Sản xuất hàng hóa gì? Điều kiện ra đời tồn
tại của sản xuất hàng hóa
1. Khái quát về hàng hóa sản xuất hàng hóa.
Hàng hóa sản phẩm của lao động thể thỏa mãn nhu cầu nào đó của con
người đi vào tiêu dùng thông qua trao đổi mua n.
Lịch sử phát triển của nền sản xuất hội đã đang trải qua hai kiểu tổ
chức kinh tế, đó sản xuất tự cung tự cấp sản xuất hàng hóa. Sản xuất tự
cung tự cấp kiểu t chức kinh tế đó sản phẩm do lao động tạo ra
nhằm để thỏa mãn trực tiếp nhu cầu của người sản xuất. Sản xuất hàng hóa
sản xuất ra sản phẩm đ bán. Hay nói cách khác, sản xuất hàng hóa
kiểu t chức sản xuất trong đó, sản phẩm làm ra không phải để đáp ng
nhu cầu tiêu dùng của chính người trực tiếp sản xuất ra để đáp ng
nhu cầu tiêu dùng của người khác thông qua trao đổi, mua bán.
Sản xuất hàng hóa ra đời bước ngoặt căn bản trong lịch sử phát triển của
loài người. Sản xuất hàng hóa làm a bỏ nền kinh tế tự nhiên, phát triển
nhanh chóng lực lượng sản xuất làm nâng cao hiệu quả kinh tế của hội.
Hàng hóa thể tồn tại dưới dạng vật thể hoặc phi vật thể. Từ khái niệm này,
ta thể rút ra kết luận một đồ vật muốn trở thành hàng hoá cần phải thỏa
mãn 3 yếu tố:
- Hàng hóa sản phẩm của lao động
- Hàng hóa thể thỏa mãn một nhu cầu nào đó của con người
- Thông qua trao đổi, mua bán
Hàng hóa thể được phân thành nhiều loại như:
- ng hóa đặc biệt
- ng hóa thông thường
- ng hóa thứ cấp
- ng hóa hữu hình
- ng hóa hình
- ng hóa công cộng
- ng hóa nhân
2. Hai thuộc tính của hàng a ?
2.1 Giá tr sử dụng
Giá trị sử dụng công dụng của hàng hóa thể thỏa mãn một số nhu cầu
nào đó của con người. (có thể nhu cầu về vật chất hoặc tinh thần, nhu cầu
nhân, nhu cầu tiêu dùng cho sản xuất…). Đối với giá trị sử dụng, hàng
hóa các đặc điểm như sau:
- G trị sử dụng do thuộc tính tự nhiên của hàng hóa quyết định
- Hàng hóa không nhất thiết ch một giá trị sử dụng duy nhất. Khi khoa học
kỹ thuật càng phát triển người ta ng phát hiện ra nhiều thuộc tính mới của
hàng hóa sử dụng chúng cho nhiều mục đích khác nhau.
- Giá trị sử dụng phạm trù vĩnh viễn tồn tại trong mọi phương thức
hoặc mọi kiểu tổ chức sản xuất.
- Giá trị sử dụng không dành cho bản thân người sản xuất hàng hóa cho
người tiêu dùng hàng hóa (xã hội). Người mua quyền sở hữu sử
dụng hàng hóa theo mục đích của họ. Hay nói cách khác, sản phẩm hàng
hóa đáp ứng nhu cầu của hội.
2.2 Giá tr hàng hóa
Trước tiên, để bạn đọc thể hình dung hơn về khái niệm này, chúng ta
sẽ cùng xét một dụ đơn giản như sau:
Giả sử một con thể được đổi lấy 10kg táo. nghĩa gà táo vật
mang giá trị trao đổi. Trong trường hợp này, hai câu hỏi đặt ra:
Thứ nhất: Tại sao gà táo hai loại hàng hóa khác nhau, giá trị sử dụng
khác nhau lại thể trao đổi với nhau?
Thứ hai: Tại sao chúng ta lại trao đổi theo tỷ lệ nhất định 1:10
Cụ thể trong dụ này, hao p lao động của người nuôi sẽ bằng với hao
phí lao động của người trồng táo. Hay nói cách khác thời gian lao động hội
cần thiết đ nuôi một con sẽ bằng với thời gian lao động hội cần thiết
để trồng được 10kg táo => 1 con giá tr bằng 10kg táo.
=> Giá trị hàng hóa lao động hội của người sản xuất hàng hóa kết tinh
bên trong ng hóa. Giá tr nội dung bên trong của hàng hóa, nó được biểu
hiện ra bên ngoài bằng việc hai hàng hóa thể trao đổi được với nhau. Giá
trị hàng hóa những đặc trưng bản như sau:
+ Biểu hiện mối quan hệ giữa những người sản xuất hàng hóa
+ Là phạm trù lịch sử chỉ tồn tại kinh tế hàng hóa
3. Mối quan hệ giữa hai thuộc tính của hàng hóa
+ Mặt thống nhất: Hai thuộc tính này tồn tại đồng thời trong một sản phẩm,
hàng hóa. Phải đủ hai thuộc tính này sản phẩm, vật phẩm đó mới được
gọi hàng hóa. Nếu thiếu một trong hai thuộc tính, thì sản phẩm, vật phẩm
không được coi hàng hóa.
+ Mặt mâu thuẫn: Người sản xuất làm ra hàng hóa để bán, mục đích của họ
mặt giá trị (tức lợi nhuận) chứ không phải giá trị sử dụng. Trong tay
người bán giá trị s dụng, tuy nhiên cái họ quan tâm giá trị hàng a.
Ngược lại, đối với người mua, họ lại rất cần giá trị sử dụng. Nhưng đ giá
trị sử dụng, trước hết họ cần thực hiện giá trị hàng hóa sau đó mới thể chi
phối giá trị sử dụng. vậy mâu thuẫn giữa hai thuộc tính này chính quá
trình thực hiện giá trị sử dụng giá trị hàng hóa hai quá trình khác
nhau về thời gian không gian. Quá trình thực hiện giá trị được thực hiện
trước (trên thị trường), quá trình thực hiện giá trị sử dụng diễn ra sau (trong
tiêu dùng). Nếu giá trị của hàng hóa không được thực hiện thì sẽ dẫn đến
khủng hoảng sản xuất.
Nói tóm lại, giá trị sử dụng giá trị hàng hóa vừa thống nhất vừa mâu thuẫn
với nhau.
4. Phân tích những điều kiện ra đời và tồn tại của sản xuất hàng
hóa.\
Sản xuất hàng hóa chỉ ra đời khi đủ hai điều kiện đó phân công lao
động hội sự tách biệt tương đối về mặt kinh tế của những người sản
xuất.
4.1 Phân công lao động hội
Phân công lao động hội chính điền kiện cần cho sản xuất hàng hóa ra
đời. Phân công lao động hội sự phân chia lao động hội thành các
ngành, nghề khác nhau. Phân công lao động hội tạo sự chuyên môn hóa
lao động, do đó dẫn đến chuyên môn hóa sản xuất.
sở của phân công lao động hội đó là: dựa trên những ưu thế về tự
nhiên, thuật, ng khiếu, sở trường của từng người cũng như của từng
vùng; dựa trên những đặc điểm, ưu thế về mặt hội như phong tục, tập
quán, ăn ở,… của từng vùng.
Phân công lao động vai trò đó là làm cho việc trao đổi sản phẩm trở thành
tất yếu khi phân công lao động hội thì mỗi người, mỗi sở chỉ sản
xuất một hoặc một vài th sản phẩm nhất định nhưng nhu cầu cuộc sống đòi
hỏi nhiều sản phẩm dẫn đến họ phải trao đổi sản phẩm với nhau. Ngoài ra,
phân công lao động hội còn làm cho năng suất lao động hội tăng lên,
do đó ngày càng nhiều sản phẩm thặng lên trao đổi.
Tuy nhiên, phân ng lao động hội mới chỉ điều kiện cần nhưng chưa đ
để sản xuất hàng hóa ra đời tồn tại. vậy, muốn sản xuất hàng hóa ra
đời tồn tại phải điều kiện thứ hai.
4.2 Sự tách biệt tương đối về mặt kinh tế của những người sản xuất
Bên cạnh điều kiện cần sự phân công lao động hội, t cần phải điều
kiện đủ, đó phải sự tách biệt tương đối về mặt kinh tế giữa những người
sản xuất.
Sự tách biệt tương đối về mặt kinh tế tức những người sản xuất trở thành
những chủ thể sự độc lập nhất định với nhau. Do đó sản phẩm làm ra
thuộc quyền sở hữu của các chủ thể kinh tế hoặc do h chi phối, người này
muốn tiêu dùng sản phẩm lao động của người khác cần phải thông qua trao
đổi, mua bán hàng hoá.
ba sở của điều kiện này. Trong lịch sử, sự ch biệt này do chế độ
hữu về liệu sản xuất quy định còn trong điều kiện của nền sản xuất hiện
đại, sự tách biệt này còn do các hình thức sở hữu khác nhau về liệu sản
xuất sự tách rời giữa quyền sở hữu quyền sử dụng đối với liệu sản
xuất quy định.
Trong chế độ tư hữu về liệu sản xuất thì liệu sản xuất thuộc sở hữu của
mỗi nhân kết quả sản phẩm m ra thuộc quyền sở hữu của họ. Cụ
thể, sản xuất hàng hoá ra đời trong chế độ chiếm hữu lệ. Sự tách biệt này
do các quan hệ sở hữu khác nhau về liệu sản xuất, mà khởi thủy chế độ
hữu nhỏ về liệu sản xuất, đã xác định người sở hữu liệu sản xuất
người sở hữu sản phẩm lao động. Như vậy, chính quan hệ sở hữu khác nhau
về liệu sản xuất đã làm cho những người sản xuất độc lập, đối lập với
nhau, nhưng h lại nằm trong hệ thống phân công lao động hội nên họ phụ
thuộc lẫn nhau về sản xuất tiêu dùng. Trong điều kiện ấy người này muốn
tiêu dùng sản phẩm cùa người khác phải thông qua việc mua - bán hàng hóa,
tức là phải trao đổi dưới những hình thái hàng hóa.
sở thứ ba đó do sự tách rời giữa quyền sở hữu quyền sử dụng trực
tiếp liệu sản xuất quy định. Sự tách biệt về kinh tế không chỉ sự khác biệt
về quyền sở hữu còn khác biệt quyền sử dụng những khối lượng liệu
sản xuất khác nhau của cùng một chủ thể sở hữu. Khi sự tách biệt về kinh tế
giữa những chủ thể sản xuất tồn tại trong điều kiện sự phân công lao động
hội thì việc trao đổi sản phẩm giữa những chủ thể khác nhau phải đảm
bảo được lợi ích của họ. Điều đó chỉ thể được khi trao đổi dựa trên
nguyên tắc ngang giá, đi lại tức trao đổi hàng hóa, sản phẩm của lao
động trở thành hàng hóa.
Sự tách biệt tương đối về mặt kinh tế giữa những người sản xuất làm cho
sản phẩm làm ra thuộc quyền sở hữu hoặc chi phối của người sản xuất đó,
do đó họ mới quyền mang đi bán. Thêm vào đó, sự tách biệt ấy còn
làm cho quan hệ trao đổi của chủ thể đó tất yếu mang hình thái trao đổi hàng
hóa, sự tách biệt tương đối về mặt kinh tế làm cho những chủ thể sản xuất
ấy lợi ích kinh tế độc lập với nhau. Chính vậy, sản phẩm làm ra phải
mang hình thức trao đổi theo nguyên tắc ngang giá mới công bằng, bình
đẳng, đảm bảo lợi ích của các chủ thể đó.
Trên đây hai điều kiện cần đủ để sản xuất trao đổi hàng hóa. Nếu
thiếu một trong hai điều kiện sẽ không sản xuất trao đổi hàng hóa.
vậy, sản xuất hàng hóa một phạm trù lịch sử tức chỉ tồn tại khi cả
hai điều kiện mất đi khi một trong hai điều kiện đó mất đi.

Preview text:

Sản xuất hàng hóa là gì? Điều kiện ra đời và tồn
tại của sản xuất hàng hóa
1. Khái quát về hàng hóa và sản xuất hàng hóa.
Hàng hóa là sản phẩm của lao động có thể thỏa mãn nhu cầu nào đó của con
người và đi vào tiêu dùng thông qua trao đổi mua bán.
Lịch sử phát triển của nền sản xuất xã hội đã và đang trải qua hai kiểu tổ
chức kinh tế, đó là sản xuất tự cung tự cấp và sản xuất hàng hóa. Sản xuất tự
cung tự cấp là kiểu tổ chức kinh tế mà ở đó sản phẩm do lao động tạo ra
nhằm để thỏa mãn trực tiếp nhu cầu của người sản xuất. Sản xuất hàng hóa
là sản xuất ra sản phẩm để bán. Hay nói cách khác, sản xuất hàng hóa là
kiểu tổ chức sản xuất mà trong đó, sản phẩm làm ra không phải để đáp ứng
nhu cầu tiêu dùng của chính người trực tiếp sản xuất ra nó mà để đáp ứng
nhu cầu tiêu dùng của người khác thông qua trao đổi, mua bán.
Sản xuất hàng hóa ra đời là bước ngoặt căn bản trong lịch sử phát triển của
loài người. Sản xuất hàng hóa làm xóa bỏ nền kinh tế tự nhiên, phát triển
nhanh chóng lực lượng sản xuất và làm nâng cao hiệu quả kinh tế của xã hội.
Hàng hóa có thể tồn tại dưới dạng vật thể hoặc phi vật thể. Từ khái niệm này,
ta có thể rút ra kết luận một đồ vật muốn trở thành hàng hoá cần phải thỏa mãn 3 yếu tố:
- Hàng hóa là sản phẩm của lao động
- Hàng hóa có thể thỏa mãn một nhu cầu nào đó của con người
- Thông qua trao đổi, mua bán
Hàng hóa có thể được phân thành nhiều loại như: - Hàng hóa đặc biệt - Hàng hóa thông thường - Hàng hóa thứ cấp - Hàng hóa hữu hình - Hàng hóa vô hình - Hàng hóa công cộng - Hàng hóa tư nhân …
2. Hai thuộc tính của hàng hóa là gì ? 2.1 Giá trị sử dụng
Giá trị sử dụng là công dụng của hàng hóa có thể thỏa mãn một số nhu cầu
nào đó của con người. (có thể là nhu cầu về vật chất hoặc tinh thần, nhu cầu
cá nhân, nhu cầu tiêu dùng cho sản xuất…). Đối với giá trị sử dụng, hàng
hóa có các đặc điểm như sau:
- Giá trị sử dụng do thuộc tính tự nhiên của hàng hóa quyết định
- Hàng hóa không nhất thiết chỉ có một giá trị sử dụng duy nhất. Khi khoa học
kỹ thuật càng phát triển người ta càng phát hiện ra nhiều thuộc tính mới của
hàng hóa và sử dụng chúng cho nhiều mục đích khác nhau.
- Giá trị sử dụng là phạm trù vĩnh viễn vì nó tồn tại trong mọi phương thức
hoặc mọi kiểu tổ chức sản xuất.
- Giá trị sử dụng không dành cho bản thân người sản xuất hàng hóa mà cho
người tiêu dùng hàng hóa (xã hội). Người mua có quyền sở hữu và sử
dụng hàng hóa theo mục đích của họ. Hay nói cách khác, sản phẩm hàng
hóa đáp ứng nhu cầu của xã hội. 2.2 Giá trị hàng hóa
Trước tiên, để bạn đọc có thể hình dung rõ hơn về khái niệm này, chúng ta
sẽ cùng xét một ví dụ đơn giản như sau:
Giả sử một con gà có thể được đổi lấy 10kg táo. Có nghĩa là gà và táo là vật
mang giá trị trao đổi. Trong trường hợp này, có hai câu hỏi đặt ra:
Thứ nhất: Tại sao gà và táo là hai loại hàng hóa khác nhau, có giá trị sử dụng
khác nhau lại có thể trao đổi với nhau?
Thứ hai: Tại sao chúng ta lại trao đổi theo tỷ lệ nhất định 1:10
Cụ thể trong ví dụ này, hao phí lao động của người nuôi gà sẽ bằng với hao
phí lao động của người trồng táo. Hay nói cách khác thời gian lao động xã hội
cần thiết để nuôi một con gà sẽ bằng với thời gian lao động xã hội cần thiết
để trồng được 10kg táo => 1 con gà có giá trị bằng 10kg táo.
=> Giá trị hàng hóa là lao động xã hội của người sản xuất hàng hóa kết tinh
bên trong hàng hóa. Giá trị là nội dung bên trong của hàng hóa, nó được biểu
hiện ra bên ngoài bằng việc hai hàng hóa có thể trao đổi được với nhau. Giá
trị hàng hóa có những đặc trưng cơ bản như sau:
+ Biểu hiện mối quan hệ giữa những người sản xuất hàng hóa
+ Là phạm trù lịch sử chỉ tồn tại ở kinh tế hàng hóa
3. Mối quan hệ giữa hai thuộc tính của hàng hóa
+ Mặt thống nhất: Hai thuộc tính này tồn tại đồng thời trong một sản phẩm,
hàng hóa. Phải có đủ hai thuộc tính này sản phẩm, vật phẩm đó mới được
gọi là hàng hóa. Nếu thiếu một trong hai thuộc tính, thì sản phẩm, vật phẩm
không được coi là hàng hóa.
+ Mặt mâu thuẫn: Người sản xuất làm ra hàng hóa để bán, mục đích của họ
là mặt giá trị (tức là lợi nhuận) chứ không phải là giá trị sử dụng. Trong tay
người bán có giá trị sử dụng, tuy nhiên cái mà họ quan tâm là giá trị hàng hóa.
Ngược lại, đối với người mua, họ lại rất cần giá trị sử dụng. Nhưng để có giá
trị sử dụng, trước hết họ cần thực hiện giá trị hàng hóa sau đó mới có thể chi
phối giá trị sử dụng. Vì vậy mâu thuẫn giữa hai thuộc tính này chính là quá
trình thực hiện giá trị sử dụng và giá trị hàng hóa là hai quá trình khác
nhau về thời gian và không gian. Quá trình thực hiện giá trị được thực hiện
trước (trên thị trường), quá trình thực hiện giá trị sử dụng diễn ra sau (trong
tiêu dùng). Nếu giá trị của hàng hóa không được thực hiện thì sẽ dẫn đến khủng hoảng sản xuất.
Nói tóm lại, giá trị sử dụng và giá trị hàng hóa vừa thống nhất vừa mâu thuẫn với nhau.
4. Phân tích những điều kiện ra đời và tồn tại của sản xuất hàng hóa.\
Sản xuất hàng hóa chỉ ra đời khi có đủ hai điều kiện đó là có phân công lao
động xã hội và có sự tách biệt tương đối về mặt kinh tế của những người sản xuất.
4.1 Phân công lao động xã hội
Phân công lao động xã hội chính là điền kiện cần cho sản xuất hàng hóa ra
đời. Phân công lao động xã hội là sự phân chia lao động xã hội thành các
ngành, nghề khác nhau. Phân công lao động xã hội tạo sự chuyên môn hóa
lao động, do đó dẫn đến chuyên môn hóa sản xuất.
Cơ sở của phân công lao động xã hội đó là: dựa trên những ưu thế về tự
nhiên, kĩ thuật, năng khiếu, sở trường của từng người cũng như của từng
vùng; dựa trên những đặc điểm, ưu thế về mặt xã hội như phong tục, tập
quán, ăn ở,… của từng vùng.
Phân công lao động có vai trò đó là làm cho việc trao đổi sản phẩm trở thành
tất yếu vì khi có phân công lao động xã hội thì mỗi người, mỗi cơ sở chỉ sản
xuất một hoặc một vài thứ sản phẩm nhất định nhưng nhu cầu cuộc sống đòi
hỏi nhiều sản phẩm dẫn đến họ phải trao đổi sản phẩm với nhau. Ngoài ra,
phân công lao động xã hội còn làm cho năng suất lao động xã hội tăng lên,
do đó ngày càng nhiều sản phẩm thặng dư lên trao đổi.
Tuy nhiên, phân công lao động xã hội mới chỉ là điều kiện cần nhưng chưa đủ
để sản xuất hàng hóa ra đời và tồn tại. Vì vậy, muốn sản xuất hàng hóa ra
đời và tồn tại phải có điều kiện thứ hai.
4.2 Sự tách biệt tương đối về mặt kinh tế của những người sản xuất
Bên cạnh điều kiện cần là sự phân công lao động xã hội, thì cần phải có điều
kiện đủ, đó là phải có sự tách biệt tương đối về mặt kinh tế giữa những người sản xuất.
Sự tách biệt tương đối về mặt kinh tế tức là những người sản xuất trở thành
những chủ thể có sự độc lập nhất định với nhau. Do đó sản phẩm làm ra
thuộc quyền sở hữu của các chủ thể kinh tế hoặc do họ chi phối, người này
muốn tiêu dùng sản phẩm lao động của người khác cần phải thông qua trao đổi, mua bán hàng hoá.
Có ba cơ sở của điều kiện này. Trong lịch sử, sự tách biệt này là do chế độ
tư hữu về tư liệu sản xuất quy định còn trong điều kiện của nền sản xuất hiện
đại, sự tách biệt này còn do các hình thức sở hữu khác nhau về tư liệu sản
xuất và sự tách rời giữa quyền sở hữu và quyền sử dụng đối với tư liệu sản xuất quy định.
Trong chế độ tư hữu về tư liệu sản xuất thì tư liệu sản xuất thuộc sở hữu của
mỗi cá nhân và kết quả là sản phẩm làm ra thuộc quyền sở hữu của họ. Cụ
thể, sản xuất hàng hoá ra đời trong chế độ chiếm hữu nô lệ. Sự tách biệt này
do các quan hệ sở hữu khác nhau về tư liệu sản xuất, mà khởi thủy là chế độ
tư hữu nhỏ về tư liệu sản xuất, đã xác định người sở hữu tư liệu sản xuất là
người sở hữu sản phẩm lao động. Như vậy, chính quan hệ sở hữu khác nhau
về tư liệu sản xuất đã làm cho những người sản xuất độc lập, đối lập với
nhau, nhưng họ lại nằm trong hệ thống phân công lao động xã hội nên họ phụ
thuộc lẫn nhau về sản xuất và tiêu dùng. Trong điều kiện ấy người này muốn
tiêu dùng sản phẩm cùa người khác phải thông qua việc mua - bán hàng hóa,
tức là phải trao đổi dưới những hình thái hàng hóa.
Cơ sở thứ ba đó là do sự tách rời giữa quyền sở hữu và quyền sử dụng trực
tiếp tư liệu sản xuất quy định. Sự tách biệt về kinh tế không chỉ ở sự khác biệt
về quyền sở hữu mà còn khác biệt ở quyền sử dụng những khối lượng tư liệu
sản xuất khác nhau của cùng một chủ thể sở hữu. Khi sự tách biệt về kinh tế
giữa những chủ thể sản xuất tồn tại trong điều kiện có sự phân công lao động
xã hội thì việc trao đổi sản phẩm giữa những chủ thể khác nhau phải đảm
bảo được lợi ích của họ. Điều đó chỉ có thể có được khi trao đổi dựa trên
nguyên tắc ngang giá, có đi có lại tức là trao đổi hàng hóa, sản phẩm của lao
động trở thành hàng hóa.
Sự tách biệt tương đối về mặt kinh tế giữa những người sản xuất làm cho
sản phẩm làm ra thuộc quyền sở hữu hoặc chi phối của người sản xuất đó,
do đó họ mới có quyền mang nó đi bán. Thêm vào đó, sự tách biệt ấy còn
làm cho quan hệ trao đổi của chủ thể đó tất yếu mang hình thái trao đổi hàng
hóa, vì sự tách biệt tương đối về mặt kinh tế làm cho những chủ thể sản xuất
ấy có lợi ích kinh tế độc lập với nhau. Chính vì vậy, sản phẩm làm ra phải
mang hình thức trao đổi theo nguyên tắc ngang giá mới công bằng, bình
đẳng, đảm bảo lợi ích của các chủ thể đó.
Trên đây là hai điều kiện cần và đủ để có sản xuất và trao đổi hàng hóa. Nếu
thiếu một trong hai điều kiện sẽ không có sản xuất và trao đổi hàng hóa. Vì
vậy, sản xuất hàng hóa là một phạm trù lịch sử tức là nó chỉ tồn tại khi có cả
hai điều kiện và mất đi khi một trong hai điều kiện đó mất đi.
Document Outline

  • Sản xuất hàng hóa là gì? Điều kiện ra đời và tồn t
    • 1. Khái quát về hàng hóa và sản xuất hàng hóa.
    • 2. Hai thuộc tính của hàng hóa là gì ?
      • 2.1 Giá trị sử dụng
      • 2.2 Giá trị hàng hóa
    • 3. Mối quan hệ giữa hai thuộc tính của hàng hóa
    • 4. Phân tích những điều kiện ra đời và tồn tại của
      • 4.1 Phân công lao động xã hội
      • 4.2 Sự tách biệt tương đối về mặt kinh tế của nhữn