty, rồi lập ra các chi
nhánh ở Barcelone, Genoa và Paris. Các hoạt động này đã dễ dàng phát
triển vì có luật pháp hỗ trợ.
Từ đầu thời Trung cổ, các luật gia đã từ từ mở rộng luật La Mã và
luật của giáo hội Thiên chúa giáo để nhìn nhận sự tồn tại của “pháp
nhân”, vốn là một hội của những người không ràng buộc chặt chẽ và
muốn được đối xử như một tập thể. Các “pháp nhân” này bao gồm cả
các (trường) đại học, thị trấn, tổ chức tôn giáo và các guild của các
thương gia lớn cũng như của người buôn bán nhỏ. Những hội đoàn kiểu
này đã tồn tại rất phổ biến trong xã hội thời đó. Chúng thực hiện những
sự trao đổi tài sản để dùng làm vật bảo đảm và cung cấp học bổng, là
những việc mà cá nhân bị cấm làm. Chúng còn là phương tiện để chuyển
giao các truyền thống và sự giàu có của thế hệ trước cho thế hệ sau.
Tính bất tử của pháp nhân đã làm cho các vương triều lo ngại. Pháp nhân
làm cho những lợi lộc mà cá nhân thu thập được trong thời phong kiến
được luồn lách ra khỏi các quy định hiện hành, (bởi) vì pháp nhân không
bao giờ già, không bao giờ chết và cũng không bao giờ kết hôn với ai.
Vua Edward I của Anh đã phải ban hành luật để giới hạn số đất đai được
chuyển cho các pháp nhân, nhất là cho giáo hội.
Tuy vậy, không có biện pháp nào của nhà vua có thể ngăn cản được
sự bành trướng của các pháp nhân. Trong gần suốt thời Trung cổ, các
guild là hình thức cơ bản của các tổ chức kinh doanh (từ guild xuất phát
từ guildan trong tiếng của người Saxon, có nghĩa là trả tiền). Một guild
được phép độc quyền kinh doanh trong phạm vi của một thị trấn và phải
đóng góp một số tiền đáng kể cho chính quyền địa phương. Người lãnh
đạo guild đề ra tiêu chuẩn chất lượng, huấn luyện nhân sự, cắt cử công
chứng viên và những người môi giới, trông coi việc từ thiện, xây cất các
trung tâm trưng bày và ấn định hình phạt. Họ giống các nghiệp đoàn bảo
vệ hội viên của mình nhiều hơn là một tổ chức thúc đẩy các sáng kiến kinh doanh.
Các guild liên kết với các “công ty được cấp phép” (chartered
company, “CTĐCP”). Công ty này là một hội của các thương gia độc lập
được chính quyền ban cho độc quyền kinh doanh tại một thị trường nước
ngoài nào đó. Các CTĐCP có cách quản lý nội bộ giống như các guild .
Thỉnh thoảng họ cũng kết hợp thành một tổ hợp (consortia) để tạo sức
mạnh mặc cả về giá chuyên chở hoặc giá nguyên liệu. Ở Anh năm 1248
có một công ty loại này tên là Staple of London. Nó được nhà vua cho
phép kiểm soát việc xuất khẩu dạ; đến năm 1357 được cho quyền thu
thuế quan về xuất khẩu dạ; bù lại, công ty tài trợ cho vua Edward III
trong cuộc chiến tranh với Pháp. Chính quyền dành cho CTĐCP một số
đặc quyền và sự đảm bảo về an ninh để nó phát triển, giống như ngày
nay các chính phủ dành cho các công ty lớn các hợp đồng về quốc phòng vậy.
Đến thế kỷ XVI và XVII, đã có nhiều CTĐCP xuất hiện và mang tên
của các lãnh thổ mà chúng được độc quyền mua bán (chẳng hạn công ty
East India buôn bán ở Ấn Độ, Muscovy ở Nga, Hudson’s Bay ở Mỹ). Các
CTĐCP là một nỗ lực phối hợp giữa chính quyền và các thương gia để
chinh phục những vùng đất mới mà Columbus, Magellan và Vasco De
Gama đã khám phá; chúng xuất phát chủ yếu từ một số nước như Anh,
Pháp, Hà Lan. Những công ty ấy đã may mắn được các vua dành cho độc
quyền mua bán với vùng này vùng nọ trên thế giới; và có khi họ đã phải
đánh nhau (trong) khi kinh doanh như trường hợp của hai công ty East
India của Anh và công ty cùng tên của Hà Lan ở Indonesia.
Các CTĐCP đã tiếp thu được hai ý tưởng của thời Trung cổ, (đó) là
bán cổ phiếu trên thị trường tự do và tính trách nhiệm hữu hạn dành cho
các hội viên. Vì vậy, chúng cũng được gọi là CTCP. Chuyện doanh
nghiệp bán cổ phiếu để gom vốn đã có từ thế kỷ XIII. Khắp Âu châu
người ta đã từng bán cổ phiếu của các doanh nghiệp khai mỏ và đóng tàu;
tuy nhiên chính các CTĐCP đã đẩy việc bán cổ phần lên tột đỉnh. Việc
cho người đầu tư hưởng một trách nhiệm hữu hạn là quan trọng. Bởi vì,
quá trình xâm chiếm thuộc địa chứa đầy rủi ro, nếu không cho người ta
hưởng thì không thể khuyến khích họ bỏ vốn. Người đầu tư phải được bảo vệ.
Các CTĐCP đã phục vụ đắc lực cho chủ nghĩa thực dân Âu châu. Lịch
sử cận kim nhắc đến công ty East India Company của Anh. Nó được lập
ngày 31/10/1600 bởi một nhóm có 218 người. Nó được phép độc quyền
kinh doanh trong vòng 15 năm ở vùng Đông Ấn, các quốc gia và hải cảng
ở Á châu, Phi châu; được đến tất cả các hải cảng của các đảo, thị trấn,
các địa điểm ở Á châu, Phi châu và Mỹ châu và tất cả các địa điểm tương
tự khác nằm ngoài Mũi Hảo Vọng và eo biển Magellan. Sau khi được
cấp phép, công ty đó đã cử một đoàn tàu gồm năm chiếc lên đường. Nó
đã chinh phục Ấn Độ, trở thành một “đế quốc” trong một đế quốc; và bị
giải thể ngày 01/06/1874 khi giấy phép lần cuối cùng không được gia hạn.
Việc các công ty bán cổ phần trên thị trường đã tạo ra những sự lũng
đoạn thị trường, cơn sốt giá và phá sản do các tay đầu cơ gây ra. Có hai
vụ đáng kể, một là vụ của công ty Mississippi Company ở Pháp năm 1720
và South Sea Company ở Anh trong cùng năm. Sau vụ này, Quốc hội Anh
đã ban hành luật hạn chế việc thành lập CTCP, đưa ra nhiều điều kiện,
các CTCP bị buộc phải xin phép thành lập, và thời hạn hoạt động bị giới
hạn trong khoảng từ 20 đến 50 năm. Đã có nhiều lời phê phán đối với
CTCP như Sir Edward Coke (1552 - 1634) rằng: “Chúng không thể phạm
tội phản nghịch, cũng không thể bị đặt ra ngoài vòng pháp luật hay rút
phép thông công, vì chúng không có linh hồn;” hoặc như Edward Thurlow
(1731 - 1806), chưởng lý triều đình: “Các công ty không có xác để bị
trừng phạt cũng chẳng có hồn để bị lên án, vì thế chúng cứ làm theo ý
thích của chúng.” Một mặt khác, các CTĐCP chỉ dành riêng cho lãnh vực
kinh doanh quốc tế, còn đối với những ngành hoạt động khác ở Anh vào
thời kỳ đó, nhất là buôn bán nô lệ và sản xuất các mặt hàng công nghiệp
bông, dệt, nguyên liệu, người ta vẫn sử dụng hình thức hùn hạp, chịu
trách nhiệm liên đới. Hình thức này tuy có những bất tiện về trách
nhiệm, về giải thể khi có một thành viên chết đi, nhưng nó bảo đảm cho
chủ nhân sáng lập kiểm soát được việc kinh doanh trọn vẹn. Do đó, nó
vẫn được ưa dùng. Do thực tế này và cũng vì những biến cố đã nêu, số
lượng các CTCP thành lập ở Anh đã giảm xuống; và các doanh nhân đã
chuyển sang thành lập các CTCP ở Mỹ.
Ở Mỹ, CTCP phát triển rất mạnh. Lúc đầu là để phục vụ cho việc
xây dựng đường sắt, và sau là để thiết lập mạng lưới phân phối và bán
lẻ trên lãnh thổ bao la của Mỹ. Chính do yêu cầu tài trợ cho các công ty
xây dựng đường sắt mà thị trường chứng khoán ở New York đã phát
triển. Năm 1811, bang New York ban bố luật về tính trách nhiệm hữu hạn
dành cho các công ty sản xuất. Nhờ có luật này, tiền ùn ùn đổ về New
York và tính hữu hạn đó trở thành phổ biến, bởi vì bang nào không dùng
đến nó thì không thu hút được vốn.
Từ sự phát triển kinh tế của Mỹ, các nước ở Âu châu thấy phải đuổi
theo; vì vậy, họ đã giảm bớt sự kiểm soát đối với công ty. Ở Pháp, ngoài
công ty nặc danh (société anonyme) phải có phép của chính quyền khi
thành lập thì họ lập ra loại hình societe en commandite par actions (hội
hợp tư cổ phần), cho phép những người không tham gia vào việc quản lý
hội được hưởng chế độ trách nhiệm hữu hạn.
Ở Anh, chính quyền cũng từ từ nới lỏng luật lệ dành cho công ty.
Năm 1825, ngoài những luật khác, họ bỏ luật hạn chế mở công ty cổ
phần đã ban hành năm 1720. Từ năm 1830, đường sắt được lập giữa
nhiều địa phương, nhiều công ty hỏa xa lần lượt ra đời; họ bán cổ phần
trên thị trường, và để tạo thêm sự hấp dẫn, họ cũng bán cả cổ phiếu ưu
đãi, nhưng không ở London mà ở các tỉnh khác. Ngoài ra, các công ty điện
tín, viễn thông cũng phát triển. Các sự kiện này thúc đẩy Quốc hội Anh
phải ra luật để đưa CTCP vào vòng trật tự. Luật về CTCP được ban
hành năm 1844. Theo đó, các công ty muốn được thành lập không phải
xin phép mà chỉ cần đăng ký. Tuy nhiên, luật này không cho công ty được
hưởng tính trách nhiệm hữu hạn. Sự hạn chế này phản ánh sự nghi ngờ
của dân chúng về CTCP lúc đó. Vào những năm 1850 có hơn 40 công ty
của Anh chuyển sang Pháp để thành lập mặc dù chi phí thành lập ở Pháp
là rất cao. Chính phủ Anh sợ mất doanh nghiệp nên năm 1855 đã ra luật
về tính trách nhiệm hữu hạn [2] cho các công ty đã được thành lập theo
luật về CTCP. Cuối cùng cả hai luật nói trên được sáp nhập thành một vào năm 1862 [3] .
Vào thời kỳ đó, nước Anh là bá chủ về hàng hải và là một cường
quốc trên thế giới. Luật công ty của Mỹ cũng chịu ảnh hưởng của Anh
do nguồn gốc hình thành nước Mỹ. Các nước trong Khối thịnh vượng
chung [4] ngày nay có luật công ty tương tự như của Anh.
Riêng Đức và Pháp đi theo một con đường khác do khác biệt về văn
hóa. Công ty của Đức bị luật qui định chặt chẽ và không uyển chuyển
như công ty của Anh và Mỹ. Ở Pháp, năm 1807, bộ luật Napoleon thiết
lập một nền tảng cho công ty bằng cách cho lập hội hợp tư cổ phần; và
đến năm 1863, luật công ty trách nhiệm hữu hạn ra đời.
Như lịch sử đã cho thấy, CTCP là phương thức phát triển cao nhất cho
đến nay của loài người để huy động được nhiều vốn nhất cho kinh
doanh, và qua đó làm cho nền kinh tế của mỗi quốc gia phát triển.
Về mặt lý thuyết, trong các sách luật, người ta trình bày các loại hình
công ty theo thứ tự sau: doanh nghiệp do một cá nhân làm chủ (sole
proprietorship) hay doanh nghiệp tư nhân của ta; công ty hợp danh
(partnership) gồm có hai loại, một là mọi thành viên đều chịu trách nhiệm
vô hạn (general partnership), hai là chỉ một số người chính chịu trách
nhiệm vô hạn, những người khác chịu hữu hạn (limited partnership); công
ty cổ phần không niêm yết (private company ở Anh, hay closely-held
corporation của Mỹ); công ty cổ phần niêm yết (public company ở Anh,
hay public corporation ở Mỹ). Về công ty ở ta xin xem Chương hai.
Để hiểu rõ hơn về những thuộc tính của nó, chúng ta sẽ đứng từ vị trí
của người bỏ vốn đầu tư và từ “khung cảnh” quanh họ để tìm hiểu sự