



















Preview text:
CHƯƠNG I:
MỘT SỐ VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ NHÀ NƯỚC VÀ
QUẢN LÝ HÀNH CHÍNH NHÀ NƯỚC
I. MỘT SỐ VẤN ĐỀ CỞ BẢN VỀ NHÀ NƯỚC VÀ NHÀ NƯỚC XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM 1. Nhà nước
1.1. Khái niệm về Nhà nước
Nhà nước là một tổ chức đặc biệt của quyền lực chính trị, có bộ máy
chuyên làm nhiệm vụ cưỡng chế và thực hiện chức năng quản lý đặc biệt,
nhằm thực hiện mục đích và bảo vệ lợi ích của giai cấp thống trị.
1.2. Nguồn gốc của nhà nước
1.2.1. Những quan điểm cơ bản về nguồn gốc của nhà nước trước chủ nghĩa Mác - Lênin
- Thuyết thần học: cho rằng mọi sự vật, hiện tượng trên thế giới đều
do thượng đế tạo ra và sắp xếp theo một trật tự nhất định, vì vậy Nhà nước
cũng do thượng đế tạo ra nhằm bảo vệ trật tự chung trong xã hội loài người.
Do đó, Nhà nước là hiện trượng siêu nhiên, vĩnh cửu, bất biến.
- Thuyết gia trưởng lại chứng minh rằng Nhà nước là kết quả từ sự
phát triển của gia đình, coi đó là hình thức phát triển tự nhiên của cuộc sống,
gia tộc được mở rộng dần ra thành Nhà nước. Do đó, cách thức tổ chức và
thực hiện quyền lực Nhà nước cũng giống như ở gia đình, nghĩa là trong gia
đình thì gia trưởng (quyền của con trai trưởng) có quyền chi phối tối cao đối
với gia tộc. Từ một gia tộc phát triển thành nhiều gia tộc gọi là họ tộc, trong
họ tộc có trưởng họ. Nhiều gia tộc hợp lại thành thị tộc, nhiều thị tộc kết hợp
lại thành chủng tộc. Nhiều chủng tộc kết hợp thành quốc gia. Từ đó xuất hiện nhà nước.
- Thuyết kế ước cho rằng Nhà nước ra đời từ một khế ước (hợp đồng).
Khế ước này được ký kết giữa các thành viên trong xã hội để tổ chức ra Nhà
nước nhằm bảo vệ lợi ích cho các thành viên trong xã hội. Khi nào Nhà nước
không thực hiện được vai trò của mình, không bảo vệ được các quyền lợi
cho nhân dân hoặc Nhà nước sử dụng quyền lực không công minh thì nhân
dân có quyền lật đổ Nhà nước để thay thế bằng một Nhà nước khác. Mặc dù
thuyết này chưa đưa ra cơ sở khoa học giải thích về nguồn gốc Nhà nước
nhưng nó cũng có ý nghĩa tạo tiền đề cho cuộc cách mạng tư sản sau này lật
đổ ách thống trị của giai cấp phong kiến và lập nên Nhà nước tư sản.
- Thuyết bạo lực cho rằng Nhà nước là kết quả của việc sử dụng bạo
lực của thị tộc này với thị tộc khác trong quá trình xảy ra chiến tranh giữa
các thị tộc. Kết quả là thị tộc giành chiến thắng đã nghĩ ra một hệ thống cơ
quan đặc biệt gọi là Nhà nước.
Các quan điểm nêu trên chưa đưa ra cơ sở khoa học để giải thích đúng
đắn về nguồn gốc Nhà nước, cho nên các quan điểm này đều không giải
quyết được vấn đề về bản chất Nhà nước.
1.2.2. Quan niệm của chủ nghĩa Mác – Lênin
Nhà nước là một phạm trù lịch sử, ra đời và tồn tại trong những điều
kiện lịch sử nhất định; nhà nước cũng mất đi khi những cơ sở tồn tại của nó
không còn nữa. Bởi trong lịch sử phát triển của xã hội đã có những giai đoạn
không có nhà nước như giai đoạn nguyên thủy và khi chủ nghĩa cộng sản
được xây dựng thì cũng không còn nhà nước. Sự xuất hiện nhà nước gắn liền
với sự phát triển của lực lượng sản xuất dẫn đến sự ra đời của chế độ sở hữu
tư nhân về tư liệu sản xuất và sự phân chia xã hội thành giai cấp.
Xã hội nguyên thủy là xã hội không có Nhà nước. Ở thời kỳ này,
quyền lực của xã hội là quyền lực của thị tộc và bộ lạc – một tổ chức quyền
lực công cộng xã hội sơ khai.
Trong xã hội đã hình thành những quy tắc xử sự chung đó là tập quán,
phong tục, đạo đức, các tín điều tôn giáo... Việc tuân theo những quy tắc xử
sự này là hoàn toàn do ý thức tự giác và trở thành thói quen, nếp sống của
các thành viên trong xã hội, nhưng nếu ai vi phạm cũng có thể bị đưa ra hội
đồng thị tộc xử phạt.
Sự xuất hiện nhà nước do sự phát triển lực lượng sản xuất làm xuất
hiện sở hữu tư nhân về tư liệu sản xuất. Đó là sự phát triển phân công lao
động xã hội. Mác và Ăng-ghen khi nghiên cứu về quá trình tồn tại, phát
triển, thay đổi của xã hội loài người, đã khái quát sự thay đổi đó qua 3 lần
phân công lao động như sau:
Ngành chăn nuôi ra đời tạo thành một ngành chính trong xã hội. Do
con người ngày càng biết cải tiến công cụ lao động để phục vụ cho việc săn
bắt thú rừng, trồng trọt để đảm bảo duy trì cuộc sống. Năng suất lao động
ngày càng tăng lên, trong xã hội đã bắt đầu có sản phẩm dư thừa… nghề
chăn nuôi đã ra đời, trở thành một ngành kinh tế độc lập, tách ra khỏi ngành
trồng trọt. Mầm mống của sự tư hữu đã xuất hiện, xã hội bắt đầu phân chia
thành người giàu, người nghèo.
Ngành tiểu thủ công nghiệp ra đời. Cùng với sự phát triển của ngành
chăn nuôi thì ngành trồng trọt cũng phát triển mạnh, tạo ra năng suất lao
động ngày càng cao, càng làm cho sự tư hữu có điều kiện phát triển. Đặc
biệt từ khi con người tìm ra kim loại đã biết chế tạo ra những công cụ lao
động làm cho năng suất lao động cao hơn. Cũng chính từ đó có một số người
chuyên làm nghề chế tạo kim loại, đồng thời nghề dệt, nghề làm đồ gốm
cũng ra đời và phát triển.
Sự xuất hiện sản xuất hàng hóa giản đơn. Qua hai lần phân công lao
động nêu trên đã làm cho những hoạt động lao động sản xuất trong xã hội có
sự chuyên môn hoá, tách thành những ngành sản xuất riêng. Từ đó làm xuất
hiện nhu cầu trao đổi hàng hoá trong xã hội – sản xuất hàng hóa giản đơn.
Sự ra đời và phát triển của ngành thương nghiệp đã làm xuất hiện đồng tiền
là vật trung gian để trao đổi hàng hoá.
Sự phân hóa xã hội làm xuất hiện giai cấp và đấu tranh giai cấp.
Trước những biến cố của xã hội thì tổ chức thị tộc, bộ lạc đã trở nên bất lực,
không thể phù hợp được nữa. Xã hội đòi hỏi phải có một tổ chức mới có đủ
khả năng điều hòa được những mâu thuẫn trong xã hội. Nhà nước đầu tiên
trong lịch sử là nhà nước chiếm hữu nô lệ, xuất hiện khi cuộc đấu tranh giai
cấp không thể điều hòa được giữa giai cấp chủ nô và giai cấp nô lệ. Giai cấp
chủ nô xây dựng nhà nước, một bộ máy trấn áp để bảo vệ lợi ích của mình
và đàn áp sự phản kháng của giai cấp nô lệ. V.I.Lênin viết: “Nhà nước là
một sản phẩm và biểu hiện của những mâu thuẫn giai cấp không thể điều
hòa được. Bất cứ ở đâu, hễ lúc nào và chừng nào về mặt khách quan, những
mâu thuẫn giai cấp không thể điều hòa được, thì nhà nước xuất hiện. Và
ngược lại, sự tồn tại của nhà nước chứng tỏ rằng những mâu thuẫn giai cấp
là không thể điều hòa được”.
Từ việc nghiên cứu về nguồn gốc của Nhà nước, chúng ta thấy Nhà
nước là một hiện tượng xã hội mang tính lịch sử, nó chỉ ra đời và tồn tại khi
trong xã hội có những điều kiện nhất định, đó là xã hội có sự xuất hiện giai
cấp và đấu tranh giai cấp. Khi nào trong xã hội không còn những điều kiện
cho sự tồn tại và phát triển của Nhà nước thì khi đó Nhà nước sẽ không còn
nữa. Khi đó chúng ta nói rằng Nhà nước đã tiêu vong.
1.3. Bản chất của Nhà nước
Nhà nước là sản phẩm của cuộc đấu tranh giai cấp và trong cuộc đấu
tranh ấy, giai cấp thống trị về kinh tế có quyền thiết lập và sử dụng bộ máy
Nhà nước. Như vậy, về bản chất “ Nhà nước chẳng qua chỉ là một bộ máy
của một giai cấp này dung để chấn áp một giai cấp khác”, là cơ quan quyền
lực của một giai cấp đối với toàn xã hội, là công cụ chuyên chính của một
giai cấp. Không có và không thể có một Nhà nước chung cho mọi giai cấp.
Vì vậy, Nhà nước không thể là lực lượng điều hoà xung đột giai cấp, mà trái
lại, nó càng làm cho mâu thuẫn giai cấp thêm gay gắt. Cũng theo bản chất
đó, Nhà nước là bộ máy quan trọng nhất của kiến trúc thượng tầng trong xã
hội có giai cấp. Tất cả các hoạt động chính trị, văn hoá, xã hội do Nhà nước
tiến hành, xét cho cùng, đều xuất phát từ lợi ích của giai cấp thống trị.
1.4. Các đặc trưng cơ bản của Nhà nước
1.4.1. Nhà nước là một bộ máy quản lý dân cư trên một vùng lãnh thổ nhất định.
Nếu các tổ chức bộ tộc, thị lạc được hình thành trên cơ sở quan hệ
huyết thống thì Nhà nước hình thành trên cơ sở phân chia dân cư theo địa
bàn lãnh thổ nơi mà họ cư trú và được tổ chức thành các đơn vị hành chính.
Việc phân chia này đảm bảo cho các hoạt động quản lý của Nhà nước tập
trung thống nhất và chặt chẽ hơn. Đây là sự khác biệt cơ bản giữa Nhà nước
và các bộ lạc, thị tộc trong xã hội cộng sản nguyên thuỷ trước đó.
Quyền lực Nhà nước về nguyên tắc có hiệu lực đối với mọi thành viên
sinh sống trên địa bàn dân cư. Từ đó hình thành chủ quyền quốc gia. Chủ
quyền quốc gia là thuộc tính gắn liền với Nhà nước.
1.4.2. Nhà nước thiết lập một hệ thống cơ quan quyền lực chuyên nghiệp
mang tính cưỡng chế đối với mọi thành viên trong xã hội.
Để thực hiện quyền lực của mình, Nhà nước đã lập ra những cơ quan
hành chính và các lực lượng thuần tuý trấn áp như quân đội, cảnh sát vũ
trang, nhà tù… Những người đại diện cho Nhà nước thực hiện quyền lực của
mình bằng sức mạnh cưỡng bức của pháp luật. Nhà nước ban hành pháp luật
và sử dụng các thiết chế và công cụ bạo lực để ý chí của giai cấp thống trị
được thực thi trong thực tế.
1.4.3. Nhà nước ban hành một hệ thống thuế khoá để tạo nguồn ngân sách
nuôi bộ máy nhà nước
Bộ máy nhà nước bao gồm đông đảo viên chức và cả đội quân vũ
trang đông đảo tách ra khỏi lao động sản xuất để thực hiện chức năng quản
lý nhà nước. Họ không thể tồn tại nếu không dựa vào nguồn ngân sách thuế thu.
Nhà nước là tổ chức duy nhất có tư cách là đại biểu chính thức của
toàn xã hội để quản lý xã hội, do đó, Nhà nước cũng là tổ chức độc quyền thu thuế.
2. Nhà nước XHCN Việt Nam
2.1. Nhà nước xã hội chủ nghĩa
Nhà nước XHCN là kết quả của cuộc đấu tranh cách mạng của giai
cấp công nhân và nhân dân lao động dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản.
Bản chất của nhà nước XHCN được Lênin chỉ rõ: “Bước chuyển từ chủ
nghĩa tư bản lên chủ nghĩa cộng sản cố nhiên không thể không đem lại rất
nhiều hình thức khác nhau, nhưng thực chất của những hình thức ấy tất
nhiên sẽ chỉ có một tức là: chuyên chính vô sản”.
Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin, Nhà nước nào cũng là nền
chuyên chính của giai cấp thống trị về chính trị. Nhưng sự thống trị của giai
cấp công nhân có bản chất và mục đích khác hẳn với sự thống trị của giai
cấp bóc lột. Sự thống trị của giai cấp bóc lột là sự thống trị của thiểu số đối
với tất cả các giai cấp bị bóc lột nhằm bảo vệ lợi ích của giai cấp bóc lột.
Trái lại, sự thống trị của giai cấp công nhân nhằm xoá bỏ áp bức, bóc lột,
bảo vệ lợi ích của nhân dân lao động, xây dựng xã hội mới – xã hội không
còn người bóc lột người. Vì vậy, chuyên chính vô sản vừa là công cụ trấn áp
bằng bạo lực đối với giai cấp bóc lột, vừa là một tổ chức mà thông qua đó
Đảng của giai cấp công nhân thực hiện vai trò lãnh đạo của mình đối với
toàn xã hội. Bản chất giai cấp công nhân và bản chất dân chủ là hai mặt
thống nhất của nhà nước xã hội chủ nghĩa.
Nhà nước xã hội chủ nghĩa là nhà nước đặc biệt, nhà nước quá độ, nhà
nước không còn nguyên nghĩa hay nhà nước “nửa nhà nước”. Sau khi những
cơ sở kinh tế của sự xuất hiện và tồn tại của nhà nước mất đi thì nhà nước sẽ
không còn tồn tại. Sự mất đi của nhà nước XHCN không phải bằng con
đường xoá bỏ mà bằng con đường tự tiêu vong. Mặc dù vậy, sự tiêu vong
của nhà nước XHCN là một quá trình lâu dài.
2.2. Bản chất của Nhà nước Cộng hoà XHCN Việt Nam
Bản chất của Nhà nước ta là nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa
của dân, do dân, vì dân.
- Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa là nhà nước có tính giai cấp,
nhà nước quản lý xã hội bằng pháp luật, theo pháp luật và nêu cao vai trò
của pháp chế. Nhà nước yêu cầu mọi tổ chức, công dân phải tôn trọng và
tuân thủ luật pháp đi đôi với phát huy các giá trị đạo đức và văn hoá dân tộc.
- Nhà nước ta mang bản chất của giai cấp công nhân. Bản chất giai
cấp công nhân được thể hiện bằng toàn bộ hoạt động của nhà nước. Các hoạt
động này đều thực hiện quan điểm của giai cấp công nhân nhằm từng bước
thực hiện ý chí và nguyện vọng của nhân dân, phục vụ lợi ích của giai cấp
công nhân, nhân dân lao động và của cả dân tộc.
Tính nhân dân của nhà nước thể hiện: Nhà nước pháp quyền của ta là
của dân, quyền lực thực sự là ở dân, chính quyền do nhân dân lập nên và
nhân dân tham gia quản lý nhà nước.
Tính dân tộc của nhà nước thể hiện: trong tổ chức và hoạt động nhà
nước ta kế thừa và phát huy những giá trị truyền thống, bản sắc tốt đẹp của
dân tộc và con người Việt Nam. Nhà nước có chính sách dân tộc đúng đắn,
chăm lo lợi ích mọi mặt cho các dân tộc trong cộng đồng dân tộc Việt Nam
và thực hiện đoàn kết dân tộc.
2.3. Nguyên tắc tổ chức và hoạt động của nhà nước Cộng hoà XHCN Việt Nam
2.3.1. Nguyên tắc “Tất cả quyền lực của nhà nước thuộc về nhân dân”
Đây là nguyên tắc nói lên nguồn gốc quyền lực của nhà nước và bản
chất giai cấp của nhà nước xã hội chủ nghĩa. Lịch sử hình thành và phát triển
các quan diểm lập hiến của nhà nước ta, từ Hiến pháp 1946 và 1980 và hiện
nay là Hiến pháp 1992 (sửa đổi) có thể thấy tư tưởng nhà nước nhân dân
quán triệt trong việc tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước. Điều 2 của
Hiến pháp 1992 khẳng định: “Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt
Nam là nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì
nhân dân. Tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân mà nền tảng là liên
minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngữ tri thức”.
Nguyên tắc tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân được quán
triệt trong việc tổ chức bộ máy nhà nước. Theo đó, Quốc hội và Hội đồng
nhân dân là cơ quan quyền lực nhà nước. các cơ quan này do nhân dân bầu
ra theo nguyên tắc phổ thông, bình đẳng, trực tiếp và bỏ phiếu kín. Quốc hội
được trao quyền lực tối cao trong việc tổ chức và hoạt động của tất cả cơ
quan nhà nước.
Nguyên tắc tất cả quyền lực của nhà nước thuộc về nhân dân còn thể
hiện ở Điều 2, Hiến pháp 1992 khi khẳng định “ Quyền lực nhà nước là
thống nhất, có sự phân công và phối hợp giữa các cơ quan nhà nước trong
việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp”.
Chủ trương của nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong
việc củng cố, xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa là triệt để áp
dụng phương châm: dân biết – dân bàn – dân kiểm tra. Thực hiện tốt phương
châm này là góp phần thực hiện hóa nguyên tắc “Tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân”.
2.3.2. Nguyên tắc về sự lãnh đạo của Đảng đối với bộ máy nhà nước
Đây là nguyên tắc quan trọng nhất, quyết định việc tổ chức và hoạt
động của bộ máy nhà nước có theo đúng những định hướng, mục tiêu và
phản ánh đượv bản chất của nhà nước xã hội chủ nghĩa hay không. Theo
Điều 4, Hiến pháp 2013:“Đảng Cộng sản Việt Nam - Đội tiên phong của giai
cấp công nhân, đồng thời là đội tiên phong của Nhân dân lao động và của
dân tộc Việt Nam, đại biểu trung thành lợi ích của giai cấp công nhân, Nhân
dân lao động và của cả dân tộc, lấy chủ nghĩa Mác – Lê nin và tư tưởng Hồ
Chí Minh làm nền tảng tư tưởng là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội”.
Nội dung của nguyên tắc Đảng lãnh đạo thể hiện:
- Đề ra cương lĩnh xây dựng phát triển đất nước, để ra đường lối chủ
trương, chính sách về các mặt chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, an ninh
quốc phòng để trên cơ sở đó nhà nước xây dựng chiến lược và kế hoach hoạt động.
- Định hướng việc củng cố và hoàn thiện tổ chức hoạt động của bộ máy nhà nước.
- Giới thiệu những cán bộ có phẩm chất, năng lực để nhân dân lựa chọn
vào những vị trí quan trọng của bộ máy nhà nước.
- Tuyên truyền, giáo dục nhân dân tích cực thực hiện nhiệm vụ đối với
nhà nước, tham gia quả lý nhà nước; Đảng giáo dục đảng viên gương mẫu,
đi đầu trong việc thực hiện các chủ trương của nhà nước.
2.3.3. Nguyên tắc tập trung dân chủ
Tại Điều 6 Hiến pháp năm 2013 quy định: "Nhân dân thực hiện quyền
lực nhà nước bằng dân chủ trực tiếp, bằng dân chủ đại diện thông qua Quốc
hội, Hội đồng nhân dân và thông qua các cơ quan khác của Nhà nước", quy
định đa dang hơn về thực hiện quyền lực của Nhân dân so với Hiến pháp
năm 1992, đặc biệt thể hiện quyền lực nhà nước bằng dân chủ trực tiếp đã
làm rõ hơn, sâu sắc hơn vai trò làm chủ của Nhân dân.
Nguyên tắc tập trung dân chủ có tầm quan trọng trong việc tổ chức,
hoạt động của bộ máy nhà nước xã hội chủ nghĩa, Nguyên tắc này thể hiện hai yêu cầu sau:
- Tạo được sự thống nhất ý chí của tất cả cơ quan, tổ chức; các cán bộ,
công chức trong bộ máy nhà nước để thực hiện có hiệu quả các nhiệm vụ
chính trị của nhà nước; đảm bảo sự phục ctu2ng của cấp dưới với các mệnh
lệnh của cấp trên; sự tuân thủ của địa phương đối với các chỉ đạo, điều hành
thống nhất của trung ương; đây vốn là những yêu cầu cơ bản của nền hành chính.
- Bảo đảm phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của nhân dân
trong việc đề xuất ý kiến, trình bày quan điểm về những vấn đề quan trọng
nảy sinh trong xã hội. Dân chủ còn thể hiện ở việc các ngành, các địa
phương có quyền vận dụng sáng tạo, linh hoạt trong việc thực thi các chủ
trương, mệnh lệnh của cấp trên trong khuôn khổ cho phép và được qui định bởi pháp luật.
2.3.4. Nguyên tắc pháp chế xã hội chủ nghĩa
Nguyên tắc pháp chế xã hội chủ nghĩa là điều kiện cần thiết cho tổ
chức, hoạt động của bộ máy nhà nước xã hội chủ nghĩa. Điều 12 Hiến pháp
1992 quy định: “Nhà nước quản lý xã hội hội bằng pháp luật và không
ngừng tang cường pháp chế xã hội chủ nghĩa.Các cơ quan nhà nước, tổ chức
kinh tế, tổ chức xã hội, đơn vị vũ trang nhân dân và mọi công dân phải
nghiêm chỉnh chấp hành hiến pháp và pháp luật”.
Nguyên tắc pháp chế chi phối nhiều lĩnh vực khác nhau của nhà nước
pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Trong lĩnh vực tổ chức hoạt động của bộ máy
nhà nước, nguyên tắc này thể hiện ở ba yêu cầu sau:
- Phải đảm bảo sự điều chỉnh pháp luật đối với toàn bộ hệ thống các cơ
quan nhà nước về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn mối liên hệ nội tại giữa
các cơ quan nhà nước cũng như mối liên hệ giữa các cơ quan nhà nước với
tất cả các yếu tố khác trong hệ thống chính trị xã hội chủ nghĩa.
- Phải bảo đảm sự tuân thủ triệt để của tất cả các cơ quan nhà nước
trong việc vận dụng, áp dụng pháp luật trong hoạt động quản lý xã hội.Tất cả
các văn bản do cơ quan nhà nước ban hành phải bảo đảm tuân thủ về thủ tục,
trình tự luật định; tôn trọng yêu cầu về tính hợp hiến, hợp pháp và tính thống
nhất trong việc ban hành văn bản pháp luật.
- Phải xây dựng thiết chế đảm bảo việc tuân thủ các yêu cầu vừa nêu,
kể cả việc xử lý những tổ chức và cá nhân vi phạm.
2.4. Cơ cấu tổ chức bộ máy nhà nước Cộng hoà Xã hội chủ nghĩa Việt Nam
2.4.1. Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Trong bộ máy nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Quốc
hội được xác định là “cơ quan đại biểu cao nhất của nhân dân, cơ quan
quyền lực nhà nước cao nhất của Nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt
Nam”, do đó Quốc hội thể hiện tính đại diện nhân dân và tính quyền lực nhà
nước trong tổ chức và hoạt động của mình.
Thông qua hoạt động của mình, Quốc hội thể chế hóa ý chí của nhân
dân thành ý chí nhà nước, thể hiện trong Hiến pháp, luật, các nghị quyết,
mang tính bắt buộc thực hiện đối với mọi tổ chức, cá nhân trong xã hội.
Quốc hội là cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất, tập trung quyền lực
nhà nước, thống nhất ba quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp, nhưng không
phải là cơ quan độc quyền. Hiến pháp và pháp luật quy định cho Quốc hội
có các chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn như sau (Theo Điều 83 Hiến pháp 1992 sửa đổi):
- Quốc hội là cơ quan duy nhất có quyền lập hiến và lập pháp. Đây là
chức năng ban hành các văn bản quy phạm pháp luật có hiệu lực pháp luật
cao nhất, điều chỉnh các quan hệ xã hội cơ bản nhất, tạo nên nền tảng của thể chế xã hội.
Các văn bản quy phạm pháp luật do các cơ quan khác của nhà nước ban
hành phải dựa trên cơ sở Hiến pháp, luật để thực hiện Hiến pháp, luật và bảo
đảm tính thống nhất của pháp luật.
- Quốc hội quyết định những vấn đề cơ bản nhất về đối nội và đối ngoại
của đất nước: các nhiệm vụ kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh của đất
nước. Những vấn đề này có ý nghĩa quyết định đến sự phát triển toàn diện
của đất nước cũng như duy trì trật tự, ổn định xã hội.
- Quốc hội xác định các nguyên tắc chủ yếu về tổ chức và hoạt động
của bộ máy nhà nước, trực tiếp thành lập các cơ quan quan trọng trong bộ
máy nhà nước; trực tiếp bầu, bổ nhiệm các chức vụ cao nhất trong các cơ
quan nhà nước ở Trung ương.
- Quốc hội là cơ quan thực hiện quyền giám sát tối cao toàn bộ hoạt
động của bộ máy nhà nước, giám sát việc tuân theo Hiến pháp và pháp luật.
Hoạt động giám sát của Quốc hội được thực hiện thông qua việc nghe báo
cáo công tác của các cơ quan tối cao của nhà nước, thông qua hoạt động của
các cơ quan Quốc hội, đại biểu Quốc hội, thông qua các hình thức chất vấn
của đại biểu Quốc hội đối với những đối tượng xác định trong bộ máy nhà nước.
Cơ cấu tổ chức của Quốc hội gồm: Uỷ ban Thường vụ Quốc hội, Hội
đồng dân tộc, các Uỷ ban Quốc hội, các đoàn đại biểu Quốc hội và đại biểu Quốc hội.
2.4.2. Chủ tịch nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Chủ tịch nước là người đứng đầu nhà nước, thay mặt nhà nước trong
các quan hệ đối nội và đối ngoại (Điều 101, 103 Hiến pháp 1992 sửa đổi).
Chủ tịch nước có phạm vi quyền hạn khá rộng, bao quát nhiều lĩnh vực
của đời sống chính trị, xã hội.
Trong tổ chức nhân sự của bộ máy nhà nước, Chủ tịch nước có quyền
quan trọng về tổ chức nhân sự của bộ máy hành pháp và tư pháp: đề nghị
Quốc hội bầu, miễn nhiệm, bãi nhiệm Phó Chủ tịch nước, Thủ tướng Chính
phủ, Chánh án Toà án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân
tối cao; Căn cứ vào Nghị quyết của Quốc hội bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách
chức Phó Thủ tướng, Bộ trưởng và các thành viên khác của Chính Phủ; Bổ
nhiệm, miễn nhiệm, cách chức Phó Chánh án, Thẩm phán Toà án nhân dân
tối cao, Phó viện trưởng, Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân tói cao…
Trong lĩnh vực an ninh quốc gia, Chủ tịch nước thống lĩnh các lực
lượng vũ trang và giữ chức Chủ tịch Hội đồng quốc phòng và an ninh; quyết
định phong hàm, cấp sĩ quan cấp cao và cấp hàm trong các lĩnh vực khác...
Quyền hạn của Chủ tịch nước còn thể hiện trên lĩnh vực ngoại giao;
quyết định vấn đề thôi, nhập quốc tịch; vấn đế đặc xá…
Khi thực hiện quyền hạn, Chủ tịch nước ban hành Lệnh, Quyết định.
2.4.3. Chính phủ nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Hệ thống các cơ quan thực thi quyền hành pháp có Chính phủ và Uỷ
ban nhân dân các cấp. Trong đó Chính phủ được xác định là “Cơ quan chấp
hành của Quốc hội, cơ quan hành chính nhà nước cao nhất của Nước Cộng
hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam” (Điều 109, Hiến pháp 1992 Sửa đổi).
Là cơ quan chấp hành của Quốc hội, Chính phủ chịu sự giám sát của
Quốc hội; chấp hành Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội; pháp lệnh,
nghị quyết của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội; lệnh, quyết định của Chủ tịch
nước; trong hoạt động Chính phủ phải chịu trách nhiệm và báo cáo công tác
trước Quốc hội, Uỷ ban Thường vụ Quốc hội và Chủ tịch nước. Quy định
trên bảo đảm tính tập trung, thống nhất của quyền lực nhà nước vào cơ quan
quyền lực nhà nước cao nhất là Quốc hội.
Với tư cách là cơ quan hành chính nhà nước cao nhất của cả nước,
Chính phủ có chức năng thống nhất quản lý tất cả các lĩnh vực của đời sống
xã hội; lãnh đạo thống nhất bộ máy hành chính nhà nước từ trung ương đến
cơ sở về tổ chức cán bộ; bảo đảm thi hành Hiến pháp và pháp luật; quản lý
việc xây dựng kinh tế quốc dân, thực hiện chính sách tài chính tiền tệ quốc
gia; quản lý y tế, giáo dục; quản lý ngân sách nhà nước; thi hành các biện
pháp cần thiết bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của công dân; quản lý công tác
đối ngoại; thực hiện chính sách xã hội...
Những quy định trên bảo đảm cho Chính phủ phát huy được vai trò là
cơ quan đứng đầu hệ thống hành chính nhà nước. Trong quá trình thực hiện
nhiệm vụ, quyền hạn, Chính phủ có quyền giải quyết công việc với tính sáng
tạo, chủ động, linh hoạt trên cơ sở chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn đã được pháp luật quy định...
Chính phủ có quyền tham gia vào hoạt động lập pháp bằng quyền trình
dự án luật trước Quốc hội, dự án pháp lệnh trước Ủy ban Thường vụ Quốc
hội; trình Quốc hội các dự án kế hoạch, ngân sách nhà nước và các dự án
khác (Điều 112, Hiến pháp 1992).
Chính phủ theo Hiến pháp 1992 có Thủ tướng Chính phủ, được quy
định là người đứng đầu Chính phủ, do Quốc hội bầu trong số đại biểu Quốc
hội, các Phó Thủ tướng, Bộ trưởng, Thủ trưởng các cơ quan ngang Bộ là
thành viên Chính phủ do Thủ tướng Chính phủ lựa chọn, không nhất thiết
phải là đại biểu Quốc hội, và đề nghị Quốc hội phê chuẩn. Chính phủ không
tổ chức ra cơ quan thường vụ, mà một Phó Thủ tướng được phân công đảm
nhận chức vụ Phó Thủ tướng thường trực.
Trong hoạt động của Chính phủ, chế độ trách nhiệm tập thể, trách
nhiệm cá nhân được quy định rõ. Chính phủ chịu trách nhiệm trước Quốc
hội và báo cáo công tác với Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội; Thủ
tướng Chính phủ chịu trách nhiệm trước Quốc hội và báo cáo công tác với
Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Chủ tịch nước; đồng thời thực hiện
chế độ báo cáo trước nhân dân về những vấn đề quan trọng mà Chính phủ
phải giải quyết. Bộ trưởng và các thành viên khác của Chính phủ chịu trách
nhiệm trước Thủ tướng Chính phủ, trước Quốc hội về lĩnh vực, ngành mình phụ trách.
Hiệu quả hoạt động của Chính phủ được bảo đảm bằng hiệu quả hoạt
động của tập thể Chính phủ, của Thủ tướng Chính phủ và từng thành viên Chính phủ.
Trong thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn, tập thể Chính phủ ban hành Nghị
quyết, Nghị định; Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định, Chỉ thị; Bộ
trưởng, thủ trưởng cơ quan ngang Bộ ban hành Quyết định, Chỉ thị, Thông tư.
2.4.4. Hội đồng nhân dân các cấp
Hội đồng nhân dân là cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương, đại
diện cho ý chí, nguyện vọng và quyền làm chủ của nhân dân, do nhân dân
địa phương bầu ra, chịu trách nhiệm trước nhân dân địa phưong và cơ quan
nhà nước cấp trên (Điều 119 Hiến pháp 1992 SĐ).
Trong quá trình hoạt động, Hội đồng nhân dân chịu sự giám sát, hướng
dẫn của cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất thông qua Uỷ ban thường vụ
Quốc hội; sự kiểm tra, hướng dẫn của Chính phủ; chịu trách nhiệm trước
nhân dân địa phương và cơ quan nhà nước cấp trên.
Đại diện cho ý chí, nguyện vọng của nhân dân địa phương, Hội đồng
nhân dân quyết định những chủ trương, biện pháp quan trọng để phát huy
tiềm năng của địa phương, xây dựng và phát triển địa phương về kinh tế - xã
hội, củng cố quốc phòng, an ninh, nâng cao đời sống của nhân dân, làm tròn
nghĩa vụ đối với cả nước, giám sát hoạt động của Thường trực Hội đồng
nhân dân, Ủy ban nhân dân, Toà án nhân dân và Viện kiểm sát nhân dân
cùng cấp; giám sát thực hiện Nghị quyết của Hội đồng nhân dân, việc tuân
theo Hiến pháp, pháp luật của cơ quan nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ chức xã
hội, đơn vị vũ trang và công dân ở địa phương. Để thực hiện những nhiệm
vụ trên, Hội đồng nhân dân ban hành Nghị quyết quyết định chủ trương,
biện pháp thông qua các hình thức hoạt động của Thường trực Hội đồng
nhân dân, các Ban và Đại biểu Hội đồng nhân dân, trong đó hình thức hoạt
động chủ yếu và quan trọng nhất là kỳ họp của Hội đồng nhân dân.
Kỳ họp của Hội đồng nhân dân là hoạt động duy nhất để ra các Nghị
quyết có ý nghĩa pháp lý. Thông qua kỳ họp, ý chí của nhân dân địa phương
trở thành quyết định của cơ quan quyền lực nhà nước cấp trên được bàn bạc
và các biện pháp thực hiện chúng được Hội đồng nhân dân vạch ra cụ thể,
quyền giám sát của Hội đồng nhân dân được thực hiện.
Hội đồng nhân dân họp thường lệ một năm hai kỳ. Trong trường hợp
cần thiết có thể họp bất thường. Các kỳ họp tiến hành công khai, theo trình
tự, thủ tục nghiêm ngặt dưới sự điều hành của Thường trực Hội đồng nhân
dân (ở cấp xã do Chủ tịch hoặc Phó Chủ tịch Hội đồng nhân dân chủ trì).
Kết quả kỳ họp thể hiện bằng Nghị quyết do Chủ tịch Hội đồng nhân dân
cùng cấp ký chứng thực.
2.4.5. Ủy ban nhân dân các cấp
Theo quy định của Hiến pháp 1992 (SĐ), Uỷ ban nhân dân do Hội đồng
nhân dân bầu ra, là cơ quan chấp hành của Hội đồng nhân dân và cơ quan
hành chính nhà nước ở địa phương.
Uỷ ban nhân dân chịu trách nhiệm chấp hành Hiến pháp, Luật, các văn
bản của cơ quan nhà nước cấp trên và Nghị quyết của Hội đồng nhân dân.
Theo Luật tổ chức Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân năm 2003,
Uỷ ban nhân dân có nhiệm vụ quản lý nhà nước đối với các lĩnh vực khác
nhau của đời sống xã hội ở địa phương. Thực hiện việc tuyên truyền, giáo
dục pháp luật, kiểm tra việc chấp hành Hiến pháp, Luật, các văn bản của cơ
quan nhà nước cấp trên và Nghị quyết của Hội đồng nhân dân cùng cấp tại
các cơ quan nhà nước, tổ chức xã hội, tổ chức kinh tế, đơn vị vũ trang; bảo
đảm an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội; thực hiện xây dựng lực lượng
vũ trang và xây dựng quốc phòng toàn dân; quản lý hộ khẩu, hộ tịch, quản lý
công tác tổ chức, biên chế, lao động tiền lương; tổ chức thu chi ngân sách
của địa phương theo quy định của pháp luật…
Thành phần của Uỷ ban nhân dân có Chủ tịch, các Phó Chủ tịch và các
Uỷ viên, trong đó Chủ tịch phải là Đại biểu Hội đồng nhân dân cùng cấp, do
Hội đồng nhân dân bầu (trừ trường hợp được thay đổi giữa nhiệm kỳ theo
quy định tại Điều 119 Luật Tổ chức HĐND & UBND năm 2003). Các chức
danh khác trong Uỷ ban nhân dân không nhất thiết phải là Đại biểu Hội đồng nhân dân.
Chủ tịch Uỷ ban nhân dân là người lãnh đạo và điều hành công việc của
Uỷ ban nhân dân, chịu trách nhiệm cá nhân về việc thực hiện nhiệm vụ,
quyền hạn và cùng với tập thể Uỷ ban nhân dân chịu trách nhiệm về hoạt
động của Uỷ ban nhân dân trước Hội đồng nhân dân cùng cấp và trước cơ
quan nhà nước cấp trên.
Chủ tịch Uỷ ban phân công công tác cho các Phó Chủ tịch và các thành
viên khác của Uỷ ban nhân dân; những người được phân công phải chịu
trách nhiệm về phân công việc của mình trước Chủ tịch, trước Hội đồng
nhân dân, Uỷ ban nhân dân cùng cấp và cùng với các thành viên khác chịu
trách nhiệm trước Hội đồng nhân dân cấp mình và trước cơ quan nhà nướccấp trên.
Uỷ ban nhân dân thảo luận tập thể, quyết định theo đa số những vấn đề
lớn của địa phương. Uỷ ban nhân dân được ban hành Quyết định và Chỉ thị
để thực hiện nhiệm vụ quyền hạn của mình. Uỷ ban nhân dân có các cơ quan
chuyên môn để giúp thực hiện những chức năng quản lý nhà nước ở địa
phương và bảo đảm sự thống nhất quản lý của ngành hoặc lĩnh vực từ trung ương đến cơ sở.
2.4.6. Toà án nhân dân.
Toà án nhân dân thực hiện nhiệm vụ bảo vệ pháp luật thông qua hoạt
động xét xử. Đây là chức năng riêng có của các Toà án. Điều 127, Hiến pháp
1992(SĐ) quy định: “Toà án nhân dân tối cao, các Toà án nhân dân địa
phương, các Toà án quân sự và các Toà án khác do luật định là những cơ
quan xét xử của nhà nước CHXHCNVN”.
Hoạt động xét xử của các Toà án có đặc điểm sau đây:
- Nhân danh Nhà nước cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, căn cứ vào
pháp luật của nhà nước đưa ra phán xét, quyết định cuối cùng nhằm giải
quyết các vụ án, tranh chấp phát sinh trong các quan hệ xã hội; là sự thể hiện
trực tiếp thái độ, quan điểm của nhà nước đối với các vấn đề xã hội.
- Xét xử nhằm ổn dịnh trật tự pháp luật, giữ vững kỷ cương xã hội, bảo
đảm tự do, an toàn của con người, làm lành mạnh hoá các quan hệ xã hội.
- Xét xử mang nội dung giáo dục pháp luật với bản thân đương sự cũng
như với xã hội, nâng cao ý thức pháp luật cho mỗi cá nhân, công dân, từ đó
họ có được những hành vi phù hợp với yêu cầu của pháp luật trong các mối
quan hệ xã hội, tạo ra tinh thần tích cực đấu tranh của công dân phòng,
chống các hành vi vi phạm pháp luật.
Cơ cấu tổ chức của hệ thống Toà án gồm: Toà án nhân dân tối cao, Toà
án nhân dân cấp tỉnh, Toà án nhân dân cấp huyện; Toà án quân sự Trung
ương, Toà án quân sự quân khu, toà án quân sự khu vực, và các Toà án khác
được thành lập theo quy định của pháp luật.
Hiến pháp và Luật tổ chức Toà án nhân dân quy định các nguyên tắc tổ
chức và hoạt động của Toà án.
- Về nguyên tắc tổ chức, các Toà án được tổ chức theo các nguyên tắc sau:
+ Thẩm phán Toà án nhân dân các cấp được bổ nhiệm theo nhiệm kỳ và
có thể bị miễn nhiệm, cách chức nếu không hoàn thành nhiệm vụ.Thực hiện
nguyên tắc này nhằm tạo điều kiện cho thẩm phán công tác ổn định trong
khoảng thời gian hợp lý, có điều kiện tích luỹ kinh nghiệm, rèn luyện kỹ
năng, nghiệp vụ, và bảo đảm tính độc lập, chỉ tuân theo pháp luật khi xét xử.
+ Việc xét xử của Toà án nhân dân có sự tham gia của Hội thẩm nhân
dân theo quy định của pháp luật.
+ Toà án nhân dân xét xử tập thể và quyết định theo đa số.
Nguyên tắc này đòi hỏi việc xét xử được tiến hành bởi một Hội đồng và
khi quyết định phải tiến hành theo nguyên tắc đa số. Thực hiện nguyên tắc
này nhằm đảm bảo tính đúng đắn, thận trọng của các quyết định xét xử.
+ Các Chánh án Toà án nhân dân phải chịu trách nhiệm và báo cáo
công tác trước các cơ quan quyền lực nhà nước cùng cấp.
Các nguyên tắc xét xử của Toà án nhân dân.
+ Khi xét xử, Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân độc lập chỉ tuân theo pháp luật.
+ Toà án xét xử công khai, trừ những trường hợp đặc biệt do pháp luật
quy định. Trong trường hợp xử kín, kết quả phiên toà cũng phải được công bố công khai.
+ Toà án bảo đảm quyền bào chữa của bị cáo và quyền được bảo vệ
quyền và lợi ích hợp pháp của các đương sự. Thực hiện nguyên tắc này
nhằm đảm bảo tính dân chủ của phiên toà, bảo đảm cho công dân có điều
kiện bảo vệ được quyền và lợi ích hợp pháp của mình, đồng thời góp phần
làm cho quá trình xét xử được khách quan, toàn diện.
+ Các bản án, quyết định của Toà án nhân dân đã có hiệu lực pháp luật
phải được tôn trọng và chấp hành nghiêm chỉnh. Trong trường hợp cần thiết