Sự giống nhau khác biệt giữa vật chính
vật phụ gì?
Trả lời:
1. Phân biệt vật chính vật phụ
Thứ nhất, Phân tích nội dung khái niệm: (Điều 110. Chương VII về Tài
sản. Bộ luật dân sự năm 2015)
- Vật chính vật độc lập, thể khai thác công dụng theo tính năng. VD: Máy
ảnh vật chính còn vỏ máy nh vật phụ.
- Vật phụ vật trực tiếp phục vụ cho việc khai thác công dụng của vật chính,
một bộ phận của vật chính nhưng thể tách rời vật chính. VD: Bộ phận
điều khiển từ xa của Tivi.
- Theo nguyên tắc chung vật chính vật phụ đối tượng thống nhất, nếu
các bên không thỏa thuận khác, thì vật phụ phải đi kèm vật chính khi
thực hiện nghĩa vụ chuyển giao vật chính. Tuy nhiên, các bên thể thỏa
thuận khác: chỉ vật chính hoặc vật phụ thôi. Đương nhiên, không thể coi
vật phụ nếu bản than bộ phận cấu thành nên của vật chính, n lốp ô
đang sử dụng của một cái ô tô, nhưng lốp để dự phòng xe lại thể được
coi vật phụ.
Thứ hai: Phân tích, làm điểm tương đồng khác biệt
Giống nhau: Đều những vật thể chuyển giao được. tính năng riêng
để phục vụ lẫn nhau.
2. Khái niệm đặc điểm về tài sản vật chính vật phụ
Vật tài sản thể tồn tại dưới nhiều hình thức, trạng thái khác nhau tồn
tại khách quan, được ghi nhận bởi Nhà nước pháp luật. Những vật tài
sản cần phải các yếu tố bản như: thể xác định được; giá trị
được pháp luật thừa nhận; thể xác lập quyền sở hữu, sử dụng.
Theo quy định tại Điều 110 của Bộ luật dân sự năm 2015, pháp luật định
nghĩa về vật chính vật ph như sau:
"1. Vật chính vật độc lập, thể khai thác công dụng theo tính năng.
2. Vật phụ vật trực tiếp phục vụ cho việc khai thác công dụng của vật chính,
một bộ phận của vật chính, nhưng thể tách rời vật chính.
3. Khi thực hiện nghĩa vụ chuyển giao vật chính thì phải chuyển giao cả vật
phụ, trừ trường hợp thoả thuận khác."
Như vậy, vật chính i sản giá trị vật chất, được tạo ra với kh năng khai
thác, sử dụng độc lập. Việc khai thác, sử dụng vật chính không bắt buộc phải
sử dụng vật phụ vẫn giữ nguyên giá trị, lợi ích công dụng ban đầu.
Vật phụ vật, được sản xuất, hình thành nhằm mục tiêu khai thác tối đa các
công dụng của vật chính, nâng cao giá trị cho vật chính nhưng không thể thay
thế vật chính; thể gắn liền hoặc tách rời vật chính. Vật phụ ng giá trị
riêng, cũng thể xem xét một tài sản độc lập.
Theo đó, đ đảm bảo quyền lợi hợp pháp của các bên trong giao dịch n sự,
pháp luật quy định việc chuyển giao vật chính phải chuyển giao vật phụ để
thể khai thác đầy đủ các tính năng, giá trị của vật. Tuy nhiên, các bên
quyền thỏa thuận về việc không chuyển giao vật hoặc xem xét vật phụ dưới
hình thức một tài sản độc lập để chuyển giao - Quy định này phù hợp với
nguyên tắc bình đẳng, tự do ý chí, tự do thỏa thuận trong giao dịch dân sự.
Trong thực tiễn, một số dụ điển hình về vật chính vật phụ như:
+ Vật chính: Tivi - Vật phụ: Điều khiển tivi.
+ Vật chính: Điện thoại - Vật phụ: Dây sạc điện thoại.
+ Vật chính: Kính mắt - Vật phụ: Hộp đựng nh.
3. Phân loại vật theo quy định của Bộ luật dân sự 2015
Việc phân loại vật ý nghĩa quan trọng trong việc xác lập, thực hiện quyền
sở hữu trong giao kết thực hiện c giao dịch dân sự, thương mại (thừa kế,
mua n, cho thuê, hoặc các hành vi pháp đơn phương khác). Việc phân
loại vật dựa trên các tiêu chí khác nhau như tính chất của vật, đối tượng của
quan hệ dân sự,…
3.1 Vật chính vật phụ
Điều 110 Bộ luật dân sự 2015 quy định về vật chính vật phụ như sau:
Vật chính vật độc lập, thể khai thác công dụng theo tính năng.
Vật phụ vật trực tiếp phục vụ cho việc khai thác công dụng của vật chính,
một bộ phận của vật chính, nhưng thể tách rời vật chính.
Khi thực hiện nghĩa vụ chuyển giao vật chính t phải chuyển giao cả vật
phụ, trừ trường hợp thỏa thuận khác.
Theo đó, vật chính thể một vật hoặc nhiều vật liên kết với nhau thành
một vật công dụng chung. Vật chính là vật độc lập, thể khai thác công
dụng theo tính năng sử dụng của vật. Vật chính được sử dụng không cần
vật phụ.
Ngược lại, vật phụ vật phục vụ trực tiếp cho việc khai thác công dụng của
vật chính. dụ: máy ảnh vật chính, vỏ máy nh vật phụ; máy quạt vật
chính, mô-tơ của quạt vật phụ,…
Khi chuyển giao vật chính thì bắt buộc phải chuyển cả vật phụ nhằm để khai
thác công dụng, trừ trường hợp thỏa thuận khác. Ví dụ: chiếc tivi vật
chính, điều khiển tivi vật phụ. Tuy nhiên, khi chuyển giao quyền sở hữu
chiếc tivi thì các bên th thỏa thuận không phải chuyển giao điều khiển tivi.
3.2 Vật chia được vật không chia được
Điều 111 Bộ luật dân sự 2015 quy định về vật chia được vật không chia
được như sau:
- Nếu một vật khi bị phân chia vẫn giữ nguyên tính chất tính năng sử
dụng ban đầu t vật đó vật chia được. dụ: gạo, xăng, dầu,… những
vật thể phân chia thành nhiều phần vẫn giữ nguyên được tính chất
tính năng sử dụng ban đầu của nó.
Đối với vật chia được thì thể phân chia thành những phần bằng nhau hay
theo những tỷ lệ do các bên thỏa thuận. phân chia theo cách nào thì các
phần đã phân chia đều sử dụng đúng các tính năng công dụng ban đầu
của vật.
- Còn những vật khi phân chia sẽ mất đi hoặc không giữ được tính chất
tính năng sử dụng ban đầu thì gọi vật không chia được (ví dụ như bàn,
ghế, xe máy, tivi,…). Trường hợp phân chia tài sản vật không chia được thì
định giá thành tiến để phân chia.
3.3 Vật tiêu hao vật không tiêu hao
Điều 112 Bộ luật dân sự 2015 quy định về vật tiêu hao vật không tiêu hao
như sau:
Đối với những vật qua sử dụng mất đi hoặc không còn giữ nguyên
được hình dáng, tính chất tính năng sử dụng ban đầu (vật thể bị giảm
về số lượng, chất lượng, trọng lượng khác) thì gọi vật tiêu hao. dụ:
phòng qua một lần sử dụng bị giảm trọng lượng; xi măng, vôi qua sử dụng sẽ
biến thành vật khác hay thực phẩm qua sử dụng sẽ mất đi,…
Đối với vật tiêu hao, chủ sở hữu thể cho, bán (chuyển quyền sở hữu) cho
người khác. Vật tiêu hao không thể đối tượng của hợp đồng cho thuê hoặc
hợp đồng cho mượn, bởi bản chất của hợp đồng cho thuê hay cho mượn
người thuê, người mượn quyền sử dụng trong thời gian thuê hoặc mượn
tài sản. Sau khi hết hạn hợp đồng, người thuê, người mượn phải tr lại vật
cho chủ sở hữu đúng nh dạng, tính chất, tính năng sử dụng như trước khi
cho thuê, cho mượn. Điều này đi ngược lại hoàn toàn với tính chất của vật
tiêu hao.
Vật không tiêu hao vật khi đã qua nhiều lần sử dụng vẫn gi được
tính chất, hình dáng tính năng sử dụng ban đầu. dụ: ngôi nhà, xe máy,
ô tô,… Về phương diện vật lý, mọi vật khi sử dụng đều bị hao mòn. Chính
vậy, việc phân chia vật tiêu hao vật không tiêu hao mang tính chất tương
đối, ý nghĩa trong giao dịch dân sự, thương mại.
3.4 Vật cùng loại vật đặc định
Điều 113 Bộ luật dân sự 2015 quy định về vật cùng loại vật đặc định n
sau:
Vật cùng loại những vật cùng hình dáng, tính chất, tính năng sử dụng
xác định được bằng những đơn vị đo lường.
Vật cùng loại cùng chất lượng thể thay thế cho nhau.
Vật đặc định vật phân biệt được với các vật khác bằng những đặc điểm
riêng về hiệu, hình ng, màu sắc, chất liệu, đặc tính, vị trí.
Khi thực hiện nghĩa vụ chuyển giao vật đặc định thì phải giao đúng vật đó.
Trong pháp luật dân sự, việc phân chia vật cùng loại vật đặc định dựa vào
hình dáng, tính chất, tính năng sử dụng của vật. Nếu vật cùng hình dạng,
tính chất, cùng tính năng sử dụng xác định được bằng đơn bị đo lường (kg,
m, lít…). dụ: gạo, muối, xăng vật cùng loại, xi măng của một nhà máy
sản xuất cùng chất lượng…
Vật đặc định những vật đặc điểm riêng về hiệu, hình dáng, màu sắc,
chất liệu, đặc tính, vị trí. Những đặc điểm này để phân biệt với vật khác kể cả
vật cùng loại. Vật đặc định thể vật độc nhất (không vật thứ hai). Ví dụ:
các loại đồ cổ quý hiếm, bức tranh cổ của danh họa nổi tiếng,…
Còn vật được đặc định hóa các vật cùng loại dấu hiệu riêng hoặc
dấu hiệu do con người tạo ra như đánh dấu đồ đạc bằng những hiệu riêng
biệt, thực phẩm được đ những dụng cụ riêng…
Trong giao dịch dân sự, việc phân loại tài sản thành vật cùng loại vật đặc
định ý nghĩa rất lớn trong việc xác định đúng đối tượng của nghĩa vụ dân
sự. Nếu vật cùng loại thì thể thay thế cho nhau như mất vật y dùng
vật khác thay thế. Tuy nhiên, đối với vật đặc định thì khi chuyển giao vật đặc
định, người nghĩa vụ phải chuyển giao đúng vật đó cho người quyền
như đã thỏa thuận. Trường hợp vật đặc định không còn thì phải bồi thường
thiệt hại.
3.4 Vật đồng bộ
Điêu 114 Bộ luật dân sự 2015 quy định về vật đồng bộ như sau:
“Vật đồng bộ vật gồm c phần hoặc các bộ phận ăn khớp, liên hệ với
nhau hợp thành chỉnh thể nếu thiếu một trong các phần, các bộ phận
hoặc phần hoặc b phận không đúng quy cách, chủng loại thì không sử
dụng được hoặc giá trị sử dụng của vật đó bị giảm sút.
Khi thực hiện nghĩa vụ chuyển giao vật đồng bộ thì phải chuyển giao toàn bộ
các phần hoặc các bộ phận hợp thành, trừ trường hợp thỏa thuận khác.”
Theo đó, vật đồng b được hiểu tập hợp các vật mối liên hệ với nhau để
khi sử dụng đầy đủ chức năng công dụng, giá trị thẩm mỹ… dụ: bộ
tranh tứ quý, bộ quần áo, bộ bàn ghế…
Tính liên kết của các vật thể hiện các vật công dụng liên quan đến nhau
thành chỉnh thể thống nhất, nếu thiếu một trong các phần, các bộ phận hoặc
phần hoặc bộ phận không đúng quy cách, chủng loại, thông số kỹ thuật thì
không sử dụng được hoặc giá trị sử dụng của vật b giảm sút.
Theo nguyên tắc, vật đồng bộ một chỉnh thể thống nhất trong giao dịch dân
sự. vậy, khi chuyển giao vật đồng bộ t người nghĩa vụ phải chuyển
giao toàn bộ các phần hoặc các b phận cấu thành cho người quyền theo
đúng thỏa thuận. Nếu thiếu một trong những bộ phận cấu thành vật đó hoặc
các bộ phận cấu thành không đúng chủng loại, quy cách thì nghĩa vụ chuyển
giao vật chưa được thực hiện xong, bên vi phạm phải chịu trách nhiệm pháp
theo quy định của pháp luật hoặc theo thỏa thuận trong hợp đồng.

Preview text:

Sự giống nhau và khác biệt giữa vật chính và vật phụ là gì? Trả lời:
1. Phân biệt vật chính và vật phụ
Thứ nhất, Phân tích nội dung khái niệm: (Điều 110. Chương VII về Tài
sản. Bộ luật dân sự năm 2015)
- Vật chính là vật độc lập, có thể khai thác công dụng theo tính năng. VD: Máy
ảnh là vật chính còn vỏ máy ảnh là vật phụ.
- Vật phụ là vật trực tiếp phục vụ cho việc khai thác công dụng của vật chính,
là một bộ phận của vật chính nhưng có thể tách rời vật chính. VD: Bộ phận
điều khiển từ xa của Tivi.
- Theo nguyên tắc chung vật chính và vật phụ là đối tượng thống nhất, nếu
các bên không có thỏa thuận gì khác, thì vật phụ phải đi kèm vật chính khi
thực hiện nghĩa vụ chuyển giao vật chính. Tuy nhiên, các bên có thể thỏa
thuận khác: chỉ vật chính hoặc vật phụ mà thôi. Đương nhiên, không thể coi
là vật phụ nếu bản than nó là bộ phận cấu thành nên của vật chính, như lốp ô
tô đang sử dụng của một cái ô tô, nhưng lốp để dự phòng xe lại có thể được coi là vật phụ.
Thứ hai: Phân tích, làm rõ điểm tương đồng và khác biệt
Giống nhau: Đều là những vật có thể chuyển giao được. Có tính năng riêng để phục vụ lẫn nhau.
2. Khái niệm và đặc điểm về tài sản là vật chính và vật phụ
Vật là tài sản có thể tồn tại dưới nhiều hình thức, trạng thái khác nhau và tồn
tại khách quan, được ghi nhận bởi Nhà nước và pháp luật. Những vật là tài
sản cần phải có các yếu tố cơ bản như: Có thể xác định được; Có giá trị
được pháp luật thừa nhận; Có thể xác lập quyền sở hữu, sử dụng.
Theo quy định tại Điều 110 của Bộ luật dân sự năm 2015, pháp luật định
nghĩa về vật chính và vật phụ như sau:
"1. Vật chính là vật độc lập, có thể khai thác công dụng theo tính năng.
2. Vật phụ là vật trực tiếp phục vụ cho việc khai thác công dụng của vật chính,
là một bộ phận của vật chính, nhưng có thể tách rời vật chính.
3. Khi thực hiện nghĩa vụ chuyển giao vật chính thì phải chuyển giao cả vật
phụ, trừ trường hợp có thoả thuận khác."
Như vậy, vật chính là tài sản có giá trị vật chất, được tạo ra với khả năng khai
thác, sử dụng độc lập. Việc khai thác, sử dụng vật chính không bắt buộc phải
sử dụng vật phụ mà vẫn giữ nguyên giá trị, lợi ích và công dụng ban đầu.
Vật phụ là vật, được sản xuất, hình thành nhằm mục tiêu khai thác tối đa các
công dụng của vật chính, nâng cao giá trị cho vật chính nhưng không thể thay
thế vật chính; có thể gắn liền hoặc tách rời vật chính. Vật phụ cũng có giá trị
riêng, cũng có thể xem xét là một tài sản độc lập.
Theo đó, để đảm bảo quyền lợi hợp pháp của các bên trong giao dịch dân sự,
pháp luật quy định việc chuyển giao vật chính phải chuyển giao vật phụ để có
thể khai thác đầy đủ các tính năng, giá trị của vật. Tuy nhiên, các bên có
quyền thỏa thuận về việc không chuyển giao vật hoặc xem xét vật phụ dưới
hình thức là một tài sản độc lập để chuyển giao - Quy định này phù hợp với
nguyên tắc bình đẳng, tự do ý chí, tự do thỏa thuận trong giao dịch dân sự.
Trong thực tiễn, một số ví dụ điển hình về vật chính và vật phụ như:
+ Vật chính: Tivi - Vật phụ: Điều khiển tivi.
+ Vật chính: Điện thoại - Vật phụ: Dây sạc điện thoại.
+ Vật chính: Kính mắt - Vật phụ: Hộp đựng kính.
3. Phân loại vật theo quy định của Bộ luật dân sự 2015
Việc phân loại vật có ý nghĩa quan trọng trong việc xác lập, thực hiện quyền
sở hữu trong giao kết và thực hiện các giao dịch dân sự, thương mại (thừa kế,
mua bán, cho thuê, hoặc các hành vi pháp lý đơn phương khác). Việc phân
loại vật dựa trên các tiêu chí khác nhau như tính chất của vật, đối tượng của quan hệ dân sự,…
3.1 Vật chính và vật phụ
Điều 110
Bộ luật dân sự 2015 quy định về vật chính và vật phụ như sau: 
Vật chính là vật độc lập, có thể khai thác công dụng theo tính năng. 
Vật phụ là vật trực tiếp phục vụ cho việc khai thác công dụng của vật chính,
là một bộ phận của vật chính, nhưng có thể tách rời vật chính. 
Khi thực hiện nghĩa vụ chuyển giao vật chính thì phải chuyển giao cả vật
phụ, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.
Theo đó, vật chính có thể là một vật hoặc nhiều vật liên kết với nhau thành
một vật có công dụng chung. Vật chính là vật độc lập, có thể khai thác công
dụng theo tính năng sử dụng của vật. Vật chính được sử dụng mà không cần có vật phụ.
Ngược lại, vật phụ là vật phục vụ trực tiếp cho việc khai thác công dụng của
vật chính. Ví dụ: máy ảnh là vật chính, vỏ máy ảnh là vật phụ; máy quạt là vật
chính, mô-tơ của quạt là vật phụ,…
Khi chuyển giao vật chính thì bắt buộc phải chuyển cả vật phụ nhằm để khai
thác công dụng, trừ trường hợp có thỏa thuận khác. Ví dụ: chiếc tivi là vật
chính, điều khiển tivi là vật phụ. Tuy nhiên, khi chuyển giao quyền sở hữu
chiếc tivi thì các bên có thể thỏa thuận không phải chuyển giao điều khiển tivi.
3.2 Vật chia được và vật không chia được
Điều 111
Bộ luật dân sự 2015 quy định về vật chia được và vật không chia được như sau:
- Nếu một vật khi bị phân chia mà vẫn giữ nguyên tính chất và tính năng sử
dụng ban đầu thì vật đó là vật chia được. Ví dụ: gạo, xăng, dầu,… là những
vật có thể phân chia thành nhiều phần mà vẫn giữ nguyên được tính chất và
tính năng sử dụng ban đầu của nó.
Đối với vật chia được thì có thể phân chia thành những phần bằng nhau hay
theo những tỷ lệ do các bên thỏa thuận. Dù phân chia theo cách nào thì các
phần đã phân chia đều sử dụng đúng các tính năng và công dụng ban đầu của vật.
- Còn những vật mà khi phân chia sẽ mất đi hoặc không giữ được tính chất
và tính năng sử dụng ban đầu thì gọi là vật không chia được (ví dụ như bàn,
ghế, xe máy, tivi,…). Trường hợp phân chia tài sản là vật không chia được thì
định giá thành tiến để phân chia.
3.3 Vật tiêu hao và vật không tiêu hao
Điều 112
Bộ luật dân sự 2015 quy định về vật tiêu hao và vật không tiêu hao như sau:
– Đối với những vật qua sử dụng mà mất đi hoặc không còn giữ nguyên
được hình dáng, tính chất và tính năng sử dụng ban đầu (vật có thể bị giảm
về số lượng, chất lượng, trọng lượng khác) thì gọi là vật tiêu hao. Ví dụ: xà
phòng qua một lần sử dụng bị giảm trọng lượng; xi măng, vôi qua sử dụng sẽ
biến thành vật khác hay thực phẩm qua sử dụng sẽ mất đi,…
Đối với vật tiêu hao, chủ sở hữu có thể cho, bán (chuyển quyền sở hữu) cho
người khác. Vật tiêu hao không thể là đối tượng của hợp đồng cho thuê hoặc
hợp đồng cho mượn, bởi bản chất của hợp đồng cho thuê hay cho mượn là
người thuê, người mượn có quyền sử dụng trong thời gian thuê hoặc mượn
tài sản. Sau khi hết hạn hợp đồng, người thuê, người mượn phải trả lại vật
cho chủ sở hữu đúng hình dạng, tính chất, tính năng sử dụng như trước khi
cho thuê, cho mượn. Điều này đi ngược lại hoàn toàn với tính chất của vật tiêu hao.
– Vật không tiêu hao là vật khi đã qua nhiều lần sử dụng mà vẫn giữ được
tính chất, hình dáng và tính năng sử dụng ban đầu. Ví dụ: ngôi nhà, xe máy,
ô tô,… Về phương diện vật lý, mọi vật khi sử dụng đều bị hao mòn. Chính vì
vậy, việc phân chia vật tiêu hao và vật không tiêu hao mang tính chất tương
đối, có ý nghĩa trong giao dịch dân sự, thương mại.
3.4 Vật cùng loại và vật đặc định
Điều 113
Bộ luật dân sự 2015 quy định về vật cùng loại và vật đặc định như sau:
– Vật cùng loại là những vật có cùng hình dáng, tính chất, tính năng sử dụng
và xác định được bằng những đơn vị đo lường.
Vật cùng loại có cùng chất lượng có thể thay thế cho nhau.
– Vật đặc định là vật phân biệt được với các vật khác bằng những đặc điểm
riêng về ký hiệu, hình dáng, màu sắc, chất liệu, đặc tính, vị trí.
Khi thực hiện nghĩa vụ chuyển giao vật đặc định thì phải giao đúng vật đó.
Trong pháp luật dân sự, việc phân chia vật cùng loại và vật đặc định dựa vào
hình dáng, tính chất, tính năng sử dụng của vật. Nếu vật có cùng hình dạng,
tính chất, cùng tính năng sử dụng và xác định được bằng đơn bị đo lường (kg,
m, lít…). Ví dụ: gạo, muối, xăng là vật cùng loại, xi măng của một nhà máy
sản xuất có cùng chất lượng…
Vật đặc định là những vật có đặc điểm riêng về ký hiệu, hình dáng, màu sắc,
chất liệu, đặc tính, vị trí. Những đặc điểm này để phân biệt với vật khác kể cả
vật cùng loại. Vật đặc định có thể là vật độc nhất (không có vật thứ hai). Ví dụ:
các loại đồ cổ quý hiếm, bức tranh cổ của danh họa nổi tiếng,…
Còn vật được đặc định hóa là các vật cùng loại mà có dấu hiệu riêng hoặc
dấu hiệu do con người tạo ra như đánh dấu đồ đạc bằng những ký hiệu riêng
biệt, thực phẩm được để ở những dụng cụ riêng…
Trong giao dịch dân sự, việc phân loại tài sản thành vật cùng loại và vật đặc
định có ý nghĩa rất lớn trong việc xác định đúng đối tượng của nghĩa vụ dân
sự. Nếu là vật cùng loại thì có thể thay thế cho nhau như mất vật này dùng
vật khác thay thế. Tuy nhiên, đối với vật đặc định thì khi chuyển giao vật đặc
định, người có nghĩa vụ phải chuyển giao đúng vật đó cho người có quyền
như đã thỏa thuận. Trường hợp vật đặc định không còn thì phải bồi thường thiệt hại. 3.4 Vật đồng bộ
Điêu 114
Bộ luật dân sự 2015 quy định về vật đồng bộ như sau:
“Vật đồng bộ là vật gồm các phần hoặc các bộ phận ăn khớp, liên hệ với
nhau hợp thành chỉnh thể mà nếu thiếu một trong các phần, các bộ phận
hoặc có phần hoặc bộ phận không đúng quy cách, chủng loại thì không sử
dụng được hoặc giá trị sử dụng của vật đó bị giảm sút.
Khi thực hiện nghĩa vụ chuyển giao vật đồng bộ thì phải chuyển giao toàn bộ
các phần hoặc các bộ phận hợp thành, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.”
Theo đó, vật đồng bộ được hiểu là tập hợp các vật có mối liên hệ với nhau để
khi sử dụng có đầy đủ chức năng công dụng, giá trị thẩm mỹ… Ví dụ: bộ
tranh tứ quý, bộ quần áo, bộ bàn ghế…
Tính liên kết của các vật thể hiện là các vật có công dụng liên quan đến nhau
thành chỉnh thể thống nhất, nếu thiếu một trong các phần, các bộ phận hoặc
có phần hoặc bộ phận không đúng quy cách, chủng loại, thông số kỹ thuật thì
không sử dụng được hoặc giá trị sử dụng của vật bị giảm sút.
Theo nguyên tắc, vật đồng bộ là một chỉnh thể thống nhất trong giao dịch dân
sự. Vì vậy, khi chuyển giao vật đồng bộ thì người có nghĩa vụ phải chuyển
giao toàn bộ các phần hoặc các bộ phận cấu thành cho người có quyền theo
đúng thỏa thuận. Nếu thiếu một trong những bộ phận cấu thành vật đó hoặc
các bộ phận cấu thành không đúng chủng loại, quy cách thì nghĩa vụ chuyển
giao vật chưa được thực hiện xong, bên vi phạm phải chịu trách nhiệm pháp
lý theo quy định của pháp luật hoặc theo thỏa thuận trong hợp đồng.
Document Outline

  • Sự giống nhau và khác biệt giữa vật chính và vật p
    • 1. Phân biệt vật chính và vật phụ
    • 2. Khái niệm và đặc điểm về tài sản là vật chính v
    • 3. Phân loại vật theo quy định của Bộ luật dân sự
      • 3.1 Vật chính và vật phụ
      • 3.2 Vật chia được và vật không chia được
      • 3.3 Vật tiêu hao và vật không tiêu hao
      • 3.4 Vật cùng loại và vật đặc định
      • 3.4 Vật đồng bộ