1. Biện pháp khẩn cấp tạm thời có thể bị kháng nghị theo thủ tục
giám đốc thẩm
Nhận định Sai.
CSPL: Điều 326 BLTTDS 2015.
BPKCTT là biện pháp được Tòa án áp dụng trong quá trình giải quyết vụ
việc dân sự nhằm giải quyết nhu cầu cấp bách của đương sự, bảo vệ bằng
chứng, bảo toàn tài sản, tránh gây thiệt hại không thể khắc phục được
hoặc bảo đảm việc thi hành án.
Kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm áp dụng cho bản án, quyết định
của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật khi có một trong những căn cứ sau
(khoản 1 Điều 326)
2. Nhận định Sai.
3. CSPL: Điều 326 BLTTDS 2015.
4. BPKCTT là biện pháp được Tòa án áp dụng trong quá trình giải quyết vụ
việc dân sự nhằm giải
5. quyết nhu cầu cấp bách của đương sự, bảo vệ bằng chứng, bảo toàn tài
sản, tránh gây thiệt hại
6. không thể khắc phục được hoặc bảo đảm việc thi hành án.
7. Kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm áp dụng cho bản án, quyết
định của Tòa án đã có hiệu
8. lực pháp luật khi có một trong những căn cứ sau (khoản 1 Điều 326):
9. “a) Kết luận trong bản án, quyết định không phù hợp với những tình
tiết khách quan của vụ án
10. gây thiệt hại đến quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự;
11. b) Có vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng làm cho đương sự không
thực hiện được quyền,
12. nghĩa vụ tố tụng của mình, dẫn đến quyền, lợi ích hợp pháp của họ
không được bảo vệ theo
13. đúng quy định của pháp luật;
14. c) Có sai lầm trong việc áp dụng pháp luật dẫn đến việc ra bản án,
quyết định không đúng, gây
15. thiệt hại đến quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự, xâm phạm đến
lợi ích công cộng, lợi ích của
16. Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của người thứ ba.
17. BPKCTT là biện pháp được Tòa án áp dụng trong quá trình giải quyết
vụ việc dân sự nhằm giải
18. quyết nhu cầu cấp bách của đương sự, bảo vệ bằng chứng, bảo toàn
tài sản, tránh gây thiệt hại
19. không thể khắc phục được hoặc bảo đảm việc thi hành án.”
20. BPKCTT không phải bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực
pháp luật nên không thể bị
21. kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm.
Nhận định Sai.
CSPL: Điều 326 BLTTDS 2015.
BPKCTT là biện pháp được Tòa án áp dụng trong quá trình giải quyết vụ
việc dân sự nhằm giải
quyết nhu cầu cấp bách của đương sự, bảo vệ bằng chứng, bảo toàn tài
sản, tránh gây thiệt hại
không thể khắc phục được hoặc bảo đảm việc thi hành án.
Kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm áp dụng cho bản án, quyết định
của Tòa án đã có hiệu
lực pháp luật khi có một trong những căn cứ sau (khoản 1 Điều 326):
“a) Kết luận trong bản án, quyết định không phù hợp với những tình tiết
khách quan của vụ án
gây thiệt hại đến quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự;
b) Có vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng làm cho đương sự không thực
hiện được quyền,
nghĩa vụ tố tụng của mình, dẫn đến quyền, lợi ích hợp pháp của họ không
được bảo vệ theo
đúng quy định của pháp luật;
c) Có sai lầm trong việc áp dụng pháp luật dẫn đến việc ra bản án, quyết
định không đúng, gây
thiệt hại đến quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự, xâm phạm đến lợi ích
công cộng, lợi ích của
Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của người thứ ba.
BPKCTT là biện pháp được Tòa án áp dụng trong quá trình giải quyết vụ
việc dân sự nhằm giải
quyết nhu cầu cấp bách của đương sự, bảo vệ bằng chứng, bảo toàn tài
sản, tránh gây thiệt hại
không thể khắc phục được hoặc bảo đảm việc thi hành án.”
BPKCTT không phải bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp
luật nên không thể bị
kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm.
2. Nếu đương sự là người khuyết tật thì sẽ được miễn nộp án phí.
Nhận định Sai.
CSPL: điểm đ khoản 1, khoản 3 Điều 12 NQ 326/2016/UBTVQH.
Theo điểm d khoản 1 điều 12 NQ 326/2016/UBTVQH14, người khuyết tật
thuộc TH được miễn nộp án
phí. Tuy nhiên theo quy định tại khoản 3 Điều 12 NQ
326/2016/UBTVQH14, nếu các đương sự thỏa
nếu các đương sự thỏa thuận một bên chịu toàn bộ án phí hoặc một phần
số tiền án phí phải nộp thuộc trường hợp được miễn nộp tiền án phí thì
Tòa án chỉ xem xét miễn án phí đối với phần mà người thuộc trường hợp
được miễn phải chịu theo quy định của Nghị quyết này. Phần án phí, lệ phí
Tòa án mà người đó nhận nộp thay người khác thì không được miễn nộp.
Như vậy, nếu bên đương sự là người khuyết tật có thỏa thuận chịu toàn bộ
(hoặc một phần án phí) thì
Tòa án chỉ xem xét miễn án phí với phần mà đương sự này được miễn phải
chịu. Phần án phí Tòa án mà
đương sự là người khuyết tật nhận nộp thay người khác thì không được
miễn nộp.
3. Khi bản án sơ thẩm bị sửa, các bên đương sự không phải chịu
án phí sơ thẩm và án phí phúc thẩm.
Nhận định Sai.
CSPL: khoản 2 Điều 148 BLTTDS 2015, khoản 2 Điều 29 NQ 326 Theo quy
định tại khoản 2 Điều 148 BLTTDS 2015, nếu Tòa án cấp phúc thẩm sửa
bản án, quyết định sơ thẩm bị kháng cáo thì đương sự kháng cáo không
phải chịu án phí phúc thẩm; Tòa án cấp phúc thẩm sẽ xác định lại nghĩa
vụ chịu án phí sơ thẩm.Theo khoản 2 Điều 29 NQ 326, trường hợp Tòa án
cấp phúc thẩm sửa bản án, quyết định sơ thẩm bị kháng cáo thì đương sự
kháng cáo liên quan đến phần bản án, quyết định phải sửa không phải
chịu án phí dân sự phúc thẩm
Vậy, khi bản án sơ thẩm bị sửa, đương sự kháng cáo chỉ không phải chịu
án phí phúc thẩm, Tòa án phúc thẩm phải xác định nghĩa vụ chịu án phí sơ
thẩm theo quy định tại điều 147 BLTTDS 201
4. Người yêu cầu Tòa án áp dụng BPKCTT phải gửi đơn yêu cầu
kèm chứng cứ để chứng minh cho sự cần thiết của việc áp dụng
biện pháp này.
Nhận định Sai.
CSPL: khoản 1 Điều 133 BLTTDS 2015.
Người yêu cầu Tòa án áp dụng BPKCTT phải gửi đơn yêu cầu có các nội
dung được quy định tại khoản 1 Điều này. Các nội dung bắt buộc này
không bao gồm phần chứng cứ để chứng minh cho sự cần thiết của việc
áp dụng BPKCTT. Người yêu cầu Tòa áp dụng BPKCTT không bắt buộc phải
gửi kèm chứng cứ chứng minh cho sự cần thiết của việc áp dụng biện
pháp này. Việc bắt buộc gửi kèm chứng cứ sẽ tùy thuộc vào yêu cầu áp
dụng BPKCTT.
5. Trước khi mở phiên tòa, khi giải quyết khiếu nại về việc áp
dụng BPKCTT, nếu nhận thấy việc áp
dụng BPKCTT không đúng, Chánh án Tòa án có quyền đồng thời ra
Quyết định giải quyết khiếu nại và Quyết định hủy bỏ việc áp
dụng BPKCTT.
Nhận định Sai.
CSPL: khoản 1 Điều 112, khoản 1 Điều 141 BLTTDS 2015, điểm a khoản 2
Điều 16 NQ 02/2020/NQ-HĐTP. Khoản 1 Điều 112 BLTTDS 2015 quy định:
“Trước khi mở phiên tòa, việc áp dụng, thay đổi, hủy bỏ
BPKCTT do một Thẩm phán xem xét, quyết định”.
Chánh án Tòa án là người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại (khoản 1
Điều 141 BLTTDS 2015) nhưng không đề cập đến quyền Quyết định hủy
bỏ việc áp dụng BPKCTT, nên Chánh án Tòa án không có quyền đồng thời
ra Quyết định giải quyết khiếu nại và Quyết định hủy bỏ việc áp dụng
BPKCTT. Căn cứ vào điểm a khoản 2 Điều 16 NQ 02/2020/NQ-HĐTP, nếu
Thẩm phán nhận thấy việc áp dụng,
biện pháp khẩn cấp tạm thời là không đúng thì Thẩm phán ra quyết định
hủy bỏ biện pháp khẩn cấp tạm thời đã được áp dụng; đồng thời báo cáo
kết quả cho Chánh án Tòa án.
Trước khi mở phiên tòa, , khi giải quyết khiếu nại về việc áp dụng BPKCTT,
nếu nhận thấy việc áp dụng BPKCTT không đúng, Chánh án Tòa án chỉ có
quyền ra Quyết định giải quyết khiếu nại, Quyết định hủy bỏ việc áp dụng
BPKCTT thuộc thẩm quyền của Thẩm phán, và Thẩm phán phải báo cáo
kết quả cho Chánh án Tòa án.
Tổng hợp câu hỏi nhận định đúng sai môn luật Tố tụng dân sự
1. Người không gây thiệt hại cho nguyên đơn không thể trở thành bị
đơn.
=> Nhận định SAI. Vì việc mang tư cách bị đơn hay không không phụ
thuộc vào việc
người đó có gây thiệt hại cho bị đơn trên thực tế hay không mà phụ thuộc
vào việc
người đó bị nguyên đơn khởi kiện do nguyên đơn cho rằng có sự xâm
phạm quyền lợi
của người đó đối với mình.
Cơ sở pháp lý: Khoản 3 Điều 68 BLTTDS 2015.
2. Bị đơn là người gây thiệt hại cho nguyên đơn và bị nguyên đơn khởi
kiện.
=> Nhận định SAI. Vì Theo khoản 3 Điều 68 quy định về đương sự trong
vụ việc dân sự
thì bị đơn trong vụ án dân sự là người bị nguyên đơn khởi kiện khi cho
rằng quyền và
lợi ích hợp pháp của nguyên đơn bị người đó xâm phạm, không cần đòi hỏi
là phải gây
thiệt hại cho nguyên đơn.
Cơ sở pháp lý: khoản 3 Điều 68 BLTTDS 2015.
3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa phúc
thẩm thì Tòa án đình chỉ giải quyết yêu cầu của họ.
=> Nhận định SAI. Vì theo Điều 296 BLTTDS 2015 thì người có quyền lợi
nghĩa vụ liên
quan đến việc kháng cáo, kháng nghị được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ
nhất vắng
mặt thì hoãn phiên tòa, trường hợp họ có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt thì
Tòa án tiến
hành phiên tòa phúc thẩm xét xử vắng mặt họ.
Trường họp triệu tập hợp lệ lần thứ hai, Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên
quan có yêu
cầu độc lập vắng mặt và không có đơn đề nghị xét xử vắng mặt mà không
có người đại
diện tham gia phiên tòa thì bị coi là từ bỏ yêu cầu độc lập. Lúc này Tòa án
mới ra quyết
định đình chỉ giải quyết đối với yêu cầu độc lập của người đó.
Cơ sở pháp lý: Điều 296 BLTTDS 2015.
4. Người không gây thiệt hại cho nguyên đơn không thể trở thành bị
đơn.
=> Nhận định SAI. Căn cứ Điều 68 khoản 3 BLTTDS 2015 quy định về
Đương sự trong
vụ việc dân sự thì Bị đơn trong vụ án dân sự là người bị nguyên đơn khởi
kiện. Do đó,
chỉ cần Nguyên đơn cho rằng quyền và lợi ích của mình bị xâm phạm và
khởi kiện, thì người bị nguyên đơn khởi kiện là bị đơn, kể cả Bị đơn có thể
đã hoặc chưa gây thiệt cho nguyên đơn.
Cơ sở pháp lý: Điều 68 khoản 3 BLTTDS 2015.
5. Bị đơn có quyền đưa ra yêu cầu phản tố tại phiên tòa sơ thẩm.
=> Nhận định SAI. Bị đơn có quyền đưa ra yêu cầu phản tố đối với nguyên
đơn theo
quy định tại Điều 72 khoản 4 BLTTDS 2015. Tuy nhiên, thời điểm Bị đơn có
quyền đưa
ra yêu cầu phản tố đối với nguyên đơn là trước thời điểm mở phiên họp kiểm tra
việc
giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải (Điều 200 khoản 3
BLTTDS 2015).
Do vậy, Bị đơn không có quyền đưa ra yêu cầu phản tố tại phiên tòa sơ
thẩm.
Cơ sở pháp lý: Điều 200 khoản 3 BLTTDS 2015.
>>> Tham
khảo:102câuhỏinhậnđínhđúngsaimônLuậtDânsự(cóđápán
)
6. Tư cách tố tụng của đương sự có thể bị thay đổi tại phiên tòa sơ
thẩm.
=> Nhận định SAI. Căn cứ vào Điều 68 BLTTDS 2015 ta có: tư cách tố
tụng của đương
sự được hình thành khi Tòa án thụ lý vụ án dân sự. Trong đó: Nguyên đơn
trong vụ án
dân sự là người khởi kiện, cho rằng quyền và lợi ích của mình bị xâm
phạm; Bị đơn là
người bị nguyên đơn khởi kiện; Người có nghĩa vụ và quyền lợi liên quan là
người tuy
không khởi kiện, không bị kiện, nhưng việc giải quyết vụ án dân sự có liên
quan đến
quyền lợi, nghĩa vụ của họ nên họ.
Trường hợp người khởi kiện rút toàn bộ đơn khởi kiện của mình, tuy nhiên
bị đơn vẫn
giữ nguyên yêu cầu phản tố thì lúc này bị đơn trở thành nguyên đơn dân
sự và ngược
lại, bên nguyên đơn trở thành bị đơn.
Cơ sở pháp lý: Điều 68, BLTTDS 2015.
7. Chỉ người gây thiệt hại cho nguyên đơn mới có thể trở thành bị đơn.
=> Nhận định SAI. Căn cứ vào quy định tại khoản 3 Điều 68 BLTTDS 2015
thì bị đơn
chỉ cần là người mà nguyên đơn khởi kiện cho rằng quyền và lợi ích hợp
pháp của
nguyên đơn bị bị đơn đó xâm phạm. Tức là, không chỉ người gây thiệt hại
cho nguyên
đơn mới có thể trở thành bị đơn, mà trên thực tế, mặc dù, bị đơn không
gây thiệt hại
cho nguyên đơn vẫn có thể trở thành bị đơn, trong trường hợp bị đơn đó bị
nguyên đơn
khởi kiện.
Cơ sở pháp lý: khoản 3 Điều 68 BLTTDS 2015.
Một người có thể đại diện cho nhiều đương sự trong vụ án dân sự.
=> Nhận định ĐÚNG. Nếu họ đang là người đại diện theo pháp luật trong
tố tụng dân
sự cho một đương sự khác mà quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự đó
đối lập với
quyền và lợi ích hợp pháp của người được đại diện thì họ không được làm
người đại
diện. Hay nói một cách đơn giản, một người không được đại diện cho
nhiều đương sự
trong cùng một vụ án dân sự khi quyền và lợi ích hợp pháp của họ đối lập
nhau.
Do vậy, nếu họ đại diện cho nhiều đương sự trong cùng một vụ án dân s
mà quyền và
lợi ích hợp pháp của những người được đại diện này không đối lập với
nhau thì một
người đại diện có thể đại diện cho nhiều đương sự.
Cơ sở pháp lý: Điều 87 khoản 1 điểm b BLTTDS 2015.
9. Đương sự đưa ra yêu cầu có nghĩa vụ cung cấp chứng cứ
=> Nhận định ĐÚNG. Theo nguyên tắc Điều 6 BLTTDS 2015, đương sự đưa
yêu cầu
thì phải có quyền và nghĩa vụ cung cấp tài liệu chứng cứ để chứng minh
yêu cầu của
mình có căn cứ và hợp pháp.
Cơ sở pháp lý: Điều 6 BLTTDS 2015.
10. Quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự có thể bị
kháng nghị giám đốc thẩm.
=> Nhận định ĐÚNG. Căn cứ Điều 213 khoản 2 BLTTDS 2015 thì: Quyết
định công
nhận sự thỏa thuận của các đương sự chỉ có thể bị kháng nghị theo thủ
tục giám đốc
thẩm nếu có căn cứ cho rằng sự thỏa thuận đó là do bị nhầm lẫn, lừa dối,
đe dọa,
cưỡng ép hoặc vi phạm điều cấm của luật, trái đạo đức xã hội.
Do vậy, quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự có thể bị
kháng nghị
giám đốc thẩm.
Cơ sở pháp lý: Điều 213 khoản 2 BLTTDS 2015.
11. Ở giai đoạn sơ thẩm, khi công nhận sự thỏa thuận hợp pháp của các
đương sự, Tòa án phải ra ngay quyết định công nhận sự thỏa thuận của
các đương sự.
=> Nhận định SAI. Ở giai đoạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm (giai đoạn sơ
thẩm), sau khi
công nhận sự thỏa thuận hợp pháp của các đương sự, Tòa án không ra
ngay quyết
định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự. Mà phải hết thời hạn 7
ngày kể từ
ngày biên bản hòa giải thành mà không có đương sự nào thay đổi ý kiến
về sự thỏa
thuận đó thì Tòa án mới ra quyết định công nhận sự thỏa thuận của các
đương sự.
Cơ sở pháp lý: Điểm 1 khoản 1 Điều 212 BLTTDS 2015.
12. Thời điểm bắt đầu tính thời hạn kháng cáo của bản án sơ thẩm là
ngày Tòa án tuyên án đối với đương sự có mặt tại phiên tòa
=> Nhận định SAI. Căn cứ vào quy định tại khoản 1 Điều 100 BLTTDS
2015 thì theo
yêu cầu của đương sự hoặc khi xét thấy có mâu thuẫn trong lời khai của
các đương
sự, người làm chứng, Thẩm phán tiến hành đối chất giữa các đương sự với
nhau, giữa
đương sự với người làm chứng hoặc giữa các người làm chứng với nhau.
Nói cách
khác, nếu không có yêu cầu của đương sự hoặc không thấy có mâu thuẫn
trong lời
khai của các đương sự, người làm chứng thì Thẩm phán không tiến hành
đối chất. Do
đó, Đối chất không là thủ tục bắt buộc trong tố tụng dân sự.
Cơ sở pháp lý: khoản 1 Điều 100 BLTTDS 2015
17. Nếu nguyên đơn chết Tòa án ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án.
=> Nhận định SAI. Không phải trong mọi trường hợp khi nguyên đơn chết
Tòa án đều
ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự. Trường hợp, nguyên đơn
chết mà chưa
tìm thấy người thừa kế quyền và nghĩa vụ tố tụng của nguyên đơn thì Tòa
án ra quyết
định tạm đình chỉ giải quyết vụ án dân sự theo quy định tại điểm a khoản
1 Điều 214
BLTTDS 2015. Trường hợp, nguyên đơn chết mà đã tìm thấy người thừa kế
quyền và
nghĩa vụ tố tụng của nguyên đơn thì Tòa án tiếp tục giải quyết vụ án dân
sự. Trường
hợp, nguyên đơn chết mà không có người thừa kế quyền và nghĩa vụ tố
tụng của
nguyên đơn thì khi đó Tòa án mới ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án
dân sự theo
quy định tại điểm a khoản 1 Điều 217 BLTTDS 2015.
Do đó, Nếu nguyên đơn chết, không phải trong mọi trường hợp, Tòa án
đều ra quyết
định đình chỉ giải quyết vụ án.
Cơ sở pháp lý: điểm a khoản 1 Điều 214 BLTTDS 2015, điểm a khoản 1
Điều 217
BLTTDS 2015.
18. Thẩm phán tuyệt đối không được tham gia xét xử hai lần một vụ án.
=> Nhận định SAI. Căn cứ vào quy định tại khoản 3 Điều 53 BLTTDS 2015
thì trường
hợp Thẩm phán đã tham gia xét xử vụ án dân sự nhưng chưa ra được bản
án hoặc
Thẩm phán đó là thành viên của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối
cao, Ủy ban
Thẩm phán Tòa án nhân dân cấp cao thì Thẩm phán đó vẫn có thể tham
gia xét xử lần
thứ hai đối với cùng một vụ án dân sự.
Do đó, Thẩm phán có thể tham gia xét xử hai lần trong cùng một vụ án.
Cơ sở pháp lý: khoản 3 Điều 53 BLTTDS 2015
19. Khi đương sự có yêu cầu chính đáng, Viện kiểm sát phải thu thập
chứng cứ thay đương sự.
=> Nhận định SAI. Theo nguyên tắc tại Điều 6 và khoản 7 Điều 70
BLTTDS 2015 thì
đương sự có quyền và nghĩa vụ thu thập tài liệu chứng cứ để chứng minh
cho yêu cầu
của mình là có căn cứ hợp lý, đối với tài liệu chứng cứ không thể thu thập
được, có
quyền đề nghị Tòa án thu thập những tài liệu, chứng cứ đó. Đương sự
không có quyền
=> Nhận định ĐÚNG. Vì người có quyền và nghĩa vụ liên quan tham gia tố
tụng thông
qua 3 con đường: tự mình đề nghị, đương sự khác đề nghị và Tòa án đưa
vào.
Cơ sở pháp lý: Khoản 4 Điều 68 BLTTDS 2015.
30. Vụ án lao động có đương sự ở nước ngoài luôn thuộc thẩm quyền
giải quyết của Tòa cấp tỉnh.
=> Nhận định ĐÚNG. Cơ sở pháp lý: Điểm c khoản 1 Điều 37 BLTTDS
2015.
31. Đương sự có quyền giao nộp chứng cứ tại phiên tòa sơ thẩm, phúc
thẩm.
=> Nhận định SAI. Theo quy định tại khoản 4 Điều 96 thì thời hạn đương
sự có quyền
giao nộp tài liệu chứng cứ do Thẩm phán được phân công giải quyết vụ
việc ấn định
nhưng không được vượt quá thời hạn chuẩn bị xét xử theo thủ tục sơ
thẩm. Do đó, về
nguyên tắc đương sự không có quyền nộp chứng cứ tại phiên tòa sơ thẩm,
phúc thẩm
do thời điểm này đã vượt quá thời hạn chuẩn bị xét xử. Trường hợp tại
phiên tòa sơ
thẩm mà đương sự mới giao nộp chứng cứ thì phải chứng minh được lý do
chính đáng
của việc chậm giao nộp chứng cứ đó. Chỉ những tài liệu, chứng cứ mà
trước đó Tòa án
không yêu cầu đương sự giao nộp hoặc tài liệu, chứng cứ mà đương sự
không thể biết
được trong quá trình giải quyết vụ việc theo thủ tục sơ thẩm thì đương sự
có quyền
giao nộp, trình bày tại phiên tòa sơ thẩm, phiên họp giải quyết việc dân sự
hoặc các
giai đoạn tố tụng tiếp theo của việc giải quyết vụ việc dân sự.
Cơ sở pháp lý: Điều 96 khoản 4 BLTTDS 2015.
32. Chỉ có Tòa án mới có quyền trưng cầu giám định.
=> Nhận định SAI. Vì căn cứ theo quy định tại khoản 1 Điều 102 BLTTDS
2015 thì
ngoài Tòa án, đương sự cũng có quyền tự mình yêu cầu giám định, trong
trường hợp
khi họ đã đề nghị Tòa án trưng cầu giám định, nhưng Tòa án từ chối yêu
cầu của họ.
Cơ sở pháp lý: khoản 1 Điều 102 BLTTDS 2015.
33. Tòa án cấp phúc thẩm có quyền xét xử lại toàn bộ vụ án đã xét xử ở
Tòa án cấp sơ thẩm.
=> Nhận định SAI. Phạm vi xét xử phúc thẩm là Tòa án cấp phúc thẩm chỉ
xem xét lại
phần của bản án sơ thẩm, quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm có kháng
cáo, kháng
nghị hoặc có liên quan đến việc xem xét nội dung kháng cáo, kháng nghị.
Vì vậy Tòa án
cấp thẩm không có quyền xét xử lại toàn bộ vụ án đã xét xử ở Tòa án cấp
phúc thẩm
nếu kháng cáo, kháng nghị chỉ kháng cáo, kháng nghị một phần Bản án,
quyết định của
Tòa án sơ thẩm.
Cơ sở pháp lý: Điều 293 BLTTDS 2015.
34. Thư ký có nhiệm vụ lấy lời khai của đương sự.
=> Nhận định SAI. Căn cứ theo quy định tại Điều 51 quy định về Nhiệm
vụ, quyền hạn
của Thư ký Tòa án thì Thư ký tòa án không có nhiệm vụ lấy lời khai của
đương sự. Thư
ký tòa án chỉ có nhiệm vụ ghi biên bản lấy lời khai đương sự theo quy định
tại khoản 4
Điều 51 BLTTDS 2015.
Cơ sở pháp lý: khoản 4 Điều 51 BLTTDS 2015.
35. Người đại diện theo ủy quyền của đương sự không có quyền kháng
cáo thay đương sự.
=> Nhận định SAI. Theo quy định tại Điều 86 quy định về Quyền và nghĩa
vụ của người
đại diện và Điều 271 quy định về Quyền của người kháng cáo thì người đại
diện theo
ủy quyền của đương sự vẫn có quyền kháng cáo trong trường hợp trong
nội dung văn
bản ủy quyền, đương sự có ủy quyền cho người đại diện theo ủy quyền
cho mình có quyền kháng cáo.
Cơ sở pháp lý: Điều 86, Điều 271 BLTTDS 2015.
36. Thư ký Tòa án có quyền chủ trì phiên hòa giải tại Tòa án.
=> Nhận định SAI. Bởi vì:
Thứnhất: căn cứ vào nhiệm vụ và quyền hạn của Thư ký Tòa án và Thẩm
phán ta
thấy:
Trong tất cả các quy định tại Điều 51 BLTTDS 2015 về nhiệm vụ và quyền
hạn của Thư
ký Tòa án thì Thư ký Tòa không có quyền chủ trì phiên hòa giải. Bên cạnh
đó, căn cứ vào Điều 48 BLTTDS 2015 quy địnhvề nhiệm vụ và quyền hạn
của Thẩm phán thì tại khoản 10 có quy định về thẩm quyền Chủ tọa hoặc
tham gia xét xử vụ án dân sự, giải quyết việc dân sự của Thẩm phán.
Thứhai: Căn cứ vào khoản 1 Điều 209 BLTTDS 2015 quy định về Thành
phần tham gia
phiên họp hòa giải thì Thẩm phán là người chủ trì phiên họp và Thư ký Tòa
án chỉ là
người ghi biên bản phiên họp.
Căn cứ Điều 210 BLTTDS 2015 thì Thẩm phán là người chủ trì phiên họp,
là người
công bố tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, tiến hành thủ tục hỏi
đương sự,… và
tiến hành hòa giải. Cuối cùng thẩm phán kết luận về những vấn đề các
đương sự đã thống nhất, chưa thống nhất. Do đó, Thư ký Tòa án không có
quyền chủ trì phiên hòa giải tại Tòa án.
Cơ sở pháp lý: Điều 48, Điều 51, khoản 1 Điều 209, Điều 210 BLTTDS
2015.
37. Nếu người kháng cáo vắng mặt tại phiên tòa phúc thẩm thì Hội đồng
xét xử đình chỉ xét xử phúc thẩm.
=> Nhận định SAI. Căn cứ theo quy định tại Điều 296 BLTTDS 2015, Tòa
án triệu tập
hợp lệ lần thứ nhất: Nếu người kháng cáo vắng mặt tại phiên tòa phúc
thẩm và không
có đơn đề nghị xét xử vắng mặt thì Hội đồng xét xử hoãn phiên tòa xét xử
phúc thẩm.
Trường hợp, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt thì Hội đồng xét xử không
đình chỉ xét xử
phúc thẩm mà tiến hành xét xử vắng mặt họ.
Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai: Nếu người kháng cáo vắng mặt tại
phiên tòa phúc
thẩm và không có đơn đề nghị xét xử vắng mặt thì được coi là từ bỏ việc
kháng cáo.
Tòa án đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với yêu cầu kháng cáo của người đó.
Trường
hợp, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt thì Hội đồng xét xử không đình chỉ
xét xử phúc
thẩm mà tiến hành xét xử vắng mặt họ.
Do đó, không phải mọi trường hợp, nếu người kháng cáo vắng mặt tại
phiên tòa phúc
thẩm thì Hội đồng xét xử đình chỉ xét xử phúc thẩm.
Cơ sở pháp lý: Điều 296 BLTTDS 2015.
38. Bản án, quyết định bị kháng nghị giám đốc thẩm được tạm đình chỉ
thi hành án cho đến khi có quyết định giám đốc thẩm.
=> Nhận định SAI. Vì theo quy định tại Điều 332 BLTTDS 2015, trường hợp
người có
thẩm quyền kháng nghị bản án, quyết định giám đốc thẩm của Tòa án
như: Chánh án
tòa án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao thì có
quyền yêu
cầu hoãn thi hành bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật để xem xét
việc kháng nghị
theo thủ tục giám đốc thẩm.
Trường hợp người đã kháng nghị như Chánh án Tòa án nhân dân cấp cao
có quyền
quyết định tạm đình chỉ thi hành bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật
cho đến khi có
quyết định giám đốc thẩm.
Cơ sở pháp lý: Điều 332 BLTTDS 2015.
39. Đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa xét xử vụ việc dân sự đưa
ra quan điểm làm căn cứ để Hội đồng xét xử giải quyết.
=> Nhận định SAI. Vì Căn cứ theo quy định tại khoản 2 Điều 21 quy định
về Kiểm sát
việc tuân theo pháp luật trong tố tụng dân sự và khoản 4, 6 Điều 58 quy
định về Nhiệm
vụ quyền hạn của Kiểm sát và Điều 262 về việc Phát biểu Kiểm sát viên
được quy định
trong BLTTDS 2015. Theo đó, Kiểm sát viên tham gia phiên tòa sơ thẩm
đối với những
vụ án bắt buộc có sự tham gia của đại diện viện kiểm sát như đương sự là
người chưa
thành niên, mất năng lực hành vi dân sự. Và đại diện Viện kiểm sát khi
tham gia phiên
tòa có quyền phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của
thẩm phán và giải
quyết vụ việc theo quy định của Bộ luật này, tuy nhiên ý kiến này không
phải làm căn
cứ để Hội đồng xét xử giải quyết
cơ sở pháp lý: khoản 2 Điều 21, khoản 4, 6 Điều 58, Điều 262 BLTTDS
2015.
40. Việc thay đổi người tiến hành tố tụng do Thẩm phán quyết định.
=> Nhận định SAI. Theo điểm c khoản 1 Điều 47 BLTTDS 2015, trước khi
mở phiên
Tòa, việc thay đổi người tiến hành tố tụng như Thẩm phán, Hội thẩm nhân
dân, Thư ký
Tòa án thuộc thẩm quyền của Chánh án Tòa án. Còn tại phiên tòa, quy
định tại khoản 2
Điều 235 BLTTDS 2015, thì quyết định thay đổi người tiến hành tố tụng
thuộc thẩm
quyền của Hội đồng xét xử.
Cơ sở pháp lý: điểm c khoản 1 Điều 47, khoản 2 Điều 235 BLTTDS 2015.
41. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp bắt buộc phải tham gia tất
cả phiên tòa dân sự.
=> Nhận định SAI. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp không bắt
buộc phải
tham gia tất cả phiên tòa dân sự.
Ở phiên tòa sơ thẩm: Đại diện Viện kiểm sát chỉ tham gia các phiên họp
sơ thẩm đối
với các việc dân sự; phiên tòa sơ thẩm đối với những vụ án do Tòa án tiến
hành thu
thập chứng cứ hoặc đối tượng tranh chấp là tài sản công, lợi ích công
cộng, quyền sử
dụng đất, nhà ở hoặc có đương sự là người chưa thành niên, người mất
năng lực hành
vi dân sự, người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn
trong nhận
thức, làm chủ hành vi hoặc trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 4
BLTTDS 2015.
Cơ sở pháp lý: Điều 21 khoản 2 BLTTDS 2015
42. Vụ việc dân sự có đương sự ở nước ngoài thuộc thẩm quyền giải
quyết của Tòa án cấp tỉnh.
=> Nhận định SAI. Về nguyên tắc vụ việc dân sự có đương sự ở nước
ngoài thuộc
thẩm quyền giải quyết của Tòa án cấp tỉnh. Tuy nhiên, căn cứ theo quy
định tại khoản 4
Điều 35 BLTTDS 2015 thì vụ việc có dân sự ở nước ngoài trong trường hợp
giải quyết
các vấn đề về việc ly hôn, tranh chấp về quyền và nghĩa vụ vợ chồng,..
giữa công dân
việc Việt Nam cư trú ở khu vực biên giới với công dân nước láng giềng
thuộc thẩm
quyền của Tòa án nhân dân cấp huyện.
Cơ sở pháp lý: khoản 4 Điều 35 BLTTDS 2015.
43. Tòa án chỉ thụ lý vụ án khi đương sự đã nộp tạm ứng án phí.
=> Nhận định SAI. Tòa án không chỉ thụ lý vụ án khi đương sự đã nộp tạm
ứng án phí
mà Tòa án có thể thể thụ lý vụ án ngay cả khi đương sự không nộp tạm
ứng án phí
trong trường hợp người khởi kiện thuộc trường hợp được miễn hoặc không
phải nộp
tiền tạm ứng án phí theo quy định tại khoản 4 Điều 195 BLTTDS 2015. Khi
đó, mặc dù
người khởi kiện không nộp tạm ứng án phí, Thẩm phán (Tòa án) vẫn phải
thụ lý vụ án
khi nhận được đơn khởi kiện và tài liệu, chứng cứ kèm theo
44. Chi phí giám định do người yêu cầu giám định chịu.
=> Nhận định SAI. Căn cứ vào quy định tại Điều 161 BLTTDS 2015 trong
trường hợp
các bên không có thỏa thuận, pháp luật không có quy định khác thì người
giám định chỉ
chịu chi phí giám định trong trường hợp kết quả giám định chứng minh
yêu cầu của họ
là không có căn cứ. Trong trường hợp kết quả giám định chứng minh yêu
cầu của họ
chỉ có căn cứ một phần thì họ phải nộp chi phí giám định đối với phần yêu
cầu của họ
đã được chứng minh là không có căn cứ. Nếu kết quả giám định chứng
minh yêu cầu
của họ là có căn cứ thì học không phải chịu chi phí giám định.
Cơ sở pháp lý: Điều 161 BLTTDS 2015

Preview text:

  1. Biện pháp khẩn cấp tạm thời có thể bị kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm

Nhận định Sai.

CSPL: Điều 326 BLTTDS 2015.

BPKCTT là biện pháp được Tòa án áp dụng trong quá trình giải quyết vụ việc dân sự nhằm giải quyết nhu cầu cấp bách của đương sự, bảo vệ bằng chứng, bảo toàn tài sản, tránh gây thiệt hại không thể khắc phục được hoặc bảo đảm việc thi hành án.

Kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm áp dụng cho bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật khi có một trong những căn cứ sau (khoản 1 Điều 326)

  1. Nhận định Sai.
  2. CSPL: Điều 326 BLTTDS 2015.
  3. BPKCTT là biện pháp được Tòa án áp dụng trong quá trình giải quyết vụ việc dân sự nhằm giải
  4. quyết nhu cầu cấp bách của đương sự, bảo vệ bằng chứng, bảo toàn tài sản, tránh gây thiệt hại
  5. không thể khắc phục được hoặc bảo đảm việc thi hành án.
  6. Kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm áp dụng cho bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu
  7. lực pháp luật khi có một trong những căn cứ sau (khoản 1 Điều 326):
  8. “a) Kết luận trong bản án, quyết định không phù hợp với những tình tiết khách quan của vụ án
  9. gây thiệt hại đến quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự;
  10. b) Có vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng làm cho đương sự không thực hiện được quyền,
  11. nghĩa vụ tố tụng của mình, dẫn đến quyền, lợi ích hợp pháp của họ không được bảo vệ theo
  12. đúng quy định của pháp luật;
  13. c) Có sai lầm trong việc áp dụng pháp luật dẫn đến việc ra bản án, quyết định không đúng, gây
  14. thiệt hại đến quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự, xâm phạm đến lợi ích công cộng, lợi ích của
  15. Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của người thứ ba.
  16. BPKCTT là biện pháp được Tòa án áp dụng trong quá trình giải quyết vụ việc dân sự nhằm giải
  17. quyết nhu cầu cấp bách của đương sự, bảo vệ bằng chứng, bảo toàn tài sản, tránh gây thiệt hại
  18. không thể khắc phục được hoặc bảo đảm việc thi hành án.”
  19. BPKCTT không phải bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật nên không thể bị
  20. kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm.

Nhận định Sai.

CSPL: Điều 326 BLTTDS 2015.

BPKCTT là biện pháp được Tòa án áp dụng trong quá trình giải quyết vụ việc dân sự nhằm giải

quyết nhu cầu cấp bách của đương sự, bảo vệ bằng chứng, bảo toàn tài sản, tránh gây thiệt hại

không thể khắc phục được hoặc bảo đảm việc thi hành án.

Kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm áp dụng cho bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu

lực pháp luật khi có một trong những căn cứ sau (khoản 1 Điều 326):

“a) Kết luận trong bản án, quyết định không phù hợp với những tình tiết khách quan của vụ án

gây thiệt hại đến quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự;

b) Có vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng làm cho đương sự không thực hiện được quyền,

nghĩa vụ tố tụng của mình, dẫn đến quyền, lợi ích hợp pháp của họ không được bảo vệ theo

đúng quy định của pháp luật;

c) Có sai lầm trong việc áp dụng pháp luật dẫn đến việc ra bản án, quyết định không đúng, gây

thiệt hại đến quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự, xâm phạm đến lợi ích công cộng, lợi ích của

Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của người thứ ba.

BPKCTT là biện pháp được Tòa án áp dụng trong quá trình giải quyết vụ việc dân sự nhằm giải

quyết nhu cầu cấp bách của đương sự, bảo vệ bằng chứng, bảo toàn tài sản, tránh gây thiệt hại

không thể khắc phục được hoặc bảo đảm việc thi hành án.”

BPKCTT không phải bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật nên không thể bị

kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm.

2. Nếu đương sự là người khuyết tật thì sẽ được miễn nộp án phí.

Nhận định Sai.

CSPL: điểm đ khoản 1, khoản 3 Điều 12 NQ 326/2016/UBTVQH.

Theo điểm d khoản 1 điều 12 NQ 326/2016/UBTVQH14, người khuyết tật thuộc TH được miễn nộp án

phí. Tuy nhiên theo quy định tại khoản 3 Điều 12 NQ 326/2016/UBTVQH14, nếu các đương sự thỏa

nếu các đương sự thỏa thuận một bên chịu toàn bộ án phí hoặc một phần số tiền án phí phải nộp thuộc trường hợp được miễn nộp tiền án phí thì Tòa án chỉ xem xét miễn án phí đối với phần mà người thuộc trường hợp được miễn phải chịu theo quy định của Nghị quyết này. Phần án phí, lệ phí Tòa án mà người đó nhận nộp thay người khác thì không được miễn nộp.

Như vậy, nếu bên đương sự là người khuyết tật có thỏa thuận chịu toàn bộ (hoặc một phần án phí) thì

Tòa án chỉ xem xét miễn án phí với phần mà đương sự này được miễn phải chịu. Phần án phí Tòa án mà

đương sự là người khuyết tật nhận nộp thay người khác thì không được miễn nộp.

3. Khi bản án sơ thẩm bị sửa, các bên đương sự không phải chịu án phí sơ thẩm và án phí phúc thẩm.

Nhận định Sai.

CSPL: khoản 2 Điều 148 BLTTDS 2015, khoản 2 Điều 29 NQ 326 Theo quy định tại khoản 2 Điều 148 BLTTDS 2015, nếu Tòa án cấp phúc thẩm sửa bản án, quyết định sơ thẩm bị kháng cáo thì đương sự kháng cáo không phải chịu án phí phúc thẩm; Tòa án cấp phúc thẩm sẽ xác định lại nghĩa vụ chịu án phí sơ thẩm.Theo khoản 2 Điều 29 NQ 326, trường hợp Tòa án cấp phúc thẩm sửa bản án, quyết định sơ thẩm bị kháng cáo thì đương sự kháng cáo liên quan đến phần bản án, quyết định phải sửa không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm

Vậy, khi bản án sơ thẩm bị sửa, đương sự kháng cáo chỉ không phải chịu án phí phúc thẩm, Tòa án phúc thẩm phải xác định nghĩa vụ chịu án phí sơ thẩm theo quy định tại điều 147 BLTTDS 201

4. Người yêu cầu Tòa án áp dụng BPKCTT phải gửi đơn yêu cầu kèm chứng cứ để chứng minh cho sự cần thiết của việc áp dụng biện pháp này.

Nhận định Sai.

CSPL: khoản 1 Điều 133 BLTTDS 2015.

Người yêu cầu Tòa án áp dụng BPKCTT phải gửi đơn yêu cầu có các nội dung được quy định tại khoản 1 Điều này. Các nội dung bắt buộc này không bao gồm phần chứng cứ để chứng minh cho sự cần thiết của việc áp dụng BPKCTT. Người yêu cầu Tòa áp dụng BPKCTT không bắt buộc phải gửi kèm chứng cứ chứng minh cho sự cần thiết của việc áp dụng biện pháp này. Việc bắt buộc gửi kèm chứng cứ sẽ tùy thuộc vào yêu cầu áp dụng BPKCTT.

5. Trước khi mở phiên tòa, khi giải quyết khiếu nại về việc áp dụng BPKCTT, nếu nhận thấy việc áp

dụng BPKCTT không đúng, Chánh án Tòa án có quyền đồng thời ra Quyết định giải quyết khiếu nại và Quyết định hủy bỏ việc áp dụng BPKCTT.

Nhận định Sai.

CSPL: khoản 1 Điều 112, khoản 1 Điều 141 BLTTDS 2015, điểm a khoản 2 Điều 16 NQ 02/2020/NQ-HĐTP. Khoản 1 Điều 112 BLTTDS 2015 quy định: “Trước khi mở phiên tòa, việc áp dụng, thay đổi, hủy bỏ

BPKCTT do một Thẩm phán xem xét, quyết định”.

Chánh án Tòa án là người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại (khoản 1 Điều 141 BLTTDS 2015) nhưng không đề cập đến quyền Quyết định hủy bỏ việc áp dụng BPKCTT, nên Chánh án Tòa án không có quyền đồng thời ra Quyết định giải quyết khiếu nại và Quyết định hủy bỏ việc áp dụng BPKCTT. Căn cứ vào điểm a khoản 2 Điều 16 NQ 02/2020/NQ-HĐTP, nếu Thẩm phán nhận thấy việc áp dụng,

biện pháp khẩn cấp tạm thời là không đúng thì Thẩm phán ra quyết định hủy bỏ biện pháp khẩn cấp tạm thời đã được áp dụng; đồng thời báo cáo kết quả cho Chánh án Tòa án.

Trước khi mở phiên tòa, , khi giải quyết khiếu nại về việc áp dụng BPKCTT, nếu nhận thấy việc áp dụng BPKCTT không đúng, Chánh án Tòa án chỉ có quyền ra Quyết định giải quyết khiếu nại, Quyết định hủy bỏ việc áp dụng BPKCTT thuộc thẩm quyền của Thẩm phán, và Thẩm phán phải báo cáo kết quả cho Chánh án Tòa án.

Tổng hợp câu hỏi nhận định đúng sai môn luật Tố tụng dân sự

1. Người không gây thiệt hại cho nguyên đơn không thể trở thành bị

đơn.

=> Nhận định SAI. Vì việc mang tư cách bị đơn hay không không phụ thuộc vào việc

người đó có gây thiệt hại cho bị đơn trên thực tế hay không mà phụ thuộc vào việc

người đó bị nguyên đơn khởi kiện do nguyên đơn cho rằng có sự xâm phạm quyền lợi

của người đó đối với mình.

Cơ sở pháp lý: Khoản 3 Điều 68 BLTTDS 2015.

2. Bị đơn là người gây thiệt hại cho nguyên đơn và bị nguyên đơn khởi

kiện.

=> Nhận định SAI. Vì Theo khoản 3 Điều 68 quy định về đương sự trong vụ việc dân sự

thì bị đơn trong vụ án dân sự là người bị nguyên đơn khởi kiện khi cho rằng quyền và

lợi ích hợp pháp của nguyên đơn bị người đó xâm phạm, không cần đòi hỏi là phải gây

thiệt hại cho nguyên đơn.

Cơ sở pháp lý: khoản 3 Điều 68 BLTTDS 2015.

3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa phúc

thẩm thì Tòa án đình chỉ giải quyết yêu cầu của họ.

=> Nhận định SAI. Vì theo Điều 296 BLTTDS 2015 thì người có quyền lợi nghĩa vụ liên

quan đến việc kháng cáo, kháng nghị được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ nhất vắng

mặt thì hoãn phiên tòa, trường hợp họ có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt thì Tòa án tiến

hành phiên tòa phúc thẩm xét xử vắng mặt họ.

Trường họp triệu tập hợp lệ lần thứ hai, Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu

cầu độc lập vắng mặt và không có đơn đề nghị xét xử vắng mặt mà không có người đại

diện tham gia phiên tòa thì bị coi là từ bỏ yêu cầu độc lập. Lúc này Tòa án mới ra quyết

định đình chỉ giải quyết đối với yêu cầu độc lập của người đó.

Cơ sở pháp lý: Điều 296 BLTTDS 2015.

4. Người không gây thiệt hại cho nguyên đơn không thể trở thành bị

đơn.

=> Nhận định SAI. Căn cứ Điều 68 khoản 3 BLTTDS 2015 quy định về Đương sự trong

vụ việc dân sự thì Bị đơn trong vụ án dân sự là người bị nguyên đơn khởi kiện. Do đó,

chỉ cần Nguyên đơn cho rằng quyền và lợi ích của mình bị xâm phạm và khởi kiện, thì người bị nguyên đơn khởi kiện là bị đơn, kể cả Bị đơn có thể đã hoặc chưa gây thiệt cho nguyên đơn.

Cơ sở pháp lý: Điều 68 khoản 3 BLTTDS 2015.

5. Bị đơn có quyền đưa ra yêu cầu phản tố tại phiên tòa sơ thẩm.

=> Nhận định SAI. Bị đơn có quyền đưa ra yêu cầu phản tố đối với nguyên đơn theo

quy định tại Điều 72 khoản 4 BLTTDS 2015. Tuy nhiên, thời điểm Bị đơn có quyền đưa

ra yêu cầu phản tố đối với nguyên đơn là trước thời điểm mở phiên họp kiểm tra việc

giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải (Điều 200 khoản 3 BLTTDS 2015).

Do vậy, Bị đơn không có quyền đưa ra yêu cầu phản tố tại phiên tòa sơ thẩm.

Cơ sở pháp lý: Điều 200 khoản 3 BLTTDS 2015.

>>> Tham khảo:102câuhỏinhậnđínhđúngsaimônLuậtDânsự(cóđápán)

6. Tư cách tố tụng của đương sự có thể bị thay đổi tại phiên tòa sơ

thẩm.

=> Nhận định SAI. Căn cứ vào Điều 68 BLTTDS 2015 ta có: tư cách tố tụng của đương

sự được hình thành khi Tòa án thụ lý vụ án dân sự. Trong đó: Nguyên đơn trong vụ án

dân sự là người khởi kiện, cho rằng quyền và lợi ích của mình bị xâm phạm; Bị đơn là

người bị nguyên đơn khởi kiện; Người có nghĩa vụ và quyền lợi liên quan là người tuy

không khởi kiện, không bị kiện, nhưng việc giải quyết vụ án dân sự có liên quan đến

quyền lợi, nghĩa vụ của họ nên họ.

Trường hợp người khởi kiện rút toàn bộ đơn khởi kiện của mình, tuy nhiên bị đơn vẫn

giữ nguyên yêu cầu phản tố thì lúc này bị đơn trở thành nguyên đơn dân sự và ngược

lại, bên nguyên đơn trở thành bị đơn.

Cơ sở pháp lý: Điều 68, BLTTDS 2015.

7. Chỉ người gây thiệt hại cho nguyên đơn mới có thể trở thành bị đơn.

=> Nhận định SAI. Căn cứ vào quy định tại khoản 3 Điều 68 BLTTDS 2015 thì bị đơn

chỉ cần là người mà nguyên đơn khởi kiện cho rằng quyền và lợi ích hợp pháp của

nguyên đơn bị bị đơn đó xâm phạm. Tức là, không chỉ người gây thiệt hại cho nguyên

đơn mới có thể trở thành bị đơn, mà trên thực tế, mặc dù, bị đơn không gây thiệt hại

cho nguyên đơn vẫn có thể trở thành bị đơn, trong trường hợp bị đơn đó bị nguyên đơn

khởi kiện.

Cơ sở pháp lý: khoản 3 Điều 68 BLTTDS 2015.

Một người có thể đại diện cho nhiều đương sự trong vụ án dân sự.

=> Nhận định ĐÚNG. Nếu họ đang là người đại diện theo pháp luật trong tố tụng dân

sự cho một đương sự khác mà quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự đó đối lập với

quyền và lợi ích hợp pháp của người được đại diện thì họ không được làm người đại

diện. Hay nói một cách đơn giản, một người không được đại diện cho nhiều đương sự

trong cùng một vụ án dân sự khi quyền và lợi ích hợp pháp của họ đối lập nhau.

Do vậy, nếu họ đại diện cho nhiều đương sự trong cùng một vụ án dân sự mà quyền và

lợi ích hợp pháp của những người được đại diện này không đối lập với nhau thì một

người đại diện có thể đại diện cho nhiều đương sự.

Cơ sở pháp lý: Điều 87 khoản 1 điểm b BLTTDS 2015.

9. Đương sự đưa ra yêu cầu có nghĩa vụ cung cấp chứng cứ

=> Nhận định ĐÚNG. Theo nguyên tắc Điều 6 BLTTDS 2015, đương sự đưa yêu cầu

thì phải có quyền và nghĩa vụ cung cấp tài liệu chứng cứ để chứng minh yêu cầu của

mình có căn cứ và hợp pháp.

Cơ sở pháp lý: Điều 6 BLTTDS 2015.

10. Quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự có thể bị

kháng nghị giám đốc thẩm.

=> Nhận định ĐÚNG. Căn cứ Điều 213 khoản 2 BLTTDS 2015 thì: Quyết định công

nhận sự thỏa thuận của các đương sự chỉ có thể bị kháng nghị theo thủ tục giám đốc

thẩm nếu có căn cứ cho rằng sự thỏa thuận đó là do bị nhầm lẫn, lừa dối, đe dọa,

cưỡng ép hoặc vi phạm điều cấm của luật, trái đạo đức xã hội.

Do vậy, quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự có thể bị kháng nghị

giám đốc thẩm.

Cơ sở pháp lý: Điều 213 khoản 2 BLTTDS 2015.

11. Ở giai đoạn sơ thẩm, khi công nhận sự thỏa thuận hợp pháp của các

đương sự, Tòa án phải ra ngay quyết định công nhận sự thỏa thuận của

các đương sự.

=> Nhận định SAI. Ở giai đoạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm (giai đoạn sơ thẩm), sau khi

công nhận sự thỏa thuận hợp pháp của các đương sự, Tòa án không ra ngay quyết

định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự. Mà phải hết thời hạn 7 ngày kể từ

ngày biên bản hòa giải thành mà không có đương sự nào thay đổi ý kiến về sự thỏa

thuận đó thì Tòa án mới ra quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự.

Cơ sở pháp lý: Điểm 1 khoản 1 Điều 212 BLTTDS 2015.

12. Thời điểm bắt đầu tính thời hạn kháng cáo của bản án sơ thẩm là

ngày Tòa án tuyên án đối với đương sự có mặt tại phiên tòa

=> Nhận định SAI. Căn cứ vào quy định tại khoản 1 Điều 100 BLTTDS 2015 thì theo

yêu cầu của đương sự hoặc khi xét thấy có mâu thuẫn trong lời khai của các đương

sự, người làm chứng, Thẩm phán tiến hành đối chất giữa các đương sự với nhau, giữa

đương sự với người làm chứng hoặc giữa các người làm chứng với nhau. Nói cách

khác, nếu không có yêu cầu của đương sự hoặc không thấy có mâu thuẫn trong lời

khai của các đương sự, người làm chứng thì Thẩm phán không tiến hành đối chất. Do

đó, Đối chất không là thủ tục bắt buộc trong tố tụng dân sự.

Cơ sở pháp lý: khoản 1 Điều 100 BLTTDS 2015

17. Nếu nguyên đơn chết Tòa án ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án.

=> Nhận định SAI. Không phải trong mọi trường hợp khi nguyên đơn chết Tòa án đều

ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự. Trường hợp, nguyên đơn chết mà chưa

tìm thấy người thừa kế quyền và nghĩa vụ tố tụng của nguyên đơn thì Tòa án ra quyết

định tạm đình chỉ giải quyết vụ án dân sự theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 214

BLTTDS 2015. Trường hợp, nguyên đơn chết mà đã tìm thấy người thừa kế quyền và

nghĩa vụ tố tụng của nguyên đơn thì Tòa án tiếp tục giải quyết vụ án dân sự. Trường

hợp, nguyên đơn chết mà không có người thừa kế quyền và nghĩa vụ tố tụng của

nguyên đơn thì khi đó Tòa án mới ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự theo

quy định tại điểm a khoản 1 Điều 217 BLTTDS 2015.

Do đó, Nếu nguyên đơn chết, không phải trong mọi trường hợp, Tòa án đều ra quyết

định đình chỉ giải quyết vụ án.

Cơ sở pháp lý: điểm a khoản 1 Điều 214 BLTTDS 2015, điểm a khoản 1 Điều 217

BLTTDS 2015.

18. Thẩm phán tuyệt đối không được tham gia xét xử hai lần một vụ án.

=> Nhận định SAI. Căn cứ vào quy định tại khoản 3 Điều 53 BLTTDS 2015 thì trường

hợp Thẩm phán đã tham gia xét xử vụ án dân sự nhưng chưa ra được bản án hoặc

Thẩm phán đó là thành viên của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, Ủy ban

Thẩm phán Tòa án nhân dân cấp cao thì Thẩm phán đó vẫn có thể tham gia xét xử lần

thứ hai đối với cùng một vụ án dân sự.

Do đó, Thẩm phán có thể tham gia xét xử hai lần trong cùng một vụ án.

Cơ sở pháp lý: khoản 3 Điều 53 BLTTDS 2015

19. Khi đương sự có yêu cầu chính đáng, Viện kiểm sát phải thu thập

chứng cứ thay đương sự.

=> Nhận định SAI. Theo nguyên tắc tại Điều 6 và khoản 7 Điều 70 BLTTDS 2015 thì

đương sự có quyền và nghĩa vụ thu thập tài liệu chứng cứ để chứng minh cho yêu cầu

của mình là có căn cứ hợp lý, đối với tài liệu chứng cứ không thể thu thập được, có

quyền đề nghị Tòa án thu thập những tài liệu, chứng cứ đó. Đương sự không có quyền

=> Nhận định ĐÚNG. Vì người có quyền và nghĩa vụ liên quan tham gia tố tụng thông

qua 3 con đường: tự mình đề nghị, đương sự khác đề nghị và Tòa án đưa vào.

Cơ sở pháp lý: Khoản 4 Điều 68 BLTTDS 2015.

30. Vụ án lao động có đương sự ở nước ngoài luôn thuộc thẩm quyền

giải quyết của Tòa cấp tỉnh.

=> Nhận định ĐÚNG. Cơ sở pháp lý: Điểm c khoản 1 Điều 37 BLTTDS 2015.

31. Đương sự có quyền giao nộp chứng cứ tại phiên tòa sơ thẩm, phúc

thẩm.

=> Nhận định SAI. Theo quy định tại khoản 4 Điều 96 thì thời hạn đương sự có quyền

giao nộp tài liệu chứng cứ do Thẩm phán được phân công giải quyết vụ việc ấn định

nhưng không được vượt quá thời hạn chuẩn bị xét xử theo thủ tục sơ thẩm. Do đó, về

nguyên tắc đương sự không có quyền nộp chứng cứ tại phiên tòa sơ thẩm, phúc thẩm

do thời điểm này đã vượt quá thời hạn chuẩn bị xét xử. Trường hợp tại phiên tòa sơ

thẩm mà đương sự mới giao nộp chứng cứ thì phải chứng minh được lý do chính đáng

của việc chậm giao nộp chứng cứ đó. Chỉ những tài liệu, chứng cứ mà trước đó Tòa án

không yêu cầu đương sự giao nộp hoặc tài liệu, chứng cứ mà đương sự không thể biết

được trong quá trình giải quyết vụ việc theo thủ tục sơ thẩm thì đương sự có quyền

giao nộp, trình bày tại phiên tòa sơ thẩm, phiên họp giải quyết việc dân sự hoặc các

giai đoạn tố tụng tiếp theo của việc giải quyết vụ việc dân sự.

Cơ sở pháp lý: Điều 96 khoản 4 BLTTDS 2015.

32. Chỉ có Tòa án mới có quyền trưng cầu giám định.

=> Nhận định SAI. Vì căn cứ theo quy định tại khoản 1 Điều 102 BLTTDS 2015 thì

ngoài Tòa án, đương sự cũng có quyền tự mình yêu cầu giám định, trong trường hợp

khi họ đã đề nghị Tòa án trưng cầu giám định, nhưng Tòa án từ chối yêu cầu của họ.

Cơ sở pháp lý: khoản 1 Điều 102 BLTTDS 2015.

33. Tòa án cấp phúc thẩm có quyền xét xử lại toàn bộ vụ án đã xét xử ở

Tòa án cấp sơ thẩm.

=> Nhận định SAI. Phạm vi xét xử phúc thẩm là Tòa án cấp phúc thẩm chỉ xem xét lại

phần của bản án sơ thẩm, quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm có kháng cáo, kháng

nghị hoặc có liên quan đến việc xem xét nội dung kháng cáo, kháng nghị. Vì vậy Tòa án

cấp thẩm không có quyền xét xử lại toàn bộ vụ án đã xét xử ở Tòa án cấp phúc thẩm

nếu kháng cáo, kháng nghị chỉ kháng cáo, kháng nghị một phần Bản án, quyết định của

Tòa án sơ thẩm.

Cơ sở pháp lý: Điều 293 BLTTDS 2015.

34. Thư ký có nhiệm vụ lấy lời khai của đương sự.

=> Nhận định SAI. Căn cứ theo quy định tại Điều 51 quy định về Nhiệm vụ, quyền hạn

của Thư ký Tòa án thì Thư ký tòa án không có nhiệm vụ lấy lời khai của đương sự. Thư

ký tòa án chỉ có nhiệm vụ ghi biên bản lấy lời khai đương sự theo quy định tại khoản 4

Điều 51 BLTTDS 2015.

Cơ sở pháp lý: khoản 4 Điều 51 BLTTDS 2015.

35. Người đại diện theo ủy quyền của đương sự không có quyền kháng

cáo thay đương sự.

=> Nhận định SAI. Theo quy định tại Điều 86 quy định về Quyền và nghĩa vụ của người

đại diện và Điều 271 quy định về Quyền của người kháng cáo thì người đại diện theo

ủy quyền của đương sự vẫn có quyền kháng cáo trong trường hợp trong nội dung văn

bản ủy quyền, đương sự có ủy quyền cho người đại diện theo ủy quyền cho mình có quyền kháng cáo.

Cơ sở pháp lý: Điều 86, Điều 271 BLTTDS 2015.

36. Thư ký Tòa án có quyền chủ trì phiên hòa giải tại Tòa án.

=> Nhận định SAI. Bởi vì:

Thứnhất: căn cứ vào nhiệm vụ và quyền hạn của Thư ký Tòa án và Thẩm phán ta

thấy:

Trong tất cả các quy định tại Điều 51 BLTTDS 2015 về nhiệm vụ và quyền hạn của Thư

ký Tòa án thì Thư ký Tòa không có quyền chủ trì phiên hòa giải. Bên cạnh đó, căn cứ vào Điều 48 BLTTDS 2015 quy địnhvề nhiệm vụ và quyền hạn của Thẩm phán thì tại khoản 10 có quy định về thẩm quyền Chủ tọa hoặc tham gia xét xử vụ án dân sự, giải quyết việc dân sự của Thẩm phán.

Thứhai: Căn cứ vào khoản 1 Điều 209 BLTTDS 2015 quy định về Thành phần tham gia

phiên họp hòa giải thì Thẩm phán là người chủ trì phiên họp và Thư ký Tòa án chỉ là

người ghi biên bản phiên họp.

Căn cứ Điều 210 BLTTDS 2015 thì Thẩm phán là người chủ trì phiên họp, là người

công bố tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, tiến hành thủ tục hỏi đương sự,… và

tiến hành hòa giải. Cuối cùng thẩm phán kết luận về những vấn đề các đương sự đã thống nhất, chưa thống nhất. Do đó, Thư ký Tòa án không có quyền chủ trì phiên hòa giải tại Tòa án.

Cơ sở pháp lý: Điều 48, Điều 51, khoản 1 Điều 209, Điều 210 BLTTDS 2015.

37. Nếu người kháng cáo vắng mặt tại phiên tòa phúc thẩm thì Hội đồng

xét xử đình chỉ xét xử phúc thẩm.

=> Nhận định SAI. Căn cứ theo quy định tại Điều 296 BLTTDS 2015, Tòa án triệu tập

hợp lệ lần thứ nhất: Nếu người kháng cáo vắng mặt tại phiên tòa phúc thẩm và không

có đơn đề nghị xét xử vắng mặt thì Hội đồng xét xử hoãn phiên tòa xét xử phúc thẩm.

Trường hợp, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt thì Hội đồng xét xử không đình chỉ xét xử

phúc thẩm mà tiến hành xét xử vắng mặt họ.

Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai: Nếu người kháng cáo vắng mặt tại phiên tòa phúc

thẩm và không có đơn đề nghị xét xử vắng mặt thì được coi là từ bỏ việc kháng cáo.

Tòa án đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với yêu cầu kháng cáo của người đó. Trường

hợp, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt thì Hội đồng xét xử không đình chỉ xét xử phúc

thẩm mà tiến hành xét xử vắng mặt họ.

Do đó, không phải mọi trường hợp, nếu người kháng cáo vắng mặt tại phiên tòa phúc

thẩm thì Hội đồng xét xử đình chỉ xét xử phúc thẩm.

Cơ sở pháp lý: Điều 296 BLTTDS 2015.

38. Bản án, quyết định bị kháng nghị giám đốc thẩm được tạm đình chỉ

thi hành án cho đến khi có quyết định giám đốc thẩm.

=> Nhận định SAI. Vì theo quy định tại Điều 332 BLTTDS 2015, trường hợp người có

thẩm quyền kháng nghị bản án, quyết định giám đốc thẩm của Tòa án như: Chánh án

tòa án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao thì có quyền yêu

cầu hoãn thi hành bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật để xem xét việc kháng nghị

theo thủ tục giám đốc thẩm.

Trường hợp người đã kháng nghị như Chánh án Tòa án nhân dân cấp cao có quyền

quyết định tạm đình chỉ thi hành bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật cho đến khi có

quyết định giám đốc thẩm.

Cơ sở pháp lý: Điều 332 BLTTDS 2015.

39. Đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa xét xử vụ việc dân sự đưa

ra quan điểm làm căn cứ để Hội đồng xét xử giải quyết.

=> Nhận định SAI. Vì Căn cứ theo quy định tại khoản 2 Điều 21 quy định về Kiểm sát

việc tuân theo pháp luật trong tố tụng dân sự và khoản 4, 6 Điều 58 quy định về Nhiệm

vụ quyền hạn của Kiểm sát và Điều 262 về việc Phát biểu Kiểm sát viên được quy định

trong BLTTDS 2015. Theo đó, Kiểm sát viên tham gia phiên tòa sơ thẩm đối với những

vụ án bắt buộc có sự tham gia của đại diện viện kiểm sát như đương sự là người chưa

thành niên, mất năng lực hành vi dân sự. Và đại diện Viện kiểm sát khi tham gia phiên

tòa có quyền phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của thẩm phán và giải

quyết vụ việc theo quy định của Bộ luật này, tuy nhiên ý kiến này không phải làm căn

cứ để Hội đồng xét xử giải quyết

cơ sở pháp lý: khoản 2 Điều 21, khoản 4, 6 Điều 58, Điều 262 BLTTDS 2015.

40. Việc thay đổi người tiến hành tố tụng do Thẩm phán quyết định.

=> Nhận định SAI. Theo điểm c khoản 1 Điều 47 BLTTDS 2015, trước khi mở phiên

Tòa, việc thay đổi người tiến hành tố tụng như Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân, Thư ký

Tòa án thuộc thẩm quyền của Chánh án Tòa án. Còn tại phiên tòa, quy định tại khoản 2

Điều 235 BLTTDS 2015, thì quyết định thay đổi người tiến hành tố tụng thuộc thẩm

quyền của Hội đồng xét xử.

Cơ sở pháp lý: điểm c khoản 1 Điều 47, khoản 2 Điều 235 BLTTDS 2015.

41. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp bắt buộc phải tham gia tất

cả phiên tòa dân sự.

=> Nhận định SAI. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp không bắt buộc phải

tham gia tất cả phiên tòa dân sự.

Ở phiên tòa sơ thẩm: Đại diện Viện kiểm sát chỉ tham gia các phiên họp sơ thẩm đối

với các việc dân sự; phiên tòa sơ thẩm đối với những vụ án do Tòa án tiến hành thu

thập chứng cứ hoặc đối tượng tranh chấp là tài sản công, lợi ích công cộng, quyền sử

dụng đất, nhà ở hoặc có đương sự là người chưa thành niên, người mất năng lực hành

vi dân sự, người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận

thức, làm chủ hành vi hoặc trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 4 BLTTDS 2015.

Cơ sở pháp lý: Điều 21 khoản 2 BLTTDS 2015

42. Vụ việc dân sự có đương sự ở nước ngoài thuộc thẩm quyền giải

quyết của Tòa án cấp tỉnh.

=> Nhận định SAI. Về nguyên tắc vụ việc dân sự có đương sự ở nước ngoài thuộc

thẩm quyền giải quyết của Tòa án cấp tỉnh. Tuy nhiên, căn cứ theo quy định tại khoản 4

Điều 35 BLTTDS 2015 thì vụ việc có dân sự ở nước ngoài trong trường hợp giải quyết

các vấn đề về việc ly hôn, tranh chấp về quyền và nghĩa vụ vợ chồng,.. giữa công dân

việc Việt Nam cư trú ở khu vực biên giới với công dân nước láng giềng thuộc thẩm

quyền của Tòa án nhân dân cấp huyện.

Cơ sở pháp lý: khoản 4 Điều 35 BLTTDS 2015.

43. Tòa án chỉ thụ lý vụ án khi đương sự đã nộp tạm ứng án phí.

=> Nhận định SAI. Tòa án không chỉ thụ lý vụ án khi đương sự đã nộp tạm ứng án phí

mà Tòa án có thể thể thụ lý vụ án ngay cả khi đương sự không nộp tạm ứng án phí

trong trường hợp người khởi kiện thuộc trường hợp được miễn hoặc không phải nộp

tiền tạm ứng án phí theo quy định tại khoản 4 Điều 195 BLTTDS 2015. Khi đó, mặc dù

người khởi kiện không nộp tạm ứng án phí, Thẩm phán (Tòa án) vẫn phải thụ lý vụ án

khi nhận được đơn khởi kiện và tài liệu, chứng cứ kèm theo

44. Chi phí giám định do người yêu cầu giám định chịu.

=> Nhận định SAI. Căn cứ vào quy định tại Điều 161 BLTTDS 2015 trong trường hợp

các bên không có thỏa thuận, pháp luật không có quy định khác thì người giám định chỉ

chịu chi phí giám định trong trường hợp kết quả giám định chứng minh yêu cầu của họ

là không có căn cứ. Trong trường hợp kết quả giám định chứng minh yêu cầu của họ

chỉ có căn cứ một phần thì họ phải nộp chi phí giám định đối với phần yêu cầu của họ

đã được chứng minh là không có căn cứ. Nếu kết quả giám định chứng minh yêu cầu

của họ là có căn cứ thì học không phải chịu chi phí giám định.

Cơ sở pháp lý: Điều 161 BLTTDS 2015