Ti sách min phí ti Lut sư
Online - iluatsu.com
BIỂU GHI BIÊN MỤC TRƯỚC XUẤT BẢN DO THƯ VIỆN KHTH TP.HCM THỰC HIỆN
General Sciences Library Cataloging-in-Publication Data
Nguyễn Ngọc Bích
Tư duy pháp lý của luật sư / Nguyễn Ngọc Bích. - T.P. Hồ Chí Minh : Trẻ, 2015.
444 tr. : minh họa ; 23 cm.
1. Luật sư. 2. Luật sư -- Việt Nam. 3. Nghề luật sư -- Việt Nam. I. Ts.
1. Lawyers. 2. Lawyers -- Việt Nam. 3. Legal profession --Việt Nam.
340.092 -- ddc 23
N573-B58
5
LỜI NÓI ĐẦU
Q
uyển sách này là phiên bản mới của quyển Tài ba của luật xuất bản
năm 2010 tái bản hai lần sau đó. Đó kết quả của những góp ý từ
độc giả, của kinh nghiệm tác giả thu thập được qua các lớp học được tổ
chức tại Đoàn Luật sư TP. Hồ Chí Minh cũng như sự tìm tòi và học hỏi của
bản thân trong suốt 5 năm qua. Cũng như sách trước, quyển sách này được
viết cho các luật sư mới bước chân vào nghề.
Tựa quyển sách nêu bật một điều kiện tri thức của luật sư, điều họ
phải khi hành nghề. Đó công cụ của họ, giống như người nông dân
phải cuốc. duy pháp lý của luật sư bắt nguồn từ khả năng phân tích
của họ kết quả của các lập luận trình bày cho người khác. Luật
phải giỏi phân tích trong nghề nghiệp của mình, họ phải đương đầu với
các sự kiện hay các thực tại nhất định của cuộc sống. Khách hàng không
đem một văn bản luật đến cho luật sư là một vụ tranh chấp, một vấn đề
pháp lý cần có câu trả lời. Đáp ứng cho khách hàng, luật sư phải phân tích
vụ việc đề ra giải pháp phù hợp luật lệ. Vậy trước hết, luật sư biết cách
duy pháp lý là để phục vụ mình!
Trong một vụ tranh chấp được xét xử ở tòa thì luôn luôn có hai bên. Luật
của nguyên đơn nộp lẽ lên tòa để khởi kiện thay cho thân chủ. Họ khởi
đầu một vụ kiện. Ở đó chống đỡ cho thân chủ – bị đơn – là một luật sư khác.
Họ giúp kết thúc vụ án. Biết duy pháp lý, cả hai nghiên cứu vụ việc một
cách “toàn diện, đầy đủ và khách quan”. Do vậy họ sẽ đóng góp nhiều lý lẽ
để tòa án xem xét trong quá trình tố tụng. Chính luật sư của nguyên đơn sẽ
làm cho công việc ban đầu của thẩm phán thành dễ dàng hay rắc rối. Như
thế, tư duy pháp lý của luật sư đóng góp đáng kể cho tòa án.
Trong một vụ vấn, luật chỉ đối tác, hiển hiện đâu đó. duy
pháp giúp họ phân tích vụ việc để thấy trọng tâm, bản chất của nó, hầu
đề nghị cách thực hiện đúng nhanh. Được như vậy sự phân tích
trong tư duy pháp lý đòi hỏi luật sư phải có kiến thức.
6
DUY PHÁP CỦA LUẬT
Tư duy pháp lý trình bày đây là một phương pháp, một “cái cuốc”.
sẽ giúp các luật mới vào nghề, khi chịu học được chỉ bảo thêm, thì
không bao lâu có thể một mình đảm nhận công việc. Ở đây, tác giả cố gắng
trình bày phương pháp một cách ràng tỉ mỉ. Điều đó làm cho quyển
sách này khác với các quyển trước có cùng nội dung. Và để cho quyển sách
không dày quá, chỉ có một số vụ án mới được thêm vào.
So với quyển sách đầu tiên xuất bản năm 2003, đến quyển năm 2015 này,
thời gian đã đủ dài để độc giả quen thuộc với phương pháp trong sách, vốn
được du nhập từ nước ngoài đã được “địa phương hóa”. Tất nhiên cố
gắng đó đã không thể là một thành quả nếu không có Nhà xuất bản Trẻ làm
… “bà đỡ” trong thời gian đã nêu cũng như sự giúp đỡ của các bạn thân
thiết. Dẫu sao, quyển sách này vẫn còn những khiếm khuyết. Lời nói đầu
xin được ngưng đây với câu: Xin quý độc giả tha thứ chỉ giáo về những
khiếm khuyết, vốn không thể tránh được do sự bất toàn của con người.
Nguyễn Ngọc Bích
Tháng 3 năm 2015
7
CHỮ VIẾT TẮT VÀ CHÚ THÍCH
BLDS Bộ luật dân sự trước năm 2005
CHKL Câu hỏi pháp lý kết luận
CHMC Câu hỏi pháp lý mấu chốt
CHPT Câu hỏi pháp lý phụ thuộc
CHPL Câu hỏi pháp lý hay vấn đề pháp
LDS Bộ luật dân sự năm 2005
LHS Bộ luật hình sự
SKMC Sự kiện mấu chốt
SKPT Sự kiện phụ thuộc
SKQT Sự kiện quan trọng
TDPL Tư duy pháp lý
Chú thích
1. Về cách đánh số: nội dung đề cập nhiều loại bài viết khác nhau, từ
những nguồn khác nhau, nên cách đánh số trong sách này không thể
liên tục và nhất quán từ đầu đến cuối mà được chia làm hai loại:
- Loại đánh theo từng phần, chương mục để độc giả biết thứ tự
chung của quyển sách;
- Loại đánh theo từng bài ngắn nhỏ; sự liên tục chỉ nằm trong từng bài
một; khi sang bài khác có thể đánh số khác, nhưng trong từng bài thứ
tự liên tục vẫn được giữ để độc giả theo dõi.
2. Trong những bài viết của tôi, các điều luật của LDS được trích dẫn
luật 2005, còn trong các vụ án, hay các bài trích dẫn của các tác giả
khác, các điều khoản được nêu luật hiện hành vào lúc bài ấy được
viết, do các tác giả ấy nêu và có thể viết tắt là BLDS. Tôi không cập nhật
chúng của người khác viết. Điều tôi nhắm vào các sự kiện giúp
phân tích, còn các điều luật chỉ mặt cho đủ bộ. TDPL một luồng
8
DUY PHÁP CỦA LUẬT
suy nghĩ. giống như nhìn một dòng nước chảy. Ta nhìn dòng nước
trôi, lững lờ hay cuồn cuộn, không để ý đến hai bờ nhô ra hay thụt
vào. Do vậy, khi suy nghĩ, ta chỉ cần nhớ “đã có một điều trong luật” và
điều đó sở để mình dựa vào hầu mở rộng sang các chi tiết khác.
Biết “có một điều luật nào đó” thì chỉ nhớ mang máng, không cần phải
nhớ chính xác điều số 40 khoản 1 hay 2…. Nhớ chính xác như thế
sẽ làm chậm tốc độ suy nghĩ cũng không cần thiết. Sau khi đã giải
quyết xong, giải pháp, lúc ấy ta mới tra văn bản để tìm điều khoản
chính xác. Tôi gọi đó là giai đoạn 2 của TDPL. Bạn nào quan tâm về các
điều luật thì nhớ nhé: BLDS thứ ba đang trong vòng thảo luận.
3. Ở đây tôi dùng cách nói chuyện, coi độc giả như một người thuộc phái
đẹp, lại thông minh để… khơi nguồn cảm hứng khi viết. một ca
rất nổi tiếng. Tôi hỏi ông ta làm sao để hát hay, ông trả lời là khi hát thì
tưởng tượng đang hát cho một người và tập trung vào đấy! Tôi bắt chước
ông ấy. Vậy chúng mình “nói chuyện nhau” để các bạn đọc
không chán (vì đụng đến luật theo cách nào đi nữa cũng chán cả).
Bố cục quyển sách
Đối tượng của quyển sách này luật đang tập sự trong một đoàn luật
sư. Nó giúp bạn “kiếm tiền từ thân chủ”. Bởi thế bạn nào còn đang sinh
viên hay học viên, tức đang phải “kiếm điểm từ thầy dạy” thì nên hỏi ý kiến
các thầy của mình trước khi dùng.
Bạn có thể hỏi tôi là: Khi học ở Học viện Tư pháp, tôi đã được dạy và đọc
nhiều về các kỹ năng của luật sư, vậy TDPL dạy thêm kỹ năng gì? Tôi xin trả
lời là đi tìm các câu hỏi pháp lý (legal issue) nằm trong một vụ tranh chấp.
đi xa hơn sâu hơn quá trình nghiên cứu một vụ án mà bạn đã học ở
Học viện Tư pháp, vốn được khái quát như sau
1
:
i. Nghiên cứu toàn bộ hồ sơ vụ án;
ii. Đọc lướt qua toàn bộ hồ sơ;
iii. Ghi chép các sự kiện chính theo ngày tháng, theo nội dung sự việc,
theo sự kiện;
1
“Giáotrìnhkỹnănggiảiquyếtvụkiệndânsự”;(HàNội:HọcviệnTưpháp;NXBCông
anNhândân,2007);t.289.
9
iv. Sắp xếp và nghiên cứu các chứng cứ;
v. Suy nghĩ về phương hướng để tìm ra giải pháp giải quyết vụ án có lợi
cho khách hàng của mình.
Để thực hiện công việc ấy, tôi chia quyển sách này ra làm bốn phần:
Phần một: Giới thiệu với bạn về TDPL và đưa ra các điều kiện bạn phải
có, hay phải thay đổi so với trước kia để thể TDPL. Tốt nghiệp
trường luật xong bạn chưa có khả năng TDPL để làm luật sư; vì trường
luật đào tạo bạn làm cán bộ pháp chế (tức soạn luật để cho người
khác áp dụng, và giám sát việc thực hiện luật). Bạn sẽ biết về điều này
rõ hơn khi đọc Chương 2 của Phần này.
Phần hai: Trình bày cách TDPL; gồm phương pháp thực hiện; các vụ
án để bạn… luyện chưởng và biết tính chất của các CHPL.
Phần ba: Đưa ra một số vụ án để các bạn tập làm một mình hầu kiểm
tra mức độ sử dụng TDPL.
Phần bốn: Một số bài đọc thêm để bạn mở rộng kiến thức.
Điều tôi chú trọng trong quyển sách thu thập các sự kiện, vụ việc để
phân tích. Chúng xuất phát từ thực tế, do tôi thu thập từ các bài của báo
chí các bản án của các tòa án khác nhau. Tuy nhiên, tôi không ghi lại
các nguồn, số bản án, số báo… tôi muốn các bạn chỉ quan tâm đến các
sự kiện hay vụ việc có thật để bạn có dữ kiện phân tích; và xin nhấn mạnh,
không có một mục đích nào khác. Như đã nói ở Lời nói đầu, số vụ án trong
sách này không tăng nhiều so với sách cũ; vì tôi sợ quyển sách sẽ dày như…
từ điển, khó cầm. Vấn đề là đi vào chất lượng.
Đây sách “dạy nghề”, không phải sách nghiên cứu. Ngoài ra “cái
cuốc” bạn muốn trang bị cho mình vốn trừu tượng, nên nhiều khi tôi
phải nhấn mạnh, làm cho ra bằng hình minh họa, lặp đi lặp lại
nhiều chỗ. Việc này giống như cầm tay chỉ việc. Mong bạn không khó chịu
vì cứ phải nghe đi nghe lại mãi.
Để đền cho bạn, tôi nhờ một đồng nghiệp vẽ minh họa vài chỗ. Tự
nhận họa sĩ tay ngang, người vẽ tên là Huỳnh Thị Kim Hồng.
Mục lục
Lời nói đầu ..................................................................................................... 5
Chữ viết tắt và chú thích ............................................................................... 7
PHẦN MỘT SỬA SOẠN TINH THẦN
Chương 1: Các vấn đề cơ bản ..................................................................15
Chương 2: Luật là một cái bình có hai quai ...........................................40
Chương 3: Luật pháp dạy cho luật sư ....................................................49
Chương 4: Việc áp sự kiện vào luật pháp ................................................76
Chương 5: Xem thêm về câu hỏi pháp lý .............................................116
PHẦN HAI PHƯƠNG PHÁP TƯ DUY PHÁP LÝ
Phương pháp tư duy pháp ................................................................131
Chương 1: Đường dẫn vào tư duy pháp lý ...........................................132
Chương 2: Cách tư duy pháp .............................................................152
Chương 3: Thực hành tư duy pháp ..................................................165
Chương 4: Một số vụ khác để mở rộng ................................................205
Chương 5: Tính tương đối của câu hỏi pháp lý ..................................289
PHẦN BA THỰC TẬP
Thực tập .................................................................................................325
Chương 1: Một số vụ ..............................................................................326
Chương 2: Giải đáp đề nghị ..................................................................388
PHẦN BỐN MỞ RỘNG KIẾN THỨC
Mở rộng kiến thức .................................................................................395
Bài 1: Sự khác biệt giữa hai cách trình bày
luật pháp dạy cho sinh viên luật ................................................397
Bài 2: Dân luật và thông luật khác nhau thế nào? ...............................402
Bài 3: Các bản án: sự khác biệt trên thực tế .........................................409
Bài 4: Irac - Một cách tư duy pháp lý ở Mỹ ...........................................422
Bài 5: Suy nghĩ như một luật sư ............................................................427
Bài 6: Những điều luật sư không được làm với khách hàng ................430
Bài 7: Nội dung hợp đồng chuyển giao nghĩa vụ hay thế cải ..............437
Sách tham khảo......................................................................................441
PHẦN MỘT
SỬA SOẠN
TINH THẦN
Các vấn đề bản
15
CHƯƠNG
1
Các vấn đề cơ bản
Mục 1: Tư duy pháp lý là gì?
TDPL là cách thức suy nghĩ của luật sư để tìm ra giải pháp cho một vụ tranh
chấp phù hợp với luật lệ. Một vụ tranh chấp thể là một vụ án tòa, hay
một vấn đề về luật lệ phải giải quyết. Muốn tìm ra giải pháp thì phải đi tìm
câu hỏi pháp lý của vụ đó. Thí dụ, một vụ hối lộ được đem ra xét xử thì vấn
đề pháp lý của nó là: quà biếu được đưa trước hay sau khi có giấy phép? Và
giá trị món quà là bao nhiêu?
Mỗi vụ tranh chấp thường nhiều vấn đề pháp lý; luật phải đi tìm
vấn đề nào là chính, là quan trọng nhất, tìm ra và giải quyết được rồi thì sẽ
dễ dàng giải quyết các vấn đề khác ít quan trọng hơn. Quá trình đi tìm được
thực hiện bằng cách suy nghĩ trong đầu nên được gọi là TDPL.
I.
Khái niệm về vấn đề pháp lý – Câu hỏi pháp lý
Câu hỏi mấu chốt
Khi bạn phải suy nghĩ về một việc đó thì “một vấn đề” của bạn. Thí
dụ… lấy chồng! Bạn sẽ phải suy nghĩ nhiều thứ. Đó là những điều khác nhau
về mặt tình cảm. Ta gọi vấn đề tình cảm. Về vấn đề này ít ai đi hỏi luật sư!
Một doanh nhân cũng vấn đề của họ. Ấy làm sao để lợi nhuận
cao khi sản xuất một sản phẩm nào đó. Đấy là vấn đề kinh doanh. Người ta
không bàn với luật sư về vấn đề ấy; vì nó là vấn đề thương mại.
luật sư, khách hàng đưa đến cho bạn một vụ việc họ đã làm hay
định làm để hỏi ý kiến của bạn. Vụ việc họ hỏi thì đối với luật vấn đề
pháp lý. sẽ tạo ra nhiều câu hỏi liên quan đến luật, gọi câu hỏi pháp
lý. Thí dụ một phụ nữ đến kể với bạn là thường bị ông chồng đánh, ông ta vũ
16
DUY PHÁP CỦA LUẬT
phu lắm; vậy phải đối xử với ông ta như thế nào? Ly hôn được không? Vụ việc
đó một vấn đề hay một câu hỏi pháp đối với bạn. Nó có ba yếu tố: (i) ông
chồng hay đánh đập vợ; (ii) bị đánh đập thì ly hôn được không hay đi thưa về
tội hành hạ người khác nếu muốn con cái vẫn có cha? (iii) suy nghĩ để chọn
thưa tội nào; tức áp dụng luật nào? Yếu tố (i) được gọi sự kiện thể
gồm những lần khác nhau bà kia bị đánh. Yếu tố (ii) là luật pháp điều chỉnh
(luật hôn nhân gia đình hay luật hình sự). Yếu tố (iii) là sự chọn lựa luật điều
chỉnh. Sự chọn lựa đó thể trở thành tranh chấp khi bên đối phương (là
người chồng) có ý kiến trái ngược. Nếu luật điều chỉnh không bị tranh chấp,
hay áp dụng được thì yếu tố (iii) trở thành giải pháp hay chế tài (phạt cải tạo,
cho ly hôn). Vậy một câu hỏi hay một vấn đề pháp lý thường có ba yếu tố
nó thường là một cuộc tranh chấp giữa hai bên. Hai bên này khi chưa ra tòa
thì là thủ phạm và nạn nhân; lúc ở tòa thì là nguyên đơn và bị đơn.
Người ta phân biệt luật lệ bạn đã học khi còn trường luật pháp
trên lý thuyết. Luật pháp mà luật sư phải xem xét hay sẽ đem đến hình phạt
luật pháp trong thực tế. Công việc của bạn nằm trong lĩnh vực sau và nó
thường gắn với các sự kiện.
Khi còn học luật, bạn biết một quy phạm pháp luật có ba phần: giả định,
quy định, chế tài. Thường bạn nhớ nhiều hai phần sau. Thế nhưng khi
luật được đưa vào thực tế thì người ta chú trọng nhiều vào phần giả định.
Và nó có muôn màu muôn vẻ: là các vụ việc đã xảy ra trong cuộc sống hằng
ngày. Ta sẽ gọi các vụ việc. Mỗi một khách hàng đến gặp bạn một
vụ việc khác nhau. Như vậy nghĩa phần giả định trong một quy phạm
pháp luật khi đi vào thực tế sẽ trở thành đa diện, đa sắc. Và chúng được gọi
thực tại, thực tế sự kiện.
“Thực tại là những gì có thực chứ không mộng tưởng
1
”; hoặc là tổng thể
nói chung của những gì đang tồn tại xung quanh chúng ta theo nghĩa triết
học, thí dụ, một gia đình hạnh phúc. Thực tế cũng tổng thể nói chung
“những gì đang tồn tại, đang diễn ra trong tự nhiên và trong xã hội, về mặt
có quan hệ đến đời sống con người
2
”, thí dụ, hai vợ chồng yêu nhau. Ở đây
hai nghĩa này được dùng lẫn lộn với nhau, tùy ngữ cảnh. Sự kiện là một việc
gì đó đã xảy ra, thí dụ, cành cây gãy rơi xuống đất
1
TừđiểnvàDanhtừtriếthọccủaTrầnVănHiếnMinh.
2
TừđiểntiếngViệtcủaHoàngPhê.
Các vấn đề bản
17
Câu hỏi pháp được đặt ra khi bạn tìm cách giải quyết một vụ tranh
chấp hay một vấn đề pháp lý. Trở lại vụ bà nữ thân chủ nêu ở trên, ta có thể
đặt ra câu hỏi pháp lý gồm 3 yếu tố như sau:
Một vụ việc nhất định (đã xảy ra hay sẽ xảy ra): bà ấy thường bị chồng
đánh. Vụ việc ấy gọi là một sự kiện, hay sự kiện pháp lý.
Một điều luật nhất định điều chỉnh sự kiện ấy: Luật hôn nhân gia
đình. Điều luật ấy khi được dẫn ra hay chiếu vào thì sẽ hướng để
giải đáp vấn đề của sự kiện.
Sự kết hợp giữa luật điều chỉnh với sự kiện đã tạo nên tranh cãi: Bị bạo
hành như thế có thể xin ly hôn được không? Hoặc bạn phải băn khoăn
áp dụng như thế không biết đúng hay sai; hoặc một chế tài phát sinh.
Các sự kiện
Luật áp dụng
Mối băn khoăn/tranh cãi về sự kết hợp trên.
Kết quả mong muốn
+
+
CÂU
HỎI
PHÁP
Xin nêu một thí dụ khác làm rõ hơn câu hỏi pháp lý:
Một nhân viên đi giao hàng của công ty mình cho một cửa hàng bán lẻ.
Trên đường đi người này ghé vào một tiệm sách bị thương xe đụng
trên đường từ tiệm sách đến cửa hàng bán lẻ. Vậy thể áp dụng luật lao
động không và nạn nhân có được coi là bị tai nạn lao động không?
Ta phân tích 3 yếu tố nằm trong câu hỏi pháp lý:
a. (i) Nhân viên đi giao hàng công ty cho một cửa hàng bán lẻ; (ii) trên
đường ghé tiệm sách; (iii) bị thương vì xe đụng trên đường từ tiệm
sách đến cửa hàng bán lẻ là các sự kiện pháp lý.
b. Có thể dựa trên luật lao động không? là luật điều chỉnh hay luật áp dụng.
c. Nạn nhân có được coi là bị tai nạn lao động không? là câu hỏi pháp lý.
18
DUY PHÁP CỦA LUẬT
Trong vụ này ta thấy ba sự kiện. Trong đó sự kiện quan trọng nhất
“bị thương vì đụng xe khi đi từ tiệm sách đến cửa hàng bán lẻ”. Sở dĩ ta nói
được như thế mình đã suy nghĩ, đã phân tích so sánh với các sự kiện
khác. Sự kiện quan trọng nhất kia được gọi sự kiện mấu chốt (SKMC). Hai
sự kiện còn lại sự kiện phụ thuộc. Trong TDPL người ta xem xét các sự
kiện khác nhau trong nội vụ để tìm ra SKMC. Từ SKMC người ta sẽ đặt được
câu hỏi pháp lý. Và nó sẽ là câu hỏi mấu chốt (CHMC).
Để so sánh, câu hỏi pháp được sách vở của Mỹ định nghĩa là: “… Một
điểm riêng rẽ, chắc chắn quan trọng; một vấn đề bên này xác
định, nhưng bên kia phủ nhận. Khi một sự kiện được một bên nêu trong đơn
khởi kiện nhưng bị bên kia bác bỏ trong bản ý kiến phúc đáp thì sự kiện đó
trở thành một câu hỏi giữa hai bên”
1
. Câu hỏi hai thứ: về pháp (“issue
of law”) về sự kiện (“issue of fact”). Bạn thấy định nghĩa này chú trọng vào
yếu tố (iii) ta nêu ở trên. Khi học ở Mỹ, đọc câu định nghĩa này rồi mà tôi vẫn
còn “bơi thở” vì chưa biết hết các yếu tố của CHPL. Vì thế ở cuối Phần này
tôi dành một chương riêng đưa ra các vụ án để các bạn nắm CHPL cho chắc.
TDPL trình bày đây được du nhập từ Mỹ được cải biến ít nhiều
cho phù hợp với hoàn cảnh của ta nên tôi nêu đây các khái niệm từ
ngữ tương đương ở Mỹ có liên quan đến các điều ta học. “Câu hỏi pháp lý”
thì người Mỹ nói là “legal issue”. Từ ngữ “câu hỏi” không thôi là “issue” hay
“question”. Từ “issue” hay được sử dụng trong một vụ tranh chấp dùng
tòa; còn “question” hay dùng trong văn bản hoặc nói chuyện. “Đi tìm câu
hỏi pháp lý” thì tiếng Anh “spotting the isue” hay “pick up the issue”.
“Câu hỏi mấu chốt” là “key issue”.
Mỹ hay Anh, việc chánh án làm khi soạn bản án được gọi “legal
reasoning” (tư duy pháp lý). Luật tham dự một phần lớn trong đó (đưa giải
pháp và đề nghị biện pháp) nên việc luật làm được gọi là “thinking like a
lawyer” hay “lawyering skill” (suy nghĩ kiểu của luật sư, tài ba của luật sư).
Luật sinh viên luật Mỹ thường chỉ nói đơn giản “legal issue”
(câu hỏi pháp lý) hay “key issue” (câu hỏi mấu chốt). Tuy nhiên, họ lại
các khái niệm pháp lý rất chi tiết vì thừa hưởng văn hóa của người Anh. Mà
Anh, vào những thập kỷ lập quốc đầu tiên, khi ra tòa hai bên không
1
TừđiểnBlack’sLawđịnhnghĩavề“issue”.

Preview text:

Tải sách miễn phí tại Luật sư Online - iluatsu.com
BIỂU GHI BIÊN MỤC TRƯỚC XUẤT BẢN DO THƯ VIỆN KHTH TP.HCM THỰC HIỆN
General Sciences Library Cataloging-in-Publication Data Nguyễn Ngọc Bích
Tư duy pháp lý của luật sư / Nguyễn Ngọc Bích. - T.P. Hồ Chí Minh : Trẻ, 2015. 444 tr. : minh họa ; 23 cm.
1. Luật sư. 2. Luật sư -- Việt Nam. 3. Nghề luật sư -- Việt Nam. I. Ts.
1. Lawyers. 2. Lawyers -- Việt Nam. 3. Legal profession --Việt Nam. 340.092 -- ddc 23 N573-B58 LỜI NÓI ĐẦU
Quyển sách này là phiên bản mới của quyển Tài ba của luật sư xuất bản
năm 2010 và tái bản hai lần sau đó. Đó là kết quả của những góp ý từ
độc giả, của kinh nghiệm tác giả thu thập được qua các lớp học được tổ
chức tại Đoàn Luật sư TP. Hồ Chí Minh cũng như sự tìm tòi và học hỏi của
bản thân trong suốt 5 năm qua. Cũng như sách trước, quyển sách này được
viết cho các luật sư mới bước chân vào nghề.
Tựa quyển sách nêu bật một điều kiện tri thức của luật sư, điều mà họ
phải có khi hành nghề. Đó là công cụ của họ, giống như người nông dân
phải có cuốc. Tư duy pháp lý của luật sư bắt nguồn từ khả năng phân tích
của họ và kết quả của nó là các lập luận trình bày cho người khác. Luật sư
phải giỏi phân tích vì trong nghề nghiệp của mình, họ phải đương đầu với
các sự kiện hay các thực tại nhất định của cuộc sống. Khách hàng không
đem một văn bản luật đến cho luật sư mà là một vụ tranh chấp, một vấn đề
pháp lý cần có câu trả lời. Đáp ứng cho khách hàng, luật sư phải phân tích
vụ việc và đề ra giải pháp phù hợp luật lệ. Vậy trước hết, luật sư biết cách tư
duy pháp lý là để phục vụ mình!
Trong một vụ tranh chấp được xét xử ở tòa thì luôn luôn có hai bên. Luật
sư của nguyên đơn nộp lý lẽ lên tòa để khởi kiện thay cho thân chủ. Họ khởi
đầu một vụ kiện. Ở đó chống đỡ cho thân chủ – bị đơn – là một luật sư khác.
Họ giúp kết thúc vụ án. Biết tư duy pháp lý, cả hai nghiên cứu vụ việc một
cách “toàn diện, đầy đủ và khách quan”. Do vậy họ sẽ đóng góp nhiều lý lẽ
để tòa án xem xét trong quá trình tố tụng. Chính luật sư của nguyên đơn sẽ
làm cho công việc ban đầu của thẩm phán thành dễ dàng hay rắc rối. Như
thế, tư duy pháp lý của luật sư đóng góp đáng kể cho tòa án.
Trong một vụ tư vấn, luật sư chỉ có đối tác, hiển hiện đâu đó. Tư duy
pháp lý giúp họ phân tích vụ việc để thấy trọng tâm, bản chất của nó, hầu
đề nghị cách thực hiện đúng và nhanh. Được như vậy là vì sự phân tích
trong tư duy pháp lý đòi hỏi luật sư phải có kiến thức. 5
Tư duy pháp lý trình bày ở đây là một phương pháp, một “cái cuốc”. Nó
sẽ giúp các luật sư mới vào nghề, khi chịu học và được chỉ bảo thêm, thì
không bao lâu có thể một mình đảm nhận công việc. Ở đây, tác giả cố gắng
trình bày phương pháp một cách rõ ràng và tỉ mỉ. Điều đó làm cho quyển
sách này khác với các quyển trước có cùng nội dung. Và để cho quyển sách
không dày quá, chỉ có một số vụ án mới được thêm vào.
So với quyển sách đầu tiên xuất bản năm 2003, đến quyển năm 2015 này,
thời gian đã đủ dài để độc giả quen thuộc với phương pháp trong sách, vốn
được du nhập từ nước ngoài và đã được “địa phương hóa”. Tất nhiên cố
gắng đó đã không thể là một thành quả nếu không có Nhà xuất bản Trẻ làm
… “bà đỡ” trong thời gian đã nêu cũng như sự giúp đỡ của các bạn bè thân
thiết. Dẫu sao, quyển sách này vẫn còn những khiếm khuyết. Lời nói đầu
xin được ngưng ở đây với câu: Xin quý độc giả tha thứ và chỉ giáo về những
khiếm khuyết, vốn không thể tránh được do sự bất toàn của con người. Nguyễn Ngọc Bích Tháng 3 năm 2015
6 TƯ DUY PHÁP LÝ CỦA LUẬT SƯ
CHỮ VIẾT TẮT VÀ CHÚ THÍCH BLDS
Bộ luật dân sự trước năm 2005 CHKL
Câu hỏi pháp lý kết luận CHMC
Câu hỏi pháp lý mấu chốt CHPT
Câu hỏi pháp lý phụ thuộc CHPL
Câu hỏi pháp lý hay vấn đề pháp lý LDS
Bộ luật dân sự năm 2005 LHS Bộ luật hình sự SKMC Sự kiện mấu chốt SKPT Sự kiện phụ thuộc SKQT Sự kiện quan trọng TDPL Tư duy pháp lý Chú thích
1. Về cách đánh số: Vì nội dung đề cập nhiều loại bài viết khác nhau, từ
những nguồn khác nhau, nên cách đánh số trong sách này không thể
liên tục và nhất quán từ đầu đến cuối mà được chia làm hai loại:
- Loại đánh theo từng phần, chương và mục để độc giả biết thứ tự chung của quyển sách;
- Loại đánh theo từng bài ngắn nhỏ; sự liên tục chỉ nằm trong từng bài
một; khi sang bài khác có thể đánh số khác, nhưng trong từng bài thứ
tự liên tục vẫn được giữ để độc giả theo dõi.
2. Trong những bài viết của tôi, các điều luật của LDS được trích dẫn là
luật 2005, còn trong các vụ án, hay các bài trích dẫn của các tác giả
khác, các điều khoản được nêu là luật hiện hành vào lúc bài ấy được
viết, do các tác giả ấy nêu và có thể viết tắt là BLDS. Tôi không cập nhật
chúng vì là của người khác viết. Điều tôi nhắm vào là các sự kiện giúp
phân tích, còn các điều luật chỉ có mặt cho đủ bộ. TDPL là một luồng 7
suy nghĩ. Nó giống như nhìn một dòng nước chảy. Ta nhìn dòng nước
trôi, lững lờ hay cuồn cuộn, và không để ý đến hai bờ nhô ra hay thụt
vào. Do vậy, khi suy nghĩ, ta chỉ cần nhớ “đã có một điều trong luật” và
điều đó là cơ sở để mình dựa vào hầu mở rộng sang các chi tiết khác.
Biết “có một điều luật nào đó” thì chỉ nhớ mang máng, không cần phải
nhớ chính xác là điều số 40 khoản 1 hay 2…. Nhớ chính xác như thế
sẽ làm chậm tốc độ suy nghĩ và cũng không cần thiết. Sau khi đã giải
quyết xong, có giải pháp, lúc ấy ta mới tra văn bản để tìm điều khoản
chính xác. Tôi gọi đó là giai đoạn 2 của TDPL. Bạn nào quan tâm về các
điều luật thì nhớ nhé: BLDS thứ ba đang trong vòng thảo luận.
3. Ở đây tôi dùng cách nói chuyện, coi độc giả như một người thuộc phái
đẹp, lại thông minh để… khơi nguồn cảm hứng khi viết. Có một ca sĩ
rất nổi tiếng. Tôi hỏi ông ta làm sao để hát hay, ông trả lời là khi hát thì
tưởng tượng đang hát cho một người và tập trung vào đấy! Tôi bắt chước
ông ấy. Vậy là chúng mình “nói chuyện mí nhau” để các bạn đọc mà
không chán (vì đụng đến luật theo cách nào đi nữa cũng chán cả).
Bố cục quyển sách
Đối tượng của quyển sách này là luật sư đang tập sự trong một đoàn luật
sư. Nó giúp bạn “kiếm tiền từ thân chủ”. Bởi thế bạn nào còn đang là sinh
viên hay học viên, tức đang phải “kiếm điểm từ thầy dạy” thì nên hỏi ý kiến
các thầy của mình trước khi dùng.
Bạn có thể hỏi tôi là: Khi học ở Học viện Tư pháp, tôi đã được dạy và đọc
nhiều về các kỹ năng của luật sư, vậy TDPL dạy thêm kỹ năng gì? Tôi xin trả
lời là đi tìm các câu hỏi pháp lý (legal issue) nằm trong một vụ tranh chấp.
Nó đi xa hơn và sâu hơn quá trình nghiên cứu một vụ án mà bạn đã học ở
Học viện Tư pháp, vốn được khái quát như sau1:
i. Nghiên cứu toàn bộ hồ sơ vụ án;
ii. Đọc lướt qua toàn bộ hồ sơ;
iii. Ghi chép các sự kiện chính theo ngày tháng, theo nội dung sự việc, theo sự kiện;
1 “Giáo trình kỹ năng giải quyết vụ kiện dân sự”; (Hà Nội: Học viện Tư pháp; NXB Công an Nhân dân, 2007); t.289.
8 TƯ DUY PHÁP LÝ CỦA LUẬT SƯ
iv. Sắp xếp và nghiên cứu các chứng cứ;
v. Suy nghĩ về phương hướng để tìm ra giải pháp giải quyết vụ án có lợi cho khách hàng của mình.
Để thực hiện công việc ấy, tôi chia quyển sách này ra làm bốn phần:
Phần một: Giới thiệu với bạn về TDPL và đưa ra các điều kiện bạn phải
có, hay phải thay đổi so với trước kia để có thể có TDPL. Tốt nghiệp
trường luật xong bạn chưa có khả năng TDPL để làm luật sư; vì trường
luật đào tạo bạn làm cán bộ pháp chế (tức là soạn luật để cho người
khác áp dụng, và giám sát việc thực hiện luật). Bạn sẽ biết về điều này
rõ hơn khi đọc Chương 2 của Phần này.
Phần hai: Trình bày cách TDPL; gồm phương pháp thực hiện; các vụ
án để bạn… luyện chưởng và biết tính chất của các CHPL.
Phần ba: Đưa ra một số vụ án để các bạn tập làm một mình hầu kiểm
tra mức độ sử dụng TDPL.
Phần bốn: Một số bài đọc thêm để bạn mở rộng kiến thức.
Điều tôi chú trọng trong quyển sách là thu thập các sự kiện, vụ việc để
phân tích. Chúng xuất phát từ thực tế, do tôi thu thập từ các bài của báo
chí và các bản án của các tòa án khác nhau. Tuy nhiên, tôi không ghi lại
các nguồn, số bản án, số báo… vì tôi muốn các bạn chỉ quan tâm đến các
sự kiện hay vụ việc có thật để bạn có dữ kiện phân tích; và xin nhấn mạnh,
không có một mục đích nào khác. Như đã nói ở Lời nói đầu, số vụ án trong
sách này không tăng nhiều so với sách cũ; vì tôi sợ quyển sách sẽ dày như…
từ điển, khó cầm. Vấn đề là đi vào chất lượng.
Đây là sách “dạy nghề”, không phải sách nghiên cứu. Ngoài ra vì “cái
cuốc” mà bạn muốn trang bị cho mình vốn trừu tượng, nên nhiều khi tôi
phải nhấn mạnh, làm cho nó rõ ra bằng hình minh họa, và lặp đi lặp lại ở
nhiều chỗ. Việc này giống như cầm tay chỉ việc. Mong bạn không khó chịu
vì cứ phải nghe đi nghe lại mãi.
Để đền cho bạn, tôi có nhờ một đồng nghiệp vẽ minh họa ở vài chỗ. Tự
nhận họa sĩ tay ngang, người vẽ tên là Huỳnh Thị Kim Hồng. 9 Mục lục
Lời nói đầu ..................................................................................................... 5
Chữ viết tắt và chú thích ............................................................................... 7
PHẦN MỘT SỬA SOẠN TINH THẦN
Chương 1: Các vấn đề cơ bản ..................................................................15
Chương 2: Luật là một cái bình có hai quai ...........................................40
Chương 3: Luật pháp dạy cho luật sư ....................................................49
Chương 4: Việc áp sự kiện vào luật pháp ................................................76
Chương 5: Xem thêm về câu hỏi pháp lý .............................................116
PHẦN HAI PHƯƠNG PHÁP TƯ DUY PHÁP LÝ
Phương pháp tư duy pháp lý ................................................................131
Chương 1: Đường dẫn vào tư duy pháp lý ...........................................132
Chương 2: Cách tư duy pháp lý .............................................................152
Chương 3: Thực hành tư duy pháp lý ..................................................165
Chương 4: Một số vụ khác để mở rộng ................................................205
Chương 5: Tính tương đối của câu hỏi pháp lý ..................................289 PHẦN BA THỰC TẬP
Thực tập .................................................................................................325
Chương 1: Một số vụ ..............................................................................326
Chương 2: Giải đáp đề nghị ..................................................................388
PHẦN BỐN MỞ RỘNG KIẾN THỨC
Mở rộng kiến thức .................................................................................395
Bài 1: Sự khác biệt giữa hai cách trình bày
luật pháp dạy cho sinh viên luật ................................................397
Bài 2: Dân luật và thông luật khác nhau thế nào? ...............................402
Bài 3: Các bản án: sự khác biệt trên thực tế .........................................409
Bài 4: Irac - Một cách tư duy pháp lý ở Mỹ ...........................................422
Bài 5: Suy nghĩ như một luật sư ............................................................427
Bài 6: Những điều luật sư không được làm với khách hàng ................430
Bài 7: Nội dung hợp đồng chuyển giao nghĩa vụ hay thế cải ..............437
Sách tham khảo......................................................................................441 PHẦN MỘT SỬA SOẠN TINH THẦN CHƯƠNG Các vấn đề cơ bản 1 Mục 1: Tư duy pháp lý là gì?
TDPL là cách thức suy nghĩ của luật sư để tìm ra giải pháp cho một vụ tranh
chấp phù hợp với luật lệ. Một vụ tranh chấp có thể là một vụ án ở tòa, hay
một vấn đề về luật lệ phải giải quyết. Muốn tìm ra giải pháp thì phải đi tìm
câu hỏi pháp lý của vụ đó. Thí dụ, một vụ hối lộ được đem ra xét xử thì vấn
đề pháp lý của nó là: quà biếu được đưa trước hay sau khi có giấy phép? Và
giá trị món quà là bao nhiêu?
Mỗi vụ tranh chấp thường có nhiều vấn đề pháp lý; luật sư phải đi tìm
vấn đề nào là chính, là quan trọng nhất, tìm ra và giải quyết được rồi thì sẽ
dễ dàng giải quyết các vấn đề khác ít quan trọng hơn. Quá trình đi tìm được
thực hiện bằng cách suy nghĩ trong đầu nên được gọi là TDPL. I.
Khái niệm về vấn đề pháp lý – Câu hỏi pháp lý – Câu hỏi mấu chốt
Khi bạn phải suy nghĩ về một việc gì đó thì nó là “một vấn đề” của bạn. Thí
dụ… lấy chồng! Bạn sẽ phải suy nghĩ nhiều thứ. Đó là những điều khác nhau
về mặt tình cảm. Ta gọi nó là vấn đề tình cảm. Về vấn đề này ít ai đi hỏi luật sư!
Một doanh nhân cũng có vấn đề của họ. Ấy là làm sao để có lợi nhuận
cao khi sản xuất một sản phẩm nào đó. Đấy là vấn đề kinh doanh. Người ta
không bàn với luật sư về vấn đề ấy; vì nó là vấn đề thương mại.
Là luật sư, khách hàng đưa đến cho bạn một vụ việc mà họ đã làm hay
định làm để hỏi ý kiến của bạn. Vụ việc họ hỏi thì đối với luật sư là vấn đề
pháp lý.
Nó sẽ tạo ra nhiều câu hỏi liên quan đến luật, gọi là câu hỏi pháp
lý.
Thí dụ một phụ nữ đến kể với bạn là thường bị ông chồng đánh, ông ta vũ
C á c v ấ n đ ề c ơ b ả n 15
phu lắm; vậy phải đối xử với ông ta như thế nào? Ly hôn được không? Vụ việc
đó là một vấn đề hay một câu hỏi pháp lý đối với bạn. Nó có ba yếu tố: (i) ông
chồng hay đánh đập vợ; (ii) bị đánh đập thì ly hôn được không hay đi thưa về
tội hành hạ người khác nếu muốn con cái vẫn có cha? (iii) suy nghĩ để chọn
thưa tội nào; tức là áp dụng luật nào? Yếu tố (i) được gọi là sự kiện có thể
gồm những lần khác nhau bà kia bị đánh. Yếu tố (ii) là luật pháp điều chỉnh
(luật hôn nhân gia đình hay luật hình sự). Yếu tố (iii) là sự chọn lựa luật điều
chỉnh
. Sự chọn lựa đó có thể trở thành tranh chấp khi bên đối phương (là
người chồng) có ý kiến trái ngược. Nếu luật điều chỉnh không bị tranh chấp,
hay áp dụng được thì yếu tố (iii) trở thành giải pháp hay chế tài (phạt cải tạo,
cho ly hôn). Vậy một câu hỏi hay một vấn đề pháp lý thường có ba yếu tố và
nó thường là một cuộc tranh chấp giữa hai bên. Hai bên này khi chưa ra tòa
thì là thủ phạm và nạn nhân; lúc ở tòa thì là nguyên đơn và bị đơn.
Người ta phân biệt luật lệ mà bạn đã học khi còn ở trường là luật pháp
trên lý thuyết. Luật pháp mà luật sư phải xem xét hay sẽ đem đến hình phạt
luật pháp trong thực tế. Công việc của bạn nằm trong lĩnh vực sau và nó
thường gắn với các sự kiện.
Khi còn học luật, bạn biết một quy phạm pháp luật có ba phần: giả định,
quy định, và chế tài. Thường bạn nhớ nhiều hai phần sau. Thế nhưng khi
luật được đưa vào thực tế thì người ta chú trọng nhiều vào phần giả định.
Và nó có muôn màu muôn vẻ: là các vụ việc đã xảy ra trong cuộc sống hằng
ngày. Ta sẽ gọi nó là các vụ việc. Mỗi một khách hàng đến gặp bạn có một
vụ việc khác nhau. Như vậy nghĩa là phần giả định trong một quy phạm
pháp luật khi đi vào thực tế sẽ trở thành đa diện, đa sắc. Và chúng được gọi
thực tại, thực tế sự kiện.
“Thực tại là những gì có thực chứ không mộng tưởng1”; hoặc là tổng thể
nói chung của những gì đang tồn tại xung quanh chúng ta theo nghĩa triết
học, thí dụ, một gia đình hạnh phúc. Thực tế cũng là tổng thể nói chung
“những gì đang tồn tại, đang diễn ra trong tự nhiên và trong xã hội, về mặt
có quan hệ đến đời sống con người2”, thí dụ, hai vợ chồng yêu nhau. Ở đây
hai nghĩa này được dùng lẫn lộn với nhau, tùy ngữ cảnh. Sự kiện là một việc
gì đó đã xảy ra, thí dụ, cành cây gãy rơi xuống đất
1 Từ điển và Danh từ triết học của Trần Văn Hiến Minh.
2 Từ điển tiếng Việt của Hoàng Phê.
16 TƯ DUY PHÁP LÝ CỦA LUẬT SƯ
Câu hỏi pháp lý được đặt ra khi bạn tìm cách giải quyết một vụ tranh
chấp hay một vấn đề pháp lý. Trở lại vụ bà nữ thân chủ nêu ở trên, ta có thể
đặt ra câu hỏi pháp lý gồm 3 yếu tố như sau:
• Một vụ việc nhất định (đã xảy ra hay sẽ xảy ra): bà ấy thường bị chồng
đánh. Vụ việc ấy gọi là một sự kiện, hay sự kiện pháp lý.
• Một điều luật nhất định điều chỉnh sự kiện ấy: Luật hôn nhân gia
đình. Điều luật ấy khi được dẫn ra hay chiếu vào thì sẽ có hướng để
giải đáp vấn đề của sự kiện.
• Sự kết hợp giữa luật điều chỉnh với sự kiện đã tạo nên tranh cãi: Bị bạo
hành như thế có thể xin ly hôn được không? Hoặc bạn phải băn khoăn
áp dụng như thế không biết đúng hay sai; hoặc có một chế tài phát sinh. Các sự kiện + CÂU HỎI Luật áp dụng PHÁP LÝ +
Mối băn khoăn/tranh cãi về sự kết hợp trên. Kết quả mong muốn
Xin nêu một thí dụ khác làm rõ hơn câu hỏi pháp lý:
Một nhân viên đi giao hàng của công ty mình cho một cửa hàng bán lẻ.
Trên đường đi người này ghé vào một tiệm sách và bị thương vì xe đụng
trên đường từ tiệm sách đến cửa hàng bán lẻ. Vậy có thể áp dụng luật lao
động không và nạn nhân có được coi là bị tai nạn lao động không?
Ta phân tích 3 yếu tố nằm trong câu hỏi pháp lý:
a. (i) Nhân viên đi giao hàng công ty cho một cửa hàng bán lẻ; (ii) trên
đường ghé tiệm sách; và (iii) bị thương vì xe đụng trên đường từ tiệm
sách đến cửa hàng bán lẻ là các sự kiện pháp lý.
b. Có thể dựa trên luật lao động không? là luật điều chỉnh hay luật áp dụng.
c. Nạn nhân có được coi là bị tai nạn lao động không? là câu hỏi pháp lý.
C á c v ấ n đ ề c ơ b ả n 17
Trong vụ này ta thấy có ba sự kiện. Trong đó sự kiện quan trọng nhất là
“bị thương vì đụng xe khi đi từ tiệm sách đến cửa hàng bán lẻ”. Sở dĩ ta nói
được như thế vì mình đã suy nghĩ, đã phân tích và so sánh với các sự kiện
khác. Sự kiện quan trọng nhất kia được gọi sự kiện mấu chốt (SKMC). Hai
sự kiện còn lại là sự kiện phụ thuộc. Trong TDPL người ta xem xét các sự
kiện khác nhau trong nội vụ để tìm ra SKMC. Từ SKMC người ta sẽ đặt được
câu hỏi pháp lý. Và nó sẽ là câu hỏi mấu chốt (CHMC).
Để so sánh, câu hỏi pháp lý được sách vở của Mỹ định nghĩa là: “… Một
điểm riêng rẽ, chắc chắn và quan trọng; nó là một vấn đề mà bên này xác
định, nhưng bên kia phủ nhận. Khi một sự kiện được một bên nêu trong đơn
khởi kiện nhưng bị bên kia bác bỏ trong bản ý kiến phúc đáp thì sự kiện đó
trở thành một câu hỏi giữa hai bên”1. Câu hỏi có hai thứ: về pháp lý (“issue
of law”)
về sự kiện (“issue of fact”).
Bạn thấy định nghĩa này chú trọng vào
yếu tố (iii) ta nêu ở trên. Khi học ở Mỹ, đọc câu định nghĩa này rồi mà tôi vẫn
còn “bơi ná thở” vì chưa biết hết các yếu tố của CHPL. Vì thế ở cuối Phần này
tôi dành một chương riêng đưa ra các vụ án để các bạn nắm CHPL cho chắc.
Vì TDPL trình bày ở đây được du nhập từ Mỹ và được cải biến ít nhiều
cho phù hợp với hoàn cảnh của ta nên tôi nêu ở đây các khái niệm và từ
ngữ tương đương ở Mỹ có liên quan đến các điều ta học. “Câu hỏi pháp lý”
thì người Mỹ nói là “legal issue”. Từ ngữ “câu hỏi” không thôi là “issue” hay
“question”. Từ “issue” hay được sử dụng trong một vụ tranh chấp và dùng
ở tòa; còn “question” hay dùng trong văn bản hoặc nói chuyện. “Đi tìm câu
hỏi pháp lý” thì tiếng Anh là “spotting the isue” hay “pick up the issue”.
“Câu hỏi mấu chốt” là “key issue”.
Ở Mỹ hay Anh, việc chánh án làm khi soạn bản án được gọi là “legal
reasoning” (tư duy pháp lý). Luật sư tham dự một phần lớn trong đó (đưa giải
pháp và đề nghị biện pháp) nên việc luật sư làm được gọi là “thinking like a
lawyer” hay “lawyering skill” (suy nghĩ kiểu của luật sư, tài ba của luật sư).
Luật sư và sinh viên luật ở Mỹ thường chỉ nói đơn giản là “legal issue”
(câu hỏi pháp lý) hay “key issue” (câu hỏi mấu chốt). Tuy nhiên, họ lại có
các khái niệm pháp lý rất chi tiết vì thừa hưởng văn hóa của người Anh. Mà
ở Anh, vào những thập kỷ lập quốc đầu tiên, khi ra tòa hai bên không có
1 Từ điển Black’s Law định nghĩa về “issue”.
18 TƯ DUY PHÁP LÝ CỦA LUẬT SƯ