Chương 1. Sinh trưởng và phát triển của cơ thể
1.1. Giới thiệu chung về cơ thể người
- Là 1 thể thống nhất và thống nhất với môi trường sống.
- Có khả năng trao đổi chất với môi trường xung quanh để sinh trưởng, phát triển và sinh sản.
1.1. Cấu tạo và chức năng của tế bào và mô
1.1.1. Tế bào
a, Cấu tạo
- Màng tế bào:
+ Bao bên ngoài nhằm bảo vệ tế bào + tạo hình dạng nhất định.
+ Khả năng bán thấm có chọn lọc => quá trình trao đổi chất giữa cơ thể với môi trường.
- Tế bào chất:
+ Trong màng tế bào, trong suốt, lỏng hoặc hơi đặc.
+ Nguyên sinh chất có nhiều ống nhỏ phân nhánh đảm bảo mlh giữa các phần. Là nơi chứa các
cơ quan tử - phụ trách những chức năng nhất định, đảm bảo cho hoạt động bình thường. Có
chuyên hóa.
Ví dụ:
+ Ti thể tích lũy năng lượng cho tế bào.
+ Tổng hợp và phân giải protein do riboxom và lưới nội chất.
- Nhân:
+ Nằm trong nguyên sinh chất, hình trứng, bao bọc bởi màng kép.
+ Là trung tâm hoạt động, quyết định hình dáng, kích thước và chức năng của tế bào.
+ Chức năng sinh sản.
b, Thành phần của tế bào:
- Nước và chất vô cơ (muối) chiếm ¾ KL. ¼ là các chất hữu cơ.
- Protein:
+ Vật chất cấu tạo mọi tế bào.
+ Tham gia tổ chức các quá trình sống.
+ Hơn 20 axit amin tham gia vào cấu tạo protein => Phong phú, đa dạng.
+ Enzym là protein có vai trò xúc tác các phản ứng.
- Axit nucleic:
+ Nằm trong nhân, là các polynucleotit.
+ Tạo protein từ amino axit cho chuỗi tế bào.
+ Giữ được bản chất di truyền.
- Gluxit:
+ Gồm monosaccarit và polisaccarit.
+ Đường glucoza dùng để duy trì năng lượng hàng ngày, có mặt trong tất cả tế bào và máu
(lượng nhỏ). Thường trong gan và cơ.
- Lipit: Chất dự trữ cơ thể, giá trị năng lượng rất lớn.
c, Tế bào là đơn vị cơ bản của trạng thái sống:
- Biến đổi năng lượng từ dạng này sang dạng khác.
- Sinh trưởng và phân chia.
- Tính đặc trưng.
- Biểu hiện khả năng phản ứng và hưng phấn.
1.1.1.2. Mô:
- Mô là hệ thống phức tạp, tập đoàn tế bào đã biệt hóa và những cấu trúc không phải tế bào
thích ứng với các chức phận xác định.
- 4 loại: Biểu mô, mô liên kết, mô cơ và mô thần kinh.
a, Biểu mô: (Mô thượng bì)
- Là loại có các tế bào sắp xếp sát nhau, có ít gian bào xen giữa. Gồm biểu mô phủ và tuyến.
- Biểu mô phủ:
+ Phủ ngoài mặt cơ thể hoặc lót trong các khoang thiên nhiên của cơ thể.
+ Chức năng bảo vệ và trao đổi chất.
- Biểu mô tuyến (tuyến):
+ Tập hợp tế bào được tổ chức để chế tiết và bài xuất. 2 loại:
Tuyến ngoại tiết: Chất chế tiết được bài xuất ra ngoài hay vào khoang thiên nhiên của cơ thể thông với
ngoài qua 1 ống trung gian. 2 phần: chế tiết và bài xuất.
Tuyến nội tiết: Chất tiết ngấm trực tiếp vào máu (không có ống bào xuất). Có mao mạch dồi dào.
b, Mô liên kết:
- Là loại mô các tế bào xếp không sát nhau, nhiều chất gian vào giữa các tế bào.
- Thành phần chủ yếu là các gian bào.
- Có 2 loại mô liên kết: Chức năng dinh dưỡng (máu và bạch huyết) và chức năng đệm cơ học
(xương, sụn).
- Chức năng: dinh dưỡng (đảm bảo cung cấp hoặc giữ gìn các chất dinh dưỡng và oxy), bảo vệ
(sinh ra các chất bảo vệ và làm sạch sơ thể khỏi các chất độc hại) và đệm cơ học.
- Võng mô:
+ Tạo cơ sở cho mọi cơ quan tạo huyết (tủy xương, hạch bạch huyết, tì).
+ Yếu tố có hình sao nối với nhau bằng những nhánh nguyên sinh chất => 1 khối hỗn bào.
+ Chức năng: Tạo huyết, thực bào, bảo vệ cơ thể.
- Máu và bạch huyết:
+ Thành phần chủ yếu là chất lỏng (huyết tương). Có huyết cầu (hồng cầu, bạch cầu) và các
huyết thể nhỏ.
+ Lưu thông trong hệ mạch, chức năng trao đổi chất giữa cơ thể và môi trường.
- Mô sụn:
+ Có yếu tố gian bào phát triển, các tế nào nằm rải rác trong gian bào trong bao nang.
Sụn trong: sườn, mũi.
Sụn đàn hồi: thành vành tai, thành ống tai ngoài, thanh quản.
Sụn liên kết sợi: đũa sụn gian đốt.
+ Tăng trưởng nhờ có màng sụn bọc ngoài. 2 lớp: ngoài và trong – có khả năng sinh sản.
+ Không có mạch máu.
- Mô xương:
+ Có lớp màng xương (cốt mạc) phủ ngoài.
+ 2 lớp: Lớp ngoài là mô liên kết sợi chắc và lớp trong là các tế bào sinh xương có khả năng
sinh sản.
+ Chất gian bào do những tơ sợi sinh keo cấu tạo xếp thành những tấm dẹp (tẩm muối vô cơ)
=> Vừa đặc, vừa chắc lại vừa đàn hồi.
c, Mô cơ:
+ Cấu tạo bởi những tế bào đã biệt hóa với chức năng co duỗi, nhờ trong bào tương có tơ cơ.
+ Tế bào cơ dài nên có sợi cơ. 3 loại mô cơ:
Mô cơ vân: Điều khiển theo ý muốn. Thường bám vào xương, số ít bám vào da. Cấu tạo từ những tế bào
cơ hay sợi cơ.
Mô cơ trơn: Tế bào cơ có dạng thuôn nhọn 2 đầu, 1 nhân hình que, chất nguyên sinh và nhiều tơ cơ xếp
dọc cùng 1 hướng theo chiều dài tế bào. Tham gia cấu tạo các nội quan và thành mạch máu. Co rút không
theo ý muốn.
Mô cơ tim: Cơ vân là những vân ngang. Mỗi sợi tim là 1 tế bào, mỗi tế bào chỉ có 1 nhân nằm giữa sợi
cơ. Tế bào tạo thành lưới bằng cách liên kết tế bào => Ti tim. Hoạt động co duỗi k theo ý muốn.
d, Mô thần kinh:
- Là loại mô phân hóa cao độ, có khả năng cảm ứng được các loại kích thích của môi trường.
- Thành phần mô gồm các tế bào thần kinh (neuron). Cấu tạo gồm: Thân tế bào, sợi trục, sợi
nhánh (1 hoặc nhiều nhánh).
1.1.1.3. Cơ quan – hệ cơ quan:
Tế bào => Mô => Cơ quan => Hệ cơ quan => Cơ thể
Hệ cơ quan trong người gồm: Hệ vận động (cơ và xương), hệ tiêu hóa, hệ hô hấp, hệ tuần hoàn,
hệ niệu sinh dục, hệ thần kinh, hệ nội tiết, cơ quan cảm giác.
1.1.2. Cơ thể là 1 khối thống nhất và là 1 hệ thống tự điều chỉnh:
1.1.2.1. Cơ thể là 1 khối thống nhất:
Mọi cơ quan, mô, tế bào đều được liên kết với nhau thành 1 khối thống nhất trong cơ thể.
a, Sự thống nhất giữa đồng hóa và dị hóa:
- Đồng hóa là quá trình xây dựng các chất phức tạp mới từ các chất lấy từ bên ngoài vào.
- Dị hóa là quá trình phân hủy các chất phức tạp của nguyên sinh chất thành các chất đơn giảm.
- Dị hóa tạo ra năng lượng, năng lượng dùng vào quá trình đồng hóa và thực hiện các quá trình
sống trong các bộ phận của cơ thể.
- Khi trẻ, ĐH > DH. Khi già, ĐH < DH.
b, Sự thống nhất giữa cấu tạo và chức phận:
- Sự trao đổi chất quyết định hoạt động và cấu tạo hình thái cơ thể và từng bộ phận.
- Chức phận và cấu tạo của cơ thể là kết quả của sự phát triển cá thể và chủng loại của cơ thể.
- Chức phận và hình thái cấu tạo có mối liên hệ khăng khít và phụ thuộc.
- Chức phận giữ vai trò quyết định, vì liên hệ trực tiếp với trao đổi chất.
Ví dụ: Lao động và ngôn ngữ đã quyết định cấu tạo của con người khác với khỉ hình người.
c, Sự thống nhất giữa các cơ quan trong cơ thể:
- 1 bộ phận này ảnh hưởng đến các bộ phận khác.
- Toàn bộ cơ thể ảnh hưởng đến 1 bộ phận.
- Trong từng cơ quan có sự phối hợp giữa các thành phần cấu tạo với nhau.
d, Sự thống nhất giữa cơ thể với môi trường:
- Đây là tính thích nghi – 1 đặc tính chung của sinh học.
Ví dụ:
+ Khi trời lạnh, ta “nổi da gà”.
+ Những động vật kiếm ăn ban đêm có tế bào gậy (của võng mạc) phát triển, còn tế bào nón
kém phát triển.
+ Lượng hồng cầu của con người ở vùng núi cao hơn người bình thường.
1.1.2.2. Cơ thể là hệ thống tự điều chỉnh:
- Hệ thần kinh có vai trò quan trọng trong việc điều hòa hoạt động của cơ thể người.
- Việc điều hòa nhờ 1 số chất có tính sinh học cao được sinh ra trong quá trình trao đổi chất.
=> Điều hòa hoạt động của cơ thể do cơ chế thần kinh và thể dịch.
+ Các chất hóa học tích cực được hình thành trong cơ thể có khả năng ảnh hưởng ngay đến các
tế bào thần kinh => Thay đổi trạng thái, chức năng của chúng.
+ Sự hình thành và xâm nhập của nhiều chất hóa học có lợi nằm trong máu chịu sự điều hòa của
hệ thần kinh.
+ Hệ thần kinh ảnh hưởng đến chức năng của hàng loạt cơ quan không những qua các xung
động mà còn nhờ các chất hóa học đi vào máu dưới ảnh hưởng của thần kinh.
1.2. Đặc điểm chung của cơ thể trẻ:
- Không hoàn toàn giống người trưởng thành.
- Không phải là cơ thể người lớn thu nhỏ lại theo 1 tỷ lệ nhất định.
- So với người lớn có nhiều điểm khác: Khác về kích thước, cân nặng, về cấu trúc và chức năng
hoạt động.
- Sự hoạt động của cơ thể trẻ giống người lớn. Không phải là những hoạt động riêng lẻ của từng
cơ quan mà các cơ quan trong cơ thê đều hoạt động thống nhất.
1.3. Tính quy luật về sự sinh trưởng và phát triển của cơ thể trẻ:
1.3.1. Khái niệm về sự sinh trưởng và phát triển:
1.3.1.1. Sinh trưởng:
- Là quá trình tăng lên liên tục khối lượng của cơ thể bằng các tăng số lượng tế bào cơ thể =>
Tăng KL mô, cơ quan và cả cơ thể => Sự thay đổi về mặt kích thước.
- Sự tăng trưởng không đồng đều và không đồng thời. => Tỉ lệ cơ thể thay đổi.
- Nhịp độ tăng trưởng cũng không đồng đều.
Ví dụ: Ở tuổi dậy thì cơ thể lớn nhanh, sau đó chậm lại.
- Là sự thay đổi về số lượng những dấu hiệu vốn có của cơ thể, sự tăng lên hay giảm đi những
dấu hiệu đó.
1.3.1.2. Phát triển:
- Là sự thay đổi về chất lượng trong cơ thể trẻ em, thể hiện ở sự phức tạp hóa tổ chức của cơ
thể.
- Phát triển thể hiện ở 3 yếu tố: Sự tăng trưởng của cơ thể, sự phân hóa của các cơ quan và mô,
sự tạo hình dáng đặc trưng cho cơ thể.
- Là quá trình liên tục, diễn ra trong suốt cuộc đời. Mỗi 1 giai đoạn là 1 chỉnh thể hài hòa với
những đặc điểm vốn có đối với tuổi đó.
- Mỗi 1 giai đoạn tuổi đều chứa đựng các vết tích của giai đoạn trước, cái có của giai đoạn này
là mầm mống của giai đoạn sau.
- Là sự biến đổi chất của cơ thể, là sự xuất hiện những dấu hiệu và thuộc tính hình thành ngay
trong quá trình tăng trưởng. Diễn ra từ từ, liên tục nhưng cũng có những bước nhảy vọt, “ngắt
quãng của sự liên tục”.
- Đi từ đơn giản đến phức tạp, từ chỗ chưa phân hóa đến phân hóa.
- Sự hình thành những cơ cấu mới là sự xuất hiện của những phẩm chất mới của con người đang
phát triển, diễn ra ở cả mặt hình thái, chức năng, sinh hóa, sinh lí và tâm lí.
- Sự phát triển biểu hiện qua các chỉ số đo người. Chiều cao và cân nặng là 2 chỉ số cơ bản.
Ví dụ:
+ Chiều cao:
Tăng rõ trong thời kì bú mẹ và thời kì đầu của tuổi nhà trẻ.
Lúc 6 – 7 tuổi, tăng nhanh, đạt tới 7 – 10 cm trong 1 năm (Thời kì vươn người).
Lúc 8 – 10 tuổi, tăng chậm, đạt 3 – 5 cm (thời kì tròn người).
Bắt đầu tuổi dậy thì (11 – 15 tuổi), tăng nhanh, từ 5 – 8 cm trong 1 năm (thời kì thứ 2 của vươn dài người)
+ Cân nặng:
Cùng 1 lứa tuổi, trẻ cao hơn có cân nặng lớn hơn
Nhịp độ tăng trọng lớn nhất ở những năm đầu
Đến cuối năm thứ 1 thì cân năng tăng lên 3 lần
Sau đó trung bình mỗi năm tăng 2kg
- Mối quan hệ giữa tăng trưởng, chín muồi và phát triển là mối quan hệ biện chứng có tính nhân
quả.
1.3.2. Tính quy luật sinh trưởng và phát triển của cơ thể:
- Tính không đồng đều và dạng sóng của quá trình sinh trưởng.
Ví dụ: Về chiều cao:
+ Sơ sinh cao 50cm
+ Cuối 1 tuổi cao 78 – 80 cm
+ Từ 11 – 12 tuổi, bé gái cao hơn bé trai 1 chút
+ Từ 13 – 14 tuổi, bé trai và bé gái ngang bằng
+ Từ 14 – 15 tuổi, em trai thường cao hơn em gái
- Các tỉ lệ trên cơ thể thay đổi theo lứa tuổi:
+ Trẻ sơ sinh được phân biệt với người lớn bằng chân tay ngắn, thân lớn và đầu to.
Ví dụ: Tỉ lệ chiều dài đầu / Chiều dài cơ thể
Sơ sinh: ¼
2 tuổi: 1/5
6 tuổi: 1/6
12 tuổi: 1/7
Người lớn: 1/8
+ Với các lứa tuổi, độ dài của đầu nhỏ dần và xương kéo dài ra. Đến dậy thì: nam chân tay dài,
thân ngắn, xương chậu hẹp hơn so với nữ.
+ 3 thời kì khác nhau về tỉ lệ giữa chiều dài và ngang: Từ 4 – 6 tuổi, 6 – 15 tuổi và 15 tuổi –
người lớn.
- Hệ thần kinh hoạt động như 1 khối thống nhất, các phần của nó phát triển và hình thành theo
những nhịp độ và thời hạn khác nhau.
+ Phần hướng tâm hoàn thiện lúc 6 – 7 tuổi.
+ Phần li tâm hoàn thiện lúc 23 – 25 tuổi.
+ Lúc 8 – 10 tuổi, cấu tạo của não bộ và hành tủy như người lớn, chức năng thì tiếp tục hoàn
thiện.
- Sinh trưởng không đều là sự thích nghi được tạo ra bằng sự tiến hóa. Sự phát triển không đều
cho phép đảm bảo cho sự sinh trưởng nhanh và có chọn lọc.
+ Có cơ quan tăng tỉ lệ thuận với khối lượng cơ thể.
Ví dụ: Tim tăng 15 lần, cơ tăng 30 – 40 lần so với mới sinh.
+ Có cơ quan tăng nhanh trong thời kì phát triển của bào thai, KL chúng chỉ tăng 3 4 lần sau
sinh.
Não trẻ sơ sinh nặng 390g, còn người lớn 1480g (từ 10 tuổi trở đi KL tăng rất ít).
+ Có những cơ quan KL của chúng hoàn toàn không đổi sau sinh.
Ví dụ: cơ quan thính giác và các ống bán khuyên nằm trong xương thái dương.
+ Mỗi thời kỳ lứa tuổi có những đặc điểm phát triển cá nhân. Thay đổi phụ thuộc vàonh trạng
sức khỏe, điều kiện và mức độ phát triển của hệ thần kinh.
1.3.3. Các giai đoạn phát triển sinh lí theo lứa tuổi:
Theo A.F.Tua có 6 thời kỳ:
- Thời kì phát triển trong bụng mẹ (270 – 280 ngày). Gồm:
+ Phôi thai (3 tháng đầu)
+ Nhau thai nhi (từ tháng 4 đến khi sinh)
- Thời kì sơ sinh (tlúc lọt lòng đến 1 tháng)
- Thời kì bú mẹ (nhũ nhi): Hết năm đầu
- Thời kì răng sữa (12 đến 60 tháng), 2 giai đoạn:
+ Nhà trẻ: 1 – 3 tuổi
+ Mẫu giáo: 4 – 6 tuổi
- Thời kì thiếu niên (7 – 15 tuổi), 2 giai đoạn:
+ Học sinh nhỏ: 7 – 12 tuổi
+ Học sinh lớn: 12 – 15 tuổi
- Thời kì dậy thì (THPT)
Trẻ càng nhỏ thì điều kiện sống ảnh hưởng càng lớn đến sự phát triển thể chất cảu trẻ.
1.3.4. Mối quan hệ giữa sinh lí và tâm lí trong hoạt động của cơ thể.
- “Một tâm hồn lành mạnh trong 1 cơ thể cường tráng.”
- Phát triển cơ thể ảnh hưởng đến phát trưởng tâm lý của trẻ. Ngược lại.
- Sự phát triển cơ thể là tiền đề cho sự phát triển tâm lí của đứa trẻ.
Chương 2. Hệ vận động
2.1. Tầm quan trọng của hệ vận động.
2.2. Hệ xương:
2.2.1. Giới thiệu bộ xương người:
- Khoảng 200 xương, 3 phần: đầu, thân, chi.
a, Xương đầu:
- Gồm xương sọ và mặt.
+ Sọ gồm 8 xương dẹp, nối với nhau bằng khớp bất động => Khoang rỗng chứa não.
b, Xương mặt:
- 13 xương bất động và 1 xương động (xương hàm dưới).
- Nhiều hốc chứa các cơ quan.
c, Xương mình:
- Gồm cột sống và lồng ngực.
- Cột sống:
+ Nâng đỡ toàn bộ KL cơ thể
+ Xương sống có nhiều đốt, đốt có sụn đàn hồi và nối bằng khớp bán động
+ Không thẳng, có nhiều khúc uốn ở cổ, lưng, mông, hông.
=> Di chuyển linh động, githăng bằng.
- Lồng ngực:
+ Do cột sống, xương sườn và xương ức tạo thành 10 đôi xương sườn nối với xương ức bởi sụn,
còn 2 đôi cuối tự do là sườn cụt.
+ Lồng ngực bảo vệ các cơ quan, thực hiện động tác hô hấp nhờ sự phối hợp của cơ sườn giữa
và cơ hoành.
d, Xương chi: Gồm chi trên và chi dưới.
- Xương chi trên: Xương đai vai và xương tay.
- Xương chi dưới: Xương đai hông và xương chân.
- Khớp động, khớp đai hông ít cử động nên bảo vệ cơ quan trong khoang bụng.
- Xương chậu:
+ Trẻ em, xương chậu nam – nữ giống nhau.
+ Khi trưởng thành, xương chậu nữ thấp và rộng hơn nam.
- Xương ống chân gồm 2 xương: chày và mác. Chày chịu áp lực của KL toàn thân (đi, đứng)
=> Chắc nhất.
- Xương bàn chân gồm 7 xương cổ chân, 5 xương bàn chân và xương ngón chân.
- Xương cẳng tay gồm xương trụ và xương quay.
- Xương bàn tay gồm 8 xương cổ tay, 5 xương đốt bàn tay và xương đốt ngón tay.
- Chi trên và chi dưới có đặc điểm giống nhau về SL xương, sự phân bố và sắp xếp nhưng khác
nhau: Xương tay mảnh và nhỏ hơn, khớp cử động nhiều hơn. Còn xương chân to, chắc chắn
hơn, khớp ít cử động hơn.
e, Khớp xương:
- Các xương có thể nối với nhau liên tục hoặc không liên tục.
- Nối không liên tục: Nối bởi lớp sụn (sườn và ức) hoặc khớp răng cưa (sọ) hoặc bởi các
xương (đốt sống nối với nhau thành 1 xương cùng).
- Nối liên tục (nối có khớp). Mỗi khớp được bao bọc bởi 1 lớp mô liên kết rất dày, tạo thành
bao khớp.
+ Bao khớp có các dây chằng đàn hồi và vững chắc
+ Mặt khớp bao phủ bởi mô sụn
+ Bên trong bao khớp luôn có 1 dịch nhờn được tiết ra, giảm sự cọ xát giữa các xương => cử
động dễ hơn.
- Tầm và hướng cử động phụ thuộc vào các khớp: 1 trục, 2 trục, 3 trục.
- Ở các khớp xương sống: Giữa phần thân của các đốt sống là lớp sụn sợi dày và đàn hồi.
+ Khi ép, lớp sụn sợi co lại và các đốt gần nhau thêm.
+ Khi cong về 1 phía, lớp sụn bên trong bị ép lại, phía kia lại dãn ra.
+ Khi chạy, đi, nhảy, các khớp sụn đàn hồi hoạt động như lò xo, làm giảm sự va chạm mạnh và
bảo vệ thân thể không bị chấn tương.
+ Quan trọng trong việc bảo vệ các mô mềm của tủy và não.
2.2.2. Cấu tạo của xương:
- Các loại xương:
+ Xương dẹt (sọ, sườn). 3 lớp: 2 lớp xương đặc ở mặt ngoài, giữa là xương xốp.
+ Xương ngắn (ngón tay, ngón chân). Thành phần chủ yếu là xương xốp, mặt ngoài bao phủ lớp
xương đặc mỏng.
+ Xương dài: 2 đầu có cấu tạo giống xương ngắn. Thân xương cấu tạo bằng xương đặc =>
Thành xương dày, giữa thân xương có ống tủy, trong chứa tủy xương.
- Cấu tạo xương:
+ Bao bên ngoài là màng xương. Màng xương:
1 lớp mô sợi mỏng, đàn hồi, có nhiều dây thần kinh, mạch máu và mạch bạch huyết.
Mạch máu và mạch bạch huyết vào xương qua lỗ nằm trên mặt xương.
Gồm 2 lớp: Lớp ngoài có chức năng che chở, lớp trong gắn trực tiếp với mô xương.
+ Mô xương:
2 loại: mô xương cứng và mô xương xốp.
Làm thành tầng sinh xương chứa tế bào sinh xương, có khả năng sinh sản.
Có nhiều hệ thống tấm xương và hệ thống have.
3 hệ thống: Hệ thống chung, trung gian và have.
Hệ thống have là phần chính của xương.
- Ở trẻ em, tất cả các khoang xương đều chứa tủy đỏ, chức năng tạo máu.
- Ở người lớn, 1 số tủy đỏ biến thành tủy vàng và không có khả năng tạo máu.
- Ở các xương ngắn, dẹp thì mô xương xốp chứa tủy đỏ và các nan xương xốp xếp theo hướng
chịu lực tác động.
- Các xương được nối với nhau bởi các khớp. 2 loại: bất động hoặc động.
2.2.3. Thành phần hóa học:
- Thành phần: 1/3 là chất hữu cơ và 2/3 là chất vô cơ.
+ Chất hữu cơ dẻo, bền, chắc và tính đàn hồi cao.
+ Chất vô cơ chủ yếu là CaCO3 và Ca3(PO4)2 làm cho xương chắc và cứng rắn.
- trẻ, chất hữu cơ > chất vô cơ. => xương mềm, dễ biến dạng.
- Ở người già, chất hữu cơ < chất vô cơ. => xương giòn, dễ gãy.
2.2.4. Sự hình thành và phát triển hệ xương.
2.2.4.1. Sự hình thành mô sụn:
- Trong giai đoạn bào thai, lúc đầu bộ xương là sụn, sau mới thành xương.
- Khi bào thai được 5 tuần thì các vị trí sau này là xương đã tập hợp dần các tế bào sụn, bắt đầu
sinh sản ra chất gian bào chắc và đàn hồi.
- Tích tụ dần các chất gian bào, tế bào tách ra và được tách li trong khối chất gian bào dày đặc.
Tế bào này sinh sản rất nhanh, biến thành chất sụn không có mạch máu => Khó cung cấp chất
dinh dưỡng.
- Mô sụn được cung cấp chất dinh dưỡng qua chất gian bào này.
2.2.4.2. Sự hình thành mô xương:
2 cách: Từ mô liên kết -> Mô xương (mô xương sơ cấp); Từ mô sụn -> Xương (mô xương thứ
cấp).
a, Sự hình thành mô xương sơ cấp:
- Tại mô liên kết xuất hiện những tế bào tạo xương, tạo gian bào của mô xương. Chất gian bào
lan rộng và ngấm muối canxi.
=> Mô liên kết -> mô xương.
b, Sự hình thành mô xương thứ cấp:
2 cách: cốt hóa nội sụn và cốt hóa ngoại sụn.
- Cốt hóa nội sụn (tế bào xương bắt đầu xuất hiện trong lòng sụn), trong lòng sụn lắng đọng
muối canxi, mô bị hủy hoại dần và thay bằng mô xương. Tạo ra các đòn xương, phát triển theo
nhiều hướng và đan vào nhau. Giữa các đòn xương có các xoang, trong đó chứa tủy đỏ xương.
- Cốt hóa ngoại sụn: giống nội sụn, chỉ khác tế bào tạo xương bắt đầu trên mặt mô sụn. Diễn ra
nhanh hơn cốt hóa nội sụn.
c, Sự phát triển của xương:
- Các xương dẹt (sọ, mặt) lớn lên nhờ tích lũy mô xương ở bề mặt (chiều dài) và ở cả mép
(chiều rộng).
- Các xương dài (đùi, cánh tay) lớn lên nhờ phần sụn nối giữa thân xương và đầu xương.
- Mô xương bắt đầu hình thành ở chính giữa thân xương, ở bên trong sụn và trên bề mặt sụn.
Dần sự cốt hóa lan khắp thân xương. Lớp sụn nằm giữa đầu xương và thân xương bị hủy hoại
dần và thay thế bằng mô xương, nhưng nó không bị mất hẳn vì ở giữa tấm sụn lại tạo nên những
tế bào sụn mới. => Tăng khoảng cách giữa các đầu xương (lớn về chiều dài). (Khi có cốt hóa
lớp sụn thì xương không lớn về chiều dài nữa).
d, Sự phát triển của bộ xương người:
- Bộ xương trẻ sơ sinh:
+ 1 xương lúc đầu phát triển như vài xương riêng biệt và về sau mới hợp nhất lại.
+ Còn nhiều phần sụn.
+ Các xương dẹt của bộ nào vẫn chưa dính sát với nhau.
+ Giữa xương trán và xương đỉnh có thóp trán (thóp lớn). Dần được lấp kín trong những năm
đầu. Vào năm 2 sờ không thấy nữa.
+ Giữa xương chẩm và 2 xương đỉnh có 1 thóp bé, lấp kín trong những tháng đầu, ngay khi trẻ
sinh ra.
- Sau khi trẻ ra đời:
+ Tiếp tục lớn và phát triển mạnh.
+ Trong những năm đầu, sự cốt hóa các đầu xương dài của xương tay chân sẽ được kết thúc.
Các xương dài của các chi trưởng thành nhanh trong năm đầu.
Ví dụ: Chiều dài xương cánh tay tăng thêm 1/3, chiều dài xương đùi tăng thêm 1/5.
+ Trong những năm sau, xương dài phát triển chậm hơn. Khi thân xương và đầu xương gắn với
nhau thì xương không dài nữa.
+ Xương sọ lớn lên không đều:
Những năm đầu lớn nhanh, vòng đầu tăng 30%, chiều rộng hơn 40%, dung tích sọ tăng 2,5 lần.
Kích thước sọ mặt cũng nhanh như thế trong những năm đầu.
Trong những năm sau, mức độ lớn giảm đi.
Dung tích sọ não vẫn tiếp tục tăng đến lúc 3 tuổi, lúc này đạt 80% dung tích sọ não người lớn. Các thóp đã
kín và hoàn thành đường khâu hộp sọ nối các xương dẹt của hộp sọ với nhau.
Khi trẻ 7 – 8 tuổi, dung tích sọ não chỉ kém người lớn 8 – 10%, còn vòng đầu nhỏ hơn 2cm.
Sọ mặt tiếp tục lớn lên trong nhiều năm. Đến 13 – 14 tuổi thì những đặc điểm nét mặt được hình thành.
2.3. Hệ cơ
Có khoảng 600 cơ, 3 nhóm: đầu, thân, chi.
- Cơ đầu: gồm vùng đầu, mặt và cổ.
+ Vùng đầu: Cơ nhai và cơ nét mặt. Cơ nét mặt có 1 hoặc 2 đầu cơ bám vào da nên khi co dãn
sẽ tạo ra biểu hiện khác nhau của nét mặt.
+ Cơ vùng cổ làm ngửa đầu, quay sang 2 bên hoặc cúi xuống.
- Cơ thân: gồm vùng bụng, lưng và ngực.
+ Vùng lưng giữ cột sống đứng thẳng.
+ Vùng ngực thực hiện động tác thở.
+ Vùng bụng tạo thành ổ bụng, tham gia hô hấp và động tác gập, nghiêng người.
- Cơ chi: Đảm bảo cử động của tay và chân.
+ Gồm các cơ gập, duỗi, gây ra cử động xoay tròn (xoay cổ tay) và dang hay khép lại tay chân.
+ Các cơ chiới thường to hơn, khỏe hơn, phù hợp với chức năng làm giá đỡ và di chuyển.
2.3.1. Cấu tạo của cơ.
a, Cơ vân
- Chiếm 42% trọng lượng cơ thể, tạo hình dáng bên ngoài của 1 cơ thể.
- Hình dạng phong phú: có cơ dài, ngắn và rộng.
- Mỗi 1 cơ có gân cơ và bụng cơ. Gân cơ nối với xương. Bụng cơ có nhiều sợi cơ tập trung
thành bó xếp song song với nhau.
- Cấu tạo 1 sợi cơ: Ngoài là màng bao bọc, trong là nguyên sinh chất có nhiều tơ cơ nằm dọc
cùng 1 hướng với sợi cơ, giữa là vô số nhân tế bào. Mỗi sợi cơ là 1 hỗn bào.
- Cấu tạo của 1 tơ cơ: 2 loại xơ cơ: xơ actin và xơ myosin. Có các mạch máu và dây thần kinh
để thực hiện chức năng trao đổi chất và thực hiện phản xạ giữa các cơ quan của cơ thể.
- Mỗi si cơ chứa những vân màu sáng tối xen kẽ đều đặn.
+ Đoạn sáng gọi là đĩa I, chia đôi bởi vạch sẫm là vạch Z.
+ Đoạn tối gọi là đĩa A, giữa đĩa A có 1 vùng sáng là vùng H, giữa vùng H là vạch M.
+ Cấu trúc này lặp đi lặp lại có tính chu kỳ trên toàn bộ sợi cơ. Giữa 2 vạch Z liên tiếp được gọi
là 1 đơn vị co cơ.
+ Đĩa I chỉ có xơ actin, đĩa A có cả actin và myosin, vùng H không có xơ actin, xơ myosin có
khoảng giữa phình ra đó là mch M thấy ở vùng H.
- Sự co giãn cơ: Khi có hiện tượng co giãn cơ, các siêu sợi actin sẽ trượt vào myosin, kéo theo
sự dịch chuyển của 2 vạch Z vào nhau, do đó băng I và vạch H sẽ ngắn lại, trong khi băng A vẫn
giữ nguyên kích thước, sarcomere sẽ ngắn lại, gây ra sự co cơ. Ngược lại, khi các siêu sợi actin
trượt ra ngoài myosin, do đó 2 vạch Z sẽ dịch chuyển xa nhau làm cho băng I và vạch H kéo dài
ra, sarcomere cũng được kéo dài ra trong khi băng A vẫn không thay đổi kích thước, gây ra sự
duỗi cơ.
- Ở cơ xương:
+ Các sợi cơ tập hợp thành 1 bó, bao bọc trong 1 màng nhỏ và dài tạo thành bắp cơ.
+ Hai đầu bắp cơ là gân rất chắc và dai bám vào xương.
+Trong cơ có rất nhiều mạch màu và sợi thần kinh phân nhánh đến từng sợi cơ.
b, Cơ trơn:
- Màu nhạt hơn cơ vân, chiếm 20% trọng lượng cơ thể.
- Cơ trơn tạo nên thành cơ quan rỗng: Thành ống tiêu hóa, thành động mạch, tĩnh mạch.
- Cấu tạo:
+ Cơ trơn gồm những sợi cơ thuôn nhọn 2 đầu (hình bút chì) dài 60-100µm.
+ Bao bọc từ màng ngoài, trong là chất nguyên sinh và có nhiều tơ cơ xếp theo chiều dọc sợi
cơ, nhân gồm 1 hình que.
- Khi cơ co, sợi cơ ngắn lại. Tốc độ co cơ nhỏ, không theo ý muốn.
c, Cơ tim (Cơ hỗn hợp)
- Cấu tạo nên quả tim
- Giống cơ vân, nhưng các sợi cơ phân nhánh nối với nhau thành 1 màng lưới
- Các sợi cơ tim dài, tiết diện sợi cơ không đồng đều.
- Hoạt động không theo ý muốn.
2.3.2. Cơ chế co cơ:
- Cơ chế:
+ Khi bị kích thích, xung thần kinh từ trung ương đến cơ, dòng điện xuất hiện và lan tỏa theo 2
chiều của sợi cơ với vận tốc 3 – 5m/s, làm cơ co.
+ Trong trạng thái yên tĩnh, các sợi myozin nằm tách biệt với sợi actin.
+ Dưới tác dụng của dòng điện động, các sợi actin chui vào khoảng cách của các sợi myozin
làm cho chiều dài sợi cơ rút ngắn lại.
+ Năng lượng để duy trì hoạt động của cơ là ATP.
- Nguồn cung cấp năng lượng cho hoạt động là glucozo và sản phẩm cuối cùng được tạo ra khi
phân giải glucozo là ATP, CO2, H2O.
- Thời gian:
+ 1 kích thích đơn sẽ gây ra 1 lần co cơ và kéo dài khoảng 0,1s. Gồm 3 pha:
Pha tiềm tàng 0,01s.
Pha co 0,04s.
Pha giãn 0,05s.
=> Co cơ xuất hiện khi tần số xung động không quá 10 xung/s, nên các sợi cơ ít bị mỏi.
+ Khi tần số xung tăng lên, khoảng cách giữa các xung ngắn hơn thời gian co cơ thì sẽ gây ra co
cơ rung.
+ Khi tần số xung quá lớn sẽ gây co cơ cứng.
- Sự mi cơ: Là hiện tượng giảm sút hoặc ngừng hẳn hoạt động của cơ do làm việc. Nguyên
nhân:
+ Khi co, cơ tích lũy axit lactic gây ức chế sự co dãn của cơ.
+ Khi co, cần có năng lượng. Co nhiều sẽ mỏi và năng lượng dữ trữ đã hết dần.
Khi cơ mỏi sẽ làm cơ thể mệt mỏi, vì thế hoạt động trí óc, chân tay đều giảm.
2.4. Đặc điểm phát triển của hệ cơ – xương ở tiểu học.
a, Hệ xương:
- Ở 7 – 9 tuổi, cột xương sống giữ 1 độ mềm lớn trong phần ngực.
- Lúc 12 tuổi, sự ổn định đường cong thắt lưng thiết lập.
- Từ 9 tuổi, sự khác biệt theo giới tính của xương sống xuất hiện. (Nhất là ngực).
- Từ 9 – 11 tuổi, mỏm khuỷu của xương quay cốt hóa.
+ Ở em trai, tới 7 – 8 tuổi.
+ Ở em gái, sớm hơn 1 chút, phần trên của lồng ngực được mở rộng. 12 – 13 tuổi hình dạng
giống như người lớn.
- 12 tuổi, vòng ngực ở con trai là 68cm, nữ lớn hơn vài cm.
- Từ 8 – 10 tuổi ở em gái, khung chậu tăng lên mạnh nhất.
- Lúc 11 – 12 tuổi, khớp xương sườn – đòn xuất hiện.
- Từ 7 tuổi, em trai chân lớn nhanh hơn em gái.
- Tới 7 tuổi, các xương ống có đặc trưng cho người lớn.
- Ở lứa tuổi này màng xương đã tách khỏi chất xương đặc của xương.
b, Hệ cơ:
- Từ 7 – 12 tuổi, hệ cơ phát triển đồng đều, nhịp độ tăng trưởng bị chậm lại đôi chút, nhưng
trọng lượng lại tăng lên.
- Từ 8 – 10 tuổi, hệ cơ phát triển mạnh.
- Tới 8 tuổi:
+ Trọng lượng cơ đối với cơ thể là 27%.
+ Lực cơ của cả 2 tay tăng lên 2 – 2,5 lần (14,0kg lên 33,5kg).
- Lực tay phải dần dần gần tới lực tay trái. Nếu ở 7 tuổi tay phải mạnh hơn tay trái khoảng 80%
thì 12 tuổi chỉ còn 20%.
- Ở 8 tuổi, lực cơ của em gái nhỏ hơn em trai gần 5kg và 10 – 12 tuổi là 10kg.
- Lực đứng tăng lên 1 cách rõ rệt: Em trai từ 7 – 12 tuổi tăng 11% và em gái 36%.
- Vào lúc 8 – 10 tuổi, tính không ổn định của hệ thần kinh – cơ đạt được tiêu chuẩn của người
lớn.
- Ở lứa tuổi này thấy rõ tính linh hoạt, nhưng chóng mệt vì hệ thần kinh chưa phát triển đầy đủ.
- Từ 7 – 8 tuổi, năng lực tiến hành những động tác tinh vi, chính xác được hình thành. Các động
tác đơn điệu và những cố gắng tĩnh đều có ảnh hưởng không lợi đến tuần hoàn và hô hấp.
2.5. Các biện pháp phòng ngừa bảo vệ tư thế:
- Ăn uống đủ chất.
- Tập thể dục – thể thao, vận động.
- Quan tâm tư thế của trẻ.
- Cần tránh:
+ Trước 3 tháng không cho trẻ đứng.
+ Trước 6 tháng không cho trẻ tập ngồi.
+ Trước 9 tháng không cho trẻ tập đi.
+ Khi tập đi không nên dắt 1 tay mà cần dụng cụ.
Chương 3. Hệ tuần hoàn
Là 1 hệ thống ống phân nhánh vận chuyển máu và bạch huyết đi khắp cơ thể. 2 loại: tuần hoàn
máu và bạch huyết. Phối hợp và bổ sung cho nhau.
3.1. Hệ tuần hoàn máu:
Gồm: tim và các mạch máu (động mạch, tĩnh mạch, mao mạch) tạo thành 1 hệ thống kín, chia
thành 2 vòng tuần hoàn:
- Vòng lớn dẫn máu từ tim tới các cơ quan rồi trở về tim.
- ng nhỏ dẫn máu từ tĩnh mạch lên phổi rồi trở về tim.
3.1.1. Tim:
a, Cấu tạo của tim:
- Nam nặng 367g, nữ 240g.
- Gồm 2 nửa trái và phải, hoàn toàn tách biệt bởi 1 vách ngăn.
- Mỗi nửa gồm 2 xoang: tâm nhĩ phía trên và tâm thất phía dưới, thông với nhau bởi van n
thất. (Van này làm cho máu chảy theo 1 chiều từ tâm nhĩ xuống tâm thất.)
- Giữa tâm thất và động mạch đều có van bán nguyệt (van tổ chim).
- Cơ tim cấu tạo theo kiểu hợp bào nên xung động phát sinh từ 1 sợi cơ lan tỏa nhanh sang sợi
khác => Toàn bộ.
- Cơ tim không thể co rút lâu.
- Thành tim gồm 3 lớp:
+ Lớp ngoài cùng là tâm bì ngoài có các mạch máu lớn.
+ Lớp giữa là tâm bì giữa do khối cơ tim tạo nên, là phần phát triển nhất và dày nhất.
+ Lớp trong là tâm bì trong, tương ứng thành trong của máu.
- Thành tâm thất dày hơn của tâm nhĩ và thành tâm thất trái dày hơn thành tâm thất phải.
+ Công của tâm thất > tâm nhĩ.

Preview text:


Chương 1. Sinh trưởng và phát triển của cơ thể
1.1. Giới thiệu chung về cơ thể người
- Là 1 thể thống nhất và thống nhất với môi trường sống.
- Có khả năng trao đổi chất với môi trường xung quanh để sinh trưởng, phát triển và sinh sản.
1.1. Cấu tạo và chức năng của tế bào và mô 1.1.1. Tế bào a, Cấu tạo
- Màng tế bào:
+ Bao bên ngoài nhằm bảo vệ tế bào + tạo hình dạng nhất định.
+ Khả năng bán thấm có chọn lọc => quá trình trao đổi chất giữa cơ thể với môi trường.
- Tế bào chất:
+ Trong màng tế bào, trong suốt, lỏng hoặc hơi đặc.
+ Nguyên sinh chất có nhiều ống nhỏ phân nhánh đảm bảo mlh giữa các phần. Là nơi chứa các
cơ quan tử - phụ trách những chức năng nhất định, đảm bảo cho hoạt động bình thường. Có chuyên hóa. Ví dụ:
+ Ti thể tích lũy năng lượng cho tế bào.
+ Tổng hợp và phân giải protein do riboxom và lưới nội chất. - Nhân:
+ Nằm trong nguyên sinh chất, hình trứng, bao bọc bởi màng kép.
+ Là trung tâm hoạt động, quyết định hình dáng, kích thước và chức năng của tế bào. + Chức năng sinh sản.
b, Thành phần của tế bào:
- Nước và chất vô cơ (muối) chiếm ¾ KL. ¼ là các chất hữu cơ. - Protein:
+ Vật chất cấu tạo mọi tế bào.
+ Tham gia tổ chức các quá trình sống.
+ Hơn 20 axit amin tham gia vào cấu tạo protein => Phong phú, đa dạng.
+ Enzym là protein có vai trò xúc tác các phản ứng. - Axit nucleic:
+ Nằm trong nhân, là các polynucleotit.
+ Tạo protein từ amino axit cho chuỗi tế bào.
+ Giữ được bản chất di truyền. - Gluxit:
+ Gồm monosaccarit và polisaccarit.
+ Đường glucoza dùng để duy trì năng lượng hàng ngày, có mặt trong tất cả tế bào và máu
(lượng nhỏ). Thường trong gan và cơ.
- Lipit: Chất dự trữ cơ thể, giá trị năng lượng rất lớn.
c, Tế bào là đơn vị cơ bản của trạng thái sống:
- Biến đổi năng lượng từ dạng này sang dạng khác.
- Sinh trưởng và phân chia. - Tính đặc trưng.
- Biểu hiện khả năng phản ứng và hưng phấn. 1.1.1.2. Mô:
- Mô là hệ thống phức tạp, tập đoàn tế bào đã biệt hóa và những cấu trúc không phải tế bào
thích ứng với các chức phận xác định.
- 4 loại: Biểu mô, mô liên kết, mô cơ và mô thần kinh.
a, Biểu mô: (Mô thượng bì)
- Là loại có các tế bào sắp xếp sát nhau, có ít gian bào xen giữa. Gồm biểu mô phủ và tuyến.
- Biểu mô phủ:
+ Phủ ngoài mặt cơ thể hoặc lót trong các khoang thiên nhiên của cơ thể.
+ Chức năng bảo vệ và trao đổi chất.
- Biểu mô tuyến (tuyến):
+ Tập hợp tế bào được tổ chức để chế tiết và bài xuất. 2 loại:
Tuyến ngoại tiết: Chất chế tiết được bài xuất ra ngoài hay vào khoang thiên nhiên của cơ thể thông với
ngoài qua 1 ống trung gian. 2 phần: chế tiết và bài xuất.
Tuyến nội tiết: Chất tiết ngấm trực tiếp vào máu (không có ống bào xuất). Có mao mạch dồi dào. b, Mô liên kết:
- Là loại mô các tế bào xếp không sát nhau, nhiều chất gian vào giữa các tế bào.
- Thành phần chủ yếu là các gian bào.
- Có 2 loại mô liên kết: Chức năng dinh dưỡng (máu và bạch huyết) và chức năng đệm cơ học (xương, sụn).
- Chức năng: dinh dưỡng (đảm bảo cung cấp hoặc giữ gìn các chất dinh dưỡng và oxy), bảo vệ
(sinh ra các chất bảo vệ và làm sạch sơ thể khỏi các chất độc hại) và đệm cơ học. - Võng mô:
+ Tạo cơ sở cho mọi cơ quan tạo huyết (tủy xương, hạch bạch huyết, tì).
+ Yếu tố có hình sao nối với nhau bằng những nhánh nguyên sinh chất => 1 khối hỗn bào.
+ Chức năng: Tạo huyết, thực bào, bảo vệ cơ thể.
- Máu và bạch huyết:
+ Thành phần chủ yếu là chất lỏng (huyết tương). Có huyết cầu (hồng cầu, bạch cầu) và các huyết thể nhỏ.
+ Lưu thông trong hệ mạch, chức năng trao đổi chất giữa cơ thể và môi trường. - Mô sụn:
+ Có yếu tố gian bào phát triển, các tế nào nằm rải rác trong gian bào trong bao nang.
Sụn trong: sườn, mũi.
Sụn đàn hồi: thành vành tai, thành ống tai ngoài, thanh quản.
Sụn liên kết sợi: đũa sụn gian đốt.
+ Tăng trưởng nhờ có màng sụn bọc ngoài. 2 lớp: ngoài và trong – có khả năng sinh sản. + Không có mạch máu. - Mô xương:
+ Có lớp màng xương (cốt mạc) phủ ngoài.
+ 2 lớp: Lớp ngoài là mô liên kết sợi chắc và lớp trong là các tế bào sinh xương có khả năng sinh sản.
+ Chất gian bào do những tơ sợi sinh keo cấu tạo xếp thành những tấm dẹp (tẩm muối vô cơ)
=> Vừa đặc, vừa chắc lại vừa đàn hồi. c, Mô cơ:
+ Cấu tạo bởi những tế bào đã biệt hóa với chức năng co duỗi, nhờ trong bào tương có tơ cơ.
+ Tế bào cơ dài nên có sợi cơ. 3 loại mô cơ:
Mô cơ vân: Điều khiển theo ý muốn. Thường bám vào xương, số ít bám vào da. Cấu tạo từ những tế bào cơ hay sợi cơ.
Mô cơ trơn: Tế bào cơ có dạng thuôn nhọn 2 đầu, 1 nhân hình que, chất nguyên sinh và nhiều tơ cơ xếp
dọc cùng 1 hướng theo chiều dài tế bào. Tham gia cấu tạo các nội quan và thành mạch máu. Co rút không theo ý muốn.
Mô cơ tim: Cơ vân là những vân ngang. Mỗi sợi cơ tim là 1 tế bào, mỗi tế bào chỉ có 1 nhân nằm giữa sợi
cơ. Tế bào tạo thành lưới bằng cách liên kết tế bào => Trái tim. Hoạt động co duỗi k theo ý muốn. d, Mô thần kinh:
- Là loại mô phân hóa cao độ, có khả năng cảm ứng được các loại kích thích của môi trường.
- Thành phần mô gồm các tế bào thần kinh (neuron). Cấu tạo gồm: Thân tế bào, sợi trục, sợi
nhánh (1 hoặc nhiều nhánh).
1.1.1.3. Cơ quan – hệ cơ quan:
Tế bào => Mô => Cơ quan => Hệ cơ quan => Cơ thể
Hệ cơ quan trong người gồm: Hệ vận động (cơ và xương), hệ tiêu hóa, hệ hô hấp, hệ tuần hoàn,
hệ niệu sinh dục, hệ thần kinh, hệ nội tiết, cơ quan cảm giác.
1.1.2. Cơ thể là 1 khối thống nhất và là 1 hệ thống tự điều chỉnh:
1.1.2.1. Cơ thể là 1 khối thống nhất:
Mọi cơ quan, mô, tế bào đều được liên kết với nhau thành 1 khối thống nhất trong cơ thể.
a, Sự thống nhất giữa đồng hóa và dị hóa:
- Đồng hóa là quá trình xây dựng các chất phức tạp mới từ các chất lấy từ bên ngoài vào.
- Dị hóa là quá trình phân hủy các chất phức tạp của nguyên sinh chất thành các chất đơn giảm.
- Dị hóa tạo ra năng lượng, năng lượng dùng vào quá trình đồng hóa và thực hiện các quá trình
sống trong các bộ phận của cơ thể.
- Khi trẻ, ĐH > DH. Khi già, ĐH < DH.
b, Sự thống nhất giữa cấu tạo và chức phận:
- Sự trao đổi chất quyết định hoạt động và cấu tạo hình thái cơ thể và từng bộ phận.
- Chức phận và cấu tạo của cơ thể là kết quả của sự phát triển cá thể và chủng loại của cơ thể.
- Chức phận và hình thái cấu tạo có mối liên hệ khăng khít và phụ thuộc.
- Chức phận giữ vai trò quyết định, vì liên hệ trực tiếp với trao đổi chất.
Ví dụ: Lao động và ngôn ngữ đã quyết định cấu tạo của con người khác với khỉ hình người.
c, Sự thống nhất giữa các cơ quan trong cơ thể:
- 1 bộ phận này ảnh hưởng đến các bộ phận khác.
- Toàn bộ cơ thể ảnh hưởng đến 1 bộ phận.
- Trong từng cơ quan có sự phối hợp giữa các thành phần cấu tạo với nhau.
d, Sự thống nhất giữa cơ thể với môi trường:
- Đây là tính thích nghi – 1 đặc tính chung của sinh học. Ví dụ:
+ Khi trời lạnh, ta “nổi da gà”.
+ Những động vật kiếm ăn ban đêm có tế bào gậy (của võng mạc) phát triển, còn tế bào nón kém phát triển.
+ Lượng hồng cầu của con người ở vùng núi cao hơn người bình thường.
1.1.2.2. Cơ thể là hệ thống tự điều chỉnh:
- Hệ thần kinh có vai trò quan trọng trong việc điều hòa hoạt động của cơ thể người.
- Việc điều hòa nhờ 1 số chất có tính sinh học cao được sinh ra trong quá trình trao đổi chất.
=> Điều hòa hoạt động của cơ thể do cơ chế thần kinh và thể dịch.
+ Các chất hóa học tích cực được hình thành trong cơ thể có khả năng ảnh hưởng ngay đến các
tế bào thần kinh => Thay đổi trạng thái, chức năng của chúng.
+ Sự hình thành và xâm nhập của nhiều chất hóa học có lợi nằm trong máu chịu sự điều hòa của hệ thần kinh.
+ Hệ thần kinh ảnh hưởng đến chức năng của hàng loạt cơ quan không những qua các xung
động mà còn nhờ các chất hóa học đi vào máu dưới ảnh hưởng của thần kinh.
1.2. Đặc điểm chung của cơ thể trẻ:
- Không hoàn toàn giống người trưởng thành.
- Không phải là cơ thể người lớn thu nhỏ lại theo 1 tỷ lệ nhất định.
- So với người lớn có nhiều điểm khác: Khác về kích thước, cân nặng, về cấu trúc và chức năng hoạt động.
- Sự hoạt động của cơ thể trẻ giống người lớn. Không phải là những hoạt động riêng lẻ của từng
cơ quan mà các cơ quan trong cơ thê đều hoạt động thống nhất.
1.3. Tính quy luật về sự sinh trưởng và phát triển của cơ thể trẻ:
1.3.1. Khái niệm về sự sinh trưởng và phát triển:
1.3.1.1. Sinh trưởng:
- Là quá trình tăng lên liên tục khối lượng của cơ thể bằng các tăng số lượng tế bào cơ thể =>
Tăng KL mô, cơ quan và cả cơ thể => Sự thay đổi về mặt kích thước.
- Sự tăng trưởng không đồng đều và không đồng thời. => Tỉ lệ cơ thể thay đổi.
- Nhịp độ tăng trưởng cũng không đồng đều.
Ví dụ: Ở tuổi dậy thì cơ thể lớn nhanh, sau đó chậm lại.
- Là sự thay đổi về số lượng những dấu hiệu vốn có của cơ thể, sự tăng lên hay giảm đi những dấu hiệu đó.
1.3.1.2. Phát triển:
- Là sự thay đổi về chất lượng trong cơ thể trẻ em, thể hiện ở sự phức tạp hóa tổ chức của cơ thể.
- Phát triển thể hiện ở 3 yếu tố: Sự tăng trưởng của cơ thể, sự phân hóa của các cơ quan và mô,
sự tạo hình dáng đặc trưng cho cơ thể.
- Là quá trình liên tục, diễn ra trong suốt cuộc đời. Mỗi 1 giai đoạn là 1 chỉnh thể hài hòa với
những đặc điểm vốn có đối với tuổi đó.
- Mỗi 1 giai đoạn tuổi đều chứa đựng các vết tích của giai đoạn trước, cái có của giai đoạn này
là mầm mống của giai đoạn sau.
- Là sự biến đổi chất của cơ thể, là sự xuất hiện những dấu hiệu và thuộc tính hình thành ngay
trong quá trình tăng trưởng. Diễn ra từ từ, liên tục nhưng cũng có những bước nhảy vọt, “ngắt
quãng của sự liên tục”.
- Đi từ đơn giản đến phức tạp, từ chỗ chưa phân hóa đến phân hóa.
- Sự hình thành những cơ cấu mới là sự xuất hiện của những phẩm chất mới của con người đang
phát triển, diễn ra ở cả mặt hình thái, chức năng, sinh hóa, sinh lí và tâm lí.
- Sự phát triển biểu hiện qua các chỉ số đo người. Chiều cao và cân nặng là 2 chỉ số cơ bản. Ví dụ: + Chiều cao:
• Tăng rõ trong thời kì bú mẹ và thời kì đầu của tuổi nhà trẻ.
• Lúc 6 – 7 tuổi, tăng nhanh, đạt tới 7 – 10 cm trong 1 năm (Thời kì vươn người).
• Lúc 8 – 10 tuổi, tăng chậm, đạt 3 – 5 cm (thời kì tròn người).
• Bắt đầu tuổi dậy thì (11 – 15 tuổi), tăng nhanh, từ 5 – 8 cm trong 1 năm (thời kì thứ 2 của vươn dài người) + Cân nặng:
• Cùng 1 lứa tuổi, trẻ cao hơn có cân nặng lớn hơn
• Nhịp độ tăng trọng lớn nhất ở những năm đầu
• Đến cuối năm thứ 1 thì cân năng tăng lên 3 lần
• Sau đó trung bình mỗi năm tăng 2kg
- Mối quan hệ giữa tăng trưởng, chín muồi và phát triển là mối quan hệ biện chứng có tính nhân quả.
1.3.2. Tính quy luật sinh trưởng và phát triển của cơ thể:
- Tính không đồng đều và dạng sóng của quá trình sinh trưởng.
Ví dụ: Về chiều cao: + Sơ sinh cao 50cm
+ Cuối 1 tuổi cao 78 – 80 cm
+ Từ 11 – 12 tuổi, bé gái cao hơn bé trai 1 chút
+ Từ 13 – 14 tuổi, bé trai và bé gái ngang bằng
+ Từ 14 – 15 tuổi, em trai thường cao hơn em gái
- Các tỉ lệ trên cơ thể thay đổi theo lứa tuổi:
+ Trẻ sơ sinh được phân biệt với người lớn bằng chân tay ngắn, thân lớn và đầu to.
Ví dụ: Tỉ lệ chiều dài đầu / Chiều dài cơ thể • Sơ sinh: ¼ • 2 tuổi: 1/5 • 6 tuổi: 1/6 • 12 tuổi: 1/7 • Người lớn: 1/8
+ Với các lứa tuổi, độ dài của đầu nhỏ dần và xương kéo dài ra. Đến dậy thì: nam chân tay dài,
thân ngắn, xương chậu hẹp hơn so với nữ.
+ 3 thời kì khác nhau về tỉ lệ giữa chiều dài và ngang: Từ 4 – 6 tuổi, 6 – 15 tuổi và 15 tuổi – người lớn.
- Hệ thần kinh hoạt động như 1 khối thống nhất, các phần của nó phát triển và hình thành theo
những nhịp độ và thời hạn khác nhau.
+ Phần hướng tâm hoàn thiện lúc 6 – 7 tuổi.
+ Phần li tâm hoàn thiện lúc 23 – 25 tuổi.
+ Lúc 8 – 10 tuổi, cấu tạo của não bộ và hành tủy như người lớn, chức năng thì tiếp tục hoàn thiện.
- Sinh trưởng không đều là sự thích nghi được tạo ra bằng sự tiến hóa. Sự phát triển không đều
cho phép đảm bảo cho sự sinh trưởng nhanh và có chọn lọc.
+ Có cơ quan tăng tỉ lệ thuận với khối lượng cơ thể.
Ví dụ: Tim tăng 15 lần, cơ tăng 30 – 40 lần so với mới sinh.
+ Có cơ quan tăng nhanh trong thời kì phát triển của bào thai, KL chúng chỉ tăng 3 – 4 lần sau sinh.
• Não trẻ sơ sinh nặng 390g, còn người lớn 1480g (từ 10 tuổi trở đi KL tăng rất ít).
+ Có những cơ quan KL của chúng hoàn toàn không đổi sau sinh.
Ví dụ: cơ quan thính giác và các ống bán khuyên nằm trong xương thái dương.
+ Mỗi thời kỳ lứa tuổi có những đặc điểm phát triển cá nhân. Thay đổi phụ thuộc vào tình trạng
sức khỏe, điều kiện và mức độ phát triển của hệ thần kinh.
1.3.3. Các giai đoạn phát triển sinh lí theo lứa tuổi:
Theo A.F.Tua có 6 thời kỳ:
- Thời kì phát triển trong bụng mẹ (270 – 280 ngày). Gồm:
+ Phôi thai (3 tháng đầu)
+ Nhau thai nhi (từ tháng 4 đến khi sinh)
- Thời kì sơ sinh (từ lúc lọt lòng đến 1 tháng)
- Thời kì bú mẹ (nhũ nhi): Hết năm đầu
- Thời kì răng sữa (12 đến 60 tháng), 2 giai đoạn: + Nhà trẻ: 1 – 3 tuổi + Mẫu giáo: 4 – 6 tuổi
- Thời kì thiếu niên (7 – 15 tuổi), 2 giai đoạn:
+ Học sinh nhỏ: 7 – 12 tuổi
+ Học sinh lớn: 12 – 15 tuổi
- Thời kì dậy thì (THPT)
Trẻ càng nhỏ thì điều kiện sống ảnh hưởng càng lớn đến sự phát triển thể chất cảu trẻ.
1.3.4. Mối quan hệ giữa sinh lí và tâm lí trong hoạt động của cơ thể.
- “Một tâm hồn lành mạnh trong 1 cơ thể cường tráng.”
- Phát triển cơ thể ảnh hưởng đến phát trưởng tâm lý của trẻ. Ngược lại.
- Sự phát triển cơ thể là tiền đề cho sự phát triển tâm lí của đứa trẻ.
Chương 2. Hệ vận động
2.1. Tầm quan trọng của hệ vận động. 2.2. Hệ xương:
2.2.1. Giới thiệu bộ xương người:
- Khoảng 200 xương, 3 phần: đầu, thân, chi. a, Xương đầu:
- Gồm xương sọ và mặt.
+ Sọ gồm 8 xương dẹp, nối với nhau bằng khớp bất động => Khoang rỗng chứa não. b, Xương mặt:
- 13 xương bất động và 1 xương động (xương hàm dưới).
- Nhiều hốc chứa các cơ quan. c, Xương mình:
- Gồm cột sống và lồng ngực. - Cột sống:
+ Nâng đỡ toàn bộ KL cơ thể
+ Xương sống có nhiều đốt, đốt có sụn đàn hồi và nối bằng khớp bán động
+ Không thẳng, có nhiều khúc uốn ở cổ, lưng, mông, hông.
=> Di chuyển linh động, giữ thăng bằng.
- Lồng ngực:
+ Do cột sống, xương sườn và xương ức tạo thành 10 đôi xương sườn nối với xương ức bởi sụn,
còn 2 đôi cuối tự do là sườn cụt.
+ Lồng ngực bảo vệ các cơ quan, thực hiện động tác hô hấp nhờ sự phối hợp của cơ sườn giữa và cơ hoành.
d, Xương chi: Gồm chi trên và chi dưới.
- Xương chi trên: Xương đai vai và xương tay.
- Xương chi dưới: Xương đai hông và xương chân.
- Khớp động, khớp đai hông ít cử động nên bảo vệ cơ quan trong khoang bụng.
- Xương chậu:
+ Trẻ em, xương chậu nam – nữ giống nhau.
+ Khi trưởng thành, xương chậu nữ thấp và rộng hơn nam.
- Xương ống chân gồm 2 xương: chày và mác. Chày chịu áp lực của KL toàn thân (đi, đứng) => Chắc nhất.
- Xương bàn chân gồm 7 xương cổ chân, 5 xương bàn chân và xương ngón chân.
- Xương cẳng tay gồm xương trụ và xương quay.
- Xương bàn tay gồm 8 xương cổ tay, 5 xương đốt bàn tay và xương đốt ngón tay.
- Chi trên và chi dưới có đặc điểm giống nhau về SL xương, sự phân bố và sắp xếp nhưng khác
nhau: Xương tay mảnh và nhỏ hơn, khớp cử động nhiều hơn. Còn xương chân to, chắc chắn
hơn, khớp ít cử động hơn. e, Khớp xương:
- Các xương có thể nối với nhau liên tục hoặc không liên tục.
- Nối không liên tục: Nối bởi lớp sụn (sườn và ức) hoặc khớp răng cưa (sọ) hoặc bởi các mô
xương (đốt sống nối với nhau thành 1 xương cùng).
- Nối liên tục (nối có khớp). Mỗi khớp được bao bọc bởi 1 lớp mô liên kết rất dày, tạo thành bao khớp.
+ Bao khớp có các dây chằng đàn hồi và vững chắc
+ Mặt khớp bao phủ bởi mô sụn
+ Bên trong bao khớp luôn có 1 dịch nhờn được tiết ra, giảm sự cọ xát giữa các xương => cử động dễ hơn.
- Tầm và hướng cử động phụ thuộc vào các khớp: 1 trục, 2 trục, 3 trục.
- Ở các khớp xương sống: Giữa phần thân của các đốt sống là lớp sụn sợi dày và đàn hồi.
+ Khi ép, lớp sụn sợi co lại và các đốt gần nhau thêm.
+ Khi cong về 1 phía, lớp sụn bên trong bị ép lại, phía kia lại dãn ra.
+ Khi chạy, đi, nhảy, các khớp sụn đàn hồi hoạt động như lò xo, làm giảm sự va chạm mạnh và
bảo vệ thân thể không bị chấn tương.
+ Quan trọng trong việc bảo vệ các mô mềm của tủy và não.
2.2.2. Cấu tạo của xương:
- Các loại xương:
+ Xương dẹt (sọ, sườn). 3 lớp: 2 lớp xương đặc ở mặt ngoài, giữa là xương xốp.
+ Xương ngắn (ngón tay, ngón chân). Thành phần chủ yếu là xương xốp, mặt ngoài bao phủ lớp xương đặc mỏng.
+ Xương dài: 2 đầu có cấu tạo giống xương ngắn. Thân xương cấu tạo bằng xương đặc =>
Thành xương dày, giữa thân xương có ống tủy, trong chứa tủy xương.
- Cấu tạo xương:
+ Bao bên ngoài là màng xương. Màng xương:
• 1 lớp mô sợi mỏng, đàn hồi, có nhiều dây thần kinh, mạch máu và mạch bạch huyết.
• Mạch máu và mạch bạch huyết vào xương qua lỗ nằm trên mặt xương.
• Gồm 2 lớp: Lớp ngoài có chức năng che chở, lớp trong gắn trực tiếp với mô xương. + Mô xương:
• 2 loại: mô xương cứng và mô xương xốp.
• Làm thành tầng sinh xương chứa tế bào sinh xương, có khả năng sinh sản.
• Có nhiều hệ thống tấm xương và hệ thống have.
• 3 hệ thống: Hệ thống chung, trung gian và have.
• Hệ thống have là phần chính của xương.
- Ở trẻ em, tất cả các khoang xương đều chứa tủy đỏ, chức năng tạo máu.
- Ở người lớn, 1 số tủy đỏ biến thành tủy vàng và không có khả năng tạo máu.
- Ở các xương ngắn, dẹp thì mô xương xốp chứa tủy đỏ và các nan xương xốp xếp theo hướng chịu lực tác động.
- Các xương được nối với nhau bởi các khớp. 2 loại: bất động hoặc động.
2.2.3. Thành phần hóa học:
- Thành phần: 1/3 là chất hữu cơ và 2/3 là chất vô cơ.
+ Chất hữu cơ dẻo, bền, chắc và tính đàn hồi cao.
+ Chất vô cơ chủ yếu là CaCO3 và Ca3(PO4)2 làm cho xương chắc và cứng rắn.
- Ở trẻ, chất hữu cơ > chất vô cơ. => xương mềm, dễ biến dạng.
- Ở người già, chất hữu cơ < chất vô cơ. => xương giòn, dễ gãy.
2.2.4. Sự hình thành và phát triển hệ xương.
2.2.4.1. Sự hình thành mô sụn:
- Trong giai đoạn bào thai, lúc đầu bộ xương là sụn, sau mới thành xương.
- Khi bào thai được 5 tuần thì các vị trí sau này là xương đã tập hợp dần các tế bào sụn, bắt đầu
sinh sản ra chất gian bào chắc và đàn hồi.
- Tích tụ dần các chất gian bào, tế bào tách ra và được tách li trong khối chất gian bào dày đặc.
Tế bào này sinh sản rất nhanh, biến thành chất sụn không có mạch máu => Khó cung cấp chất dinh dưỡng.
- Mô sụn được cung cấp chất dinh dưỡng qua chất gian bào này.
2.2.4.2. Sự hình thành mô xương:
2 cách: Từ mô liên kết -> Mô xương (mô xương sơ cấp); Từ mô sụn -> Xương (mô xương thứ cấp).
a, Sự hình thành mô xương sơ cấp:
- Tại mô liên kết xuất hiện những tế bào tạo xương, tạo gian bào của mô xương. Chất gian bào
lan rộng và ngấm muối canxi.
=> Mô liên kết -> mô xương.
b, Sự hình thành mô xương thứ cấp:
2 cách: cốt hóa nội sụn và cốt hóa ngoại sụn.
- Cốt hóa nội sụn (tế bào xương bắt đầu xuất hiện trong lòng sụn), trong lòng sụn lắng đọng
muối canxi, mô bị hủy hoại dần và thay bằng mô xương. Tạo ra các đòn xương, phát triển theo
nhiều hướng và đan vào nhau. Giữa các đòn xương có các xoang, trong đó chứa tủy đỏ xương.
- Cốt hóa ngoại sụn: giống nội sụn, chỉ khác tế bào tạo xương bắt đầu trên mặt mô sụn. Diễn ra
nhanh hơn cốt hóa nội sụn.
c, Sự phát triển của xương:
- Các xương dẹt (sọ, mặt) lớn lên nhờ tích lũy mô xương ở bề mặt (chiều dài) và ở cả mép (chiều rộng).
- Các xương dài (đùi, cánh tay) lớn lên nhờ phần sụn nối giữa thân xương và đầu xương.
- Mô xương bắt đầu hình thành ở chính giữa thân xương, ở bên trong sụn và trên bề mặt sụn.
Dần sự cốt hóa lan khắp thân xương. Lớp sụn nằm giữa đầu xương và thân xương bị hủy hoại
dần và thay thế bằng mô xương, nhưng nó không bị mất hẳn vì ở giữa tấm sụn lại tạo nên những
tế bào sụn mới. => Tăng khoảng cách giữa các đầu xương (lớn về chiều dài). (Khi có cốt hóa
lớp sụn thì xương không lớn về chiều dài nữa).
d, Sự phát triển của bộ xương người:
- Bộ xương trẻ sơ sinh:
+ 1 xương lúc đầu phát triển như vài xương riêng biệt và về sau mới hợp nhất lại. + Còn nhiều phần sụn.
+ Các xương dẹt của bộ nào vẫn chưa dính sát với nhau.
+ Giữa xương trán và xương đỉnh có thóp trán (thóp lớn). Dần được lấp kín trong những năm
đầu. Vào năm 2 sờ không thấy nữa.
+ Giữa xương chẩm và 2 xương đỉnh có 1 thóp bé, lấp kín trong những tháng đầu, ngay khi trẻ sinh ra.
- Sau khi trẻ ra đời:
+ Tiếp tục lớn và phát triển mạnh.
+ Trong những năm đầu, sự cốt hóa các đầu xương dài của xương tay chân sẽ được kết thúc.
Các xương dài của các chi trưởng thành nhanh trong năm đầu.
Ví dụ: Chiều dài xương cánh tay tăng thêm 1/3, chiều dài xương đùi tăng thêm 1/5.
+ Trong những năm sau, xương dài phát triển chậm hơn. Khi thân xương và đầu xương gắn với
nhau thì xương không dài nữa.
+ Xương sọ lớn lên không đều:
• Những năm đầu lớn nhanh, vòng đầu tăng 30%, chiều rộng hơn 40%, dung tích sọ tăng 2,5 lần.
• Kích thước sọ mặt cũng nhanh như thế trong những năm đầu.
• Trong những năm sau, mức độ lớn giảm đi.
• Dung tích sọ não vẫn tiếp tục tăng đến lúc 3 tuổi, lúc này đạt 80% dung tích sọ não người lớn. Các thóp đã
kín và hoàn thành đường khâu hộp sọ nối các xương dẹt của hộp sọ với nhau.
• Khi trẻ 7 – 8 tuổi, dung tích sọ não chỉ kém người lớn 8 – 10%, còn vòng đầu nhỏ hơn 2cm.
• Sọ mặt tiếp tục lớn lên trong nhiều năm. Đến 13 – 14 tuổi thì những đặc điểm nét mặt được hình thành. 2.3. Hệ cơ
Có khoảng 600 cơ, 3 nhóm: đầu, thân, chi.
- Cơ đầu: gồm vùng đầu, mặt và cổ.
+ Vùng đầu: Cơ nhai và cơ nét mặt. Cơ nét mặt có 1 hoặc 2 đầu cơ bám vào da nên khi co dãn
sẽ tạo ra biểu hiện khác nhau của nét mặt.
+ Cơ vùng cổ làm ngửa đầu, quay sang 2 bên hoặc cúi xuống.
- Cơ thân: gồm vùng bụng, lưng và ngực.
+ Vùng lưng giữ cột sống đứng thẳng.
+ Vùng ngực thực hiện động tác thở.
+ Vùng bụng tạo thành ổ bụng, tham gia hô hấp và động tác gập, nghiêng người.
- Cơ chi: Đảm bảo cử động của tay và chân.
+ Gồm các cơ gập, duỗi, gây ra cử động xoay tròn (xoay cổ tay) và dang hay khép lại tay chân.
+ Các cơ chi dưới thường to hơn, khỏe hơn, phù hợp với chức năng làm giá đỡ và di chuyển.
2.3.1. Cấu tạo của cơ. a, Cơ vân
- Chiếm 42% trọng lượng cơ thể, tạo hình dáng bên ngoài của 1 cơ thể.
- Hình dạng phong phú: có cơ dài, ngắn và rộng.
- Mỗi 1 cơ có gân cơ và bụng cơ. Gân cơ nối với xương. Bụng cơ có nhiều sợi cơ tập trung
thành bó xếp song song với nhau.
- Cấu tạo 1 sợi cơ: Ngoài là màng bao bọc, trong là nguyên sinh chất có nhiều tơ cơ nằm dọc
cùng 1 hướng với sợi cơ, giữa là vô số nhân tế bào. Mỗi sợi cơ là 1 hỗn bào.
- Cấu tạo của 1 tơ cơ: 2 loại xơ cơ: xơ actin và xơ myosin. Có các mạch máu và dây thần kinh
để thực hiện chức năng trao đổi chất và thực hiện phản xạ giữa các cơ quan của cơ thể.
- Mỗi sợi cơ chứa những vân màu sáng tối xen kẽ đều đặn.
+ Đoạn sáng gọi là đĩa I, chia đôi bởi vạch sẫm là vạch Z.
+ Đoạn tối gọi là đĩa A, giữa đĩa A có 1 vùng sáng là vùng H, giữa vùng H là vạch M.
+ Cấu trúc này lặp đi lặp lại có tính chu kỳ trên toàn bộ sợi cơ. Giữa 2 vạch Z liên tiếp được gọi là 1 đơn vị co cơ.
+ Đĩa I chỉ có xơ actin, đĩa A có cả actin và myosin, vùng H không có xơ actin, xơ myosin có
khoảng giữa phình ra đó là mạch M thấy ở vùng H.
- Sự co giãn cơ: Khi có hiện tượng co giãn cơ, các siêu sợi actin sẽ trượt vào myosin, kéo theo
sự dịch chuyển của 2 vạch Z vào nhau, do đó băng I và vạch H sẽ ngắn lại, trong khi băng A vẫn
giữ nguyên kích thước, sarcomere sẽ ngắn lại, gây ra sự co cơ. Ngược lại, khi các siêu sợi actin
trượt ra ngoài myosin, do đó 2 vạch Z sẽ dịch chuyển xa nhau làm cho băng I và vạch H kéo dài
ra, sarcomere cũng được kéo dài ra trong khi băng A vẫn không thay đổi kích thước, gây ra sự duỗi cơ.
- Ở cơ xương:
+ Các sợi cơ tập hợp thành 1 bó, bao bọc trong 1 màng nhỏ và dài tạo thành bắp cơ.
+ Hai đầu bắp cơ là gân rất chắc và dai bám vào xương.
+Trong cơ có rất nhiều mạch màu và sợi thần kinh phân nhánh đến từng sợi cơ. b, Cơ trơn:
- Màu nhạt hơn cơ vân, chiếm 20% trọng lượng cơ thể.
- Cơ trơn tạo nên thành cơ quan rỗng: Thành ống tiêu hóa, thành động mạch, tĩnh mạch. - Cấu tạo:
+ Cơ trơn gồm những sợi cơ thuôn nhọn 2 đầu (hình bút chì) dài 60-100µm.
+ Bao bọc từ màng ngoài, trong là chất nguyên sinh và có nhiều tơ cơ xếp theo chiều dọc sợi cơ, nhân gồm 1 hình que.
- Khi cơ co, sợi cơ ngắn lại. Tốc độ co cơ nhỏ, không theo ý muốn.
c, Cơ tim (Cơ hỗn hợp) - Cấu tạo nên quả tim
- Giống cơ vân, nhưng các sợi cơ phân nhánh nối với nhau thành 1 màng lưới
- Các sợi cơ tim dài, tiết diện sợi cơ không đồng đều.
- Hoạt động không theo ý muốn.
2.3.2. Cơ chế co cơ: - Cơ chế:
+ Khi bị kích thích, xung thần kinh từ trung ương đến cơ, dòng điện xuất hiện và lan tỏa theo 2
chiều của sợi cơ với vận tốc 3 – 5m/s, làm cơ co.
+ Trong trạng thái yên tĩnh, các sợi myozin nằm tách biệt với sợi actin.
+ Dưới tác dụng của dòng điện động, các sợi actin chui vào khoảng cách của các sợi myozin
làm cho chiều dài sợi cơ rút ngắn lại.
+ Năng lượng để duy trì hoạt động của cơ là ATP.
- Nguồn cung cấp năng lượng cho hoạt động là glucozo và sản phẩm cuối cùng được tạo ra khi
phân giải glucozo là ATP, CO2, H2O. - Thời gian:
+ 1 kích thích đơn sẽ gây ra 1 lần co cơ và kéo dài khoảng 0,1s. Gồm 3 pha:
Pha tiềm tàng 0,01s. Pha co 0,04s. Pha giãn 0,05s.
=> Co cơ xuất hiện khi tần số xung động không quá 10 xung/s, nên các sợi cơ ít bị mỏi.
+ Khi tần số xung tăng lên, khoảng cách giữa các xung ngắn hơn thời gian co cơ thì sẽ gây ra co cơ rung.
+ Khi tần số xung quá lớn sẽ gây co cơ cứng.
- Sự mỏi cơ: Là hiện tượng giảm sút hoặc ngừng hẳn hoạt động của cơ do làm việc. Nguyên nhân:
+ Khi co, cơ tích lũy axit lactic gây ức chế sự co dãn của cơ.
+ Khi co, cần có năng lượng. Co nhiều sẽ mỏi và năng lượng dữ trữ đã hết dần.
Khi cơ mỏi sẽ làm cơ thể mệt mỏi, vì thế hoạt động trí óc, chân tay đều giảm.
2.4. Đặc điểm phát triển của hệ cơ – xương ở tiểu học. a, Hệ xương:
- Ở 7 – 9 tuổi, cột xương sống giữ 1 độ mềm lớn trong phần ngực.
- Lúc 12 tuổi, sự ổn định đường cong thắt lưng thiết lập.
- Từ 9 tuổi, sự khác biệt theo giới tính của xương sống xuất hiện. (Nhất là ngực).
- Từ 9 – 11 tuổi, mỏm khuỷu của xương quay cốt hóa.
+ Ở em trai, tới 7 – 8 tuổi.
+ Ở em gái, sớm hơn 1 chút, phần trên của lồng ngực được mở rộng. 12 – 13 tuổi hình dạng giống như người lớn.
- 12 tuổi, vòng ngực ở con trai là 68cm, nữ lớn hơn vài cm.
- Từ 8 – 10 tuổi ở em gái, khung chậu tăng lên mạnh nhất.
- Lúc 11 – 12 tuổi, khớp xương sườn – đòn xuất hiện.
- Từ 7 tuổi, em trai chân lớn nhanh hơn em gái.
- Tới 7 tuổi, các xương ống có đặc trưng cho người lớn.
- Ở lứa tuổi này màng xương đã tách khỏi chất xương đặc của xương. b, Hệ cơ:
- Từ 7 – 12 tuổi, hệ cơ phát triển đồng đều, nhịp độ tăng trưởng bị chậm lại đôi chút, nhưng
trọng lượng lại tăng lên.
- Từ 8 – 10 tuổi, hệ cơ phát triển mạnh. - Tới 8 tuổi:
+ Trọng lượng cơ đối với cơ thể là 27%.
+ Lực cơ của cả 2 tay tăng lên 2 – 2,5 lần (14,0kg lên 33,5kg).
- Lực tay phải dần dần gần tới lực tay trái. Nếu ở 7 tuổi tay phải mạnh hơn tay trái khoảng 80%
thì 12 tuổi chỉ còn 20%.
- Ở 8 tuổi, lực cơ của em gái nhỏ hơn em trai gần 5kg và 10 – 12 tuổi là 10kg.
- Lực đứng tăng lên 1 cách rõ rệt: Em trai từ 7 – 12 tuổi tăng 11% và em gái 36%.
- Vào lúc 8 – 10 tuổi, tính không ổn định của hệ thần kinh – cơ đạt được tiêu chuẩn của người lớn.
- Ở lứa tuổi này thấy rõ tính linh hoạt, nhưng chóng mệt vì hệ thần kinh chưa phát triển đầy đủ.
- Từ 7 – 8 tuổi, năng lực tiến hành những động tác tinh vi, chính xác được hình thành. Các động
tác đơn điệu và những cố gắng tĩnh đều có ảnh hưởng không lợi đến tuần hoàn và hô hấp.
2.5. Các biện pháp phòng ngừa bảo vệ tư thế: - Ăn uống đủ chất.
- Tập thể dục – thể thao, vận động.
- Quan tâm tư thế của trẻ. - Cần tránh:
+ Trước 3 tháng không cho trẻ đứng.
+ Trước 6 tháng không cho trẻ tập ngồi.
+ Trước 9 tháng không cho trẻ tập đi.
+ Khi tập đi không nên dắt 1 tay mà cần dụng cụ.
Chương 3. Hệ tuần hoàn
Là 1 hệ thống ống phân nhánh vận chuyển máu và bạch huyết đi khắp cơ thể. 2 loại: tuần hoàn
máu và bạch huyết. Phối hợp và bổ sung cho nhau.
3.1. Hệ tuần hoàn máu:
Gồm: tim và các mạch máu (động mạch, tĩnh mạch, mao mạch) tạo thành 1 hệ thống kín, chia thành 2 vòng tuần hoàn:
- Vòng lớn dẫn máu từ tim tới các cơ quan rồi trở về tim.
- Vòng nhỏ dẫn máu từ tĩnh mạch lên phổi rồi trở về tim. 3.1.1. Tim:
a, Cấu tạo của tim: - Nam nặng 367g, nữ 240g.
- Gồm 2 nửa trái và phải, hoàn toàn tách biệt bởi 1 vách ngăn.
- Mỗi nửa gồm 2 xoang: tâm nhĩ phía trên và tâm thất phía dưới, thông với nhau bởi van nhĩ
thất. (Van này làm cho máu chảy theo 1 chiều từ tâm nhĩ xuống tâm thất.)
- Giữa tâm thất và động mạch đều có van bán nguyệt (van tổ chim).
- Cơ tim cấu tạo theo kiểu hợp bào nên xung động phát sinh từ 1 sợi cơ lan tỏa nhanh sang sợi khác => Toàn bộ.
- Cơ tim không thể co rút lâu. - Thành tim gồm 3 lớp:
+ Lớp ngoài cùng là tâm bì ngoài có các mạch máu lớn.
+ Lớp giữa là tâm bì giữa do khối cơ tim tạo nên, là phần phát triển nhất và dày nhất.
+ Lớp trong là tâm bì trong, tương ứng thành trong của máu.
- Thành tâm thất dày hơn của tâm nhĩ và thành tâm thất trái dày hơn thành tâm thất phải.
+ Công của tâm thất > tâm nhĩ.