Tái bản gì? Quy định pháp luật về tái bản
Trả lời:
1. sở pháp quy định về tái bản
- Luật xuất bản năm 2012
- Nghị định số 195/2013/NĐ-Cp hướng dẫn thi hành Luật xuất bản
- Thông số 01/2020/TT-BTTTT quy định hướng dẫn Luật xuất bản
- Nghị định số 119/2020/NĐ-CP xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động
báo chí, hoạt động xuất bản.
2. Tái bản gì?
Luật xuất bản năm 2012 không quy định nào giải thích thuật ngữ tái bản.
Theo trang Wiktionary: Tái bản được hiểu Sách) In lại lần nữa theo bản
cũ. Sách tái bản lần thứ hai. Tái bản bổ sung.
Theo từ điển Soha: Tái bản được hiểu (xuất bản phẩm) được in lại lần nữa
theo bản cũ.
Tái bản trong tiếng anh “To reissue”.
Như vậy thể hiểu, tái bản trên sở những tác phẩm, tài liệu đã được
xuất bản trước đó sẽ được nhà xuất bản in lại lần nữa theo bản hoặc
sửa chữa, bổ sung.
Đối với những tác phẩm, tài liệu được in lại nhưng sửa chữa, bổ sung t
đó được gọi tác phẩm tái bản sửa chữa, bổ sung.
Trên bìa của tài liệu, c phẩm được tái bản thể hiện số lần tái bản của tài
liệu, tác phẩm đó, số lần tái bản được thể hiện bằng chữ số La Mã.
Chỉ được coi tái bản tác giả được hưởng nhuận bút tái bản khi thời điểm
tái bản thời điểm xuất bản lần trước cách nhau trên 12 tháng. Tùy theo
mức độ sửa đổi, bổ sung tác giả được hưởng nhuận bút tái bản từ 41% -
80% nhuận bút bản.
3. Quyền tái bản gì?
Tổ chức hay nhân giữ bản quyền tức họ những đặc quyền như:
quyền tái bản, quyền phóng tác, quyền phát hành, quyền trình diễn, trình
chiếu hay biểu diễn tác phẩm nghệ thuật quyền phát thanh băng ghi âm
bằng phương tiện truyền thanh kỹ thuật số. Trong đó, Quyền tái bản là quyền
quản tái bản một tác phẩm của một hay một nhóm tác giả.
Đối với những tác phẩm đã được tái bản, tác giả của tác phẩm tái bản
quyền quyết định phạm vi sử dụng của tác phẩm đã được tái bản đó. Nếu tác
phẩm được tái bản thuộc phạm vi sử dụng công cộng tức tác phẩm tái bản
đó không thuộc phạm vi bảo hộ của luật liên quan đến bản quyền, do đó
những tác phẩm này được sử dụng không bị giới hạn về số lượng
quyền sao chụp.
Đối với những tác phẩm được tái bản nó thuộc phạm vi sử dụng bình
đẳng thì độc giả quyền sử dụng giới hạn tác phẩm không cần xin
phép tác giả nếu độc giả sử dụng với mục đích phê bình, bình luận, giảng dạy,
học tập, nghiên cứu, tài liệu tham khảo cho các công trình nghiên cứu (luận
văn, luận án, khóa luận, báo cáo,…)
4. Điều kiện thành lập nhà xuất bản là gì?
Việc tái bản phụ thuộc rất nhiều vào yếu tố sở vật chất in ấn, sở
đảm bảo điều kiện cho việc in ấn tái bản tác phẩm các nhà xuất bản.
Tuy nhiên, ch những quan, tổ chức đ điều kiện theo quy định của
pháp luật mới được thành lập nhà xuất bản. Các quan, tổ chức được
thành lập nhà xuất bản theo quy định của pháp luật (gọi chung quan chủ
quản nhà xuất bản) bao gồm:
- quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính tr hội trung ương
cấp tỉnh;
- Đơn vị sự nghiệp công lập trung ương, tổ chức chính trị hội nghề
nghiệp trung ương trực tiếp sáng tạo ra tác phẩm tài liệu khoa học, học
thuật.
Điều kiện để thành lập nhà xuất bản được quy định tại Điều 13 Luật Xuất bản
năm 2012, để thành lập nhà xuất bản thì các quan, t chức phải đáp ứng
đồng thời các điều kiện sau đây:
- tôn chỉ, mục đích, chức năng, nhiệm vụ, đối tượng phục vụ, xuất bản
phẩm chủ yếu phù hợp với chức năng, nhiệm vụ của quan chủ quản;
- Có người đủ tiêu chuẩn quy định tại Điều 17 của Luật này để bổ nhiệm tổng
giám đốc (giám đốc), tổng biên tập ít nhất năm biên tập viên hữu.
- Có tr sở, nguồn tài chính các điều kiện cần thiết khác bảo đảm hoạt
động của nhà xuất bản do Chính phủ quy định;
- P hợp với quy hoạch phát triển mạng lưới nhà xuất bản đã được cấp
thẩm quyền phê duyệt.
Đối với các chức danh nh đạo, trong đó Tổng biên tập n xuất bản phải
kinh nghiệm ít nhất 03 năm làm biên tập, quy định này dảm bảo cho hoạt
động của nhà xuất bản được nâng cao về mặt chất lượng cũng như kinh
nghiệm bề dày hoạt động. Đồng thời, pháp luật cũng những quy định
chặt chẽ hơn về nhiệm vụ quyền hạn của biên tập viên nhà xuất bản. Cụ
thể, ngoài việc được đứng tên trên xuất bản phẩm, được từ chối biên tập
những tác phẩm nội dung dấu hiệu vi phạm, chịu trách nhiệm trước
giám đốc nhà xuất bản trước pháp luật về nội dung xuất bản phẩm do
mình biên tập, thêm vào đó biên tập viên nhà xuất bản còn phải tham gia các
lớp tập huấn, lớp bồi dưỡng định kỳ về kiến thức pháp luật xuất bản, nghiệp
vụ biên tập do quan quản nhà nước quan tổ chức hoạt động xuất
bản tổ chức. Đặc biệt, biên tập viên trách nhiệm không được để lộ, lọt nội
dung tác phẩm, tài liệu xuất bản trước khi phát hành m ảnh hưởng đến
quyền lợi của tác giả, ch sở hữu quyền tác giả. Đây một trong những quy
định mới của Luật xuất bản năm 2012, đảm bảo cho hoạt động xuất bản nói
chung, trong đó hoạt động i bản diễn ra hiệu quả dảm bảo tuân thủ
các quy định của pháp luật về, bảo vệ được quyền lợi ích hợp pháp của
tác giả hay chủ sở hữu quyền tác giả ng như quyền lợi ích hợp pháp
của nhà xuất bản.
5. Thẩm định nội dung tác phẩm tài liệu trước khi i bản
Điều 24 Luật xuất bản năm 2012 quy định tác phẩm, tài liệu sau đây nếu nội
dung dấu hiệu vi phạm quy định tại khoản 1 Điều 10 của Luật này thì nhà
xuất bản phải tổ chức thẩm định trước khi đăng xuất bản để tái bản:
1. Tác phẩm, tài liệu xuất bản trước Cách mạng Tháng Tám
năm 1945; tác phẩm, tài liệu xuất bản từ năm 1945 đến năm
1954 trong vùng bị tạm chiếm;
2. Tác phẩm, tài liệu xuất bản từ năm 1954 đến ngày 30 tháng 4
năm 1975 miền Nam Việt Nam không do Chính phủ Cách
mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam cho phép;
3. Tác phẩm, tài liệu xuất bản nước ngoài.
6. Trình tự thủ tục thực hiện tái bản gì?
Điều 21 Luật xuất bản năm 2012 quy định về quyền tác gi trong lĩnh vực
xuất bản như sau:
“Việc tái bản xuất bản phẩm chỉ được thực hiện sau khi n
bản chấp thuận của tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả theo quy
định của pháp luật”
Bước 1: Xin chấp thuận của tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả:
Cụ thể trách nhiệm của nhà xuất bản hoặc đối tác liên kết phải Giấy chấp
thuận sử dụng tác phẩm, tài liệu để tái bản của tác giả hoặc chủ sở hữu
quyền tác giả phải thực hiện đầy đủ nghĩa vụ, quyền hạn theo quy định
của pháp luật về sở hữu trí tuệ. Những hành vi tái bản xuất bản phẩm khi
chưa sự chấp thuận của tác giả đều vi phạm quy định của pháp luật về
quyền sở hữu trí tuệ vi phạm quy định về quyền tác giả theo quy định của
Luật Xuất bản.
Giấy chấp thuận của tác giả hoặc ch sở hữu quyền tác gi phải tuân thủ
theo Mẫu số 16 Phần phụ lục được ban hành kèm theo Thông 01/2020/TT-
BTTTT Quy định chi tiết hướng dẫn thi hành một số điều của Luật xuất
bản Nghị định số 195/2013/NĐ-CP ngày 21/11/2013 của Chính phủ quy
định chi tiết một số điều biện pháp thi hành Luật xuất bản.
Bước 2: Đăng xuất bản xác nhận đăng xuất bản:
Theo quy định của pháp luật, trước khi tái bản xuất bản phẩm, nhà xuất bản
phải đăng xuất bản với Bộ Thông tin Truyền thông theo mẫu quy định,
nội dung đăng phải phù hợp với tôn chỉ, mục đích, chức năng nhiệm vụ
của nhà xuất bản.
Về thời hạn đăng xuất bản đối với xuất bản phẩm tái bản thời hạn ra
quyết định xuất bản được quy định tại Điều 10 Văn bản hợp nhất số
04/VBHN-BTTTT quy định chi tiết một số điều biện pháp thi nh Luật xuất
bản:
+ Trong thời hạn 07 ngày làm việc, kể từ ngày nhận đủ hồ đăng xuất
bản, Bộ Thông tin Truyền thông phải xác nhận đăng xuất bản bằng văn
bản, cấp số xác nhận đăng xuất bản từng tác phẩm, tài liệu hoặc xuất bản
phẩm tái bản cấp số sách tiêu chuẩn quốc tế (ISBN); trường hợp
không xác nhận đăng phải văn bản trả lời nêu rõ do.
+ Trong quá trình xác nhận đăng ký, Bộ Thông tin Truyền thông quyền
yêu cầu nhà xuất bản thẩm định hoặc giải trình về tác phẩm, tài liệu đăng
xuất bản, xuất bản phẩm đăng tái bản để xác nhận đăng ký.
+ Văn bản xác nhận đăng xuất bản căn cứ để nhà xuất bản ra quyết
định xuất bản đối với từng tác phẩm, tài liệu, xuất bản phẩm i bản. Thời hạn
để ra quyết định xuất bản chậm nhất ngày 31 tháng 12 của năm xác nhận
đăng ký; trường hợp không thực hiện việc xuất bản, nhà xuất bản phải báo
cáo với Bộ Thông tin Truyền thông trước ngày 31 tháng 3 của năm liền
sau năm xác nhận đăng số xác nhận đăng xuất bản, số sách tiêu
chuẩn quốc tế (ISBN) đã được cấp không còn giá trị thực hiện.
Những trường hợp Bộ Thông tin Truyền thông từ chối xác nhận đăng
xuất bản đối với các tác phẩm xin đăng tái bản:
+ Xuất bản phẩm đăng tái bản tranh chấp về quyền tác giả quyền
liên quan;
+ Tác phẩm, tài liệu xuất bản phẩm liên kết xuất bản, tái bản của đối tác đã
bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi vi phạm trong hoạt động xuất bản
từ 02 (hai) lần trở lên trong thời gian 12 tháng, kể từ ngày bị xử phạt lần đầu
hoặc đối tác liên kết không đ điều kiện liên kết, không chấp hành yêu cầu
của quan quản nhà nước về hoạt động xuất bản theo quy định
Nộp tái bản phẩm không sửa chữa: Đối với xuất bản phẩm tái bản không sửa
chữa, bổ sung thì nộp một bản cho Bộ Thông tin Truyền thông, những
trường hợp sửa chữa hay b sung thì phải thực hiện theo theo quy định tại
điểm a điểm b khoản 1 Điều 28 Luật Xuất bản năm 2012.
7. Xử vi phạm quy định về quy trình, thủ tục trong hoạt động
xuất bản
Điều 23 Ngh định số 119/2020/NĐ-CP quy định về vi phạm quy định về quy
trình, thủ tục trong hoạt động xuất bản như sau:
Thứ nhất, phạt tiền từ 3.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng đối với một trong
các hành vi sau đây:
- Không ghi đầy đủ thông tin trong quyết định xuất bản theo mẫu quy định;
- Lưu trữ không đầy đủ hồ biên tập bản thảo tài liệu liên quan của
xuất bản phẩm;
- S dụng n bản chấp thuận của tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả không
đầy đủ thông tin theo mẫu quy định;
- duyệt bản thảo hoàn chỉnh để in, phát hành điện tử không đúng hoặc
không đầy đủ theo quy định;
- Giao kết hợp đồng in giữa nhà xuất bản, quan, tổ chức được cấp giấy
phép xuất bản tài liệu không kinh doanh với sở in nhưng không thể hiện số
lượng in hoặc thể hiện vượt quá số lượng in xuất bản phẩm so với quyết định
xuất bản hoặc giấy phép xuất bản tài liệu không kinh doanh.
Thứ hai, phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng đối với một trong
các hành vi sau đây:
- Không ban hành quyết định xuất bản đối với từng xuất bản phẩm;
- Để lộ, lọt nội dung c phẩm, tài liệu xuất bản trước khi phát hành làm nh
hưởng đến quyền lợi của tác giả, chủ sở hữu quyền c giả đối với từng xuất
bản phẩm;
- Thực hiện không đúng nội dung giấy phép xuất bản tài liệu không kinh
doanh về tên tài liệu, phạm vi phát hành, hình thức phát nh, nơi in đối với
từng xuất bản phẩm;
- Xuất bản xuất bản phẩm không đúng với nội dung c nhận đăng xuất
bản về tên xuất bản phẩm, tên tác giả, tên dịch giả (nếu có), thể loại, ngữ
xuất bản, đối tác liên kết đối với từng xuất bản phẩm.
Thứ ba, phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 15.000.000 đồng đối với một trong
các hành vi sau đây:
- Điều chỉnh tăng giá bán lẻ ghi trên xuất bản phẩm nhưng không được sự
đồng ý của giám đốc nhà xuất bản đối với từng xuất bản phẩm;
- Không chứng chỉ hành nghề biên tập nhưng đứng tên tổng biên tập, biên
tập viên trên xuất bản phẩm đối với từng xuất bản phẩm;
- Xuất bản xuất bản phẩm không p hợp với tóm tắt nội dung, chủ đề, đề tài
trong c nhận đăng xuất bản đối với từng xuất bản phẩm;
- Tổ chức hoặc cho phép phát hành xuất bản phẩm nhưng không ban nh
quyết định phát hành đối với từng xuất bản phẩm;
- quyết định xuất bản không đúng thẩm quyền hoặc không được ủy quyền
hợp pháp;
- Không giao kết hợp đồng in xuất bản phẩm với sở in đối với từng xuất
bản phẩm;
- Giao kết hợp đồng in xuất bản phẩm với sở in không giấy phép hoạt
động in xuất bản phẩm.
Thứ tư, phạt tiền từ 15.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng đối với một trong
các hành vi sau đây:
- Xuất bản xuất bản phẩm nhưng không xác nhận đăng xuất bản hoặc
không giấy phép xuất bản tài liệu không kinh doanh đối với từng xuất bản
phẩm;
- Xuất bản, tái bản xuất bản phẩm không quyết định xuất bản, tái bản đối
với từng xuất bản phẩm;
- Không tổ chức biên tập bản thảo, không duyệt bản thảo trước khi đưa in
hoặc phát hành trên phương tiện điện tử đối với từng xuất bản phẩm;
- Thay đổi, làm sai lệch nội dung bản thảo đã được duyệt hoặc bản thảo tài
liệu không kinh doanh dấu của quan cấp giấy phép xuất bản đối với
từng xuất bản phẩm;
- Không lưu trữ hồ biên tập bản thảo tài liệu liên quan của xuất bản
phẩm đối với từng xuất bản phẩm;
- Không thực hiện việc sửa chữa, đình chỉ phát hành, thu hồi hoặc tiêu hủy
xuất bản phẩm khi yêu cầu bằng văn bản của quan n nước thẩm
quyền đối với từng xuất bản phẩm;
- Không thực hiện thẩm định nội dung tác phẩm, tài liệu theo quy định hoặc
theo yêu cầu bằng văn bản của quan nhà nước thẩm quyền đối với
từng xuất bản phẩm;
- Xuất bản tác phẩm, tài liệu tái bản xuất bản phẩm nhưng không văn
bản chấp thuận của c giả, chủ sở hữu quyền tác giả theo quy định của pháp
luật đối với từng xuất bản phẩm.
Bên cạnh đó n áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả buộc thu hồi, tiêu
hủy xuất bản phẩm đối với từng trường hợp vi phạm theo quy định.

Preview text:

Tái bản là gì? Quy định pháp luật về tái bản Trả lời:
1. Cơ sở pháp lý quy định về tái bản
- Luật xuất bản năm 2012
- Nghị định số 195/2013/NĐ-Cp hướng dẫn thi hành Luật xuất bản
- Thông tư số 01/2020/TT-BTTTT quy định hướng dẫn Luật xuất bản
- Nghị định số 119/2020/NĐ-CP xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động
báo chí, hoạt động xuất bản. 2. Tái bản là gì?
Luật xuất bản năm 2012 không có quy định nào giải thích thuật ngữ tái bản.
Theo trang Wiktionary: Tái bản được hiểu là Sách) In lại lần nữa theo bản
cũ. Sách tái bản lần thứ hai. Tái bản có bổ sung.
Theo từ điển Soha: Tái bản được hiểu là (
xuất bản phẩm) được in lại lần nữa theo bản cũ.
Tái bản trong tiếng anh là “To reissue”.
Như vậy có thể hiểu, tái bản là trên cơ sở những tác phẩm, tài liệu đã được
xuất bản trước đó sẽ được nhà xuất bản in lại lần nữa theo bản cũ hoặc có sửa chữa, bổ sung.
Đối với những tác phẩm, tài liệu được in lại nhưng có sửa chữa, bổ sung thì
đó được gọi là tác phẩm tái bản có sửa chữa, bổ sung.
Trên bìa của tài liệu, tác phẩm được tái bản có thể hiện số lần tái bản của tài
liệu, tác phẩm đó, số lần tái bản được thể hiện bằng chữ số La Mã.
Chỉ được coi là tái bản và tác giả được hưởng nhuận bút tái bản khi thời điểm
tái bản và thời điểm xuất bản lần trước cách nhau trên 12 tháng. Tùy theo
mức độ sửa đổi, bổ sung mà tác giả được hưởng nhuận bút tái bản từ 41% - 80% nhuận bút cơ bản.
3. Quyền tái bản là gì?
Tổ chức hay cá nhân giữ bản quyền tức là họ có những đặc quyền như:
quyền tái bản, quyền phóng tác, quyền phát hành, quyền trình diễn, trình
chiếu hay biểu diễn tác phẩm nghệ thuật và quyền phát thanh băng ghi âm
bằng phương tiện truyền thanh kỹ thuật số. Trong đó, Quyền tái bản là quyền
quản lý tái bản một tác phẩm của một hay một nhóm tác giả.
Đối với những tác phẩm đã được tái bản, tác giả của tác phẩm tái bản có
quyền quyết định phạm vi sử dụng của tác phẩm đã được tái bản đó. Nếu tác
phẩm được tái bản thuộc phạm vi sử dụng công cộng tức là tác phẩm tái bản
đó không thuộc phạm vi bảo hộ của luật liên quan đến bản quyền, do đó
những tác phẩm này được sử dụng mà không bị giới hạn về số lượng và có quyền sao chụp.
Đối với những tác phẩm được tái bản mà nó thuộc phạm vi sử dụng bình
đẳng thì độc giả có quyền sử dụng có giới hạn tác phẩm mà không cần xin
phép tác giả nếu độc giả sử dụng với mục đích phê bình, bình luận, giảng dạy,
học tập, nghiên cứu, tài liệu tham khảo cho các công trình nghiên cứu (luận
văn, luận án, khóa luận, báo cáo,…)
4. Điều kiện thành lập nhà xuất bản là gì?
Việc tái bản phụ thuộc rất nhiều vào yếu tố cơ sở vật chất in ấn, và cơ sở
đảm bảo điều kiện cho việc in ấn và tái bản tác phẩm là các nhà xuất bản.
Tuy nhiên, chỉ những cơ quan, tổ chức có đủ điều kiện theo quy định của
pháp luật mới được thành lập nhà xuất bản. Các cơ quan, tổ chức được
thành lập nhà xuất bản theo quy định của pháp luật (gọi chung là cơ quan chủ
quản nhà xuất bản) bao gồm:
- Cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị – xã hội ở trung ương và cấp tỉnh;
- Đơn vị sự nghiệp công lập ở trung ương, tổ chức chính trị – xã hội – nghề
nghiệp ở trung ương trực tiếp sáng tạo ra tác phẩm và tài liệu khoa học, học thuật.
Điều kiện để thành lập nhà xuất bản được quy định tại Điều 13 Luật Xuất bản
năm 2012, để thành lập nhà xuất bản thì các cơ quan, tổ chức phải đáp ứng
đồng thời các điều kiện sau đây:
- Có tôn chỉ, mục đích, chức năng, nhiệm vụ, đối tượng phục vụ, xuất bản
phẩm chủ yếu phù hợp với chức năng, nhiệm vụ của cơ quan chủ quản;
- Có người đủ tiêu chuẩn quy định tại Điều 17 của Luật này để bổ nhiệm tổng
giám đốc (giám đốc), tổng biên tập và có ít nhất năm biên tập viên cơ hữu.
- Có trụ sở, nguồn tài chính và các điều kiện cần thiết khác bảo đảm hoạt
động của nhà xuất bản do Chính phủ quy định;
- Phù hợp với quy hoạch phát triển mạng lưới nhà xuất bản đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt.
Đối với các chức danh lãnh đạo, trong đó có Tổng biên tập nhà xuất bản phải
có kinh nghiệm ít nhất 03 năm làm biên tập, quy định này dảm bảo cho hoạt
động của nhà xuất bản được nâng cao về mặt chất lượng cũng như kinh
nghiệm và bề dày hoạt động. Đồng thời, pháp luật cũng có những quy định
chặt chẽ hơn về nhiệm vụ và quyền hạn của biên tập viên nhà xuất bản. Cụ
thể, ngoài việc được đứng tên trên xuất bản phẩm, được từ chối biên tập
những tác phẩm mà nội dung có dấu hiệu vi phạm, chịu trách nhiệm trước
giám đốc nhà xuất bản và trước pháp luật về nội dung xuất bản phẩm do
mình biên tập, thêm vào đó biên tập viên nhà xuất bản còn phải tham gia các
lớp tập huấn, lớp bồi dưỡng định kỳ về kiến thức pháp luật xuất bản, nghiệp
vụ biên tập do cơ quan quản lý nhà nước và cơ quan tổ chức hoạt động xuất
bản tổ chức. Đặc biệt, biên tập viên có trách nhiệm không được để lộ, lọt nội
dung tác phẩm, tài liệu xuất bản trước khi phát hành làm ảnh hưởng đến
quyền lợi của tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả. Đây là một trong những quy
định mới của Luật xuất bản năm 2012, đảm bảo cho hoạt động xuất bản nói
chung, trong đó có hoạt động tái bản diễn ra có hiệu quả và dảm bảo tuân thủ
các quy định của pháp luật về, bảo vệ được quyền và lợi ích hợp pháp của
tác giả hay chủ sở hữu quyền tác giả cũng như quyền và lợi ích hợp pháp của nhà xuất bản.
5. Thẩm định nội dung tác phẩm tài liệu trước khi tái bản
Điều 24 Luật xuất bản năm 2012 quy định tác phẩm, tài liệu sau đây nếu nội
dung có dấu hiệu vi phạm quy định tại khoản 1 Điều 10 của Luật này thì nhà
xuất bản phải tổ chức thẩm định trước khi đăng ký xuất bản để tái bản:
1. Tác phẩm, tài liệu xuất bản trước Cách mạng Tháng Tám
năm 1945; tác phẩm, tài liệu xuất bản từ năm 1945 đến năm
1954 trong vùng bị tạm chiếm;
2. Tác phẩm, tài liệu xuất bản từ năm 1954 đến ngày 30 tháng 4
năm 1975 ở miền Nam Việt Nam không do Chính phủ Cách
mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam cho phép;
3. Tác phẩm, tài liệu xuất bản ở nước ngoài.

6. Trình tự thủ tục thực hiện tái bản là gì?
Điều 21 Luật xuất bản năm 2012 quy định về quyền tác giả trong lĩnh vực xuất bản như sau:
“Việc tái bản xuất bản phẩm chỉ được thực hiện sau khi có văn
bản chấp thuận của tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả theo quy
định của pháp luật”

Bước 1: Xin chấp thuận của tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả:
Cụ thể trách nhiệm của nhà xuất bản hoặc đối tác liên kết phải có Giấy chấp
thuận sử dụng tác phẩm, tài liệu để tái bản của tác giả hoặc chủ sở hữu
quyền tác giả và phải thực hiện đầy đủ nghĩa vụ, quyền hạn theo quy định
của pháp luật về sở hữu trí tuệ. Những hành vi tái bản xuất bản phẩm khi
chưa có sự chấp thuận của tác giả đều vi phạm quy định của pháp luật về
quyền sở hữu trí tuệ và vi phạm quy định về quyền tác giả theo quy định của Luật Xuất bản.
Giấy chấp thuận của tác giả hoặc chủ sở hữu quyền tác giả phải tuân thủ
theo Mẫu số 16 Phần phụ lục được ban hành kèm theo Thông tư 01/2020/TT-
BTTTT Quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật xuất
bản và Nghị định số 195/2013/NĐ-CP ngày 21/11/2013 của Chính phủ quy
định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật xuất bản.
Bước 2: Đăng ký xuất bản và xác nhận đăng ký xuất bản:
Theo quy định của pháp luật, trước khi tái bản xuất bản phẩm, nhà xuất bản
phải đăng ký xuất bản với Bộ Thông tin và Truyền thông theo mẫu quy định,
nội dung đăng ký phải phù hợp với tôn chỉ, mục đích, chức năng và nhiệm vụ của nhà xuất bản.
Về thời hạn đăng ký xuất bản đối với xuất bản phẩm tái bản và thời hạn ra
quyết định xuất bản được quy định tại Điều 10 Văn bản hợp nhất số
04/VBHN-BTTTT quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật xuất bản:
+ Trong thời hạn 07 ngày làm việc, kể từ ngày nhận đủ hồ sơ đăng ký xuất
bản, Bộ Thông tin và Truyền thông phải xác nhận đăng ký xuất bản bằng văn
bản, cấp số xác nhận đăng ký xuất bản từng tác phẩm, tài liệu hoặc xuất bản
phẩm tái bản và cấp mã số sách tiêu chuẩn quốc tế (ISBN); trường hợp
không xác nhận đăng ký phải có văn bản trả lời nêu rõ lý do.
+ Trong quá trình xác nhận đăng ký, Bộ Thông tin và Truyền thông có quyền
yêu cầu nhà xuất bản thẩm định hoặc giải trình về tác phẩm, tài liệu đăng ký
xuất bản, xuất bản phẩm đăng ký tái bản để xác nhận đăng ký.
+ Văn bản xác nhận đăng ký xuất bản là căn cứ để nhà xuất bản ra quyết
định xuất bản đối với từng tác phẩm, tài liệu, xuất bản phẩm tái bản. Thời hạn
để ra quyết định xuất bản chậm nhất là ngày 31 tháng 12 của năm xác nhận
đăng ký; trường hợp không thực hiện việc xuất bản, nhà xuất bản phải báo
cáo với Bộ Thông tin và Truyền thông trước ngày 31 tháng 3 của năm liền
sau năm xác nhận đăng ký và số xác nhận đăng ký xuất bản, mã số sách tiêu
chuẩn quốc tế (ISBN) đã được cấp không còn giá trị thực hiện.
Những trường hợp Bộ Thông tin và Truyền thông từ chối xác nhận đăng ký
xuất bản đối với các tác phẩm xin đăng ký tái bản:
+ Xuất bản phẩm đăng ký tái bản có tranh chấp về quyền tác giả và quyền liên quan;
+ Tác phẩm, tài liệu và xuất bản phẩm liên kết xuất bản, tái bản của đối tác đã
bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi vi phạm trong hoạt động xuất bản
từ 02 (hai) lần trở lên trong thời gian 12 tháng, kể từ ngày bị xử phạt lần đầu
hoặc đối tác liên kết không đủ điều kiện liên kết, không chấp hành yêu cầu
của cơ quan quản lý nhà nước về hoạt động xuất bản theo quy định
Nộp tái bản phẩm không sửa chữa: Đối với xuất bản phẩm tái bản không sửa
chữa, bổ sung thì nộp một bản cho Bộ Thông tin và Truyền thông, những
trường hợp có sửa chữa hay bổ sung thì phải thực hiện theo theo quy định tại
điểm a và điểm b khoản 1 Điều 28 Luật Xuất bản năm 2012.
7. Xử lý vi phạm quy định về quy trình, thủ tục trong hoạt động xuất bản
Điều 23 Nghị định số 119/2020/NĐ-CP quy định về vi phạm quy định về quy
trình, thủ tục trong hoạt động xuất bản như sau:
Thứ nhất, phạt tiền từ 3.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng đối với một trong các hành vi sau đây:
- Không ghi đầy đủ thông tin trong quyết định xuất bản theo mẫu quy định;
- Lưu trữ không đầy đủ hồ sơ biên tập bản thảo và tài liệu có liên quan của xuất bản phẩm;
- Sử dụng văn bản chấp thuận của tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả không
có đầy đủ thông tin theo mẫu quy định;
- Ký duyệt bản thảo hoàn chỉnh để in, phát hành điện tử không đúng hoặc
không đầy đủ theo quy định;
- Giao kết hợp đồng in giữa nhà xuất bản, cơ quan, tổ chức được cấp giấy
phép xuất bản tài liệu không kinh doanh với cơ sở in nhưng không thể hiện số
lượng in hoặc thể hiện vượt quá số lượng in xuất bản phẩm so với quyết định
xuất bản hoặc giấy phép xuất bản tài liệu không kinh doanh.
Thứ hai, phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng đối với một trong các hành vi sau đây:
- Không ban hành quyết định xuất bản đối với từng xuất bản phẩm;
- Để lộ, lọt nội dung tác phẩm, tài liệu xuất bản trước khi phát hành làm ảnh
hưởng đến quyền lợi của tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả đối với từng xuất bản phẩm;
- Thực hiện không đúng nội dung giấy phép xuất bản tài liệu không kinh
doanh về tên tài liệu, phạm vi phát hành, hình thức phát hành, nơi in đối với từng xuất bản phẩm;
- Xuất bản xuất bản phẩm không đúng với nội dung xác nhận đăng ký xuất
bản về tên xuất bản phẩm, tên tác giả, tên dịch giả (nếu có), thể loại, ngữ
xuất bản, đối tác liên kết đối với từng xuất bản phẩm.
Thứ ba, phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 15.000.000 đồng đối với một trong các hành vi sau đây:
- Điều chỉnh tăng giá bán lẻ ghi trên xuất bản phẩm nhưng không được sự
đồng ý của giám đốc nhà xuất bản đối với từng xuất bản phẩm;
- Không có chứng chỉ hành nghề biên tập nhưng đứng tên tổng biên tập, biên
tập viên trên xuất bản phẩm đối với từng xuất bản phẩm;
- Xuất bản xuất bản phẩm không phù hợp với tóm tắt nội dung, chủ đề, đề tài
trong xác nhận đăng ký xuất bản đối với từng xuất bản phẩm;
- Tổ chức hoặc cho phép phát hành xuất bản phẩm nhưng không ban hành
quyết định phát hành đối với từng xuất bản phẩm;
- Ký quyết định xuất bản không đúng thẩm quyền hoặc không được ủy quyền hợp pháp;
- Không giao kết hợp đồng in xuất bản phẩm với cơ sở in đối với từng xuất bản phẩm;
- Giao kết hợp đồng in xuất bản phẩm với cơ sở in không có giấy phép hoạt
động in xuất bản phẩm.
Thứ tư, phạt tiền từ 15.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng đối với một trong các hành vi sau đây:
- Xuất bản xuất bản phẩm nhưng không có xác nhận đăng ký xuất bản hoặc
không có giấy phép xuất bản tài liệu không kinh doanh đối với từng xuất bản phẩm;
- Xuất bản, tái bản xuất bản phẩm không có quyết định xuất bản, tái bản đối
với từng xuất bản phẩm;
- Không tổ chức biên tập bản thảo, không ký duyệt bản thảo trước khi đưa in
hoặc phát hành trên phương tiện điện tử đối với từng xuất bản phẩm;
- Thay đổi, làm sai lệch nội dung bản thảo đã được ký duyệt hoặc bản thảo tài
liệu không kinh doanh có dấu của cơ quan cấp giấy phép xuất bản đối với từng xuất bản phẩm;
- Không lưu trữ hồ sơ biên tập bản thảo và tài liệu có liên quan của xuất bản
phẩm đối với từng xuất bản phẩm;
- Không thực hiện việc sửa chữa, đình chỉ phát hành, thu hồi hoặc tiêu hủy
xuất bản phẩm khi có yêu cầu bằng văn bản của cơ quan nhà nước có thẩm
quyền đối với từng xuất bản phẩm;
- Không thực hiện thẩm định nội dung tác phẩm, tài liệu theo quy định hoặc
theo yêu cầu bằng văn bản của cơ quan nhà nước có thẩm quyền đối với từng xuất bản phẩm;
- Xuất bản tác phẩm, tài liệu và tái bản xuất bản phẩm nhưng không có văn
bản chấp thuận của tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả theo quy định của pháp
luật đối với từng xuất bản phẩm.
Bên cạnh đó còn áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả là buộc thu hồi, tiêu
hủy xuất bản phẩm đối với từng trường hợp vi phạm theo quy định.
Document Outline

  • Tái bản là gì? Quy định pháp luật về tái bản
    • 1. Cơ sở pháp lý quy định về tái bản
    • 2. Tái bản là gì?
    • 3. Quyền tái bản là gì?
    • 4. Điều kiện thành lập nhà xuất bản là gì?
    • 5. Thẩm định nội dung tác phẩm tài liệu trước khi
    • 6. Trình tự thủ tục thực hiện tái bản là gì?
    • 7. Xử lý vi phạm quy định về quy trình, thủ tục tr