-
Thông tin
-
Quiz
So sánh tiếng nói tri âm trong Độc tiểu thanh kí và Đàn ghita của Lorca - Ngữ văn 12
Độc Tiểu Thanh kí của Nguyễn Du và Đàn ghi ta của Lorca (Thanh Thảo) là những tiếng lòng của thế hệ sau, từ phương trời khác trước những nỗi niềm tâm sự, những bi kịch của người xưa. Tài liệu giúp bạn tham khảo ôn tập và đạt kết quả cao. Mời bạn đọc đón xem!
Văn mẫu 12 634 tài liệu
Ngữ Văn 12 1 K tài liệu
So sánh tiếng nói tri âm trong Độc tiểu thanh kí và Đàn ghita của Lorca - Ngữ văn 12
Độc Tiểu Thanh kí của Nguyễn Du và Đàn ghi ta của Lorca (Thanh Thảo) là những tiếng lòng của thế hệ sau, từ phương trời khác trước những nỗi niềm tâm sự, những bi kịch của người xưa. Tài liệu giúp bạn tham khảo ôn tập và đạt kết quả cao. Mời bạn đọc đón xem!
Chủ đề: Văn mẫu 12 634 tài liệu
Môn: Ngữ Văn 12 1 K tài liệu
Thông tin:
Tác giả:








Tài liệu khác của Ngữ Văn 12
Preview text:
So sánh tiếng nói tri âm trong Độc tiểu thanh kí và Đàn ghita của Lorca
1. Dàn ý tiếng nói tri âm trong Độc tiểu thanh kí và Đàn ghi ta của Lor-ca I. Mở bài
Giới thiệu chung: Nêu khái quát về hai bài thơ: "Độc Tiểu Thanh Kí" (Nguyễn Du) và
"Đàn ghi ta của Lorca" (Thanh Thảo).
Đề cập đến khái niệm "tiếng nói tri âm" trong văn học.
Đưa ra câu hỏi vấn đề: Làm thế nào mà hai bài thơ, dù viết về những hoàn cảnh, thời
đại khác nhau, lại có thể gửi gắm những tiếng nói tri âm sâu sắc đến vậy?
=> Qua việc phân tích hai bài thơ, ta sẽ thấy được tiếng nói tri âm được thể hiện qua
sự đồng cảm sâu sắc với số phận con người tài hoa bạc mệnh, qua nỗi niềm hoài cổ về
quá khứ và khát vọng tự do, và qua sự trân trọng giá trị nghệ thuật. II. Thân bài 2.1 Điểm giống nhau:
+ Sự đồng cảm với số phận con người tài hoa bạc mệnh:
Tiểu Thanh và Lorca đều là những nhân vật tài hoa nhưng lại chịu nhiều bất hạnh trong cuộc đời.
Cả hai tác giả đều bày tỏ sự xót thương, đồng cảm sâu sắc trước số phận bi kịch của họ.
+ Nỗi niềm hoài cổ về quá khứ và khát vọng tự do:
Nguyễn Du hoài cổ về một thời quá khứ huy hoàng, còn Thanh Thảo lại hướng về cuộc
đời và sự nghiệp của Lorca, một nhà thơ đấu tranh cho tự do.
Cả hai tác giả đều thể hiện khát vọng về một cuộc sống tự do, hạnh phúc.
+ Sự trân trọng giá trị nghệ thuật:
Nguyễn Du ca ngợi tài năng thơ ca của Tiểu Thanh.
Thanh Thảo tôn vinh nghệ thuật của Lorca, đặc biệt là tiếng đàn ghi ta. 2.2 Điểm khác nhau: + Hoàn cảnh sáng tác:
+ "Độc Tiểu Thanh Kí" được viết trong bối cảnh xã hội phong kiến, còn "Đàn ghi ta của
Lorca" ra đời trong thời kỳ chiến tranh.
+ Hình thức nghệ thuật: Mỗi bài thơ có những đặc trưng nghệ thuật riêng, thể hiện
phong cách của từng tác giả.
+ Cách thể hiện tình cảm:Nguyễn Du thể hiện tình cảm một cách kín đáo, sâu lắng, còn
Thanh Thảo lại trực tiếp, bộc lộ. III. Kết bài
Khái quát lại những điểm chính:
Nhấn mạnh sự đồng điệu trong tiếng nói tri âm của hai tác giả.
Khẳng định giá trị của hai bài thơ. Mở rộng:
Tiếng nói tri âm trong văn học có ý nghĩa như thế nào đối với người đọc?
Liên hệ với những bài thơ khác có cùng chủ đề.
2. So sánh, đánh giá Tiếng nói tri âm trong Độc Tiểu Thanh
kí và Đàn ghi ta của Lor-ca
Độc Tiểu Thanh kí của Nguyễn Du và Đàn ghi ta của Lorca (Thanh Thảo) là những
tiếng lòng của thế hệ sau, từ phương trời khác trước những nỗi niềm tâm sự, những bi
kịch của người xưa. Điều đáng nói ở chỗ, sức sống của ba thi phẩm không vì lòng
ngưỡng mộ cảm phục hay lời tán tụng hoan ca, mà bởi Nguyễn Du, Thanh Thảo đã làm
sống dậy những thế giới tâm hồn, hiện hữu những bi kịch cuộc đời, bi kịch nội tâm một
cách tinh tế, sâu sắc mà sống động như trải nghiệm hiện tại của chính mình, khơi dậy
sự đông cảm từ sâu thẳm tâm hồn người đọc với không phải một mà là hai cõi hồn, và nhiều hơn thế nữa...
Thơ ca là xúc cảm mang tính chủ quan, và như vậy thơ mang tính cá nhân, cá thể.
Nhưng không phải thơ chỉ thể hiện những gì thuộc về tình cảm cá nhân riêng biệt bởi
cảm xúc của bất kì ai cũng mang những nét rất chung của loài người. Với những tài
thơ, những nhà thơ lớn, điều khiến cho sự nghiệp thơ ca của họ vượt qua được thử
thách của không gian, thời gian bao giờ cũng bởi tiếng nói nhân văn cao đẹp, bởi tiếng
lòng trong thơ đã làm rung động được tâm hồn của những thế hệ sau, ở những nền
văn hóa khác. Nàng Tiểu Thanh, Gacxia Lorca là những tài thơ như thế, họ đã tìm
được tiếng nói tri âm từ thế hệ sau là Nguyễn Du, Thanh Thảo. Và tiếng nói tri âm từ
thế hệ sau đã làm sống dậy không chỉ một trời thơ mà cả một cõi hồn, đã góp phần làm
tiếng nói của yêu thương, khát vọng trở nên bất tử, những bi kịch trở nên day dứt và đầy ám ảnh.
Độc Tiểu Thanh kí (Nguyễn Du) và Đàn ghi ta của Lorca (Thanh Thảo) là tiếng nói thấu
hiểu những bi kịch của tiên nhân, đã tái hiện những bi kịch ấy một cách sâu sắc và đớn
đau như sự trải nghiệm của chính mình. Từ đó, các nhà thơ đã thể hiện thái độ cảm
thông, xót xa trước những số phận đầy oan nghiệt, bi phẫn trước thời đại và xã hội đã
vùi dập khát vọng chính đáng và cao đẹp của con người. Đồng thời, Nguyễn Du, Thanh
Thảo đã nói lên tình cảm trân trọng trước cái đẹp, tài năng, trước những tấm lòng. Một
lần nữa, tiếng nói nhân văn lại được vút cao.
Độc Tiểu Thanh kí và Đàn Ghita của Lorca đã thể hiện những trăn trở đầy tính nhân
văn về tình người, tình đời, về khát vọng lí tưởng sống cao đẹp của Nguyễn Du, Thanh
Thảo. Ta gặp trong hai thi phẩm tiếng nói đồng vọng của những tâm hồn mà điểm gặp
gỡ chính là tâm sự nặng lòng vì nhân thể, thiết tha đau đáu trước cái tài, cõi tình và
những số phận. Đó chính là tinh thần nhân văn cao cả bởi chỉ tinh thần đó mới đủ sức
mạnh để vượt qua được mọi giới hạn về không gian, thời gian, thậm chí cả những khác
biệt về văn hóa để có thể chung hòa và cộng hưởng để tinh thần bất tử ấy vút cao trong
thơ. Ta gặp trong mỗi bài thơ hai tâm hồn đang giao hòa và tỏa sáng.
Qua đó, người đọc nhận thấy hiện diện trong hai tác phẩm là niềm đồng cảm sâu sắc,
niềm tiếc thương day dứt, đớn đau, phẫn uất, bất bình cho cái Đẹp bị huỷ diệt, đầy đoạ,
dập vùi. Sự nâng niu, trân trọng cái Đẹp, khẳng định sức sống của cái Đẹp, gắn với
khát vọng bất tử hoá cái Đẹp, hướng con người tới những tình cảm nhân văn cao đẹp,
đặt ra những câu hỏi lớn lao cho thời đại, là tiếng nói cất lên từ thời đại nhưng còn
đọng lại và có tầm nhân loại….
Điểm khác biệt của hai tác phẩm có thể kể đến nội dung cảm xúc và nghệ thuật. Trong
Độc Tiểu Thanh kí, Nguyễn Du thương cho kiếp hồng nhan, phong lưu bạc mệnh, tài tử
đa cùng. Mạch thơ đi từ thương người sang thương đời, thương mình. Bài thơ đan xen
biết bao cảm xúc (thương cảm, xót xa, phẫn uất, thất vọng, khắc khoải…). Tác phẩm là
thơ chữ Hán theo thể thơ Đường luật cổ điển. Nhà thơ nói bằng nghệ thuật đối, bằng
những câu hỏi tu từ như xoáy vào hồn người, bằng cách xưng tên da diết khắc khoải,
bằng giọng thơ trang trọng mà tràn đầy cảm xúc yêu thương…
Với bài thơ Đàn ghi-ta của Lor-ca, Thanh Thảo thương xót cho cuộc đời người chiến sĩ-
nghệ sĩ. Mạch cảm xúc làm cho bài thơ kết cấu giống như một bản giao hưởng về cuộc
đời Lor-ca. Nhà thơ xây dựng hình ảnh giàu ý nghĩa biểu trưng, sử dụng thể thể thơ tự
do theo khuynh hướng thơ tượng trưng, siêu thực mới mẻ giầu chất nhạc, chất hoạ…
Qua điểm gặp gỡ và những sáng tạo độc đáo của Nguyễn Du và Thanh Thảo nói riêng
trong hai thi phẩm thấy được ý nghĩa của sáng tạo văn chương, thấy được vai trò,
nhiệm vụ của nhà văn, của độc giả trong quá trình sáng tạo và thưởng thức văn
chương. Đó là sự gặp gỡ và nét khác biệt với những sáng tạo độc đáo, thú vị làm nên
sự phong phú, giàu có kì diệu của văn học. Điểm tương đồng làm nên tính tập trung,
thống nhất của văn học, làm cho mọi người có thể hiểu nhau, đồng cảm với nhau qua
văn học (bất chấp khoảng cách về không gian, thời gian). Điểm khác biệt độc đáo sẽ
làm tiến trình văn học ngày một dài hơn, kho tàng văn học nhân loại giàu có hơn; đời
sống tinh thần con người sẽ phong phú hơn và người nghệ sĩ ghi được tên tuổi của
mình trong dòng đời nước chảy.
3. Nghị luận tiếng nói tri âm trong Độc tiểu thanh kí và Đàn ghi ta của Lor-ca
Mỗi cá thể người giữa bể nhân sinh như một ốc đảo cô đơn. Trong hành trình sống,
mỗi người luôn muốn tìm cách kết nối, đối thoại với con người. Sáng tạo văn chương
phải chăng cũng chính là cách nhà văn biểu hiện tâm hồn mình, tìm sự sẻ chia từ cuộc
đời, thầm thĩ với cuộc đời những suy nghĩ, chiêm nghiệm và tình cảm thiết tha của
mình? Và quá trình giao tiếp diệu kỳ của nhà văn và bạn đọc bắt đầu trong sự tiếp
nhận, tri âm. Nhà văn Bùi Hiển từng khẳng định: "Ở nước nào cũng thế thôi, sự cảm
thông sẻ chia giữa người đọc và người viết là trên hết."
Sự cảm thông, sẻ chia giữa người với người ở cuộc đời thực là đáng quý. Sự tri âm
giữa người đọc và người viết lại càng đáng trân trọng, bởi "tri âm thực khó thay" (Lưu
Hiệp). Sự tri âm hay đồng cảm, sẻ chia là một cách tiếp nhận tác phẩm của người đọc,
là việc rung cảm với những điều nhà văn rung cảm, có những tình cảm, suy tư gần với
những điều nhà văn đã xúc cảm, suy tư. Lí luận văn học Đông phương coi việc tri âm,
tìm kiếm tiếng lòng tác giả sau trang viết là quan trọng hơn hết. Qua sự đọc, đắm mình
cảm nhận tác phẩm, người đọc sẽ phát hiện, đồng điệu với tâm hồn nhà văn. Sự đồng
cảm, tri âm có thể xuyên vượt thời gian lịch đại và không gian đồng đại. Tình cảm trong
tác phẩm được thấu cảm, sẻ chia là niềm hạnh phúc của nhà văn, tạo nên sự lan tỏa
những giá trị tinh thần tốt đẹp. Ý kiến của nhà văn Bùi Hiển đã nhấn mạnh vai trò sự tri
âm trong quá trình ký thác- tri âm của nhà văn và người đọc trong quá trình tiếp nhận tác phẩm.
Tiếp nhận văn học là giai đoạn cuối cùng của quá trình sáng tác, là lúc sự sống của tác
phẩm mới thực sự bắt đầu. Sartre từng nói "không có sự đọc, tác phẩm chỉ là những
vệt đen trên giấy trắng", im lìm, vô hồn. Tác phẩm văn học là sinh thể chỉ tồn tại trong
thế giới tinh thần của con người, chỉ sống chừng nào sự đọc, sự liên tưởng, suy tư còn
tiếp diễn. Sự đồng cảm, tri âm của người đọc với nhà văn là tình cảm diễn ra trong quá
trình tiếp nhận. Người đọc không chỉ nhận biết bề mặt ngữ nghĩa của văn bản mà còn
thâm nhập vào hàm nghĩa, "mở ra" những tâm tình, nghĩ suy nhà văn "gói" trong tác
phẩm. Sở dĩ tác phẩm tạo được sự đồng cảm, tri âm vì nó được thành hình trong quá
trình sáng tạo của nhà văn. Lao động sáng tạo nghệ thuật là tìm hình thức thích đáng-
ngôn ngữ, hình tượng, kết cấu- để biểu hiện, chuyển tải tư tưởng tình cảm của mình.
Dấu ấn cá tính và tinh thần người viết được chuyển tải trọn vẹn qua ngôn ngữ của tác
phẩm. Người đọc tiếp xúc với hình thức nghệ thuật đó liền có những rung cảm thẩm mĩ
đặc biệt, như nghe được tiếng lòng nhà văn, như thấy gương mặt nhà văn đang suy tư,
trăn trở. Người đọc không chỉ tri âm mà còn cảm thấy tác phẩm như kí thác nỗi lòng
mình. Cảm xúc của cái tôi nhà văn di chuyển thành cái ta của nhân loại. Ta tìm thấy
mình trong dòng cảm xúc đó, thấy những vấn đề của thời đại, những nỗi lòng của mình
được phô bày, cởi giải. Sáng tác và tiếp nhận văn học là hành trình đi từ trái tim đến
trái tim qua trung gian là văn bản văn học. Hoạt động tiếp nhận mang lại sự sống cho
tác phẩm và ngược lại sự đồng điệu tri âm cũng mang lại niềm vui cho tâm hồn con người.
"Cái khổ ở đời không gì bằng chữ tình, cái khó ở đời không gì bằng sự gặp gỡ." (Cao
Bá Quát). Văn nhân, thi nhân là những người nặng lòng với cuộc đời, nhạy cảm với nỗi
bi thương của số phận con người nên dễ xúc cảm, dễ bị nhấn chìm trong "cơn đại địa
chấn tâm hồn". Nỗi lòng đa mang đó của nhà văn thật đáng quý thay nhưng cũng thật
khó để người đời thấu cảm trọn vẹn. Nhà văn không chỉ cô đơn trong hành trình sáng
tác mà còn cô đơn trong sự đợi chờ một mối tri âm cũng là vì vậy. Đồng cảm, xót xa
trước số phận người "cùng một lứa bên trời lận đận" và khắc khoải mong chờ sự đồng
cảm, tri âm của hậu thế là nỗi lòng đại thi hào Nguyễn Du gửi gắm trong tác phẩm Độc
Tiểu Thanh kí. Nguyễn Du là một nhà nhân đạo lớn, một nhà văn lớn trong giai đoạn
cuối thế kỉ mười tám, đầu thế kỉ mười chín của văn học trung đại Việt Nam. Đọc Truyện
Kiều của Nguyễn Du, Mộng Liên Đường đã nhận ra có "máu chảy nơi đầu ngọn bút,
nước mắt thấm trên tờ giấy", đó cũng là nỗi lòng đồng cảm của nhà thơ với khúc đàn
Bạc mệnh của số phận nàng Kiều. Độc Tiều Thanh kí cũng là tác phẩm thể hiện tấm
lòng tri âm của Nguyễn Du với số phận nàng Tiểu Thanh tài hoa mà mệnh bạc, vừa là
lời khóc người, vừa trách đời nhưng sâu thẳm vẫn là lòng thương cảm da diết.
"Tây Hồ hoa uyển tẫn thành khư
Độc điếu song tiền nhất chỉ thư"
Ngay từ câu thơ đầu tiên, ta đã thấy một nét mày chau trăn trở, một tiếng thở dài buông
xuống của đại thi hào khi chứng kiến sự suy biến của cảnh vật trong dòng thời gian
nghiệt ngã, thắt lòng khi chứng kiến cái đẹp bị bức tử, bị dập vùi. Trên tay Tố Như nâng
một tập sách đốt dở của Tiểu Thanh với tất cả sự trân trọng, nâng niu. Có thể những
tác phẩm của Tiểu Thanh không còn trọn vẹn, nhưng Nguyễn Du vẫn tri âm với cố
nhân. Bởi đọc văn trước hết là muốn hiểu một con người, tri âm trước hết là có một
khát khao, một thúc bách muốn được đồng cảm, sẻ chia từ bên trong. Đó là một tâm
thế tiếp nhận. Người đọc đến với tác phẩm mà chỉ muốn ngấu nghiến cho thỏa mong
muốn được biết, được đọc mà không mở rộng lòng để lắng nghe tiếng lòng người viết
để lại trên trang văn thì liệu có thể tri âm? Một tấm lòng đối diện với một tấm lòng đã
khuất qua trang sách đốt dở còn vương lại. Chữ "độc" và chữ "nhất" xuất hiện trong
một câu thơ, xuyên qua "song tiền" của thời gian, của quá khứ và hiện tại để nỗi lòng
gặp một nỗi lòng, để đồng cảm, sẻ chia. Sự tiếp nhận, tri âm có thể phá vỡ lằn ranh
không- thời gian là như thế. Không quan trọng là ở quốc gia nào, sắc tộc nào, "sự đồng
cảm, sẻ chia giữa người đọc và người viết là trên hết", bởi tất cả chúng ta đều có
chung một danh hiệu "người".
"Chi phấn hữu thần liên tử hậu
Văn chương vô mệnh lụy phần dư"
"Chi phấn" và "văn chương" Nguyễn Du dùng để nói về con người tài hoa mà mệnh
bạc. Người đã khuất nhưng nỗi lòng của người còn lưu lại rành rành trên trang thơ
người đặt bút. Người đặt bút bao giờ cũng "gói tâm tình của mình vào thơ" (Lưu Quý
Kỳ), thổ lộ, giãi bày những cảm xúc, những ai oán, những mơ ước khát vọng của mình
trước cuộc đời vào con chữ. Ai cầm bút mà không muốn ký thác, giải tỏa nỗi lòng mình
vào đó? Ai viết văn, làm thơ mà không muốn bày tỏ một điều gì với con người và cuộc
đời? Đó là khát vọng tri âm vậy. Người đọc tìm đến với tác phẩm cũng cảm nhận được
tiếng lòng người viết phảng phất trên từng trang văn. Đó là sự tri âm. Có người nói
"thấy thơ như thấy người", thấy tác phẩm như thấy được tình cảm, nghĩ suy của tác
giả. "Nhìn" và "hiểu" câu thơ thì dễ nhưng "thấy", "tri âm" trọn vẹn với tấm lòng người
viết thì rất khó. Sức sống của tác phẩm nằm ở sự tri âm, đối thoại của người đọc bởi
cõi sống của tác phẩm nằm trong tâm trí con người. Vì lẽ đó mà dù văn chương có bị
đốt bỏ, bị phá hủy thì tác phẩm vẫn còn lưu giữ mãi mãi trong lòng những ai yêu quý
nó, như người ta không thể quên một người bạn tâm giao tâm tình. Đó là sức mạnh của sự tri âm vậy.
"Cổ kim hận sự thiên nan vấn
Phong vận kỳ oan ngã tự cư."
Hai câu thơ là sự trăn trở day dứt của đại thi hào với số mệnh văn chương. Nguyễn Du
thấu rõ con đường văn chương là con đường đau khổ. Văn nhân đã hết lòng với cuộc
đời những vẫn bị "trời đày", đã nặng tình nhưng lại bị chính nỗi đau đời dập vùi. Đó
cũng là sự cảm thông sâu sắc của Nguyễn Du với số phận Tiểu Thanh, về nỗi "văn
chương tiếng thở như lời tơ than..". Đó là sự tri âm của một khách tài tình với giai nhân
tài hoa bạc mệnh. Nguyễn Du thấy số phận của Tiểu Thanh cũng là số phận mình, đau
vì cảm thông cho người rồi lại đau cho chính mình. Nỗi đau đó chính là sự đồng cảm,
sẻ chia đến tận cùng của nhà thơ. Nguyễn Du tri âm trên nền tảng của sự đồng cảnh
ngộ, nhưng đôi khi người tiếp nhận có thể tri âm với người khác mình về cảnh ngộ, văn
hóa, quốc tịch bởi chúng ta có tình cảm chung của con người. Ta không hiểu rõ không
khí châu Âu trong thời kì tư bản, không hiểu rõ chuyến viễn du của đoàn người đi tìm
kiếm vùng đất mới nhưng hiểu nỗi đau, nỗi cô quạnh tột cùng của linh hồn con người
trong bi kịch vô tăm tích qua thơ của Victor Hugo:
"Thân dưới nước, tên chìm trong kí ức,
Dòng thời gian tô đậm thêm bóng đen"
"Sự đồng cảm, sẻ chia giữa người đọc và người viết là quan trọng hơn hết". Đồng cảm
với nàng Tiểu Thanh, Nguyễn Du lại quay về đối diện với chính mình, với bạn đọc hậu thế:
"Bất tri tam bách dư niên hậu
Thiên hạ hà nhân khấp Tố Như?"
"Khấp" là biểu hiện mãnh liệt nhất, trong trẻo nhất của người đọc trong sự tri âm với
người viết. Nếu phần trên Nguyễn Du khóc Tiểu Thanh thì hai câu cuối nhà thơ băn
khoăn: Liệu ai sẽ khóc cho mình, tri âm với mình nữa đây? Đó là khát khao được đồng
cảm, sẻ chia của đại thi hào cũng như bao người cầm bút, được sẻ chia, đồng cảm là
một niềm hạnh phúc lớn lao, dù khi ấy, sau ba trăm năm lẻ nữa nhà thơ không còn.
Nhà văn không còn nhưng tác phẩm sẽ bất tử qua quá trình tiếp nhận của người đọc,
tác phẩm sẽ mãi vang động, xôn xao trong sự xúc cảm, sẻ chia của người đọc. Nhà
văn không chỉ hướng đến bạn đọc của hôm nay mà còn hướng về người đọc của quá
khứ như một cơ sở để suy tư, hướng đến bạn đọc của tương lai để đối thoại. Tri âm,
chia sẻ giống như cách bạn đọc trả ơn, an ủi những nỗi đau của nhà văn, nối tiếp
những khắc khoải của nhà văn về con người và cuộc đời để biết sống sao cho "ra
người" hơn. Bởi ý nghĩa nhân văn đó mà "sự đồng cảm, sẻ chia giữa người đọc và
người viết là quan trọng hơn hết."
Cuộc đời có nhiều góc khuất tăm tối và những nỗi đau không nói hết. Sự giả trá, bất
công, độc tài, tàn bạo đã chà đạp những tâm hồn cao quý, giày xéo lên nghệ thuật, làm
đẫm máu những câu văn, vần thơ. Trong nỗi đau tột cùng của việc viết, người đọc như
kẻ cứu rỗi nhà văn trong sự tri âm, chia sẻ. Tiếp nhận, đồng cảm đến tột cùng, người
đọc cũng trở thành người sáng tạo để đối thoại với tác giả. Nhà thơ Thanh Thảo viết
"Đàn ghita của Lorca" vừa để cảm thương, sẻ chia với nhà thơ- nhạc sĩ Lorca, vừa để
khẳng định sức sống và giá trị trường tồn của nghệ thuật.
"Những tiếng đàn bọt nước
Tây Ban Nha áo choàng đỏ gắt Li-la li-la li-la.."
Dấu ấn của thơ tượng trưng đã xuất hiện từ câu đầu tiên, những tiếng đàn của Lorca
được Thanh Thảo cảm nhận như những "bọt nước", vừa tròn trịa, trong trẻo, vừa thanh
khiết, mong manh. "Tiếng đàn bọt nước" đặt cạnh "áo choàng đỏ gắt" của dũng sĩ đấu
bò Tây Ban Nha đã tạo ra hai đối cực của cái mềm mại và gay gắt, sự tài hoa và mạnh
mẽ, can trường của người nghệ sĩ. Âm thanh tiếng đàn "li-la" được lặp lại ba lần trong
câu thơ nhưng ngân vang, luyến láy mãi trong âm điệu cảm xúc da diết của bài thơ,
như sự vọng hồi của những kiệt tác âm nhạc của Lorca. Không có sự đồng cảm, tri âm,
nghe như "đàn gảy tai trâu" làm sao có thể nghe được, viết lại được thanh âm như thế?
Câu thơ "Khi tôi chết hãy chôn tôi với cây đàn" của Lorca trở thành lời đề từ chứng tỏ
nhà thờ Thanh Thảo như muốn nối tiếp những tâm sự, sẻ chia những nỗi đau trong cuộc đời Lorca.
"Tây Ban Nha hát nghêu ngao Bỗng kinh hoàng Áo choàng bê bết đỏ"
Nghệ thuật trong trẻo và thanh khiết. Nghệ thuật dâng cái đẹp cho đời. Thế mà những
thế lực tàn bạo đã dập vùi nó trong bể máu của người nghệ sĩ.. Ba chữ "bỗng kinh
hoàng" Thanh Thảo đặt xuống chứa cả cái rợn người gai góc của ông, cái đứng lặng
của tâm hồn ông trước sự tàn bạo của thời cuộc- "áo choàng bê bết đỏ..". Thanh Thảo
đã thấu hiểu cái chết bi phẫn của Lorca, hay hiểu chính những dự cảm của Lorca trong
những bài thơ khắc khoải về nỗi đau và cái chết:
"Muốn ngủ say bằng giấc mơ của táo mùa thu
Tránh cái cảnh chen chúc ngoài nghĩa địa
Muốn ngủ say bằng giấc mơ đứa bé
Mơ ném con tim vào biển mịt mù.." (Garcia Lorca)
Đó không phải sự tri âm, đồng cảm hay sao?
Thanh Thảo xót thương cho số phận của người nghệ sĩ khi vận vào mình số mệnh của nghệ thuật: "Tiếng ghi ta Ròng ròng Máu chảy.."
Nhưng đến cuối cùng, nhà thơ Thanh Thảo vẫn tin tưởng, vẫn khẳng quyết về sự sống
bền bỉ của nghệ thuật đích thực:
"Không ai chôn cất tiếng đàn
Tiếng đàn như cỏ mọc hoang.."
Tiếng đàn vẫn nảy mọc mạnh mẽ như cỏ, và những âm điệu "li-la li-la li-la" còn vang
lên văng vẳng, khắc khoải, bất chấp sự dập vùi của cái xấu xa, đê tiện, tàn bạo.. Sức
sống của nghệ thuật còn kéo dài mãi nhờ sự đồng điệu, sẻ chia của tha nhân với người
sáng tạo. Những tình cảm đẹp, tiếng nói phản kháng cái xấu ác, niềm khát vọng hòa
bình, ấm êm còn tỏa lan mãi trong lòng bao con người nhờ sự tri âm qua nghệ thuật.
"Ở nước nào cũng thế thôi, sự cảm thông sẻ chia của người đọc và người viết là trên hết."
Nhà văn là người sáng tạo nên tác phẩm, gửi gắm trong đó bao nhiêu nỗi niềm, ước
mơ. Nhưng không chỉ chưng cất cảm xúc, nhà văn còn phải chọn lựa hình thức nghệ
thuật thích hợp- ngôn ngữ, hình tượng, kết cấu.. - để chuyển tải trọn vẹn những tình
cảm của mình. "Nhà thơ gói tâm tình của mình vào trong thơ" rồi người đọc mới "mở ra
để tìm thấy tâm tình của chính mình" (Lưu Quý Kỳ). Sở dĩ có sự tri âm vì nhà văn đã
khám phá nội tâm mình, đi đến tận cùng "cái tôi" để bắt gặp "cái ta" của những tình
cảm nhân loại. Tình cảm được biểu hiện trong tác phẩm văn học không phải tình cảm
vụn vặt đời thường mà đã chan hòa với tư tưởng, mang chiều sâu nhân bản nên có
sức lan tỏa mạnh mẽ. Người đọc đến với văn thơ phải biết mở lòng lắng nghe, thấu
cảm với nhà văn, để thấy mình được thanh lọc sau những phút buồn thương, xa xót
hay hào hứng, vui tươi cùng tác phẩm..
Như vậy, tác phẩm "Độc Tiểu Thanh ký" của đại thi hào Nguyễn Du và bài thơ "Đàn
ghita của Lorca" của nhà thơ Thanh Thảo đã minh chứng cho ý kiến của nhà văn Bùi
Hiển: "Ở nước nào cũng thế thôi, sự cảm thông, chia sẻ giữa người đọc với người viết
là trên hết." Nhà văn Nguyễn Ngọc Tư coi văn học như là băng, nối kết những ốc đảo
người cô đơn, là nước để xuyên vượt qua mọi lằn ranh của không- thời gian, biên giới
lãnh thổ để chạm đến mọi trái tim con người. Sự tri âm đã giúp "người gần người hơn",
chắp cho tác phẩm đôi cánh để vĩnh tồn.