Tài liệu vận dụng triết học | Học viện Báo chí và Tuyên truyền

Vận dụng mối quan hệ giữa vật chất và ý thức trong cuộc sống. Vận dụng cặp phạm trù nguyên nhân và kết quả để nói lên thực trạng của vấn đề tắc nghẽn giao  thông thủ đô Hà Nội. Vận dụng thực tiễn cặp phạm trù bản chất và hiện tượng. Tài liệu giúp bạn tham khảo, ôn tập và đạt kết quả cao. Mời đọc đón xem!

Thông tin:
29 trang 19 giờ trước

Bình luận

Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để gửi bình luận.

Tài liệu vận dụng triết học | Học viện Báo chí và Tuyên truyền

Vận dụng mối quan hệ giữa vật chất và ý thức trong cuộc sống. Vận dụng cặp phạm trù nguyên nhân và kết quả để nói lên thực trạng của vấn đề tắc nghẽn giao  thông thủ đô Hà Nội. Vận dụng thực tiễn cặp phạm trù bản chất và hiện tượng. Tài liệu giúp bạn tham khảo, ôn tập và đạt kết quả cao. Mời đọc đón xem!

5 3 lượt tải Tải xuống
1
1. Vận dụng mối quan hệ giữa vật chất và ý thức trong cuộc sống 2
a. Trong kinh tế và chính trị 2
b. Trong việc xây dựng nền kinh tế mới 2
3. Cái chung và cái riêng 5
4. Vận dụng cặp phạm trù nguyên nhân kết quả để nói lên thực trạng của vấn đề tắc
nghẽn giao thông thủ đô Hà Nội. 5
a. Một số nguyên nhân cơ bản dẫn đến tắc nghẽn giao thông. 5
b. Hậu quả của việc tắc nghẽn giao thông: 6
c. Một số giải pháp và kiến nghị. 6
5. Nội dung và hình thức 8
6. Nội dung ý nghĩa phương pháp luận của cặp phạm trù tất nhiên ngẫu nhiên qua 1
ví dụ trong lĩnh vực xã hội: 8
a. Khái niệm của phạm trù tất nhiên và ngẫu nhiên 9
b. Quan hệ biện chứng giữa tất nhiên và ngẫu nhiên trong ví dụ 9
c. Ý nghĩa của phương pháp luận trong tư duy và thực tiễn 11
d. Phương pháp dự phòng để đáp ứng những thay đổi bất ngờ có thể xảy ra 12
7. Vận dụng thực tiễn cặp phạm trù bản chất và hiện tượng 12
8. Ứng dụng quy luật lượng chất trong quá trình học tập rèn luyện của học sinh, sinh
viên 13
9. Ví dụ về quy luật thống nhất và đấu tranh giữa các mặt đối lập 13
10. Vận dụng quy luật thống nhất và đấu tranh giữa các mặt đối lập vào đời sống thực tiễn
hiện nay 14
Bài số 1: Kinh tế thị trường và mâu thuẫn biện chứng trong nền kinh tế thị trường ở Việt
Nam 14
1. Khái quát chung về kinh tế thị trường (KTTT): 14
2. Kinh tế thị trường theo định hướng XHCN ở Việt Nam. 15
3. Những mâu thuẫn phát sinh trong quá trình chuyển sang kinh tế thị trường Việt
Nam. 20
4. Kết luận 28
11. Vận dụng quy luật phủ định của phủ định vào học tập 31
12. Vận dụng vai trò của thực tiễn đối với nhận thức vào quá trình đổi mới ở Việt Nam 32
1. Bước chuyển thứ nhất: 33
2. Bước chuyển thứ hai: 33
3. Bước chuyển thứ ba:
4. Bước chuyển thứ tư:
5. Bước chuyển thứ năm:
6. Từ lý luận về vai trò của thực tiễn đối với nhận thức của Chủ nghĩa Mác - Lê-nin
7. Đến quan điểm “Học đi đôi với hành” của Chủ tịch Hồ Chí Minh
13. Sự vận dụng của Đảng ta trong công cuộc đổi mới ở Việt Nam: 35
a. Những sai lầm về quy luật quan hệ sản xuất – lực lượng sản xuất trước kia
b. Sự hình thành phát triển nền kinh tế nhiều thành phần trong giai đoạn hiện nay
nước ta
c. Công nghiệp hóa vận dụng tuyệt vời quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với tính chất
và trình độ phát triển của lực lượng sản xuất trong sự nghiệp đổi mới ở nước ta hiện nay
14. Tìm hiểu kiến trúc thượng tầng ở Việt Nam hiện nay 38
a. Hành động, tư tưởng dựa trên chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh
b. Chủ trương xây dựng nhà nước do dân và vì dân
15. Cuộc đấu tranh giai cấp của giai cấp vô sản trong điều kiện hiện nay 38
a. Về điều kiện hiện nay của đấu tranh giai cấp
b. Về nhận định về tình hình hiện nay của Đảng Cộng sản Việt Nam (Đại hội IX).
c. Đặc điểm giai cấp đấu tranh giai cấp trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa hội
Việt Nam
16. Về quan niệm, bản chất, giá trị, đặc trưng của Nhà nước pháp quyền hội chủ nghĩa
Việt Nam 39
a. Về quan niệm và bản chất của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam
b. Về giá trị của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam
c. Về đặc trưng của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam
17. Cách mạng xã hội 42
a. Điều kiện khách quan
b. Nhân tố chủ quan
c. Mối quan hệ giữa điều kiện khách quan và nhân tố chủ quan
18. Việc tìm hiểu nhận thức sâu sắc, hệ thống những quan niệm của triết học Mác -
Lênin về ý thức xã hội có ý nghĩa rất lớn đối với quá trình xây dựng ý thức xã hội mới Việt
Nam hiện nay 43
2
19. Vận dụng tính độc lập tương đối của ý thức xã hội: 45
1. Báo: 45
2. SV: 45
20. Tìm hiểu luận điểm của C.Mác về bản chất con người và ý nghĩa trong phát huy nguồn
lực con người Việt Nam hiện nay 46
1. Vận dụng mối quan hệ giữa vật chất và ý thức trong cuộc sống
a. Trong kinh tế và chính trị
Vận dụng của ĐCS Việt Nam vào sự nghiệp đổi mới – Từ lý luận của chủ nghĩa Mác – Lê
nin, kinh nghiệm những thành công thất bại trong quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng
Cộng sản Việt Nam đã rút ra bài học kinh nghiệm quan trọng đó “Mọi đường lối, chủ
trương của Đảng phải xuất phát từ thực tế, tôn trọng quy luật khách quan”.
b. Trong việc xây dựng nền kinh tế mới
Hiện nay, người dân hiểu và tiếp thu những nghiên cứu, đúc kết từ phân tích của nhà khoa
học, nhà triết học vào thực tiễn cuộc sống. Sau đó áp dụng mối quan hệ giữa vật chất và ý
thức. sở để con người phản ứng với thực tại vật chất thông qua những nhận thức
cụ thể. những thứ tồn tại trong thực tế cuộc sống cần phải sự cải tạo của con người
mới có ích cho nhiều việc.
Từ sự hiện diện của vật chất trên thế giới này, con người nhận thức đúng, thậm chí thay đổi
tác động trở lại một cách sáng tạo. Làm cho vật chất đó sinh ra các vật thể, đồ vật, sinh
vật, thực vật, …. đa dạng hơn hoặc nếu chủ thể coi đó là vật có hại thì sẽ tìm cách kìm hãm
sự phát triển của nó và loại bỏ nó khỏi thế giới loài người.
Đất nước ta đang bước vào thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, Đảng ta chủ
trương: “huy động ngày càng cao mọi nguồn lực cả trong và ngoài nước, đặc biệt là nguồn
lực của dân và công cuộc phát triển đất nước”, muốn vậy phải “nâng cao năng lực lãnh đạo
và sức chiến đấu của Đảng phát huy sức mạnh toàn dân tộc, đẩy mạnh toàn diện công cuộc
đổi mới, sớm đưa nước ta ra khỏi tình trạng kém phát triển, thực hiện “dân giàu, nước
mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”
2. Vận dụng nguyên lý Mối liên hệ phổ biến
Với cách những nguyên tắc phương pháp luận, quan điểm toàn diện, quan điểm lịch
sử - cụ thể góp phần định hướng, chỉ đạo hoạt động nhận thức hoạt động thực tiễn cải
tạo hiện thực, cải tạo chính bản thân chúng ta. Song để thực hiện được chúng, mỗi chúng ta
cần nắm chắc cơ sở lý luận của chúng - nguyên lý về mối liên hệ phổ biến và nguyên lý về
sự phát triển, biết vận dụng chúng một cách sáng tạo trong hoạt động của mình. Đối với
sinh viên, ngay từ khi còn ngồi trên ghế nhà trường, vẫn thể sử dụng các nguyên tắc
phương pháp luận đó vào việc thực hiện nhiệm vụ chính trị của mình góp phần xây dựng
đất nước ngày càng phồn vinh, xã hội ta ngày càng tươi đẹp.
Chúng ta có thể áp dụng những quan điểm này trong cuộc sống
Chúng ta hiện nay đều những tân sinh viên, khi mới nhập học hầu như không quen
biết nhau. Khi nhìn thấy 1 bạn nào đấy , chắc chắn chúng ta đều những ấn tượng đầu
tiên về ngoại hình , tính cách của bạn đó. Nhưng nếu chỉ qua 1 vài lần gặp mặt mà chúng ta
đã đánh giá bạn người xấu hoặc tốt , dễ tính hay khó tính. Cách đánh giá như vậy
phiến diện , chủ quan trái với quan điểm toàn diện.Điều thể làm cho chúng ta có những
quyết định sai lầm . Chẳng hạn như khi nhìn thấy một người có gương mặt ưa nhìn , ăn nói
nhỏ nhẹ đã vội vàng kết luận là người tốt và muốn làm bạn , còn khi nhìn thấy một người ít
nói , không hay cười thì cho khó tính không muốn kết bạn. Qua một thời gian kết bạn
mới nhận ra người bạn mà mình chọn có những đức tính không tốt như lợi dụng bạn bè, ích
kỷ. Còn người bạn ít nói kia thực ra rất tốt bụng , hay giúp đỡ bạn bè. Ấn tượng đầu tiên
chỉ quyết định đến quá trình giao tiếp về sau. Quan điểm toàn diện dạy cho ta biết rằng khi
xem xét, đánh giá một sự vật, hiện tượng phải xem xét đánh giá một cách toàn diện , mọi
mặt của vấn đề để hiểu được bản chất thật sự của sự vật hiện tượng. Chúng ta không thể chỉ
nhìn bề ngoài mà phán xét về phẩm chất, đạo đức của người đó.Vẻ bề ngoài không nói lên
được tất cả , có thể bạn đó có gương mặt lạnh lùng nhưng tính bạn rất cởi mở, hòa đồng, dễ
gần. vậy muốn đánh giá 1 con người cần phải thời gian tiếp xúc lâu dài , nhìn nhận
họ trên mọi phương diện , ở từng thời điểm ,từng hoàn cảnh khác nhau.
Trong quan hệ giữa con người với con người, chúng ta phải biết ứng xử sao cho phù hợp
với từng con người. Đối với những người bề trên như ông ,bà ,bố ,mẹ, thầy cô… thì chúng
ta cần có thái độ xử lễ phép, tôn trọng họ. Đối với bạn thì có những hành động , thái
độ thoải mái,tự nhiên .Ngay cả quan hệ với một con người nhất định những không gian
khác nhau hoặc thời gian khác nhau, chúng ta cũng phải cách giao tiếp, cách quan hệ
phù hợp như ông cha đã kết luận: “đối nhân xử thế”. Ví dụ như khi xưa anh ta là người xấu
,tính cách không tốt hay vụ lợi không nên giao tiếp chơi thân, nhưng hiện nay anh ta đã sửa
đổi tính cách tốt hơn biết quan tâm mọi người không như xưa , chúng ta cần nhìn nhận anh
ta khác đi , có thể cư xử khác trước, có thể giao tiếp , kết bạn với anh ta.
Hay khi xem xét nguyên nhân của một vấn đề nào đó để giải quyết, chúng ta cần xem xét
chúng trong các mối liên hệ để xem nguyên nhân từ đâu để cách giải quyết, xử tốt .
Khi ta học kém đi , điểm số giảm cần tìm nguyên nhân do đâu khiến ta như vậy. Do lười
học, không hiểu bài, không làm bài tập hay không thời gian học. Nếu tìm được nguyên
nhân cụ thể, chủ yếu , thì sẽ tìm được cách giải quyết đúng đắn.
Chúng ta có thể áp dụng những quan điểm này trong việc học tập:
Trong học tập bao giờ cũng xác định mục tiêu, động cơ, thái độ đúng đắn thì mới kết
quả cao hơn. Việc vận dụng quan điểm toàn diện lịch sử cụ thể trong học tập sẽ giúp
định hướng học tập sâu hơn cao hơn, quan điểm toàn diện và lịch sử cụ thể thế giới
quan của mỗi con người.
3
Để vận dụng quan điểm trên chúng ta cần phân tích, xem xét các mặt của việc học một
cách cụ thể, toàn diện, phù hợp với từng thời điểm :
- Học tập suốt đời, học bằng cái gì: bằng mắt, bằng tai, bằng tay, bằng da, bằng mũi,
bằng miệng, học cái gì trước, cái gì sau, học cái gì để biết, cái gì để làm, học để tồn tại, học
để chung sống với con người, với vạn vật, với muôn loài...
- Người học phải biết khiêm tốn, học phải hỏi, học ở mọi người.
- Nhiều thứ con người muốn học, nhưng muốn hiểu kỷ sâu sắc thì phải tốn nhiều thời
gian, kiên trì, kiên nhẫn. dụ như người trồng lúa: học biết các giống lúa, loại nào phù
hợp vùng đất nào, thời tiết nào, những điều kiện cách chăm bón đúng cách để đạt năng
suất, khi phát hiện có sâu rầy phải giải quyết thế nào...
- Học phải gắn với hành thì việc học kết quả nhanh hơn. Người xưa vẫn dạy rằng:
“Trăm hay không bằng tay quen”. Lao động thời nào cũng vậy, phải luôn ý thực là lí thuyết
hay cũng không bằng thực hành giỏi. Vai trò của thực hành được đề cao là điều hiển nhiên.
Ngày nay với đà phát triển của hội, quan niệm thuyết thực hành được hiểu khác
hơn, học hành lúc nào cũng đi đôi, không thể tách rời nhau. Trước hết ta cần hiểu :
“học” là tiếp thu kiến thức đã được tích luỹ trong sách vở, là nắm vững lí luận đã được đúc
kết trong các bộ môn khoa học, đồng thời tếp nhận những kinh nghiệm của cha anh đi
trước. “Học” là trau dồi kiến thức, mở mang trí tuệ, từng lúc cập nhật hóa sự hiểu biết của
mình, không để tụt lùi, lạc hậu. “Học” tìm hiểu, khám phá những tri thức của loài người
nhằm chinh phục thiên nhiên, chinh phục trụ. Còn “hành” nghĩa là làm, thực hành,
ứng dụng kiến thức, lí thuyết vào thực tiễn đời sống. Cho nên học và hành mối quan hệ
rất chặt chẽ với nhau. Học hành hai mặt của một qua trình thống nhất, không thể
tách rời mà phải luôn gắn chặt với nhau làm một.
Chúng ta cần hiểu rõ “hành” vừa là mục đích vừa là phương pháp học tập. Một khi đã nắm
vững kiến thức, đã tiếp thu thuyết ta không vận dụng vào thực tiễn, thì học cũng trở
nên vô ích. Có nhiều bạn trẻ khi rời ghế nhà trường vào một nhà máy, một cơ quan… Lúng
túng không biết phải làm công việc chuyên môn mình đã được học như thế nào? Dẫn
đến gặp rất nhiều khó khăn, nhiều khi sự hoang mang, chán nản. Nguyên do dẫn đến
việc “học” không “hành” được do học không thấu đáo, khi còn ngồi trên ghế nhà
trường không thật sự chuyên tâm, rèn luyện, trau dồi kiến thức hoặc thiếu môi trường hoạt
động.
Ngược lại nếu hành mà không có lí luận, lí thuyết soi sáng và kinh nghiệm đã được đúc kết
dẫn dắt thì việc ứng dụng vào thực tiễn sẽ lúng túng, gặp rất nhiều khó khăn trở ngại, thậm
chí có khi còn dẫn đến những sai lầm to lớn nữa. Do vậy việc học tập, trau dồi kiến thức và
kinh nghiệm là nền tảng để mỗi người áp dụng vào thực tế, thực hành trong thực tiễn cuộc
sống.
Một thực tế cho thấy, sự thiếu liên hệ giữa kiến thức với thực tiễn các trường phổ thông
đã khiến các sinh viên tương lai không biết nên lựa chọn ngành học nào trước mùa thi. Đa
số các em không biết sử dụng những kiến thức đã được học vào việc ngoài việc để... thi
đỗ đại học
Hậu quả sâu xa hơn của việc “học” không đi đôi với “hành” là có nhiều học sinh, sinh viên
đạt kết quả học tập rất cao nhưng vẫn ngơ ngác khi bước vào cuộc sống, nhiều thủ khoa sau
khi ra trường, va vấp cuộc sống mới tự hỏi: “Không biết việc chọn trường chọn ngành của
mình đã đúng hay chưa?”. Nhất khi hội đang cần những người tay nghề cao phục
vụ cho công cuộc công nghiệp hoá - hiện đại hoá thì việc “Học đi đôi với hành” càng trở
nên quan trọng hơn bao giờ hết.
- Tuy nhiên, nếu chỉ chăm vào học tập thôi thì chưa đủ, chúng ta cần phải rèn luyện cả về
phẩm chất, đạo đức như Bác đã từng dạy “Có tài không đức người dụng,
đức không tài thì làm việc cũng khó” Tài đức là những phẩm chất khác nhau
nhưng luôn luôn gắn mật thiết không thể tách rời. tài không đức người
dụng, bởi tài năng đó không phục vụ cái chung mà chỉ mưu cầu lợi ích cho một cá nhân thì
cũng trở thành giá trị. Con người ta không thể sống một mình, không thể tách rời khỏi
gia đình, bạn bè, đồng nghiệp, nhân dân, nhân loại. Giá trị một con người được xem xét
chính bởi tác dụng của cá nhân đó trong mối quan hệ với đồng loại. Người không có đức là
người không quan tâm đến quyền lợi của người khác. Nếu có tài, họ cũng chỉ vun vén để
lợi cho riêng họ. Người có tài phản bội Tổ quốc, đi ngược lại lợi ích của tập thể thì
chẳng những dụng còn tội. Người càng tài kém đạo đức thì tác hại mang
đến cho gia đình, xã hội càng lớn.
Nhưng nếu chỉ đức không tài thì làm việc cũng khó. đức, khát vọng
hành động lợi ích của mọi người nhưng không kiến thức, năng lực kém thì những ý
định tốt cũng khó trở thành hiện thực. Tài năng giúp con người lao động có hiệu quả. Thiếu
tài năng, người ta trở nên ít tác dụng trong đời sống con người. ràng giá trị con
người phải bao gồm cả tài đức. Đức tài bổ sung, hỗ trợ cho nhau thì con người mới
trở nên toàn diện, mới đạt hiệu quả lao động cao và mới có ích cho mọi người.
Chúng ta hiện nay đang những sinh viên, là những người đang trong quá trình phát triển
về mọi mặt cả về thể lực trí lực, tri thức trí tuệ nhân cách... cho nên thời này phải
tranh thủ điều kiện để hoàn thiện bản thân, phải rèn luyện cả phẩm chất, năng lực, cả đức
cả tài, học hỏi bạn bè, gia đình, nhà trường và xã hội để trở thành con người mới xã hội chủ
nghĩa nhằm đáp ứng nhu cầu của hội hiện nay làm nền tảng cho sự phát triển tiếp tục
trong tương lai.
3. Cái chung và cái riêng
Chủ nghĩa Mác Lênin hệ thông quan điểm cách mạng khoa học, khí luận
của giai cấp công nhân trong cuộc đấu tranh nhằm xóa bỏ chủ nghĩa bản, xây dựng chủ
nghĩa cộng sản trên phạm vi toàn thế giới. Đó cái chung sâu sắc nhất, bản chất nhất,
đúng đắn nhất để các Đảng Cộng sản vận dụng vào từng quốc gia dân tộc, với cách
cái riêng. Trong quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng ta đã luôn luôn trung thành, vận dụng
sáng tạo chủ nghĩa Mác Lênin vào điều kiện cụ thể của cách mạng Việt Nam. Thắng lợi
4
vẻ vang của cách mạng dân tộc, dân chủ nhân dân cũng như trong cách mạng hội chủ
nghĩa hiện nay đã chứng minh điều đó. Theo đó, Đảng ta luôn đặt ra yêu cầu cao việc tổng
kết, khái quát kinh nghiệm thực tiễn bổ sung phát triển luận, bảo đảm cho luận
Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh giữ được tính cách mạng và khoa học của nó.
4. Vận dụng cặp phạm trù nguyên nhân kết quả để nói lên thực trạng của vấn đề
tắc nghẽn giao thông thủ đô Hà Nội.
a. Một số nguyên nhân cơ bản dẫn đến tắc nghẽn giao thông.
*Nguyên nhân khách quan: Thực tế cho thấy nguyên nhân bản của ùn tắc giao thông
do số lượng phương tiện trên tham gia giao thông ngày một lớn. Đặc biệt từ khi xuất
hiện trên thị trường xe máy Trung Quốc giá rẻ, hợp với tói tiền của người dân Việt Nam,
các công ty sản xuất xe máy trong nước đồng loạt hạ giá đã tạo điều kiện thuận lợi cho
mọi người mua sắm phương tiện đi lại này, điều đó làm cho số lượng người xe máy,
tăng lên rất nhanh, nhất các thành phố lớn đặc biệt Nội. Tình trạng ùn tắc giao
thông ngày càng trầm trọng hơn cả các tuyến phố chính đến các ngõ nhỏ. Tuy vậy việc
xuất hiện xe gắn máy Trung Quốc chỉ nh mét giọt nước nhỏ làm tràn ly, vì mấy năm trước
đây khi chưa có xe Trung Quốc thì chuyện ách tắc đường phố vẫn cứ xẩy ra thường xuyên
tuy chưa thật bức xóc nh hiện nay. Phải nói rằng nguyên nhân chính là do dân số ở Hà Nội
ngày càng gia tăng, nhu cầu đi lại ngày càng lớn trong lúc cơ sở hạ tầng giao thông của
Nội vẫn còn hạn chế.
Hệ thống giao thông đường bộ không hoàn chỉnh: mặt đường hẹp, thiếu bãi đậu xe, có quá
nhiều nót giao thông chật hẹp. Quỹ đất dành cho giao thông thủ đô Nội chỉ khoảng
2,5% trong khi các nước tiên tiến khác con số này phải 20- 25%. Trong khi phương
tiện tham gia giao thông ngày càng tăng nhanh thì các tuyến đường mới được mở ra
không đáng kể. Thêm nữa đường phố thường xuyên bị đào xới để sửa chữa, thay thế, lắp
mới những công trình ngầm như hệ thống cấp nước và thoát nước, cáp ngầm của các ngành
bưu điện hoặc điện lực, rồi tình trạng ngập lụt khá phổ biến vào mùa mưa. thế ùn tắc
giao thông là hệ quả tất yếu.
*Nguyên nhân chủ quan: Đó sự thiếu kiên quyết của chính quyền đối với việc định
hướng phương tiện đi lại của người dân thành phố. Trong khi hệ thống vận tải khách công
cộng không được chú ý đầu đúng mức thì phương tiện nhân lại được thả nổi, tha hồ
phát triển. Việc buông lỏng quản đô thị dẫn đến tình trạng lấn chiến lòng lề đường làm
nơi họp chợ, buôn bán, sản xuất, dịch vụ, để xe, chờ đón học sinh tan trường.
nguyên nhân quan trọng nhất dẫn đến tình trạng ùn tắc giao thông là do sự thiếu ý thức
tự giác của nhiều người dân. Những người buôn bán vẫn tranh nhau lấn chiếm vỉa hè, lòng
lề đường, và các nhà chức trách dẹp ở chỗ này lại đùn ra chỗ kia nên đường phố vốn đã hẹp
lại càng hẹp hơn. Đồng thời trên đường phố vẫn thường xuyên xảy ra tình trạng đi ngược
chiều, vượt đèn đỏ nếu không công an đứng gác, chưa kể đến việc vượt Èu, tranh lấn
đường. Thực tế việc tranh lấn đường là một nguyên nhân thường xuyên dẫn đến nạn ùn tắc
giao thông nhiều nhất.
Bởi người ta tranh nhau mà đi không ai chịu nhường ai một bước. Thử quan sát một trường
hợp kẹt xe một chỗ tránh tàu: nếu luồng người 1/2 đường bên này không chồm lấn sang
1/2 đường bên kia thì chắc chắn sẽ không chuyện 2 luồng giao thông đối đầu nhau
đều kẹt cứng tại chỗ. Hàng năm trên đường phố hàng nghìn vụ tai nạn giao thông,
không thể đổ thừa hết cho đường kết tội trước tiên cho sự thiếu tôn trọng luật lệ đi
đường, sự bất cẩn và thiếu văn hoá của con người.
ý thức đi lại của người dân một yếu tố quan trọng quyết định sự văn minh của đường
phố. Như đã nói trên, các phương tiện giao thông nhân ngày càng cao tiện lợi
đặc biệt hệ thống xe giao thông công cộng như xe buýt thì lại thường bị quá tải không thể
đáp ứng đủ nhu cầu đi lại cho nên phương tiện giao thông cá nhân đăc biệt là se máy đươc
người đi lại sử dụng nhiều nhất. Với những chiếc xe máy người ta có thể tạt vào bất kỳ một
cửa hàng nào trên dãy phố để mua sắm, người ta thể ngồi trên xe dang cả 2 chân xuống
đất, đằng trước đứa đằng sau đứa lớn ghé lại mua rau, con cá, miếng thịt ngay bên
chợ vỉa hè, chợ lề đường “xe 2 bánh + nhà phè + chợ vỉa hè” dường như một trong
những phương thức đi lại sinh hoạt chủ yếu của người dân độ thị hiện nay. Từ đó hình
thành một lối sống, một nếp văn hoá chủ yếu được tạo dựng lên bằng xe 2 bánh tốc độ
chậm và nhà phố. Phải nói rõ là xe 2 bánh “tốc độ chậm” vì tốc độ chậm khác xa với tốc độ
nhanh. Khi đã ngồi lên xe với tốc độ chậm thì mọi hành vi không phù hợp với một đô thị
lớn đều thể xảy ra chứ chưa nói đến một thành phố văn minh hiện đại. Đàn ông trần,
mặc quần đùi, đàn bà mặc đồ ngủ diễu hành trên đường phố. Xe chở 2- 3 người thậm chí 4
người trên 1 chiếc xe, các người ngồi sau thõng chân xuống đất. Xe máy chở 1 người ngồi
sau vác theo 1 cây sắt, thanh nhôm rất dài, hoặc một tấm kính rất lớn, và với mấy chiếc dây
thun người đi xe máy thể chở 3- 5 két bia, 2- 3 bình ga. Xe máy, xe đạp đi hàng đôi
hàng ba, hoặc xe máy thò chân qua đẩy chiếc xe đạp hoặc xe xích lô. Xe máy phóng thẳng
từ trong nhà, trong ngõ, trên vỉa hè ra ngoài đường bất chấp xe cộ nườm nượp qua lại. Chỉ
vì sự thiếu ý thức đi lại của mỗi người mà đã nảy sinh ra những kết quả có tác động ngược
chiều nh ách tắc giao thông, tai nạn giao thông. Từ đó kéo theo một loạt hệ quả như ô
nhiễm môi trường, do khói bụi xe, làm giảm tốc độ lưu thông phát triển kinh tế một
cách đáng kể việc phân luồng giao thông những tuyến chưa hợp cũng như tình trạng
thiếu đèn tín hiệu và các thiết bị điều khiển giao thông cũng góp phần làm cho tình trạng ùn
tắc giao thông thêm trầm trọng.
b. Hậu quả của việc tắc nghẽn giao thông:
Chắc hẳn những ai đang sống hoặc đã sống Nội trong nhưng năm gần đây thi hẳn ai
còng Ýt nhất một lần phải chứng kiến cảnh ùn tắc giao thông của thủ đô, do đó hậu quả của
việc ùn tắc giao thông chắc chắn ai cũng thể hình dung ra được nên chỉ xin nêu một
sè : Lãng phí thời gian vô Ých , ô nhiễm môi trường bụi bặm, chen lấn sô đẩy nhau dẫn đến
nhiều hành vi khác, …
c. Một số giải pháp và kiến nghị.
* Một số tồn tại cần khắc phục:
Vấn đề ùn tắc giao thông của thủ đô cho đến nay còn rất nhiều tồn tại cần khắc phục như
phân luồng giao thông một cách hợp lý, lập lại kỉ cương quản đô thị, ý thức tham gia
giao thông của người dân,…sẽ còn rất nhiều tồn tai để phải giải quyết và điều quan trong là
chúng ta phải bàn đến giải pháp của các tồn tại vừa nêu trên.
5
* Giải quyết tồn tại và các biện pháp khắc phục:
Mặc dù mối liên hệ nhân quả có tính khách quan nhưng ta không thể vì thế mà ỷ lại cho tự
nhiên diễn ra. Không thể để tình trạng ách tắc giao thông diễn ra không những biện
pháp khắc phục. Một kết quả do nhiều nguyên nhân gây ra ngược lại một nguyên nhân
có thể sinh ra nhiều kết quả. Muốn có kết quả tốt phải phát hiện nhiều nguyên nhân. Như
trên ta đã chỉ ra được một số nguyên nhân chính dẫn đến nạn ách tắc giao thông, vậy phải
giải quyết vấn đề này như thế nào ?
* Sau đây là một số giải pháp cơ bản.
- Phân luồng giao thông một cách hợp lý: Với phương châm phát huy hiệu quả cao nhất
những cơ sở vật chất hiện có, đồng thời bổ sung đầu tư một số khâu chủ yếu trong hệ thống
giao thông đô thị. Phân luồng giao thông sao cho hợp lý, khoa học nhằm tháo tỡ những ách
tắc giao thông không đáng nội dung chính quy hoạch lại luồng tuyến xe buýt,
mạng lưới đường bộ, đường sắt ở thành phố. Một số tuyến đường chỉ đi một chiều, thiết lập
bằng được tuyến đường dành cho xe tải để tiến tới cấm không cho xe tải sức chở hơn
2,5 tấn lưu thông trong nội thành giê cao điểm. Kiên quyết cấm xe 3 bánh chở hàng cồng
kềnh chạy trong giê cao điểm.
- Giải pháp điều khiển giao thông sẽ hỗ trợ đắc lực giải pháp phân luồng giao thông : Việc
làm đầu tiên hoàn thiện, bổ sung hệ thống biển báo giao thông, đặc biệt xây dựng hệ
thống báo hiệu vị trí thường xẩy ra ùn tắc giao thông để giảm lượng xe đi vào, các chốt
đèn tín hiệu giây chạy lùi phát tín hiệu còi khi đèn chuyển màu. Cần đẩy nhanh tiến
độ xây dựng trung tâm điều khiển giao thông bằng camera, lắp đặt tại các nót trọng điểm
để kịp thời có biện pháp xử lý khi có triệu chứng.
+ Thành phố Nội đã đang gấp rút triển khai xây dựng các nót giao thông ngã sở ,
xây dựng hàng loạt dải ngăn cách đường bộ …
- Lập lại kỉ cương quản đô thị: Đối với những chợ tự phát cần phải giải toả khuyến
khích di dời vào các nhà lồng chợ, xe các chợ đầu mối ngoại thành để giảm mật độ lưu
thông nội bộ. Lập lại trật tự lòng lề đường, vỉa hè, đầu cầu. Tăng cường hiệu lực cưỡng
chế của các lực lượng bảo vệ pháp luật và trật tự an toàn giao thông đường bộ và trật tự đô
thị cũng là 1 giải pháp quan trọng.
- Tác động vào ý thức ngươi dân: Tuyên truyền giáo dục người nông dân nâng cao ý thức
cộng đồng chấphành luật lệ giao thông quy tắc quản trật tự đô thị. Phát động những
phong trào quần chúng trong thanh niên, học sinh phối hợp với lực lượng cảnh sát giao
thông để giữ gìn trật tự giao thông tại các điểm nót. Giải quyết nạn ùn tắc giao thông ở các
khu vực đông người qua lại trong giê cao điểm nh trường học, bệnh viện, chợ, khu vực
chơi giải trí.
* Một số giải pháp khác cần bàn luận:
- Đầu tư nhiều vào đường hay bá xe máy: Nhà phố là cái chưa thể bỏ ngay được vì liên
quan đến nguồn sống đại đa số người dân thành phố nhưng chắc chắn sẽ giảm bớt dần
cùng với sự tiến lên công nghiệp hoá hiện đại hoá của thành phố, xe 2 bánh tốc độ chậm
còng không thể bỏ ngay được vì nó là phương tiện đi lại của hơn 80% cư dân trong thủ đô
còn một phần tài sản quý giá của họ. Nhưng không thể cứ tiếp tục bán xe máy,
quảng cáo khuyến mãi xe máy, bán trả góp xe máy. Cái đó chỉ lợi cho nhà kinh doanh,
còn rất bất lợi cho đô thị không chỉ riêng về mặt giao thông. Bởi còn nhiều xe máy thì xe
công cộng không thể phát huy được hiệu quả.
- Thu phí sử dụng đường bộ đối với ôtô xe máy giải pháp tính khả thi: Về thu phí
ôtô,chúng ta cũng biết rằng, số lượng ô tô đang tham gia giao thông phần lớn thuộc sở hữu
nhà nước. Khoản phí mà các đơn vị này phải đóng do nhà nước cung cấp. vậy thu phí
đối tượng này thực chất là quay tròn tiền của nhà nước. Nh thế các tổ chức nhà nước muốn
mua thì vẫn cứ mua, không đắn đo gì về các khoản phí.
- Đối với các doanh nghiệp tư nhân các doanh nghiệp có vốn đầu của nước ngoài thì
họ bỏ vốn đầu vào sản xuất, kinh doanh với mục đích lợi nhuận nên mọi quyết sách
đều dùa trên nhu cầu thực tế hiệu quả. Mua sắm phương tiện bắt nguồn từ điều kiện
cần của công việc kinh doanh. Do đó ta không có cơ sở nào để khẳng định về khoản phí kia
mà họ giảm bớt việc mua xe ô tô để phục vụ việc kinh doanh.
- Về việc thu phí xe máy, đây phương tiện đi lại chủ yếu tiện lợi nhất của người dân
thành phố. Với mức giá xe hiện nay (trừ xe Trung Quốc) thì thể nói vẫn còn cao so
với thu nhập của người dân Việt nam. thế bản thân người mua cũng phải tính toán, cân
nhắc khi bá ra một số tiền tương đối lớn để mua xe, nhưng khi xét thấy việc mua xe là cần
thiết đem lại lợi Ých thì khoản phí 4 triệu đồng/xe mới 400 ngàn đồng/xe lưu hành
/1năm sẽ không ảnh hưởng lớn đến việc quyết định mua xe máy chăng họ cân
nhắc loại xe. Nh vậy biện pháp thu phí đối với xe máy liệu có khả thi?
Bằng sự vận dụng cặp phạm trù nhân-quả, em đã phần nào nêu lên được những nguyên
nhân kết quả của nạn ách tắc giao thông. Để từ đó đưa ra một số giải pháp để giải quyết
vấn đề này.
Qua đó ta có thể hiểu được tầm quan trọng của mạng lưới giao thông vai trò, ý thức
của con người với hiện tượng này nh thế nào, đó là do chủ quan hay khách quan? phát hiện
được nguyên nhân để hạn chế tác động của nguyên nhân ngược chiều.
cuối cùng, theo chính kiến của mình, em cho rằng đi lại vốn chuyện bình thường
trong đời sống đô thị nhưng đi lại còn là một hiện tượng xã hội, hiện tượng văn hoá. Nó thể
hiện tính trật tự kỷ cương, tính tổ chức cả tính nhân văn của cả một hội. Xây dựng
thêm các tuyến đường mới, mở rộng mặt đường, phân luồng hợp tăng thêm các
phương tiện giao thông công cộng là tất yếu. Nhưng xây dựng một nếp đi lại có văn hoá lại
là điều cần thiết hơn, bức xúc hơn, không cần đầu tư quá tốn kém và mất nhiều thời gian có
ý thức vàcó văn hoá trong đi lại sự giảm tải rất to lớn ngăn chặn một cách hữu hiệu
nhất nạn ách tắc cho giao thông đô thị. Nên chăng, mỗi người dân cần ý thức hơn nữa
trong việc đi lại hàng ngày để tránh nạn ách tắc giao thông nói riêng và sự phát triển của xã
hội nói chung.
5. Nội dung và hình thức
Ví dụ: Thói trì trệ, chậm đổi mới các hình thức và phương pháp quản lí, sự gia tăng tệ quan
liêu, tuyệt đối hoá những hình thức tổ chức hội được hình thành trước đây trong thực
tiễn một trong những nguyên nhân chính của tình trạng khủng hoảng hội của
những xu hướng bất lợi đã bộc lộ nước ta những năm gần dây. Xã hội đạt tới sự phát
6
triển mới về chất hay không phần nhiều phụ thuộc vào việc đổi mới đến đâu những hình
thức hội già cỗi, phong cách phương pháp làm việc cũ, đưa chúng vào phù hợp đến
mức độ nào với những điều kiện dạng thay đổi.
Ví dụ: Kim cương và than chì là hai dạng thù hình của cùng một nguyên tố Cacbon nhưng
sự khác biệt ở đây là cấu trúc tinh thể của chúng (khác biệt về hình thức).
Một dụ tiêu biểu khác của cặp phạm trù nội dung hình thức quan hệ giữa lực lượng
sản xuất quan hệ sản xuất trong cùng 1 phương thức sản xuất. Nếu như lực lượng sản
xuất là nội dung thì quan hệ sản xuất chính là hình thức của phương thức sản xuất đó.
6. Nội dung ý nghĩa phương pháp luận của cặp phạm trù tất nhiên ngẫu nhiên
qua 1 ví dụ trong lĩnh vực xã hội:
Để làm rõ những nội dung đã nêu ở chương 1 sau đây ta sẽ đi sâu vào ví dụ đã được nêu ra
Lời nói đầu để hiểu rõ hơn về cặp phạm trù này ứng dụng thực tiễn của phương pháp
luận của nó: với tất cả chúng ta ngồi đây, để trở thành sinh viên của trường Đại học Luật
Nội thì điều“tất nhiên” chúng ta phải đỗ đại học còn “ngẫu nhiên” chúng ta được
xếp học chung một lớp, một nhóm của trường đại học luật.
a. Khái niệm của phạm trù tất nhiên và ngẫu nhiên
Xét về khái niệm phạm trù tất nhiên, để chứng minh cho nó, ta thấy: ở ví dụ đã nêu thì việc
đỗ đại học một điều“tất nhiên” với mỗi chúng ta bởi lẽ: Một là, trong việc từ một học
sinh trung học phổ thông muốn trở thành sinh viên của trường đại học luật Nội thì
điều tất nhiên là ta phải đỗ vào kì thi tuyển sinh đầu vào.
Việc đỗ Đại học này với mỗi chúng ta bắt buộc phải xảy ra điều kiện để ta thực
hiện bước chuyển hóa của ta từ học sinh thành sinh viên. Hai là, xét với mối quan hệ với
những việc xảy ra trước đó thì việc đỗ vào đại học luật Hà Nội tất yếu vì: ta có một quá
trình rèn luyện học tập tốt từ thời THPT, bản thân ta người có ý thức trong việc đưa ra
quyết định thi vào trường đại học luật Nội …và có thể kể đến những yếu tố khác như
sức khỏe ,tâm lý ngày thi rất tốt .v.v.
như vậy, khi một thí sinh dự thi mà hội tụ được những điều cơ bản như trên thì việc thí
sinh đó trở thành sinh viên của trường đại học luật Hà Nội là tất nhiên, nhất định không thể
nào khác được.
Xét về khái niệm phạm trù ngẫu nhiên, ta có thể xem xé ví dụ, chẳng hạn như việc xếp lớp,
xếp nhóm điển hình 11 bạn trong nhóm A3 của lớp 18 này: Sau khi đỗ vào trường
Đại học Luật Hà Nội thì với sự sắp xếp của phòng Đào tạo nhà trường 11 bạn này sẽ được
ngẫu nhiên ngồi chung một lớp lớp 18 ngẫu nhiên họ lại được tập hợp thành 1 nhóm
và được đặt là A3.
Việc ngồi chung một lớp hay một nhóm này không phải do các bạn tự quyết định, cũng
không phải do sự sắp đặt sẵn của nhà trường: những bạn có tên, có điểm, có khối thi…như
thế này phải vào lớp này, nhóm này. Điều này chính là do nhân tố bên ngoài quyết định. Ở
đây nhân tố bên ngoài chính là sự sắp xếp một cách ngẫu nhiên của hệ thống máy tính, của
phòng đào tạo đã tạo ra kết quả đó.
Tuy nhiên cũng thể do sự sắp xếp ngẫu nhiên này 11 người này thể không ngồi
cùng một lớp hoặc ngồi cùng 1 lớp nhưng khác nhóm nhau. Điều đó rất có thể xảy ra bởi lẽ
nhóm A3 hiện tại chỉ một tập hợp ngẫu nhiên một nhóm người, là một khả năng xảy ra,
không có điều gì chắc cắn cả.
Tóm lại việc chúng ta những sinh viên đang học K3818 việc đỗ đại học điều tất
nhiên, nhưng trước đó chúng ta cũng phải trải qua nhiều việc ngẫu nhiên khác như chọn
trường, may mắn v.v.v.. Và việc sau này khi chúng ta được học chung một lớp liệu điều đó
phải yếu tố “ngẫu nhiên” nữa hay không hay đó cũng thể “tất nhiên” ? liệu
rằng yếu tố “ngẫu nhiên” trong việc được học chung một lớp sẽ ảnh hưởng đến yếu tố “tất
nhiên” khi chúng ta đỗ vào trường đại học luật Nội như thế nào? Để giải quyết vấn đề
này, chúng ta hãy xét chúng trong mối liên hệ biện chứng của chúng.
Để đi sâu hơn về cặp phạm trù tất nhiên ngẫu nhiên trong mối quan hệ biện chứng của
chúng với nhau , thông qua ví dụ ban đầu, ta cần tìm hiểu “biện chứng” là gì ? Biện chứng
đây dùng để chỉ những mối liên hệ với nhau, sự tương tác, sự chuyển hóa, sự vận
động phát triển theo quy luật của sự vật, hiện tượng và quá trình trong tự nhiên, hội
và tư duy
b. Quan hệ biện chứng giữa tất nhiên và ngẫu nhiên trong ví dụ
Một là, tất nhiên ngẫu nhiên luôn tồn tại khách quan. Mỗi chúng ta, trước khi xác định
đi thi đại học, đều đã hình thành trong đầu hai luồng suy nghĩ trái chiều, đó là hai khả năng
có thể xảy ra: hoặc là đỗ hoặc là trượt. Ngay từ ban đầu, chúng ta đều nhận thức được rằng
muốn đỗ vào đại học phải trang bị cho bản thân đầy đủ những kiến thức cơ bản: đó thể
quá trình học tập tích lũy kiến thức, phương pháp học tập để hiểu sâu nhớ lâu, mục đích
học tập …
Khi đó, chúng ta mới chỉ trang bị cho bản thân về mặt tinh thần, đó là những điều tất nhiên
phải làm. Nhưng trong lúc thi xảy ra sự cố về tâm lý, sức khỏe thi chẳng phải việc
chúng ta đỗ hay trượt nằm ngoài ý thức của chúng ta hay sao yếu tố ngẫu nhiên và tất
nhiên tồn tại đối lập với ý thức của chúng ta hay sao ?
Không những vậy, tất nhiên còn có vai trò quyết định chi phối đến sự phát triển của sự vật
và cái ngẫu nhiên thì có tác dụng làm cho sự phát triển của sự vật diện ra nhanh hay chậm.
Trở lại với dụ ban đầu chúng ta đã đưa ra một ý rằng: “ngẫu nhiên chúng ta được học
chung một lớp” điều ngẫu nhiên này tác động như thế nào với yếu tố tất nhiên chúng ta đỗ
hay trượt vào trường đại học luật Hà Nội.
Sau khi đỗ vào trường, bản thân mỗi người chúng ta phải tự đi tìm phương pháp học tập
riêng cho mình, tự tích lũy kiến thức cho bản thân điều tất nhiên nhưng đâu phải tất cả
những bạn ở lớp K3818 đều làm tốt việc đó, vậy nên việc chúng ta ngồi chung một lớp thì
kết quả, thành tích của lớp lại do chính từng thành viên của lớp quy định, chi phối đến ngẫu
nhiên. Tuy nhiên, sao chăng nữa thì cái “tất nhiên” đỗ đại học của chúng ta vẫn luôn là
cái quan trọng quyết định những cái ngẫu nhiên sau đó.
Hai là, tất nhiên và ngẫu nhiên đều tồn tại trong sự thống nhất, biện chứng với nhau, không
có cái tất nhiên thuần túy và cái ngẫu nhiên thuần túy. Tất nhiên bao giờ cũng vạch đường
đi cho mình thông qua số cái ngẫu nhiên ngẫu nhiên biểu hiện của tất nhiên, bổ
sung cho tất nhiên.
7
Xét trên biện chứng của ví dụ ban đầu thì việc chúng ta đỗ đại học là điều tất nhiên, nhưng
để làm nên các tất nhiên này thì chúng ta phải trải qua số cái ngẫu nhiên khác. “Theo
tâm học, nhận thức của con người chỉ huy mọi hành động hoạt đọng của con người.
Hệ quả của quan hệ này nhận thức đúng mới tạo ra hành động đúng đắn kết quả tôt
đẹp”(1).
vậy cái ngẫu nhiên chúng ta muốn đề cập là: phương pháp học tập đúng đắn sẽ rèn
luyện khả năng duy cho bản thân, tạo động lực học tập, đặt mục tiêu, ước cho bản
thân trước khi xác định vào trường đại học Luật thêm vào đó những yếu tố như:
chuẩn bị một sức khỏe tốt ,tâm vững vàng khi bước vào thi. những yếu tố ngẫu
nhiên này chẳng phải dẫn tới việc tất yếu chúng ta cầm được tấm bước vào cánh cổng
đại học hay sao?
Tuy nhiên đúng như Ph.Anghen đã nhận định: cái người ta quả quyết cho tất
yếu lại hoàn toàn do những ngẫu nhiên thuần túy cấu thành, cái được coi là ngẫu nhiên
lại hình thức, dưới đó ẩn nấp cái tất yếu…”(2). Việc chúng ta thi đại học thì luôn luôn
xảy ra nhiều khả năng. Và chẳng phải điều đó có nghĩa rằng cái mà chúng ta cho là tất yểu
việc đỗ đại học lại thực ra chỉ một khả năng, một điều ngẫu nhiên hay sao? Vậy thì
quả thực ngẫu nhiên là biểu hiện của tất nhiên
Ba là, tất nhiên ngẫu nhiên không phải tồn tại vĩnh viễn trạng thái thường
xuyên thay đổi, phát triển trong những điều kiện nhất định chúng ta thể chuyển hòa
cho nhau, tự nhiên biến thành ngẫu nhiên và ngẫu nhiên trở thành tất nhiên.
Hãy quay trở về phân tích vừa trên ta sẽ thấy việc tự nhiên ngẫu nhiên chuyển hóa
cho nhau trong vấn đề: tất nhiên biến thành ngẫu nhiên. Chúng ta nói rằng ngẫu nhiên
phương pháp học tập của chúng ta là đúng đắn, rèn luyện kiến thức phù hợp với bài thi khi
thi đại học, mục đích, mục tiêu đặt ra là sẽ thi vào đại học Luật, đi thi lại có sức khỏe, tâm
lý vững vàng… Nhưng suy
cho cùng thì đây lại những điều tất nhiên chúng ta phải làm. Trong cả biển người phải
học cả một chương trình học như nhau, kiến thức chung như nhau. Vì vậy chúng ta tất yếu
phải có phương pháp học tập riêng cho bản thân, và vì có phương pháp học tập riêng đúng
đắn tất yếu kiến thức chúng ta thu thập, rèn luyện sẽ phục vụ tốt nhất cho chúng ta khi
bước vào thi… Mặt khác trong quá trình ôn thi đại học rất vất vả, việc rèn luyện sức
khỏe điều đương nhiên ta phải làm: bằng cách ăn uống đầy đủ chất dinh dưỡng, tập thể
dục hằng sáng cho sức khỏe dẻo dai…
Bình thường đứng trước một kì thi mang tính quyết định, tạo bước ngoặt mới cho cuộc đời,
không lẽ ta lại để bản thân gặp vấn đề tâm lý? thế tất yếu ta phải chuẩn bị một tâm
vững vàng nhất định trước khi bước vào kì thi đại học… Vì thế chẳng phải việc ta trở thành
sinh viên đại học Luật không phải là. Sau khi đã phân tích ví dụ từ tự nhiên đến ngẫu nhiên
thì sau đây bằng việc phân tích ví dụ ban đầu ta sẽ thấy sự chuyển hóa từ ngẫu nhiên thành
tất nhiên.
Chúng ta đã nói: Ngẫu nhiên được ngồi chung một lớp”. Liệu đây phải ngẫu nhiên
nữa hay không. Sau khi đỗ đại học Luật Nội, thì tên của chúng ta đã phải chăng đã
được phòng đào tạo của trường sắp xếp từ trước thông qua các nguyên tắc: thể theo
vần a, b, c…; thể theo số sinh viên; thể phòng đào tạo không sắp xếp theo
vần mà muốn lớp nào cũng có cả nam nữ vì lượng thí sinh nam đỗ vào trường là ít hơn
hẳn so với thí sinh nữ …
Như vậy tất nhiên ngẫu nhiên không tồn tại vĩnh viễn luôn chuyển hóa qua lại lẫn
nhau mang tính tương đối. thể trong mối quan hệ này được coi ngẫu nhiên
nhưng trong mối quan hệ khác lại là tất nhiên và ngược lại.
Sau khi đã nói đến 1 loạt các yếu tố về quan hệ biện chứng giữa tất nhiên và ngẫu nhiên thì
chúng ta sẽ tự đặt ra câu hỏi rằng: bản thân cặp phạm trù này và mối liên hệ của tác
động thế nào tới duy thực tiễn của chúng ta? từ ý nghĩa thực tiễn đó, phải sẽ
giúp ta được những phương pháp giải quyết đúng đắn, phù hợp với những trường hợp
cụ thể trong cuộc sống ngày nay? Để từ đó khi đứng trước 1 vấn đề ta sẽ không còn cảm
thấy quá lúng túng và lo lắng nữa.
c. Ý nghĩa của phương pháp luận trong tư duy và thực tiễn
Đầu tiên, trong hoạt động thực tiễn, phải căn cứ vào cái tất nhiên chứ không phải cái ngẫu
nhiên. Bởi vì cái tất nhiên cái gắn liền với bản chất của sự vật, cái nhất định xảy ra theo
quy luật nội tại của sự vật, còn cái ngẫu nhiên là cái không gắn với bản chất nội tại của sự
vật, nó có thể xảy ra, có thể không .
Thật vậy, nếu khi xét trở về ví dụ mà ta đã nêu ra thì chẳng phải tất cả kế hoạch ban đầu ta
xây dựng nên nào là: phương pháp học tập, mục đích học tập, rèn luyện năng trong học
tập, …. Cũng chỉ nhằm vào mục tiêu cốt lõi đó việc thi đỗ đại học. Việc đỗ vào đại
học chính là một bước chuyển mình từ học sinh phổ thông sang môi trường giáo dục hoàn
toàn mới đó là đại học, không những vậy, đây còn là một bước ngoặt, bước đà để ta có thể
tiến xa hơn trên con đường học vấn. Còn việc chúng ta được học chung một lớp, theo
nhân tôi nghĩ, thì đây không phải việc quan trọng. ngay từ khi biết tin mình đỗ đại
học, liệu rằng có ai nghĩ mình sẽ học ở lớp nào đâu ?, đó là thứ nhất.
Thứ hai, việc mình học ở lớp nào thì chương trình tạo của trường Đại học Luật Hà Nội vẫn
là như thế.
Thứ ba, việc phân lớp cho mỗi sinh viên sẽ có lợi hơn cho nhà trường trong hoạt động quản
sinh viên, giúp cho sinh viên dễ dàng tương tác làm việc với nhà trường được hiệu quả
hơn ,… mà điều này khi ta ở bất kì một lớp nào thì nhà trường cũng có thể làm được .
Tuy nhiên, cũng không được bỏ qua hoàn toàn cái ngẫu nhiên. Vì cái ngẫu nhiên không chỉ
chi phối sự phát triển của sự vật mà nó còn ảnh hưởng đến sự phát triển của sự vật, đôi khi
còn có thể ảnh hưởng rất sâu sắc .
Đúng, thực sự là như vậy. Tuy việc chúng ta được sắp xếp bất ngờ vào một lớp ở phân tích
trên cho rằng đó điều không cần thiết, nhưng lại cần thiết cho quá trình học tập sau
này. Đầu tiên, việc được sắp xếp vào một lớp cố định chúng ta đã hoàn toàn chứng minh
được rằng chúng ta chính là một sinh viên trường đại học luật Hà Nội kể từ đây.
Thứ hai, khi được học chung một lớp, cái thuận tiện đó là không gian học tập cộng đồng đã
được thu hẹp phần nào ; mặt khác đây, ta dễ dàng làm quen nhiều bạn mới một cách
thuận tiện hơn, tạo cho ta một không gian học tập thoải mái hơn, việc tiếp thu kiến thức
mới se diễn ra nhanh hơn …. Với một không gian học tập lành mạnh như thế này thì không
8
lẽ kết quả học tập cuối của chúng ta lại không đạt kết quả tốt. Đó chính việc cái
ngẫu nhiên chi phối đến sự phát triển của sự vật, ảnh hưởng sâu sắc đến sự vật .
Tóm lại, với phương pháp luận này đã cung cấp cho chúng ta phương pháp tiếp cận vấn đề
một cách chủ động hơn. Do đó khi làm một việc gì cần xuất phát từ những yếu tố ban đầu,
những yếu tố góp phần triển khai những nội dung chính nhất, phù hợp nhất để tạo một
bước đà thật vững chắc nhằm đạt được mục đích ban đầu mình đề ra. Đồng thời, trong hoạt
động thực tiễn, với những phương pháp ta chủ động đề ra cần phải xây dựng thêm những
phương pháp dự phòng để đáp ứng những thay đổi bất ngờ có thể xảy ra.
d. Phương pháp dự phòng để đáp ứng những thay đổi bất ngờ có thể xảy ra
Cái tất nhiên và ngẫu nhiên trong điều kiện nhất định có thể chuyển hóa cho nhau, cái ngẫu
nhiên biến thành tất nhiên và ngược lại. Vì vậy cần tạo ra những điều kiện nhất định để cản
trở hoặc thúc đẩy sự chuyển hóa của chúng theo mục đích nhất định.
Trước tiên, với ví dụ ban đầu, ta sẽ thấy được cái ngẫu nhiên cản trở như thế nào với cái tất
nhiên xét về lĩnh vực học tập? Trong số những sinh viên K3818 sẽ những bạn đã quen
biết hoặc có những anh chị là sinh viên khóa trên.Vì là các anh chị khóa trên nên cũng phải
trải qua quá trình học tập cực kỳ vất vả khi học tập tại trường do đó các anh chị biết
môn nào giáo viên sẽ lới lỏng cho sinh viên để giảm bớt áp lực trong quá trình học tập.
Nhưng nếu bản thân những anh chị đó trong việc học tập, lợi dụng sự ưu ái của giáo
viên mà không quan tâm tới việc học của mình thì chỉ cần câu nói như: “Môn ý dễ mà, học
làm gì cho mệt, thể nào thi chẳng được qua”, hay như : “ui giời, là sinh viên mà không phải
thi lại thì không phải là sinh viên”…Với những lời nói như vậy đã vô tình tác động tiêu cực
vào tiềm thức của những bạn sinh viên anh chị như vậy. rồi bạn sẽ không còn
hứng thú với môn học đó, cuối cùng sẽ dẫn đến tình trạng chán nản. Một điều tất
nhiên sẽ xảy ra là kết quả học tập môn đó bị kém, phải học lại, gây lãng phí thời gian, lãng
phí tiền của…
Sau khi nói đến ngẫu nhiên cản trở quá trình của tất nhiên, thì quay trở lại vấn đề, không
thể phủ nhận được ngẫu nhiên cũng góp phần thúc đẩy quá trình phát triển của sự vật.
dụ như trong quá trình học tập tại trường đại học luật, sau khi mỗi sinh viên được phân về
từng lớp thì mỗi sinh viên lại được phân về thành từng nhóm.
Đây một cách thức giảng dạy rất hay, hình đào tạo được áp dụng trong hệ thống
giáo dục của các nước phương Tây như Anh, Pháp, Mỹ…Làm việc theo nhóm sẽ nâng cao
khả năng thuyết trình, hùng biện cho mỗi người, đặc biệt với sinh viên trường mình.
Thông qua hoạt động học nhóm này chính chúng ta sẽ chứng tỏ được khả năng lãnh đạo, sự
tự tin của bản thân là tiền đề vững chắc để tiến bước xa hơn trên con đường sự nghiệp.
Tóm lại, với phương pháp luận này cung cấp cho chúng ta một vấn đề cần thiết trong cuộc
sống:trong nhận thức cũng như trong hoạt động thực tiễn, chúng ta không được xem nhẹ
mọi sự vật, hiện tượng rất nhỏ đang diễn ra xung quanh ta. Trước khi thực hiện một
công việc cần xem xét điều lợi hay hại cho bản thân chúng ta. Việc đánh giá
việc làm đó chính là cái kết quả cuối cùng mà ta sẽ nhận được.
7. Vận dụng thực tiễn cặp phạm trù bản chất và hiện tượng
Vận dụng cặp phạm trù bản chất - hiện tượng để phân tích lối sống của Sinh viên Việt
Nam hiện nay.
Trước hết, chúng ta có thể khẳng định một điều rằng sinh viên hiện nay rất năng động, sáng
tạo nhạy bén với cuộc sống. Nếu như trước đây, khi cuộc sống đang còn khó khăn,
chúng ta chỉ thấy một lớp sinh viên học hành chăm chỉ cốt sao cho sau này ra trường sẽ xin
được một công việc vào biên chế trong Nhà nước, từ đó cuộc sống cứ thế tiếp diễn.
Nhưng ngày nay cơ chế thị trường mở của, sinh viên đã có điều kiện để phát triển khả năng
sáng tạo do đầy đủ thông tin, một cuộc sống chất lượng tốt hơn chủ động hơn trong
việc lựa chọn nghề nghiệp. Tất cả những yếu tố đó làm cho sinh viên năng động hơn, ngày
càng chiếm lĩnh những lĩnh vực mới lạ. Vì thế mà bốn bạn trẻ: Trịnh Xuân Hảo, Phạm Thị
Hoàng lam, Trịnh Minh Khôi và Lê Nguyễn Vũ Bình (sinh viên ĐH GTVTTPHCM) đã có
sự khởi đầu khá ngoạn mục: Khi đang là sinh viên năm thứ 3, họ đã hoàn thành công trình
nghiên cứu “thiết kế bảng đèn thông tin điện tử” đã đoạt giải nhất sinh viên nghiên cứu
khoa học cấp trường đoạt giải ba Eureka 2002 do Sở Khoa học Công nghệ Môi
trường cùng Trung tâm Khoa học Công nghệ trẻ Thành đoàn TPHCM tổ chức.
8. Ứng dụng quy luật lượng chất trong quá trình học tập rèn luyện của học sinh,
sinh viên
học sinh, sinh viên, ai cũng phải trải qua quá trình học tập các bậc học phổ thông, từ
mẫu giáo đến cấp ba, kéo dài trong suốt 12 năm.
Trong 12 năm ngồi trên ghế nhà trường, mỗi học sinh đều được trang bị những kiến thức
cơ bản của các môn học thuộc hai lĩnh vực cơ bản, đó là: Khoa học tự nhiên và khoa học xã
hội. Bên cạnh đó, mỗi học sinh lại tự trang bị cho mình những năng, những hiểu biết
riêng về cuộc sống, về tự nhiên, xã hội. Ta thấy rõ rằng là:
- Quá trình tích lũy về lượng - tri thức của mỗi học sinh là một quá trình dài, đòi hỏi nỗ lực
không chỉ từ phía gia đình, nhà trường mà còn chính từ sự nỗ lực và khả năng của bản thân
người học.
- Quy luật lượng chất thể hiện chỗ, mỗi học sinh dần tích lũy cho mình một khối lượng
kiến thức nhất định qua từng bài học trên lớp cũng như trong việc giải bài tập nhà. Việc
tích lũy kiến thức sẽ được đánh giá qua các kì học, trước hết là các kì thi học kì và cuối cấp
là kì thi tốt nghiệp.
Với việc tích lũy đủ lượng kiến thức cần thiết sẽ giúp học sinh vượt qua các thi
chuyển sang một giai đoạn học mới.
=> Như vậy, ta thể thấy: Trong quá trình học tập, rèn luyện của học sinh thì quá trình
học tập tích lũy kiến thức chính là độ, các kì thi chính là điểm nút, việc vượt qua các kì thi
chính là bước nhảy làm cho việc tiếp thu tri thức của học sinh bước sang giai đoạn mới, tức
là có sự thay đổi về chất. Trong suốt 12 năm học phổ thông, mỗi học sinh đều phải tích lũy
đủ khối lượng kiến thức vượt qua những điểm nút khác nhau, nhưng điểm nút quan
trọng nhất, đánh dấu bước nhảy vọt về chất và lượng mà học sinh nào cũng muốn vượt qua
đó là kì thi đại học. Vượt qua kì thi tốt nghiệp cấp 3 đã là một điểm nút quan trọng, nhưng
vượt qua được thi đại học lại còn điểm nút quan trọng hơn, việc vượt qua điểm nút
9
này chứng tỏ học sinh đã có sự tích lũy đầy đủ về lượng, tạo nên bước nhảy vọt, mở ra một
thời kì phát triển mới của lượng và chất, từ học sinh chuyển thành sinh viên.
9. Ví dụ về quy luật thống nhất và đấu tranh giữa các mặt đối lập
Trong mỗi mâu thuẫn thường hai mặt đối lập liên hệ gắn với nhay tạo tiền đề cho
nhau cùng tồn tại, triết học gọi đó là sự thống nhất giữa các mặt đối lập.
dụ như trong hoạt động kinh tế thì sản xuất tiêu dùng sẽ phát triển theo những chiều
hướng trái ngược nhau. Sản xuất chính việc tạo ra của cải vật chất, sản phẩm để thể
đáp ứng được nhu cầu của người tiêu dùng. Còn tiêu dùng mục đích cuối cùng của việc
sản xuất, tất cả những sản phẩm được sản xuất ra đều cần có người tiêu dùng.
Sản xuất việc tạo ra sản phẩm đối tượng thể cung cấp cho việc tiêu dùng. Nếu
như không có quá trình sản xuất để tạo ra sản phẩm tiêu dùng thì sẽ không thể có tiêu dùng.
Sản xuất quy định phương thức tiêu dùng, tạo ra đối tượng tiêu dùng, đây không phải là đối
tượng nói chung đối với những đối tượng nhất định do bản thân sản xuất làm môi
giới cho người tiêu dùng.
Do đó, sản xuất không chỉ đối tượng tiêu dùng còn quyết định về phương thức
tiêu dùng. Sản xuất cung cấp các sản phẩm cho tiêu dùng tạo ra nhu cầu cho người tiêu
dùng. Điều này có nghĩa là chỉ khi sản xuất ra một sản phẩm nào đó thì mới tạo ra nhu cầu
tiêu dùng đối với sản phẩm đó.
Do vậy có thể thấy được rằng sản xuất và tiêu dùng chính sự thống nhất của hai mặt đối
lập, chúng có tính chất tương đồng và có mối liên hệ mật thiết, chặt chẽ với nhau từ đó tạo
điều kiện cho nhau cùng chuyển hóa, phát triển.
10. Vận dụng quy luật thống nhất đấu tranh giữa các mặt đối lập vào đời sống
thực tiễn hiện nay
Bài số 1: Kinh tế thị trường mâu thuẫn biện chứng trong nền kinh tế thị trường
Việt Nam
1. Khái quát chung về kinh tế thị trường (KTTT):
Trong mô hình cũ của CNXH, sự vận hành của nền kinh tế chủ yếu dựa trên mệnh lệnh, kế
hoạch của Nhà nước một hệ thống bao cấp từ sản xuất đến tiêu dùng. chế kinh tế
này, tuy ưu điểm tránh được phân cực hội, nhưng lại bộc lộ nhiều nhược diểm
bản. Chẳng những quy khách quan được coi thường, tính tự chủ, năng luật kinh tế
động, sáng tạo của người lao động cũng không được phát huy một cách đầy đủ. Sự nghiệp
đổi mới được tiến hành hơn 10 năm qua ở nước ta gắn liền với việc phát triển kinh tế nhiều
thành phần vận hành theo cơ chế thị trương, nền kinh tế mà chúng ta đang xây dựng là nền
kinh tế thị trường định hướng XHCN.
Trứơc hết ta tìm hiểu một số khái niệm: Khái niệm kinh tế hàng hoá, thị trường, cơ chế thị
trường.
* Kinh tế hàng hoá: là kiểu tổ chức kinh tễ trong đó hình thái phổ biến của sản xuất
sản xuất ra để bán, để trao đổi trên thị trường.
* Thị trường: trong nền sản xuất, mọi sản phẩm hàng hoá dịch vụ đều được mua bán
trên thị trường. Thị trường là một tập hợp tất yếu và hữu của toàn bộ quá trình sản xuất
lưu thông hàng hoá. ra đời phát triển cùng với sự ra đời triển của sản xuất
lưu thông hàng hoá.
Thị trường gắn liền với địa điểm nhất định, trong đó diễn ra những quá trình trao đổi,
mua bán hàng hoá.
Sản xuất hàng hoá phát triển, lượng sản phẩm hàng hoá lưu thông trên thị trường ngày
càng dồi dào, phong phú, thị trường được mở rộng, khái niệm thị trường được hiểu đầy đủ
hơn. Đó là lĩnh vực trao đổi hàng hoá thông qua tiền tệ làm vật môi giới.
Ngày nay các nhà kinh tế học thống nhất với nhau khái niệm về thị trường như sau: Thị
trường một quá trình trong đó người bán người mua tác động qua lại với nhau để
xác định giá cả và sản lượng.
* chế thị trường: là chế tự chỉnh nền kinh tế hàng hoá dưới sự tác động khách quan
của các quy luật kinh tế vốn có của nó, cơ chế đó được giải quyết những vấn đề cơ bản của
nền kinh tế.
Từ đó ta có khái niệm: “Nền kinh tế mà trong đó những vấn đề cơ bản của nó do thị trường
quyết định, vận động theo cơ chế thị trường gọi là “nền kinh tế thị trường””.
Trong hội thảo “Phấn đấu đưa nghị quyết của Đảng vào cuộc sống hai ý kiến khác
nhau:
Một là, xem kinh tế thị trường phương thức vận hành kinh tế lấy thị trường hình thành
do trao đổi lưu thông hàng hoá làm người phân phối các nguồn lực chủ yếu, lấy lợi ích
vật chất, cung cầu, thị trường mua bán giữa hai bên làm chế khuyến khích hoạt động
kinh tế. Nó là một phương tổ chức vận hành kinh tế – hội. Tự không mang tính kinh
tế – xã hội, không tốt mà cũng không xấu. Tốt hay xấu là do người sử dụng nó. Theo quan
điểm này, kinh tế thị trường là vật “trung tính”, “công nghệ sản xuất” ai sử dụng cũng
được.
Hai là, xem kinh tế thị trường một loại quan hệ kinh tế hội, in đậm dấu của lực
lượng hội làm chủ thị trường. Kinh tế thị trường một phạm trù kinh tế hoạt động,
chủ thể của quá trình hoạt động đó, sự tác động lẫn nhau của các chủ thể hoạt động.
Trong hội giai cấp, chủ thể hoạt động trong kinh tế thị trường không phải chỉ cái
riêng lẻ đó còn là những tập đoàn xã hội, những giai cấp. Sự hoạt động qua lại của các chủ
thể hành động đó có thể có lợi cho người này tầng lớp hay giai cấp này, có hại cho tầng lớp
hay giai cấp khác cho nên kinh tế thị trường mặt tích cực, mặt tiêu cực nhất định
không thể nhấn mạnh chỉ một mặt trong hai mặt đó.
Hiện nay không một nước nào trên thế giới nền kinh tế thị trường vận động theo
chế thị trường “hoàn hảo”, hoàn toàn do sự chi phối của “bàn tay hình” theo cách nói
của Adam Smith, nhà kinh tế chính trị học sản cổ điển Anh thế kỷ XIII trái lại
chúng đều vận động theo chế thị trường sự điều tiết của nhà nứơc những mức độ
phạm vi khác nhau. nước ta kinh tế thị trường Đảng nhà nước ta chủ trương
xây dựng phát triển trong thời quá độ lên CNXH, “nền kinh tế nhiều thành phần
theo định hướng XHCN, vận động theo cơ chế thị trường có sự quản lí của nhà nước”.
* Đặc điểm của nền kinh tế thị trường:
10
thể nói, kinh tế thị trường kinh tế hàng hoá phát triển đến giai đoạn cao. Kinh tế thị
trường là một loại hình mà trong đó, các mối quan hệ kinh tế giữa con người với con người
đuợc biểu hiện thông qua thị trường, tức là thông qua việc mua-bán, trao đổi hàng hoá tiền
tệ. Trong kinh tế thị trường, các qua hệ hàng hoá -tiền tệ phát triển, mở rộng, bao quát
nhiều lĩnh vực, có ý nghĩa phổ biến đối với người sản xuất và người tiêu dùng. Do nảy sinh
hoạt động một cách khách quan trong những diều kiện lịch sử nhất định, kinh tế thị
trường phản ánh trình độ văn minh và sự phát triển của xã hội, là nhân tố phát triển sức sản
xuất, tăng trưởng kinh tế, thúc đẩy hội tiến lên. Tuy nhiên, kinh tế thị trường cũng
những khuyết tật tự thân, đặc biệt tính tự phát quáng, sự cạnh tranh lạnh lùng, dẫn
đến sự phá sản, thất nghiệp, khủng hoảng chu kỳ…
KTTT trước hết là kinh tế hàng hoá, với đặc trưng phổ biến của nó là người sản xuất làm ra
sản phẩm với mục đích để bán, để trao đổi chứ không phải để tự tiêu dùng, hay sản phẩm
dư thừa ngẫu nhiên như trước.
KTTT nền kinh tế sự đa dạng về hình thức sở hữu, về thành phần kinh tế, về hình
thức phân phối.
KTTT được sử dụng như một công cụ, một phương tiện để phát triển lực lượng sản xuất,
phát triển kinh tế phục vụ lợi ích của đa số nhân dân lao động nhằm mục tiêu dân giàu,
nước mạnh, xã hội công bằng văn minh.
KTTT nguồn lực tổng hợp to lớn về nhiều mặt khả năng đưa nền kinh tế vượt khỏi
thực trạng thấp kém, đưa nền kinh tế hàng hoá phát triển trong cả những điều kiện vốn,
ngân sách Nhà nước còn hạn hẹp.
KTTT luôn vận động, phát triển tái sinh, do đó để nâng cao hiệu lực quản lý của nhà nước,
các phải thường xuyên được bổ xung hoàn thiện.chính sách kinh tế vĩ mô
KTTT gắn liền với nhà nước pháp quyền và nhà nước sẽ quản lý bằng pháp luật.
2. Kinh tế thị trường theo định hướng XHCN ở Việt Nam.
2. 1. Sự cần thiết khách quan phải phát triển nền kinh tế thị trường định hướng XHCN
nước ta.
Lịch sử nhân loại đã chứng kiến nhiều mô hình kinh tế khác nhau. Mỗi một hình đó
sản phẩm của trình độ nhận thức nhất định trong những điều kiện lịch sử cụ thể. thể
khái quát rằng, lịch sử phát triển của sản xuất và đời sống của nhân loại đã và đang trãi qua
hai kiểu tổ chức kinh tế thích ứng với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất phân
công lao động hội, hai thời đại kinh tế khác hẳn nhau về chất. Đó thời đại kinh tế tự
nhiên, tự cung-tự cấp; thời đại kinh tế hàng hoá giai đoạn cao của được gọi
kinh tế thị trường.
Kinh tế tự nhiên là kiểu kinh tế–xã hội đầu tiên của nhân loại. Đó là phương thức sinh hoạt
kinh tế ở trình độ ban đầu là sử dụng những tặng vật của tự nhiên và sau đó đựơc thực hiện
thông qua những tác động trực tiếp vào tự nhiên để tạo ra những giá trị sử dụng trong việc
duy trì sự sinh tồn của con người. được hẹp trong mối quan hệ tuàn hoàn khép kín
giữa con người tự nhiên, tiêu biểu giữa lao động đất đai làm nền tảng. Hoạt
động kinh tế gắn liền với xã hội sinh tồn, với kinh tế nông nghiệp tự cung-tự cấp. Nó đã tồn
tại và thống trị trong các xã hội Công nguyên thuỷ, chiếm hữu nô lệ, phong kiến và tuy
không còn giữ địa vị thống trị nhưng vẫn còn tồn tại trong XHTB cho đến ngày nay. Kinh
tế tự nhiên, hiện vật, sinh tồn, tự cung-tự cấp gắn liền với quan niệm truyền thống về kinh
tế XHCN tuy đã có tác dụng trong điều kiện chiến tranh, góp phần mang lại chiến thắng vẻ
vang của dân tộc ta, song khi chuyển sang xây dựng và phát triển kinh tế, chính mô hình đó
đã tạo ra nhiều khuyết tật, nền kinh tế không động lực, không có sức đua tranh, không
phát huy được tính chủ động sáng tạo của người lao động, của các chủ thể sản xuất- kinh
doanh, sản xuất không gắn liền với nhu cầu, ý chí chủ quan đã lấn át khách quan triệt
tiêu mọi động lực-sức mạnh nội sinh của bản thân nền kinh tế, đã làm cho nền kinh tế suy
thoái thiếu hụt, hiệu quả thấp, nhiều mục tiêu của CNXH không thực hiện được.
Kinh tế hàng hoá, bắt đầu bằng kinh tế hàng hoá đơn giản, ra đời từ chế độ Cộng sản
nguyên thuỷ tan rã, dựa trên hai tiền đề cơ bản là có sự phân công lao động xã hội và có sự
tách biệt về kinh tế do chế độ sở hữu khác nhau về liệu sản xuất. Chuyển từ kinh tế tự
nhiên, tự cung-tự cấp sang kinh tế hàng hoá là đánh dấu bước chuyển sang thời đại kinh tế
của sự phát triển, thời đại văn minh của nhân loại. Trong lịch sử của mình, vì thế của kinh
tế hàng hoá cũng dần được đổi thay từ chỗ như kiểu tổ chức kinh tế – xã hội không phổ
biến, không hợp thời trong hội Chiếm hữu lệ của những người thợ thủ công nhân
dân tự do, đến chỗ được thừa nhận trong xã hội Phong kiến, và đến CNTB thì kinh tế hàng
hoá giản đơn không những được thừa nhận còn được phát triển đến giai đoạn cao hơn
đó là kinh tế thị trường.
KTTT giai đoạn phát triển cao của kinh tế hàng hoá, cũng đã trãi qua ba giai đoạn phát
triển. Giai đoạn thứ nhất, là giai đoạn chuyển từ kinh tế hàng hoá giản đơn sang kinh tế thị
trường. Giai đoạn thứ hai giai đoạn phát triển kinh tế thị trường tự do. Đặc trưng quan
trọng của giai đoạn này sự phát triển kinh tế diễn ra theo tinh thần tự do, Nhà nước
không can thiệp vào hoạt động kinh tế. Giai đoạn thứ ba là giai đoạn kinh tế thị trường hiện
đại. Đặc trưng của giai đoạn này Nhà nước can thiệp vào kinh tế thị trường mở rộng
giao lưu kinh tế với nước ngoài. kinh tế thị trường những đặc trưng bản như :phát
triển kinh tế hàng hoá, mở rộng thị trường, tự do kinh doanh tự do thương mại, tự định giá
cả, đa dạng hoá sở hữu, phân phối do quan hệ cung cầu… đó là cơ chế hỗn hợp “có sự điều
tiết vĩ mô” của nhà nước để khắc phục những khuyết tật của nó.
Mặc dù sự hình thành và phát triển của kinh tế hàng hoá tự phát sẽ “hàng ngày hàng giờ đẻ
ra CNTB” và sự phát triển của kinh tế thị trường trong lịch sử diễn ra đồng thời với sự hình
thành phát triển của CNTB, nhưng tuyệt nhiên kinh tế thị trường không phải chế độ
kinh tế hội. kinh tế thị trường hình thức và phương pháp vận hành kinh tế. Đây
một kiểu tổ chức kinh tế hình thành và phát triển do những đòi hỏi khách quan của sự phát
triển lực lượng sản xuất. phương thức sinh hoạt kinh tế của sự phát triển. Quá trình
hình thành và phát triển kinh tế thị trường là quá trình mở rộng phân công lao động xã hội,
phát triển khoa học – công nghệ mới và ứng dụng chúng vào thực tiễn sản xuất kinh doanh.
Sự phát triển của kinh tế thị trường gắn liền với quá trình phát triển của nền văn minh nhân
loại, của khoa học – kỹ thuật, của lực lượng sản xuất.
Cho đến cuối những năm 80, về bản trong nền kinh tế nước ta sản xuất nhỏ vẫn còn
phổ biến, trạng thái kinh tế tự nhiên, hiện vật, tự cung-tự cấp đang còn chiếm ưu thế.
11
hội Việt Nam về bản vẫn dựa trên nền tảng của văn minh nông nghiệp lúa nước, nông
dân chiếm đại đa số. Việt Nam vẫn là một nước nghèo nàn, lạc hậu và kém phát triển. Phát
triển trở thành nhiệm vụ, mục tiêu số một đối với toàn Đảng, toàn dân ta trong bước đường
đi tới. Muốn vậy phải chuyển toàn bộ nền kinh tế quốc dân sang trạng thái của sự phát triển
phát triển nền kinh tế thị trường cùng với thực hiện công cuộc công nghiệp hoá,
hiện đại hoá.
Sự phát triển kinh tế hội nào rút cuộc cũng nhằm mục tiêu hội, nhân văn nhất định.
Phát triển theo nghĩa đầy đủ là bên cạnh sự gia tăng về lượng (tăng trưởng kinh tế) còn bao
hàm cả sự thay đổi về chất (những biến đổi về mặt xã hội). Học thuyết về hình thái kinh tế
hội của C. Mác một thành tựu khoa học của loài người. phác hoạ quy luật vận
động tổng quát của nhân loại, sự phát triển của hội loài ngừơi sẽ tiến tới Chủ nghĩa
Cộng sản mà giai đoạn thấp của nó là CNXH. CNXH không đối lập với phát triển, với kinh
tế thị trường, mà là một nấc thang phát triển của loài người được đánh dấu bằng tiến bộ xã
hội của sự phát triển. Nó là cách thức giải quyết của các quan hệ xã hội, là một sự thiết lập
một trật tự xã hội với mục tiêu dân giàu nước mạnh, xã hội công bằng văn minh. Cuộc đấu
tranh cách mạng trường kỳ gian khổ quyết liệt của nhân dân ta dưới sự lãnh đạo của
Đảng Cộng sản Việt Nam đứng đầu là chủ tịch Hồ Chí Minh nhằm giải phóng nhân dân lao
động đem lại cuộc sống hạnh phúc giàu sang cho nhân dân lao động. vậy, sự phát
triển của Việt Nam trong hiện tại và tương lai phải là sự phát triển vì sự giàu có, phồn vinh,
hạnh phú của nhân dân lao động, vì sự hùng mạnh và giàu có của toàn xã hội-toàn dân tộc,
sự phát triển mang tính XHCN, sự phát triển hiện đại. Nghĩa là, chúng ta phải phát
triển nền kinh tế thị trường định hướng XHCN.
2. 2. Một số đặc điểm chung của nền kinh tế thị trường ở Việt Nam.
Chuyển nền kinh tế từ hoạt động theo cơ chế kế hoạch tập trung – hành chính, quan liêu
bao cấp sang phát triển nền kinh tế nhiều thành phần, vận hành theo cơ chế thị trường có sự
quản lý của Nhà nước theo định hướng XHCN là nội dung, bản chất và đặc điểm khái quát
nhất đối với nền kinh tế nước ta trong hiện nay và tương lai. Đặc biệt, cương lĩnh xây dựng
đất nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH, được Đại hội đại biểu toàn quốc của Đảng cộng
sản Việt Nam lần thứ VII thông qua vào năm 1991 đã nêu lên những đặc trưng bản chất
của nền kinh tế thị trường và phát triển nền kinh tế thị trường theo định hướng XHCN.
Thứ nhất, nền kinh tế thị trường định hướng XHCN mà nước ta xây dựng là nền kinh tế thị
trường hiện đại với tính chất hội hiện đại. Mặc nền kinh tế nước ta đang nằm trong
tình trạng lạc hậu và kém phát triển nhưng khi nước ta chuyển sang phát triển kinh tế hàng
hoá, kinh tế thị trường, thì thế giới đã chuyển sang giai đoạn kinh tế thị trường hiện đại.
Bởi vậy, chúng ta không thể và không nhất thiết phải trãi qua giai đoạn kinh tế hàng hoá
giản đơn và giai đoạn kinh tế thị trường tự do mà đi thẳng vào phát triển kinh tế thị trường
hiện đại. Mặt khác, thế giới vẫn nằm trong thời quá độ từ CNTB lên CNXH, cho nên sự
phát triển kinh tế xã hội nước ta phải theo định hướng XHCN cần thiết khách quan và
cũng nội dung yêu cầu của sự phát triển rút ngắn. Sự nghiệp “dân giàu, nước mạnh,
hội công bằng văn minh” vừa là mục tiêu vừa là nội dung, nhiệm vụ của việc phát triển
kinh tế thị trường định hướng XHCN ở nước ta.
Thứ hai, nền kinh tế của chúng ta nền kinh tế hỗn hợp nhiều thành phần với vai trò chủ
đạo của kinh tế nhà nước trong một số lĩnh vực, một số khâu quan trọng ý nghĩa quyết
định đế sự phát triển kinh tế hội của đất nước. Nền kinh tế hàng hoá, nền kinh tế thị
trường phải là một nền kinh tế đa thành phần, đa hình thức sở hữu. Thế nhưng, nền kinh tế
thị trường chúng ta sẽ xây dựng nền kinh tế thị trường hiện đại, cho nên cần sự
tham gia bởi “Bàn tay hữu hình” của nhà nước trong việc điều tiết, quản nền kinh tế đó.
Đồng thời, chính sẽ bảo đảm sự định hướng phát triển của nền kinh tế thị trường. Việc
xây dựng kinh tế Nhà nước giữ vai trò chủ đạo là sự khác biệt có tính chất bản chất giữa
kinh tế thị trường định hướng XHCN với kinh tế thị trường TBCN. Tính định hướng
XHCN của nền kinh tế nước ta đã quy định kinh tế Nhà nước giữ vai trò chủ đạo, bởi lẽ
mỗi một chế độ xã hội đều có một cơ sở cho chế độ xã hội mới-chế độ XHCN.
Thứ ba, nhà nước quản nền định hướng XHCN nước ta nhà nước pháp quyền
XHCN, là nhà nước của dân, do dân và vỡ dân. Thành tố quan trọng mang tính quyết định
trong nền kinh tế thị trường hiện đại nhà nước tham gia vào các quá trình kinh tế. Nhà
nước ta là nhà nước “của dân, do dân và vỡ dân”, nhà nước công nông, nhà nước của đại đa
số nhân dân lao động, đặt dưới sự lãnh đạo của ĐCS Việt Nam. đủ bản lĩnh, khả
năng và đang tự đổi mới để bảo đảm giữ vững định hướng XHCN trong việc phát triển nền
kinh tế thị trường hiện đại ở nước ta.
Thứ tư, cơ chế vận hành của nền kinh tế được thực hiện thông qua cơ chế thị trường với sự
tham gia quản lý, điều tiết của Nhà nước. Mọi hoạt động sản xuất- kinh doanh trong nền
kinh tế được thực hiện thụng qua thị trường. Điều đó nghĩa nền kinh tế thị trường
định hướng XHCN nước ta vận động theo những quy luật nội tại của nền kinh tế thị
trường nói chung, thị trường vai trò quyết định đối với việc phân phối các nguồn lực
kinh tế. Việc quản Nhà nước nhằm hạn chế, khắc phục những “thất bại của thị trường”,
thực hiện các mục tiêu xã hội, nhân đạo mà bản thân thị trường không thể làm được.
vai trò quản của Nhà nước trong nền kinh tế thị trường hết sức quan trọng. Sự quản
của Nhà nước bảo đảm cho nền kinh tế tăng trưởng ổn định, đạt hiệu quả, đặc biệt bảo
đảm sự công bằng tiến bộ hội. không ai ngoài nhà nước lại thể giảm bớt sự
chênh lệch giữa giàu- nghèo, giữa thành thị nông thôn, giữa công nghiệp nông
nghiệp, giữa các vùng của đất nước. Tuy vậy, cần phải nhấn mạnh rằng sự can thiệp của
Nhà nước vào kinh tế sao cho tương hợp với thị trường.
Thứ năm, mở cửa, hội nhập nền kinh tế trong nước với nền kinh tế thế giới, trên cơ sở giữ
vững độc lập, tự chủ toàn vẹn lãnh thổ quốc gia nội dung quan trọng của nền kinh tế
thị trường nước ta. Quá trình phát triển của kinh tế thị trường đi liền với hội húa nền
sản xuất hội. Tiến trình hội húa trờn sở phát triển của kinh tế thị trường không
biên giới quốc gia về phương diện kinh tế. Một trong những đặc trưng quan trọng của
kinh tế thị trường hiện đại là việc mở rộng giao lưu kinh tế với nước ngoài. Xu hướng quốc
tế hóa đời sống kinh tế với những khu vực hóa toàn cầu hóa đang ngày càng phát triển
trở thành xu thế tất yếu trong thời đại của cuộc cách mạng khoa học công nghệ hiện
nay. Tranh thủ thuận lợi và cơ hội, tránh nguy cơ tụt hậu xa hơn vượt qua thách thức
yêu cầu nhất thiết phải thực hiện. Để phát triển trong điều kiện của kinh tế thị trường hiện
12
đại, Việt Nam không thể đóng cửa, khép kín nền kinh tế trong trạng thái tự cung- tự cấp mà
phải mở của, hội nhập với nền kinh tế thế giới trên cơ sở phát huy lợi thế so sánh và không
ngừng nâng cao sức cạnh tranh của nền kinh tế, giữ vững độc lập, tự chủ toàn vẹn lãnh
thổ quốc gia.
Thứ sáu, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế đồng thời với việc bảo đảm công bằng xã hội cũng là
một nội dung rất quan trọng trong nền kinh tế thị trường nước ta. Phát triển trong công
bằng được hiểu những chính sách phát triển phải bảo đảm sự công bằng hội, tạo
cho mọi tầng lớp nhân dân đều thể tham gia vào quá trình phát triển va được hưởng
những thành quả tương xứng với sức lực, khả năng và trí tuệ họ bỏ ra, giảm bớt chênh
lệch giàu nghèo giữa các tầng lớp dân giữa các vùng. Khác với nhiều nước, chúng ta
phát triển kinh tế thị trường nhưng chủ trương bảo đảm công bằng hội, thực hiện sự
thống nhất giữa tăng trưởng kinh tế công bằng hội, trong tất cả các giai đoạn của sự
phát triển kinh tế nước ta. Mức độ bảo đảm công bằng hội phụ thuộc rất lớn vào sự
phát triển, khả năng và sức mạnh kinh tế của quốc gia.
Tóm lại, quá trình phát triển nền kinh tế thị trường định hướng XHCN nước ta phải
“Quá trình thực hiện dân giàu nước mạnh, tiến lên hiện đại trong một hội nhân dân làm
chủ, nhân ỏi, có văn hóa, có kỉ cương, xóa bỏ áp bức bất công tạo điều kiện cho mọi người
có cuộc sống ấm no, tự do hạnh phúc”.
Từ những đặc trưng sự phát triển đúng hướng của nền kinh tế thị trường nước ta
chúng ta đó đạt được nhiều thành tựu to lớn:
* Nền kinh tế Việt Nam chuyển dần từ nền kinh tế kế hoạch hóa toàn diện, khép kín sang
một nền kinh tế thị trường mới, theo định hướng XHCN. Công cuộc đổi mới kinh tế
hội được mở đầu từ Đại hội VI của ĐCS Việt Nam ( 1986)
– Năm 1991 Đại hội VII của Đảng nhận định “Công cuộc đổi mới đó đạt được những thành
tựu bước đầu quan trọng nhưng nước ta vẫn chưa thoát khỏi khủng hoảng kinh tế xã hội”.
Năm 1996 Đại hội đảng VIII nhận định “Nước ta đã ra khỏi cuộc khủng hoảng kinh tế
xã hội, nhưng một số mặt cũng chưa được củng cố vững chắc”. Nền kinh tế Việt Nam đó ra
khỏi khủng hoảng với nhịp độ tăng trưởng kinh tế ngày càng cao: tốc độ tăng GDP bình
quân thời kỳ 1986- 1990 là 3, 6%; 1991-1995 là 8, 2%; 1996-2000 là 7%.
* Lạm phát được đẩy lùi từ 67, 4% năm 1990 xuống 12, 7% năm 1995, 0, 1% năm 1999 và
0% năm 2000. Phá được thế bao vây cấm vận, mở rộng quan hệ đối ngoại và chủ động hội
nhập kinh tế quốc tế, thu hút vốn đầu tư nước ngoài cùng nhiều công nghệ và kinh nghiệm
quản lý tiên tiến.
* Điều kiện vật chất và tinh thần của nhân dân được cải thiện rừ rệt, văn hóa không ngừng
tiến bộ. Việt Nam từ một nước thiếu lương thực đó trở thành một nước xuất khẩu gạo lớn
thứ hai trên thế giới.
* Quốc phũng và an ninh được đảm bảo, ổn định chính trị được giữ vững, các mối quan hệ
kinh tế được mở rộng với nhiều nước trên thế giới, bộ mặt đất nước đó những biến đổi
to lớn trên mọi lĩnh vực.
Đại hội IX khẳng định :”Đảng Nhà nước ta chủ trương thực hiện nhất quán lâu dài
chính sách phát triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần vận động theo chế thị
trường sự quản của nhà nước theo định hướng XHCN, đó nền kinh tế thị trường
theo định hướng XHCN”.
Chủ trương xây dựng phát triển nền kinh tế thị trường định hướng XHCN thể hiện
duy, quan niệm của đảng ta về sự phù hợp giữa quan hệ sản xuất với tính chất trình độ
của lực lượng sản xuất. Đó hình kinh tế tổng quát của nước ta trong thời kỡ quá độ
lên CNXH.
Trong công cuộc đổi mới hiện nay, Đại hội IX Đảng ta một lần nữa khẳng định: “Thực tiễn
phong phú và những thành tựu thu được qua 15 năm đổi mới đó chứng minh tính đúng đắn
của cương lĩnh được thông qua tại đại hội VII của Đảng đồng thời giúp đảng ta nhận thức
ngày càng rừ hơn về con đường đi lên CNXH ở nước ta. Chúng ta một lần nữa khẳng định :
Cương lĩnh là ngọn cờ chiến đấu vỡ thắng lợi của sự nghiệp xây dựng nước Việt Nam từng
bước quá độ lên CNXH định hướng cho mọi hoạt động của Đảng ta hiện nay trong
những thập kỉ tới. Đảng nhân dân ta quyết tâm xây dựng đất nước Việt Nam theo con
đường XHCN trên nền tảng chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh”.
Tuy vậy đi đôi với thành tựu rất nhiều khó khăn đũi hỏi phải phương hướng giải
quyết đúng đắn, đặc biệt, lao động việc làm đang vấn đề gay gắt nổi cộm nhất hiện
nay với tỉ lệ thất nghiệp ở thành thị là 74% tỉ lệ thiếu việc làm ở nông thôn là 30% tỉ lệ
lao động được đào tạo về chuyên môn thuật cũng thấp trong tổng số lao động :theo kết
quả điều tra dân số nhà ngày 1/4/1999, công nhân kỹ thuật nghiệp vụ chiếm 30,
3%; lao động có trình độ trung học chuyên nghiệp chiếm 36, 8%; trình độ Cao đẳng và Đại
học chiếm 31, 6%; trên Đại học chiếm 1, 3%. [Kinh tế phát triển số 42, tháng12/2000,
tr19]. Từ năm 2001, khi Việt Nam áp dụng chuẩn hóa đói nghèo mới thì tỷ lệ đói nghèo sẽ
cũng khỏ hơn, khoảng 17% so với 11% chuẩn cũ. Hiện tại, mức tiêu dùng của dân cư thấp,
tích lũy nội bộ của nền kinh
tế mới đạt khoảng 25-27%GDP, cũng tích lũy rũng chỉ đạt dưới 20% GDP. Trong khi đó
kết cấu hạ tầng cũng yếu kém, sản lượng điện bình quân đầu người mới chỉ đạt trên
340kwh, mật độ đường giao thông tính trên 1000 dân cũng thấp xa so với các nước xung
quanh. [Thời báo kinh tế Việt Nam, số 151, 18/12/2000]
Nguyên nhân phát sinh ra những khó khăn trên trong nội bộ nền kinh tế của nước ta vẫn
cũng tồn tại nhiều mâu thuẫn phát sinh trong quá trình xây dựng kinh tế thị trường.
3. Những mâu thuẫn phát sinh trong quá trình chuyển sang kinh tế thị trường Việt
Nam.
3. 1. Mâu thuẫn giữa phát triển kinh tế thị trường và mục tiêu xây dựng con người XHCN.
Chủ Tịch Hồ Chí Minh cho rằng muốn xây dựng CNXH trước hết phải con người
XHCN. Yếu tố con người giữ vai trò cực kỳ quan trọng trong sự nghiệp cách mạng, bởi vỡ
con người chủ thể của mọi sáng tạo, của mọi nguồn của cải vật chất văn hóa. Con
người phát triển cao về trí tuệ, cường tráng về thể chất, phong phú về tinh thần, trong sáng
về đạo đức là động lựu của sự nghiệp xây dựng xã hội mới, là mục tiều của CNXH. Từ một
nước nông nghiệp, lạc hậu đi lên CNXH, chúng ta phải bắt đầu từ con người, lấy con người
làm điểm xuất phát. Một trong những điều kiện đảm bảo thắng lợi cho sự nghiệp xây dựng
con người trong giai đoạn hiện nay đời sống sinh hoạt vật chất. Nhưng nhu cầu về vật
13
chất và tinh thần phong phú của con người chỉ có thể được thỏa món trong một nền kinh tế
vững vàng, ổn định, phát triển cao, tốc độ tăng trưởng nhanh. Việc tiến hành sự nghiệp
trồng người hôm nay gắn một cách chặt chẽ với quá trình mở rộng, hoàn thiện kinh tế
thị trường kết hợp với mở cửa giao lưu quốc tế. Đại hội Đảng lần thứ IX đó khẳng định :
“Giáo dục- đào tạo quốc sách hàng đầu, phát triển giáo dục- đào tạo một động lực
quan trọng thúc đẩy sự nghiệp công nghiệp hóa- hiện đại hóa đất nước, là điều kiện để phát
huy nguồn lực con người – yếu tố cở bản để phát triển xã hội, tăng trưởng kinh tế nhanh và
bền vững”.
KTTT là một loại hình kinh tế mà trong đó các mối quan hệ kinh tế giữa con người với con
người được biểu hiện thông qua thị trường, tức thông qua việc mua- bán, trao đổi hàng
hóa- tiền tệ. Trong kinh tế thị trường, các quan hệ hàng hóa- tiền tệ phát triển, mở rộng,
bao quát trờn nhiều lĩnh vực, có ý nghĩa phổ biến đối với người sản xuất tiêu dùng. Do
nảy sinh hoạt động một cách khách quan trong những điều kiện lịch sử nhất định, kinh
tế thị trường phản ánh trình đọ văn minh, sự phát triển của xã hội, nhân tố phát triển
sức sản xuất, tăng trưởng kinh tế, thúc đẩy hội tiến lờn. Tuy nhiên, kinh tế thị trường
cũng những khuyết tật tự thân, đặc biệt tính tự phát quáng, sự cạnh tranh lạnh
lùng, dẫn đến sự phá sản, thất nghiệp, khủng hoảng chu kỳ, ô nhiễm môi trường…
Xuất phát từ sự phân tích trên đây, chúng ta thấy rằng đối với nước ta hiện nay, không thể
xây dựng và phát triển con người nếu thiếu yếu tố kinh tế thị trường. Việc xây dựng, củng
cố, hoàn thiện cế thị trường có sự quản cả Nhà nước theo định hướng XHCN cũng
đồng nghĩa với việc tạo ra các điều kiện vật chất bản để thực hiện chiến lược xây dựng
phát triển con người cho thế kỷ XXI.
Trong những năm vừa qua, kinh tế thị trường ở nước ta đó được nhân dân hưởng ứng rộng
rói và đi vào cuộc sống rất nhanh chóng, góp phần khơi dậy nhiều tiềm năng sáng tạo, làm
cho nền kinh tế sôi động hơn, các hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ phát triển hơn,
bộ mặt thị trường được thay đổi. Đây là những kết quả đáng mừng, đáng được phát huy, nó
thể hiện sự phát triển và vận động đúng đắn các quy luật xã hội. quá trình biện chứng đi lên
CNXN từ khách quan đáng trở thành nhận thức chủ quan trên quy mô toàn xã hội.
Bên cạnh đó, có một khía cạnh khác cũng cần được đề cập đến: kinh tế thị trường ở nước ta
hiện nay không chỉ tạo ra điều kiện vật chất để xây dựng, phát huy nguồn lực con người,
cũng tạo ra môi trường hội thích hợp cho con người phát triển hài hòa, toàn diện cả
về thể chất lẫn tinh thần. kinh tế thị trường tạo ra sự cạnh tranh, chạy đua quyết liệt. Điều
đó buộc con người phải năng động, sáng tạo, linh hoạt, có tác phong nhanh nhẹn, có đầu óc
quan sát, phân tích để thích nghi hành động hiệu quả, từ đó nâng cao năng lực hoạt
động thực tiễn của con người, góp phần làm giảm đi sự chậm chạp trì trệ vốn của
người lao động trong nền kinh tế nông nghiệp lạc hậu từ ngàn đời con ngời Viêt Nam.
kinh tế thị trường tạo ra những điều kiện thích hợp để con người mở rộng các mối quan hệ,
giao lưu buôn bán, từ đó hình thành các chuẩn mực văn hóa, đạo đức mới theo tiêu chí thị
trường như chữ tín trong chất lượng, chữ tín trong giao dịch ….
Tuy nhiên, cần phải thấy rằng không phải cứ xây dựng được kinh tế thị trường những
phẩm chất tốt đẹp tự hình thành cho con người, những lúc, những nơi, kinh tế thị
trường không những không làm cho con người ta năng động hơn, tốt đẹp hơn mà ngược lại,
cũng làm tha húa bản chất con người, biến con người thành lệ sùng bài đồng tiền hoặc
kẻ đạo đức giả chỉ biết tôn trọng sức mạnh lợi ích nhân, sẵn sàng chà đạp lên nhân
phẩm, văn hóa, đạo đức, luân lý… Bờn cạnh những tác động tích cực, kinh tế thị trường
cũng nhiều khuyết tật, hạn chế gây ra những tác động xấu. Việc quá đề cao lợi ích
nhân, bất chấp lợi ích tập thể và lợi ích xã hội là một nguy cơ lớn. Lợi nhuận kích thích sản
xuất, nhưng mặt khác, lợi nhuận cũng tự phát đẩy con người tới những hành vi phá hoại
môi trưũng sống và làm tha húa đạo đức, nhân phẩm. Sự cạnh tranh trên thương trường làm
cho con người năng động hơn, sáng tạo hơn nhưng nhiều khi cũng làm mất đi lũng nhân ỏi,
vị tha, biến con người thành những cỗ mỏy chỉ biết tính toỏn một cách sũng phẳng, lạnh
lựng, thiếu nhân tính. Quan hệ hàng húa – tiền tệ làm sống động thị trường nhưng cũng làm
xói mũn nhân cách hạ thấp phẩm giỏ của con người. Ngoài ra đi kèm với kinh tế thị
trường là hàng loạt tệ nạn xã hội để đưa đến những rối loạn, khủng hoảng cho gia đình, hạt
nhân, tế bào của hội. Nạn cờ bạc, rượu chè, mại dâm, ma tuý, buụn lậu, hối lộ, tham
nhũng… những căn bệnh trầm kha không dễ khắc phục trong kinh tế thị trường. Thật
không sai khi hình dung kinh tế thị trường là con dao hai lưỡi, nếu dùng không cẩn thận rất
dễ bị đứt tay.
Những phân tích trên đây cho thấy, kinh tế thị trường mục tiêu xây dựng con người
XHCN là một mâu thuẫn biện chứng trong thực tiễn nước ta hiện nay. Đây chính là hai mặt
đối lập của một mâu thuẫn xã hội. Giữa kinh tế thị trường và quá trình xây dựng con người
vừa có sự thống nhất, vừa có sự đấu tranh. kinh tế thị trường vừa tạo ra những điều kiện để
xây dựng, phát huy nguồn lực con người, vừa tạo ra những độc tố đầu độc, hủy hoại con
người.
Việc giải quyết những mâu thuẫn trên đây việc làm không đơn giản. Đối với nước ta,
mâu thuẫn giữa kinh tế thị trường quá trình xây dựng con người được giải quyết bằng
vai trò lãnh đạo của Đảng, sự quản của Nhà nước theo định hướng XHCN. Đảng ta xác
định: “Sản xuất hàng hóa không đối lập với CNXH mà thành tựu phát triển của nền văn
minh nhân loại, tồn tại khách quan, cần htiết cho công cuộc xây dựng CNXH cả khi
CNXH đó được xây dựng ”. Như vậy, Đảng ta vạch ra sự thống nhất giữa kinh tế thị
trường mục tiêu xây dựng con người mới XHCN : ”Việc áp dụng chế thị trường đũi
hỏi phải nâng cao năng lực quản của Nhà nước, đồng thời xác lập đầy đủ chế độ
tự chủ của các đơn vị sản xuất kinh doanh. Thực hiện tốt vấn đề này không phát huy được
tác động tích cực, to lơn cũng như ngăn ngừa, hạn chế, khắc phục những tiêu cực, khiếm
khuyết của kinh tế thị trường. Các hoạt động sản xuất kinh doanh phải hướng vào phục vu
công cuộc xây dựng nguồn lực con người. Cần phải tiến hành các hoạt động văn hóa, giáo
dục nhằm khắc phục tâm lý sựng bỏi đồng tiền, bất chấp đạo lý, coi thưũng các giỏ trị nhân
văn. Phải ra sức phát huy các giá trị tinh thần, đạo đức, thẩm mỹ, các di sản văn hóa, nghệ
thuật của dân tộc. Đây chính là công cụ, phưong tiện quan trọng để tác động, góp phần giải
quyết mâu thuẫn đó nêu”. Và Đại hội Đảng IX cũng xác định : ”Xây dựng đội ngũ cán bộ,
trước hết cán bộ lãnh đạo quản ở các cấp vững vàng về chính trị, gương mẫu về đạo
14
đức, trong sạch về lối sống, có trí tuệ, kiến thức và năng lực hoạt động thực tiễn, gắn bó với
nhân dân”.
Túm lại, kinh tế thị trường mục tiều xây dựng CNXH một mâu thuẫn biện chứng
hội trong thực tiễn nước ta hiện nay. Mâu thuẫn đó được giải quyết bằng cách tăng cường
vai trò lãnh đạo của Đảng, nâng cao hiệu lực quản của Nhà nước và phát huy tối đa các
giá trị tinh thần dân tộc.
3.2. Mâu thuẫn giữa phát triển kinh tế thị trường và định hướng XHCN.
Một trong những luận điểm rất quan trọng phản ánh tư duy mới của Đảng ta thể hiện trong
văn kiện Đại hội Đảng VI : ”chính sách, cấu kinh tế nhiều thành phần”. Từ đó, Đảng
ta từng bước xác định chủ trương xây dựng nước ta một nền kinh tế thị trường theo định
hướng XHCN. Trải qua thực tiễn đổi mới, chính sách, cơ cấu kinh tế nhiều thành phần, vận
hành theo chế thị trường, sự quản của Nhà nước, theo định hướng XHCN đó đưa
lại hiệu quả, góp phần lớn vào sự thành công của sự nghiệp xây dựng bảo vệ tổ quốc.
Năm 1996, khi tổng kết 10 năm đổi mới, chúng ta đó thống nhất đánh giá, đó là quyết sách
chiến lược đúng đắn của Đảng. Nhờ đó đó tạo nờn những thành tựu to lớn, đưa nước ta vào
thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa.
Tuy nhiên, trong khi nghiên cứu, thảo luận, đóng góp ý kiến vào dự thảo văn kiện Đại hội
IX, có ý kiến băn khoăn về việc Đảng ta tiếp tục xác định chủ trương xây dựng ” nền kinh
tế thị trường định hướng XHCN”, nhất cụm từ ”định hướng XHCN” người cho rằng
:” cả về thuyết và thực tiễn, kinh tế thị trường điều kiện tất yếu để phát triển kinh tế –
không thể đi đôi với định hướng XHCN được” và ”Giữa hai cái phải chọn lấy một, không
thể ”Bắt hai tay”” theo họ, nếu chọn định hướng thì “đấy thất bại, ngừ cụt”. í
kiến đó lập luận rằng đó nền kinh tế thị trường thì đương nhiên nó vận động theo định
hướng TBCN, nước ta đang cần phát triển, cần vận dụng chế thị trường để thu hút mọi
nguồn lực cho phát triển kinh tế, thì hà tất phải nêu “định hướng XHCN”. Việc nêu cụm từ
”định hướng XHCN” có thể dẫn đến hai điều bất lợi: một là, kinh tế thị trường là sản phẩm
của CNTB nên không thể gắn cho cái định hướng XHCN; hai là, nêu định hướng
XHCN vào đây dễ gây ra nghi ngại cho các nhà đầu tư, nhất các nhà đầu nhân
trong nước và các nhà đầu tư từ các nước TBCN.
Như đó biết, vào cuối thời kỳ cụng xã nguyên thủy, đầu thời kỳ xã hội nụ lệ, loài người đó
có một bước nhảy vọt trong lĩnh vực sản xuất ra của cải vật chất. Trong sản xuất đó bắt đầu
sản phẩm thặng dư, tức là phần sản phẩm vượt quá phần sản phẩm tất yếu do người sản
xuất tạo ra, mặc dù lúc đầu sự ”dư thừa” đó chỉ là ngẫu nhiên, nhưng cùng với lao động
hữu được xác lập, người lao động đó thể làm chủ những sản phẩm ”dư thừa” đó, mang
trao đổi với nhau để nhận lại những sản phẩm mình thiếu do kết quả của phân cụng
chuyên mụn húa đưa lại. Thị trường sơ khai xuất hiện từ đó.
Tuy nhiên, phải trải qua quá trình phát triển lâu dài, mói đến giai đoạn cuối hội phong
kiến đầu hội TBCN thì kinh tế thị trường mới được xác lập, phải đến cuối giai đoạn
của CNTB tự do kinh doanh cạnh tranh thì kinh tế thị trường mới được xác lập hoàn toàn.
KTTT trước hết là kinh tế hàng hóa với đặc trưng phổ biến của nó là những người sản xuất
làm ra sản phẩm với mục đích để bán (để trao đổi), chứ không phải để tự tiêu dùng, hay sản
phẩm dư thừa ngẫu nhiên như trước. Ngày nay, khi kinh tế thị trường hiện đại đó phát triển
một cách phổ biến thì đặc trưng căn bản đó không những không mất đi mà cũng được bổ
sung, làm phong phú thêm bởi các hình thức nội dung của quan hệ trao đổi vai trò
can thiệp của Nhà nước vào quá trình đó.
Như vậy, kinh tế thị trường phát triển từ khai đến hiện đại một công trình sỏng tạo
của loài người trong quá trình sản xuất và trao đổi, đó là trình độ văn minh mà nhân loại đó
đạt được. Do đó, mọi quan niệm cho rằng kinh tế thị trường phát minh riêng của CNTB
không căn cứ : việc đồng nhất kinh tế thị trường với CNTB để rồi né tránh, hoặc sử
dụng nó như một công cụ tạm thời, hoặc coi việc áp dụng cơ chế thị trường có nghĩa là mặc
nhiên chấp nhận con đường TBCN… đều thể dẫn đến những sai lầm đáng tiếc. Sự ra
đời của kinh tế thị trường TBCN chỉ đẩy lùi kinh tế thị trường lên một giai đoạn phát triển
mới về chất cả về quy mô, tính chất và mức độ bao quát của nó. Là sự phát triển tiếp tục xu
hướng khách quan nền kinh tế của CNXH nói chung, của thời kỳ quá độ lên CNXH nói
riêng, là một sự phát triển mang tính phủ định biện chứng đối với kinh tế thị trường TBCN.
Từ đấy ra đời một nền kinh tế thị trường mới về chất.
KTTT bao giờ cũng tồn tại dưới một thể chế chính trị, một chế độ chính trị. Nhờ sử dụng
triệt để kinh tế thị trường, CNTB đó đạt được những thành tựu về kinh tế hội, phát
triển lực lượng sản xuất, nâng cao năng xuất lao động. Cũng nhờ kinh tế thị trường, quản lý
hội đạt được những thành quả về văn minh hành chính, văn minh công cộng, con người
nhạy cảm, tinh tế, với khả năng sáng tạo, sự thách thức đua tranh phát triển.
Ngay trong văn kiện Đại hội VIII, Đảng ta đó khẳng định : “Sản xuất hàng hóa thành
tựu, văn minh của nhân loại”, chúng ta không chỉ kiên định “Không bỏ qua kinh tế hàng
hóa” như văn kiện Đại hội VI đó nêu, cũng khẳng định kinh tế thị trường cũng tồn tại
khách quan cho đến khi CNXH được xây dựng. Trong dự thảo văn kiện Đại hội IX lại tiếp
tục khẳng định :”Đảng Nhà nước ta chủ trương thực hiện nhất quán lâu dài chính
sách phát triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, vận hành theo chế thi trường, có
sự quản lý của Nhà nước theo định hướng XHCN”.
Mặt khác, vấn đề định hướng phát triển cho nền kinh tế thị trường cũng vấn đề đáng
được quan tâm. Trong lịch sử hình thành Nhà nước, chức năng kinh tế thường xuyên xuất
hiện sau chức năng hành chính công, lúc đầu chỉ “mờ nhạt”, đơn thuần thu thuế của các
tầng dân hoạt động sản xuất kinh doanh. Nhưng, do tính tự phát của kinh tế thị
trường đó gây ra hậu quả ngày càng nặng nề mà xã hội phải gánh chịu, Nhà nước phải can
thiệp sâu hơn về kinh tế. Từ đó, chức năng kinh tế của Nhà nước cũng dần được xác định.
Học thuyết của J. M. Kên (Nhà kinh tế học Anh, 1884. 1946) một điển hình về sự kờu
gọi phải “Bàn tay hữu hình” của Nhà nước can thiệp vào thị trường để hạn chế tính tự
phát, tiêu cực của chế thị trường… Do đó, việc can thiệp vào quá trình kinh tế đó được
coi là đương nhiên, mang tính quy luật của kinh tế thị trường, và việc định hướng phát triển
cho nền kinh tế đó cũng hoàn toàn phụ thuộc vào bản chất giai cấp của đảng cầm quyền.
Nhà nước là sản phẩm của đấu tranh giai cấp, là công cụ của giai cấp cầm quyền, nhà nước
can thiệp vào kinh tế thị trường nhằm bảo vệ lợi ích của giai cấp, Đảng cầm quyền. Nhà
nước TBCN can thiệp vào kinh tế thị trường ngay từ buổi bình minh của để đẩy
15
nhanh quá trình tích lũy nguyên thủy của bản, nhằm hình thành phát triển CNTB;
ngay cả sau này, khi nhà nước TBCN ban hành các đạo luật chống độc quền cũng không
phải vỡ lợi ích của giai cấp cần lao mà vẫn vỡ lợi ích toàn cục của chế độ TBCN nói chung
và của các tập đoàn tài chính nói riêng.
Vì vậy, việc Nhà nước ta quản lý vĩ mô nền kinh tế, định hướng XHCN cho nền kinh tế thị
trường là điều đương nhiên, phù hợp với tính quy luật đó hình thành trong thực tiễn. Ngay
trong Nghị quyết Trung ương 4 khóa VIII, Đảng ta đó khẳng định :”Đổi mới và tăng cường
quản Nhà nước về kinh tế hội”. Coi đó như một chính sách lớn để đảm bảo cho
định hướng XHCN được thực hiện.
Việc xác định “định hướng XHCN” cho nền kinh tế thị trường mà chúng ta đang xây dựng
liệu gây ra sự nghi ngại cho các nhà đầu hay không? Chúng ta biết rằng, mục đính
đầu của các nhà bản trong hay ngoài nước trước hết phải thu được lợi nhuận, tỷ
xuất lợi nhuận càng cao thì khả năng thu hút đầu tư càng lớn, đó là bản chất của vấn đề. Do
đó, việc có hay không sự nghi ngại của các nhà đầu tư, nhất là các nhà đầu tư có xuất xứ từ
các nước TBCN, phụ thuộc trước hết vào vấn đề lợi thế so sánh giữa thị trường Việt Nam
với thị trường quốc tế; sau đó những vấn đề thuộc môi trường kinh doanh như :cơ sở hạ
tầng, hệ số an toàn về vốn, pháp luật, chính sánh, sự hấp dẫn của thị trường, những ưu đói
tính cạnh tranh cao trong thu hỳt đối tác đầu so với các nước trong khu vực… chứ
không phải là có hay không cụm từ “định hướng XHCN” trong văn kiện của Đại hội Đảng.
Trong bước chuyển sang kinh tế thị trường, vấn đề “định hướng XHCN” được xem xét một
cách bản, toàn diện từ kinh tế đến chính trị, hội. Xột riêng gúc độ kinh tế, “định
hướng XHCN” chỉ được xem từ bản thân phương thức sản xuất, từ hình thỏi kinh tế
hội, không thể xem xét “định hướng XHCN” trong phạm vi kinh tế. Xét riêng phạm vi kinh
tế, có hai nhân tố khách quan trực tiếp góp phần bảo đảm tính “định hướng XHCN”. Trước
hết định hướng về chế độ kinh tế, vai trò quản của Nhà nước XHCN sau đó vai
trò chủ đạo của kinh tế Nhà nước.
Về chế độ kinh tế, trải qua một số năm đổi mới, nền kinh tế nước ta đó mang bản chất mới,
chứa đựng những động lực phát triển bên trong từ những khả năng vốn của chế độ sở
hữu đa dạng. Nhờ chuyển sang kinh tế thị trường, kinh tế phát triển, đời sống nhân dân
được cải thiện, bước đầu niềm tin vào CNXH của người dân được củng cố. Trong lũng
dân, CNXH không chỉ là những triết tự lý thuyết trừu tượng gắn liền với những vấn đề
cụ thể của đời thường tiến về phía trước phù hợp với cách nghĩ, cách làm của hàng triệu
quần chúng. Vì vậy, càng đổi mới kinh tế càng gần với CNXH hơn.
Chế độ kinh tế mới mang tinh thần dân chủ, giải phóng sức sản xuất, thật sự tôn trọng
nhân, phát triển nhân trong quan hệ hợp tác, sở của nền dân chủ mang bản chất
XHCN, trong đó quyền công dân về kinh tế, trước hết quyền tự do sản xuất, buôn bán
công khai, hîp pháp, lao động tích lũy phát triển sản xuất- kinh doanh, biết làm giàu cho
mình cho hội được bảo đảm. Cũng từ đó lợi ích thiết thân của mỗi người được thực
hiện tạo điều kiện để thực hiện chiến lược kinh tế xã hội của đất nước. Chúng ta không
thể thực hiện được ý tưởng “định hướng XHCN” nếu không coi trọng đúng mức kinh tế
hàng hóa, kinh tế thị trường gắn kiền với kinh tế nhiều thành phần và xu hướng xã hội hóa,
không biệt lập mà đoàn kết, trong đó có xu hướng chỉ đạo.
“Định hướng XHCN” cũng thể hiện ở quan hệ phân phối: phân phối cụng bằng sẽ tạo động
lực cho sự phát triển. Trong kinh tế thị trường, chúng ta chủ trương phân phối theo lao
động, theo vốn trên sở khuyến khích mọi người tự do sản xuất kinh doanh công khai
hợp pháp, đồng thời thực hiện chính sách cụng bằng hội. Chế độ XHCN chế độ của
con người, do con người, vỡ con người do đó chúng ta chủ trương chống bóc lột, bất công,
chăm lo sự nghiệp y tế, giáo dục, đấu tranh cho nền đạo đức mới, một lối sống lành mạnh.
Khả năng định hướng trước hết phụ thuộc vào yếu tố chính trị- sự lãnh đạo của Đảng, sự
cân nhắc chọn lựa từ những yếu tố dân tộc, thời đại. Một Đảng đủ bản lĩnh mới vỡ
CNXH, vỡ hạnh phỳc của nhân dân, trớ tuệ, khả năng hình thành một hệ thống tri
thức khoa học cụng nghệ chính trị thích hợp, sức hỳt đối với các lực lượng kinh tế
khác, có năng lực tổ chức thực tiễn. Thực tiễn lãnh đạo cách mạng cũng như công cuộc đổi
mới kinh tế ở Việt Nam chứng tỏ không một Đảng nào ngoài ĐCS Việt Nam làm được
điều đó. Chính công cuộc đổi mới đó củng cố thờm niềm tin của nhân dân về vai trò lãnh
đạo của Đảng, về con đường XHCN mà Đảng và Bác Hồ đó lựa chọn.
KTTT gắn liền với nhà nước pháp quyền, nhân tố định hướng cũng tựy thuộc vào năng lực
quản lý, điều hành nhà nước. Nhà nước điều hành nền kinh tế trên cơ sở pháp luật và bằng
pháp luật bảo đảm sự bình đẳng của các chủ thể kinh tế, hạn chế những khuyết tật vốn
của thị trường, chống lại những động lực vật chất trái chiều của nó. Khả năng định hướng
cũng tựy thuộc vào khả năng kiểm soát của Nhà nước, trên cơ sở xác định rừ các chủ thể
tham gia thị trường, tạo môi trường cho hoạt động sản xuất- kinh doanh, đồng thời chống
được tệ tham nhũng quan liêu, làm trong sạch bộ máy Nhà nước. Khả năng định hướng
cũng tựy thuộc vào việc xây dựng đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý, đội ngũ lao động kiểu
mới, trung thành với tưởng XHCN, kiến thức để xây dựng CNXH. Cùng với việc
thừa nhận sự tồn tại lâu dài của các thành phần kinh tế nước ta cho đến khi CNXH được
xây dựng thành công như đó nêu trong văn kiện Đại hội VIII của Đảng, lần này trong văn
kiện Đại hội IX, Đảng ta khẳng định : mọi tổ chức kinh doanh theo các hình thức sở hữu
khác nhau hoặc đan xen hỗn hợp đều được khuyến khích phát triển lâu dài, hợp tác, cạnh
tranh bình đẳng và là bộ phận cấu thành của nền kinh tế thị trường định hướng XHCN.
Như vậy, việc xác định chủ trương thực hiện nhất quán và lâu dài chính sách phát triển nền
kinh tế nhiều thành phần, xây dựng “nền kinh tế thị trường định hướng XHCN” hoàn toàn
không phải kiểu “Bắt hai tay hay một sự lựa chọn theo hệ tưởng… do Đảng áp
đặt lên toàn hội”. Trái lại, đó một chủ trương đúng đắn, là sự nhất quán giữa cương
lĩnh đầu tiên của Đảng ta với tính chất của thời đại ngày nay, thời đại quá độ từ CNTB lên
CNXH trên phạm vi toàn thế giới. Do đó, việc phát triển kinh tế thị trường theo định hướng
XHCN không những không làm hạn chế khả năng thu hút đầu cho xây dựng, phát triển
đất nước mà cũng là động lực tinh thần và vật chất to lớn để thực hiện chính sách đại đoàn
kết toàn dân, phát huy nội lực – sức mạnh dân tộc, gắn với nguồn lực bên ngoài – sức mạnh
thời đại để dân tộc ta vững bước tiến vào thế kỷ mới.
3.3. Mâu thuẫn giữa lợi ích cá nhân và lợi ích xã hội.
16
Lợi ích sự tồn tại hiện thực trong quan hệ giữa người với người trong đời sống hội.
không phải sản phẩm thuần tỳy của ý thức, sản phẩm của ý thức phản ánh
những điều kiện khách quan cỏi quyết định ý thức hành động của con người. Do đó,
không thể tách lợi ích ra khỏi con người và đời sống xã hội của con người.
xã hội là một hệ thống lớn được tạo nên từ những cá nhân cụ thể. Nói cách khác, do lợi ích
thông qua việc thực hiện lợi ích các nhân mới tập hợp, liên kết lại với nhau,
mối quan hệ chặt chẽ với nhau, và do đó tạo thành xã hội. Để có được sự tăng trưởng kinh
tế, bất kỳ một chính sách kinh tế nào cũng đều phải quan âm đến lợi ích cá nhân. Bất cứ ai
bỏ vốn ra kinh doanh hay học tập rèn luyện để có trình độ chuyên môn và nghề nghiệp cao
mà chẳng nhằm mục đích thu lợi cho cá nhân và thỏa món nhu cầu của cá nhân mình.
Trong điều kiện chế thị trường, mỗi con người cụ thể có những nhu cầu riêng, không ai
giống ai, có thể phù hợp hay không phù hợp, phát triển không theo hướng tích cực mà theo
hướng tiêu cực, hướng chủ nghĩa nhân. Từ đó xuất hiện mâu thuẫn giữa lợi ích cá nhân
lợi ích hội. Việc giải quyết hài hòa mối quan hệ lợi ích nhân lợi ích hội
vai trò ý nghĩa to lớn. Trong nhận thức hoạt động thực tiễn, chúng ta cần tránh sai
lầm khi thấy sự thống nhất không thấy sự khác biệt giữa các mặt lợi ích hoặc chỉ thấy
sự khác biệt không thấy sự thống nhất giữa chúng. Sự phát triển hội lịch sử núi
chung chỉ thể diễn ra bình thường, lành mạnh, đi đúng quy luật, khi mỗi nhân nhận
thức tự giác về mối quan hệ nhận- hội xột trờn phương diện lợi ích. Mác Ăng-
ghen đó chỉ rừ :”Chừng nào con người trong xã hội hình thành một cách tự nhiên, do đó
chừng nào cũng sự chia cắt giữa lợi ích riêng lợi ích chung, chừng nào cũng sự
phân chia hoạt động cũng được tiến hành không phải một cách tự nguyện một cách tự
nhiên thì chừng đó hành động của bản thân con người sẽ trở thành một lực lượng xa lạ, đối
lập với con người, dịch cho con người, chứ không phải bị con người thống trị.
vậy, sự thống nhất biện chứng của các loại lợi ích trong quan hệ cá nhân – xã hội là cơ sở,
động lực thúc đẩy cá nhân hành động”.
Trong các loại lợi ích, lợi ích riêng của nhân vai trò to lớn, vỡ đáng ứng nhu cầu
hưởng thụ chính đáng của con người. Lợi ích cá nhân mang tính chất trực tiếp, cụ thể cũng
lợi ích chung của tập thể, xã hội mang tính giỏn tiếp. Do vậy, trong bất cứ thời đại nào, mỗi
cá nhân bao giờ cũng hành động vỡ lợi ích của bản thân mình. Chính Vì vậy lợi ích cá nhân
đóng vai trò là cơ sở, động lực trực tiếp kích thích tính tích cực của con người. cũng lợi tập
thể hội thể hiện vai trò, động lực của mình thụng qua lợi ích của mỗi nhân. Mối
quan hệ biện chứng giữa cá nhân và xã hội chỉ có thể được thực hiện đúng đắn khi quan hệ
lợi ích nhân xã hội được giải quyết một cách hài hòa. Đó là quá trình lợi ích của
cá nhân này không xõm phạm đến lợi ích của cá nhân khác và của toàn xã hội.
Hồ Chớ Minh nêu rằng :”… Lợi ích cá nhân là nằm trong lợi ích tập thể, là bộ phận của lợi
ích tập thể. Lợi ích chung của tập thể được bảo đảm thì lợi ích riêng của nhân mới
điều kiện để được thỏa món” “đặt lợi ích của Đảng, của nhân dân lao động lên trên lợi
ích của cá nhân mình”. Đây chính quan điểm cơ bản xác định vị trí và mối quan hệ giữa
lợi ích riêng và lợi ích chung.
Trong các hội giai cấp búc lột thống trị thì bất cứ giai cấp thống trị nào cũng mưu
toan vĩnh viễn hóa đặc quyền lợi ích của chúng cho nên cái gọi là “lợi ích chung, lợi ích
hội” thực chất là lợi ích của giai cấp thống trị. Tuyệt đại đa số nhân dân lao động bị áp bức
bóc lột, buộc phải phục vụ cho cái gọi là ”lợi ích chung” đó. Dĩ nhiên, lợi ích cá nhân trong
tình hình đó bị hạn chế, bị chà đạp, thậm chí bị tước đoạt. Bởi vậy, không thể sở
dung hũa mối quan hệ giữa lợi ích chung lợi ích riêng. Trong chế độ XHCN, chế độ
nhân dân lao động làm chủ, mỗi nhân một thành viên của tập thể, giữ một vị trí nhất
định, do đó cũng đóng gáp một phân công lao vào thành tựu chung của toàn hội.
vậy, dưới chế đô XHCN ”lợi ích chung của tập thể được đảm bảo thì lợi ích riêng của
nhân mới có điều kiện được thỏa món”. Khi mà CNXH chưa được xây dựng một cách hoàn
chỉnh thì giữa
lợi ích nhân lợi ích chung nhiều khi vẫn cũng nhiều mâu thuẫn, thậm chớ xung đột.
Ngoài lợi ích của dân tộc, của tổ quốc thì Đảng ta không có lợi ích nào khác. Chính Vì vậy,
mỗi cán bộ Đảng viên phải nhận thức rừ đươc rằng ”lợi ích nhân nhất định phải phục
tùng lợi ích của Đảng, lợi ích của mỗi bộ phận nhất định phải phục tùng lợi ích của toàn
thể. Lợi ích tạm thời phải phục tùng lợi ích lâu dài. Nghĩa phải đặt lợi ích của Đảng lên
trên hết vỡ lợi ích cả Đảng tức lợi ích của dân tộc của tổ quốc, Chủ tịch Hồ Chí Minh
khẳng định một cách dứt khoát :”nếu gặp khi lợi ích chung của Đảng mâu thuẫn với lợi ích
riêng của cá nhân thì phải kiên quyết hi sinh lợi ích của cá nhân cho lợi ích của Đảng…”.
Trên thực tế ở nước ta hiện nay, không ít cán bộ, đảng viên chỉ quan tâm đến lợi ích cá
nhân mình, chỉ chăm lo vun vén cho mình vỡ lợi ích riêng mà sẵn sàng giày xộo lờn lợi ích
chung của toàn thể hội. Nhiều trường hợp do bị chủ nghĩa nhân chi phối đó mượn
danh nghĩa tập thể để làm ăn bất chính, làm giàu cho riêng bản thân và gia đình mình, làm
tổn hại đến lợi ích chung của tâp thể, xã hội nhiều chục tỉ đồng… Hiện tượng xem nhẹ, coi
thương lợi ích chung của tập thể, xã hội, đề cao lợi ích cá nhân tới mức tuyệt đối hóa nó là
khá phổ biến. Mâu thuẫn giữa lợi ích cá nhân lợi ích hội nếu không giải quyết tốt sẽ
xảy ra bất cụng hội. Nếu gợi ích nhân bị vi phõm thì hội sẽ mất đi một động lực
của sự phát triển, ngược lại, nếu chỉ có cá nhân có lợi cũng lợi ích xã hội bị vi phạm thì nạn
nhân của sự bất cụng lại là cộng đồng xã hội. Cả hai lợi ích này lại thống nhất trong lợi ích
quốc gia, lợi ích dân tộc. Nếu vỡ do nào đó chúng bị tổn hại thì quốc gia dân tộc
cũng bị ảnh hưởng trực tiếp sẽ thể hiện rừ nhất của khủng hoảng về lợi ích, về
nhận thức của mỗi cá nhân và cộng đồng, sẽ ảnh hưởng đến quá trình xây dựng nền kinh tế
nước ta. Sự đấu tranh giữa hai mặt đối lập, lợi ích nhân lợi ích hội trong tính
thống nhất của lợi ích quốc gia tất yếu sẽ dẫn đến sự đẩu tranh chuyển hóa giữa
chúng. Phương thức của sự chuyển hóa mà chúng ta sẽ tác động vào chính là phương pháp
giải quyết mâu thuẫn. Để giải quýờt mâu thuẫn giữa lợi ích cá nhân và lợi ích xã hội, về
bản phải kết hợp hài hòa giữa lợi ích nhân lợi ích hội, đồng thời phải chống lại
những biểu hiện tiêu cực của chủ nghĩa nhân. Trong việc đấu tranh chông chủ nghĩa cá
nhân, chúng ta cần phân biệt rừ lợi ích nhân chính đáng với chủ nghĩa cá nhân. Lợi ích
nhân chính đáng cái tích cực, một động lực của sự phát triển hội, vỡ không
những không đi ngược lại lợi ích chung cũng tiền đề để thực hiện lợi ích chung.
17
cũng chủ nghĩa nhân cỏi tiều cực vỡ khuynh hướng, lối sống của những người
đặt lợi ích cá nhân, gia đình lờn trờn cả lợi ích tập thể, lợi ích xã hội. Nhận thức đúng về lợi
ích nhân lợi ích hội trách nhiệm đạo đức của mỗi con người trong hội hiện
nay.
3.4. Mâu thuẫn giữa lực lượng sản xuất (LLSX) và quan hệ sản xuất (QHSX).
“Lực lượng sản xuất là mối quan hệ giữa con người với tự nhiên được hình thành trong quá
trình sản xuất”
“Quan hệ sản xuất toàn bộ những quan hệ giữa người người trong quá trình sản xuất
và tỏi sản xuất xã hội”. Nú được thể hiện ở ba mặt cơ bản sau:
– Quan hệ sở hữu đối với tư liệu sản xuất.
– Quan hệ trong tổ chức và quản lý sản xuất.
– Quan hệ phân phối sản phẩm lao động.
Ba mặt nói trên là một thể thống nhất hữu cơ tạo thành quan hệ sản xuất, trong đó quan hệ
sở hữu về tư liệu sản xuất có ý nghĩa quyết định đối với các mặt quan hệ khác.
Trong công cuộc xây dựng phát triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, vận hành
theo cơ chế thị trường sự quản của Nhà nước theo định hướng XHCN nước ta hiện
nay, vấn đề lực lượng sản xuất quan hệ sản xuất một vấn đề hết sức phức tạp được
Đảng ta đặc biệt quan tâm. Điều đó được thể hiện trong quán triệt luận của Chủ nghĩa
Mác- Lờnin và tư tưởng Hồ Chí Minh về CNXH. lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất
hai mặt của phương thức sản xuất, chúng tồn tại không tách rời nhau tác động biện
chứng lẫn nhau hình thành quy luật phổ biến của toàn bộ lịch sử loài người – quy luật về sự
phù hợp quan hệ sản xuất với tính chất và trình độ của lực lượng sản xuất . Quy luật này
vạch rừ sự phụ thuộc khách quan của quan hệ sản xuất vào trình độ phát triển của lực
lượng sản xuất , cũng như sự tác động trở lại của quan hệ sản xuất đối với lực lượng sản
xuất trong quá trình sản xuất phát triển hội. Theo đó lực lượng sản xuất nội dung
của phương thức sản xuất cũng quan hệ sản xuất hình thức hội của nú, lực lượng sản
xuất quyết định quan hệ sản xuất. Trong quá trình sản xuất để lao động bớt nặng nhọc
đạt hiệu quả cao hơn, con người luôn tìm cách cải tiến, hoàn thiện cụng cụ lao động và chế
tạo ra những công cụ lao động mới, tinh xảo hơn. Cùng với sự biến đổi phát triển công
cụ lao động thì kinh nghiệm sản xuất, thói quen lao động, kỹ năng sản xuất, kiến thức khoa
học của con người cũng tiến bộ. lực lượng sản xuất trở thành yếu tố hoạt động nhất, cách
mạng nhất. cũng quan hệ sản xuất yếu tố tương đối ổn định, khuynh hướng lạc hậu
hơn sự phát triển của lực lượng sản xuất .
Cùng với sự phát triển của lực lượng sản xuất , quan hệ sản xuất cũng hình thành biến
đổi cho phù hợp với tính chất trình độ của lực lượng sản xuất . Sự phù hợp đó động
lực làm cho lực lượng sản xuất phát triển mạnh mẽ. Nhưng lực lượng sản xuất luôn phát
triển cũng quan hệ sản xuất xu hướng tương đối ổn định. Khi lực lượng sản xuất phát
triển lên một trình độ mới thì quan hệ sản xuất không cũng phự hợp với nữa, trở thành
chướng ngại, kìm hóm sự phát triển của lực lượng sản xuất , sẽ nảy sinh mâu thuẫn gay gắt
giữa hai mặt của phương thức sản xuất. Sự phát triển khách quan đó tất yếu dẫn đến việc
xóa bỏ quan hệ sản xuất cũ, thay thế bằng một kiểu quan hệ sản xuất mới phự hợp với tính
chất và trình độ của lực lượng sản xuất , mở đường cho lực lượng sản xuất phát triển. quan
hệ sản xuất yếu tố quyết định, làm tiền đề cho lực lượng sản xuất phát triển khi phù
hợp được với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất . Nó làm nhiệm vụ chỉ ra mục tiêu,
bước đi tạo ra quy thích hợp cho lực lượng sản xuất hoạt động, cũng như bảo đảm
lợi ích chính đáng của người lao động, phát huy tính tích cực, sáng tạo của con người
nhân tố quan trọng và quyết định trong lực lượng sản xuất .
nước ta, giai đoạn đầu của thời kỳ quá độ, khi thành phần kinh tế XHCN chưa chiếm vị
trí độc tôn, khi các thành phần kinh tế khác nhiều khả năng góp phần làm cho sản xuất
phát triển, thì một số yếu tố trong quan hệ sản xuất vượt lên lực lượng sản xuất hướng
vào việc tạo ra sở vật chất- kỹ thuật ban đầu. đây, phải kể đến yếu tố chủ quan của
việc Đảng lãnh đạo, Nhà nước phát động tính tích cực hội của quần chúng bằng những
lợi ích vật chất và tinh thần yờu nước vốn có của họ. Tuy nhiên, không thể cho rằng những
yếu tố tiên tiến của quan hệ sản xuất mói là tiền đề thúc đẩy sự phù hợp giữa lực lượng sản
xuất và quan hệ sản xuất, chúng chỉ tác động tích cực trong một thời gian ngắn. Tại Đại hội
VI, Đảng ta đó hoàn toàn đúng khi nhận định :”. . . lực lượng sản xuất bị kìm hóm không
chỉ trong trường hợp quan hệ sản xuất lạc hậu, mà cả khi quan hệ sản xuất phát triển không
đồng bộ, có những yếu tố đi quá so với trình độ của lực lượng sản xuất “.
Quan hệ sở hữu đối với tư liệu sản xuất ở nước ta là một vấn đề cần được quan tâm. Sự lớn
mạnh của lực lượng sản xuất tất yếu dẫn tới mâu thuẫn với chế độ sở hữu nhân TBCN,
mục tiêu của kinh tế thị trường ở Việt Nam là phải dựa trên chế đô sở hữu hội về
liệu sản xuất, tức sự làm chủ của người lao động đối với những tư liệu sản xuất chủ yếu
của hội. Sở hữu hội cũng tức sở hữu Nhà nước, muốn vậy kinh tế Nhà nước phải
phát triển mạnh để thâu tóm nền kinh tế. Nhưng nếu xét trên quan điểm toàn diện, thì kinh
tế Nhà nước hiện nay phát triển chưa đạt yêu cầu nguyên nhân chính do ý thức thái
độ của một số người làm việc trong hệ thống kinh tế Nhà nước cũng chưa đúng đắn, các
thủ tục hành chính liên quan đến kinh tế cũng phức tạp, bệnh quan liều bao cấp vẫn cũn.
Quan hệ trong tổ chức quản sản xuất, phân phối sản phẩm nước ta cũng nhiều bất
cập. Tổ chức quản lý sản xuất là điều kiện thiết yếu cho sự phát triển của sản xuất. Một nền
sản xuất muốn phát triển không chỉ dựa trên những cấu tổ chức quản lỗi thời, chồng
chộo. nước ta hiện nay, qua quá trình đổi mới đó xây dựng được một hệ thống chính
sách mà bao quát ở tầm vĩ mô thì nú đó giải quyết được những vấn đề chính của kinh tế thị
trường: định hướng XHCN, phát triẻn thành phần kinh tế Nhà nước, tiến tới sở hữu toàn
dân, bảo đảm sự công bằng hội. . . Nhưng đi vào cụ thể thì cũng nhiều việc cần phải
xem xột thờm. Đó sự chồng chéo về chức năng giữa các quan quản lý, quá nhiều
quan cùng quản về một lĩnh vực nhưng chẳng quan nào chịu trách nhiệm hính
cả; sự độc quyền quản Nhà nước về một số ngành, lĩnh vức như điện, than. . . làm cho
các cơ quan quản lý tương ứng đó sinh kiêu căng, ỷ lại, không ý thức tự vươn lên, ngày
càng xa rời quần chúng. Một số chủ trương cũng mâu thuẫn nhau như khuyến khích sản
xuất trong nước với việc nhập khẩu tràn lan các mặt hàng làm sản xuất trong nước lao đao.
. .
18
Phân phối nước ta với mục tiêu tới mọi người đều đầy đủ các nhu cầu cần thiết.
Nhưng hiện nay, vẫn cũng một số vựng nghèo, cơ sở vật chất rất thiếu thốn trong khi đó
đo thị thì sản phẩm quá thừa tạo nên sự mất cân bằng trong quan hệ phân phối, ảnh
hưởng sâu sắc đến đời sống nhân dân.
Như vậy, trong quá trình xây dựng nền kinh tế thị trường hiện nay ở Việt Nam, mâu thuẫn
giữa lực lượng sản xuất tiên tiến với quan hệ sản xuất lạc hậu kìm hóm nú diễn ra gay gắt –
quyết liệt cần được giải quyết. Muốn giải quyết mâu thuẫn này, ta phải nhận biết được
nguyên nhân kết quả của sự đấu tranh giữa hai mặt đối lập đó tìm ra phương thức
thích hợp để tác động vào sự đấu tranh và chuyển hóa giữa chúng. Từ đó ta có một số biện
pháp để giải quyết mâu thuẫn trên :
Cần phải nắm vững định hướng XHCN trong việc xây dựng nền kinh tế nhiều thành phần.
Vỡ, thứ nhất, mỗi thành kinh tế có bản chất, hoạt động khác nhau và không tránh khỏi mâu
thuẫn. Thứ hai, nền kinh tế nhiều thành phần tự nó không đi theo định hướng XHCN mà có
xu hướng tự phát TBCN. Thứ ba, việc xử vấn đề cấu phát triển, cấu thành phần
kinh tế có liên quan đến sự tồn tại và phát triển của chế độ XHCN ở nước ta.
Tiếp tục đổi mới cơ chế quản lý kinh tế vỡ việc xây dựng nền kinh tế thị trường không thể
tách rời việc xây dựng đông bộ và vận hành có hiêu quả cơ chế quản lý kinh tế – cơ chế thị
trường sự quản của Nhà nước theo định hướng XHCN. Xây dựng củng chế
phân phối trong nền kinh tế thị trường.
Mâu thuẫn giữa lực lượng sản xuất quan hệ sản xuất nước ta mâu thuẫn giữa hai
mặt đối lập thống nhất trong phương thức sản xuất XHCN, việc giải quyết mâu thuẫn này
sẽ thúc đẩy kinh tế phát triển, dẫn đến việc chuyển hóa giữa chúng tạo nên phương thức
sản xuất mới: phương thức sản xuất Cộng sản chủ nghĩa.
4. Kết luận
4.1. Kết luận
Mâu thuẫn một hiện tượng khách quan phổ biến, tồn tại trong tất cả các sự vật, hiện
tượng, ở mọi giai đoạn tồn tại phát triển của sự vật vât hiện tượng. Nhưng các sự vật,
hiện tượng khác nhau mỗi giai đoạn phát triển khác nhau của mỗi sự vật hiện tượng
mỗi lĩnh vực, mỗi yếu tố cấu thành môt sự vật sẽ có những mâu thuẫn khác nhau. Sự thống
nhất đấu tranh giữa các mặt đối lập tạo thành xung lực nội tại của sự vận động phát
triển dẫn đến sự mất đi của cái sự ra đời của cái mới tiến bộ hơn. Do đó, trong hoạt
động thực tiễn phát triển từng mặt đôc lập tạo thành mâu thuẫn cụ thể để nhận thức được
bản chất, khuynh hướng vận động phát triển của sự vật, hiện tượng để từ đó tìm ra phương
thức, phương tiện lực lượg khả năng giải quyết mâu thuẫn tổ chức thực hiện để
giải quyết mâu thuẫn. vậy trong đời sống hội, mọi hành vi đấu tranh cần đươc coi là
chân chính khi nó thúc đẩy sự phát triển.
Việc xuất hiện những mâu thuẫn trong kinh tế phải được coi một thực thế khách quan.
Bởi vỡ việc giải quyết những mâu thuẫn ấy chính động lực để chúng ta thể phát huy
được hết thế mạnh của mình, duy trì sự thống nhất ổn định, nhằm mục tiêu chung
phát triển kinh tế, mang lại cuộc sống ấm no hạnh phúc một xã hội cụng bằng, dân chủ,
văn minh.
Trong việc xây dựng và phát triển nền kinh tế thị trường theo định hưóng XHCN ở nước ta
đó đạt được nhiều thành tựu to lớn. Song bên cạnh đó đang nảy sinh hàng loạt mâu
thuẫn giữa các kiểu kinh tế thị trường như một đặc trưng của CNTB với việc thực hiện
kinh tế thị trường nước ta, mâu thuẫn giữa sự yếu kém của quan hệ sản xuất so với trình
độ phát triển cả lực lượng sản xuất , giữa việc phát triển kinh tế thị trường với định hướng
XHCN, mâu thuẫn giữa kinh tế thị trường và mục tiêu xây dựng con người XHCN …
Sự thành công trong sự nghiệp xây dựng CNXH nước ta phụ thuộc vào việc giải quyết
các mâu thuẫn trên. Vấn đề đặt ra phải nghiên cứu những mâu thuẫn đó tìm ra
phương hướng giải quyết chúng. Nghiên cứu mâu thuẫn phải thấy được mâu thuẫn nào
là cơ bản, mâu thuẫn nào là không cơ bản, rồi cuối cùng tìm ra hướng giải quyết, từ đó các
mâu thuẫn không cơ bản sẽ được giải quyết.
4.2. Giải pháp cho nền kinh tế thị trường ở Việt Nam hiện nay.
Muốn giải quyết tốt các mâu thuẫn trong nền kinh tế thị trường ở Việt Nam hiện nay, trước
hết ta phải nắm được cơ sở lý luận của vấn đề, đây là những quan điểm, chủ trương, đường
lối của Đảng Nhà nước, nhứng vấn đề tình tất yếu, quy luật cần được vận dụng
giải quyết những vướng mắc trong thực tiễn cuộc sống. Chủ tịch Hồ Chí Minh viết :”thống
nhất luận thực tiễn mụt nguyên tắc căn bản của chủ nghĩa Mác- Lờnin. Thực tiễn
không luận hướng dẫn thi hành thành thực tiễn quáng. luận không liên hệ
với thực tiễn là lý luận suụng…” Lý luận mà ta quan tõm ở đây chính là lý luận mâu thuẫn
biện chứng của chủ nghĩa Mác- Lờnin.
Nhà nước ta nhà nước XHCN, nhà nước của nhân dân, do nhân dân vỡ nhân dân.
Chúng ta tiến tới một hội có sở toàn dân, sở hữu Nhà nước. Muốn được vậy thì Nhà
nước phải vai trò chủ đạo trong nền kinh tế, tức Nhà nước phải nắm việc ”cầm lái”
con thuyền kinh tế. Để nền kinh tế nước ta vận hành theo cơ chế thị trường sự điều tiết
của Nhà nước theo định hướng XHCN cần giải quyết những vấn đề cơ bản sau:
– Thứ nhất, thực hiện tốt vai trò, chức năng quản lý của Nhà nước về kinh tế. Nhà nước
chức năng bản tổ chức xây dựng kinh tế vậy có chức năng quản lý. Trong nền
kinh tế thị trường vai trò của Nhà nước ngày càng đặc biệt quan trọng. Một nền kinh tế thị
trường mà không có sự can thiệp của Nhà nước thì khác nào vỗ tay bằng một bàn tay.
Ở nước ta, chức năng quản lý Nhà nước về kinh tế cần tập trung vào những nội dung sau:
+ Tạo điều kiện, môi trường cho các quy luật kinh tế hoạt động như quy luật giá trị, quy
luật cung cầu, quy luật cạnh tranh. Đồng thời phát triển thị trường đồng bộ như thị trường
liệu sản xuất, liệu tiêu dùng, thị trường tài chính, thị trường lao động, thị trường dịch
vụ… Trên sở đó thị trường mới thể tham gia phân phối nguồn lực khai thác tài
nguyên có hiệu quả.
+ Tập trung vào việc xây dựng, hoàn thiện hệ thống luật pháp, chính sách tạo môi trường
bình đẳng cho sự hoạt động của các thành phần kinh tế.
Những năm gần đây Nhà nước ta bổ sung, sửa đổi hoàn thiện hệ thông luật pháp, chính
sách tương đối phù hîp với điều kiện trong nước thông lệ quốc tế nhằm hoàn thiện
chế thị trường. Tuy nhiên, vẫn cũng nhiều kẽ hở, thiếu đồng bộ, hoặc sai
lệch làm cho các hình thức kinh tế bị mộo mú, các thành phần kinh tế gặp khú khăn như
19
chính sách thuế, chính sách cạnh tranh, cơ chế độc quyền ở một số ngành, lĩnh vực. Có một
số chính sách làm thiệt hại cho đối tượng này nhưng lại tạo kẽ hở cho đối tượng khác luồn
lách, thoát ra khỏi sự kiểm soát của Nhà nước.
vậy việc sửa đổi hoàn thiện hơn nữa hệ thống luật pháp, chính sách, tạo ra khung
pháp rừ ràng, ổn định làm ”sân chơi cho mọi hoạt động sản xuất kinh doanh. Sửa đổi
hệ thống chính sách theo hướng giảm bao cấp, ôm đồm, đa dạng hóa các hình thức sở hữu
tạo điều kiện cho sự cạnh tranh lành mạnh trong nền kinh tế.
+ Tập trung phát triển hệ thống giáo dục- Đào tạo, phát triển tiềm lực khoa học công
nghệ và xây dựng kết cấu hạ tầng.
Đây những vấn đề rất quan trọng tạo sở cho sự hoàn thiện chế thị trường. Trong
nền kinh tế thị trường, các đơn vị sản xuất kinh doanh đều thực hiện mục tiêu lợi nhuận, họ
tìm kiếm những ngành hàng, lĩnh vực đầu thuận lợi, vốn it, thu hồi nhanh. Các lĩnh vực
giáo dục- đào tạo, khoa học công nghệ, kết cấu hạ tầng đầu tư vốn lớn, lâu dài, thu hồi
chậm nên không hấp dẫn các ngành đầu tư. vậy, Nhà nước phải thực hiện chức năng
này. Đồng thời trên sở đó Nhà nước nắm một bộ phận nguồn lực, những lĩnh vực then
chốt để chi phối, điều tiết các hoạt động kinh tế, xã hội bảo đảm cho sự tăng trưởng và phát
triển kinh tế.
+ Thực hiện có hiệu quả các chính sách xã hội, bảo vệ môi trường.
KTTT xu hướng phân hóa giai cấp, chênh lệch về thu nhập, đời sống giữa các tầng lớp
dân cư, giữa thành thị với nông thôn. Tăng trưởng kinh tế không gắn liền với tiến bộ
công bằng hội, làm cạn kiệt tài nguyên, tàn phá môi trường. Do vậy chỉ Nhà nước
mới thực hiện được các chính sách xã hội, chính sách phõp luật bảo vệ môi trường.
nước ta tiếp tục thực hiện các chính sách xóa đói giảm nghèo, chính sách đào tạo nghề,
hỗ trợ tìm kiếm việc làm, chính sách đầu vốn, các chương trình 327, 135, chương trình
phát triển nông nghiệp, nông thôn, trợ cấp gia đình có cụng với nước, người già neo đơn.
Trong nền kinh tế thị trường, quản Nhà nước về kinh tế không phải bằng sự can thiệp
trực tiếp vào sản xuất kinh doanh của các đơn vị doanh nghiệp mà chỉ thực hiện chức năng
định hướng, tạo môi trương thuận lợi thông qua hệ thống luất pháp, chính sách tạo dựng
những điều kiện vật chất, kỹ thuật cho việc phân bố lực lượng sản xuất khai thác tài
nguyên có hiệu quả.
Thứ hai, phát triển hoàn thiện hệ thống tài chính, tiền tệ, tạo điều kiện cho sản xuất hàng
hóa, kinh tế thị trường phát triển.
Hệ thống chính sách tài chính nước ta phải tạo điều kiện huy động các nguồn lực trong
xã hội để đầu tư phát triển làm tăng tích lũy cả khu vực nhà nước và khu vực dân cư.
Chính sách tài chính phải mở ra các luồng bơm, hút vốn, điều hũa vốn đầu phù hợp
trong từng thời kỳ. Chính sách tài chính tích cực phảí tác dụng hướng dẫn sản xuất
tiêu dùng, điều tiết sản xuất kinh doanh, điều tiết và phân phối thu nhập góp phần thực hiện
cụng bằng xã hội, đông thời kích thích sản xuất phát triển.
Chính sách tiền tệ thực hiện có hiệu quả sẽ góp phần kiềm chế và đẩy lùi lạm phát. Sự tăng
trưởng kinh tế sẽ không nghĩa, dẫn đến bùng nổ lạm phát trong nền kinh tế lạm
phát ở mức cao thì khú có thể tăng trưởng bền vững do đó sẽ không cơ sỏ kinh tế vững
chắc để hoàn thành các chính sách xã hội.
Thứ ba, tiếp tục giữ vững sự ổn định chính trị- hội. Kinh nghiệm của nhiều nước cho
thây, kinh tế chỉ phát triển mọt khi giữ được sự ổn định về chính trị- hội sự ổn định
mới bảo đảm cho chiến lược kế hoạch phát triển kinh tế không bị gián đoạn, mới tập
trung được nhân tài, vật lực cho sự phát triển kinh tế, mới tạo được sự yên tâm cho các nhà
đầu tư trong và ngoài nước và đảm bảo cho các chính sách xã hội về cụng bằng, dân chủ
văng minh được thực hiện một cách có hiệu quả.
Tuy nhiên, ổn định không nghĩa giữ nguyên, trái lại trên sở những kết quả đạt
được yêu cầu của công cuộc đổi mới kinh tế phải từng bước đổi mới hệ thống chính trị
giải quyết các vấn đề hội. Đối với nước ta, vấn đề cấp bách nhất vừa phỉa xây
dựng được Nhà nước pháp quyền đủ mạnh nhưng đồng thời vừa phải thực hành dân chủ.
Nhà nước phải vừa thực sự của dân, do dân vỡ dân, lại vừa thể hiện được sự thống
nhất về quyền lực.
– Thứ tư, phải kiên trì thực hiện đường lối phát triển kinh tế nhiều thành phần, đa dạng hóa
hình thức sở hữu liệu sản xuất. Trong những năm vừa qua chúng ta chưa chú ý đúng
mức đến kinh tế ngoài quốc doanh nên khu vực kinh tế này phát triển chậm. Tỷ trọng của
kinh tế ngoài quốc doanh trong GDP xu hướng giảm vấn đề khong phù hợp với
đường lối phát triển kinh tế đó đề ra. Giải pháp khắc phục tình trạng này không chỉ là đề ra
chủ trương đường lối cũng phải tổ chức, hướng dẫn giúp đỡ kinh tế ngoài quốc
doanh phát huy tiềm năng to lớn của mình. Phải kiên quyết chống những biểu hiện tiều cực
trong hoạt động của kinh tế ngoài quốc doanh như: buôn lậu, trốn thuế, lừa đảo, làm hàng
giả… nhưng đồng thời cũng phải khuyến khích những người, những doanh nghiệp làm
giàu chính đáng hợp pháp. Trong những lĩnh vực chỉ kinh tế quốc doanh, cần phải
thành lập một số sở để tạo ra sự cạnh tranh, thúc đẩy phát triển, khắc phục tình trạng
độc quyền vỡ độc quyền sẽ dẫn đến cửa quyền trì trệ. Cần phải mở rộng hình thức hỗn
hợp sở hữu giữa các thành phần kinh tế trong nước với nhau cũng như giữa trong nước với
nước ngoài nhằm tạo ra ngày càng nhiều doanh nghiệp kiểu “Tư bản Nhà nước”.
Thứ năm, phải kiên quyết giữ nghiêm kỷ cương phép nước và chống tệ nạn tham nhũng.
Trong nền kinh tế thị trường, động lực nhân được giải tỏa. nước ta những năm vừa
qua, thị trường đó xuất hiện mọi nơi, nhưng tất cả đều chưa hoàn chỉnh nên động lực
nhân biến dạng, méo mó. Tình trạng vi phạm kỷ cương phép nước xu hướng gia tăng,
tham những nguy phát triển. Để khắc phục tình trạng vi phạm kỷ cương phép nước
tham những hiện nay, Nhà nước cần sớm vạch ra một cái khung pháp lý, trong cái
khung đó các doanh nghiệp, cũng như mọi công dân được tự do hoạt động, phát huy tiềm
năng, sáng kiến của mình, nhưng tuyệt đối không được vượt ra khỏi cái khung pháp lý đó.
Mọi vi phạm cần phải ngăn cản và trừng phạt nghiêm minh.
KTTT tuy mặt trái không thể tránh khỏi của nó, nhưng về bản lâu dài, một
trong những điều kiện để thực hiện công bằng và bình đẳng xã hội. Bằng các biện pháp nêu
trờn, chúng ta hi vọng thể xây dựng tốt nền kinh tế nhiều thành phần, đưa đi đúng
hướng Đảng Nhà nước ta đó lựa chọn xây dựng một đất nước Việt Nam giàu
20
mạnh, mọi người dân được sống trong hoà bình, độc lập, tự chủ một hội cụng bằng,
dân chủ và văn minh.
11. Vận dụng quy luật phủ định của phủ định vào học tập
Mục tiêu giáo dục nhằm phát triển toàn diện con người Việt Nam có đạo đức, tri thức, văn
hóa, sức khỏe, thẩm mỹ nghề nghiệp; phẩm chất, năng lực ý thức công dân;
lòng yêu nước, tinh thần dân tộc, trung thành với lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa
hội; phát huy tiềm năng, khả năng sáng tạo của mỗi nhân; nâng cao dân trí, phát triển
nguồn nhân lực, bồi dưỡng nhân tài, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp xây dựng, bảo vệ Tổ
quốc và hội nhập quốc tế.
Trong thời điểm hiện tại thì ngành giáo dục ngày càng được thương mại hóa. Có thể thấy
nước ta bước vào thời kỳ hội nhập thế giới, hàng loạt hiệu định được kết, các nền văn
hóa, giáo dục lớn du nhập vào nước ta, ảnh hưởng không ít đến mọi mặt của đời sống.
Sự du nhập của nhiều nền văn hóa đã tạo sự đa dạng cho văn hóa Việt Nam, đặc biệt
duy của giới trẻ. Đặc biệt lĩnh vực giáo dục, học tập. Hiện nay các trường công không
còn là hướng đến tối ưu cho học sinh, sinh viên mà sự phát triển của các trường tư, trường
quốc tế đã là lựa chọn rất tốt cho học sinh, sinh viên.
Do đó tiếp bước sự phát triển, đổi mới quy luật phủ định của phủ định được áp dụng trước
hết đối với đội ngũ cán bộ quản lý và giáo viên ngành giáo dục và đào tạo. Theo đó đội
ngũ cán bộ quản lý, giáo viên cần có phẩm chất chính trị năng lực chuyên môn đáp ứng
yêu cầu nâng cao chất lượng giáo dục đào tạo - chất lượng. cần phải đạo đức
nghề nghiệp, trình độ chuyên môn, có ý chí vươn lên đặc biệt tiêu chí được đề cao nhất
hiện nay là khả năng tiếp nhận nhanh các phương pháp dạy học mới, hiện đại, áp dụng hiểu
quả, chuyển từ dạy học thụ động sang dạy học tích cực, lấy người học làm trung tâm; đổi
mới nội dung và phương pháp dạy học,...
Đối với học sinh, sinh viên (người học)
Phát triển giáo dục quốc sách hàng đầu. Thống nhất quan điểm coi học tập quyền
nghĩa vụ của công dân, cần thêm những chính sách về học bổng học phí để khuyến
khích giúp đỡ người học hoàn cảnh khó khăn, đảm bảo quyền được học cho tất cả
mọi người. Quán triệt quản điểm không phân biệt dân tộc, giàu nghèo, tôn giáo, tín
ngưỡng, giới tính, địa vị hội, nguồn gốc hội. Tạo điều kiện bình đẳng để người giỏi
được pháp huy tài năng;
Đối với sở vật chất - Kỹ thuật tại các sở giáo dục hội hóa sự nghiệp giáo dục
coi phát triển giáo dục là sự nghiệp của Nhà nước và của toàn dân.
Gia đình tế bào của hội, nền giáo dục Việt Nam phát triển theo nguyên học đi đối
với hành, giáo dục kết hợp với lao động sản xuất gắn liền giữa nhà trường với gia đình
xã hội.
12. Vận dụng vai trò của thực tiễn đối với nhận thức vào quá trình đổi mới Việt
Nam
Công cuộc thay đổi chính thức bắt nguồn từ việc Đảng ta thừa nhận và được cho phép tăng
trưởng kinh tế tài chính sản phẩm & hàng hóa nhiều thành phần, quản lý và vận hành theo
chính sách thị trường. Đó là một tất yếu khách quan khi ở vào thời kỳ quá độ như ở nước ta
lúc bấy giờ. Phải dung hòa và sống sót nhiều thành phần kinh tế tài chính là một tất yếu do
lịch sử dân tộc để lại tuy nhiên đưa chúng cùng sống sót tăng trưởng mới một yếu tố
nan giải, khó khăn vất vả. Bên cạnh việc thừa nhận sự sống sót của kinh tế tài chính tư bản
tư nhân, đương nhiên phải liên tục đấu tranh với khuynh hướng tự phát tư bản chủ nghĩa và
những mặt xấu đi trong những thành phần kinh tế tài chính, xử xích míc sống sót trong
sản xuất giữa chúng để cùng tăng trưởng .
Sự nghiệp thay đổi nước ta cung ứng một bài học to lớn về nhận thức. Đó bài học về
không cho quan điểm thực tiễn – nguyên tắc cơ bản của chủ nghĩa Mác – Lênin, quan điểm
bản số 1 của triết học Mác xít. Sự nghiệp thay đổi với đặc thù mới mẻ lạ mắt
khó khăn vất vả của yên cầu phải luận khoa học soi sáng. Sự mày về luận
phải trở thành tiền đề điều kiện kèm theo bản làm sở cho sự thay đổi trong hoạt
động giải trí thức tiễn. Tuy nhiên, luận không tự nhiên cũng không hề chờ
chuẩn bị sẵn sàng xong xuôi về lý luận rồi mới triển khai thay đổi. Hơn nữa, thực tiễn lại
sở để nhận thức, của luận. Phải qua thực tiễn rồi mới kinh nghiệm tay nghề, mới
có cơ sở đề khái quát thành lý luận .
vậy, quy trình thay đổi ở nước ta chính là quy trình vừa học vừa làm, vừa làm vừa tổng
kết lý luận, đúc rút thành quan điểm, thành đường lối để rồi quay trở lại quy trình thay đổi.
Có những điều tất cả chúng ta phải mò mẫm trong thực tiễn, phải trải qua thể nghiệm, phải
làm rồi mới biết, thậm chí còn nhiều điều phải chờ thực tiễn. dụ như vấn đè chống
lạm phát kinh tế, yếu tố khoán trong nông nghiệp, yếu tố phân phối mẫu sản phẩm
Trong quy trình đó, tất yếu sẽ không tránh khỏi việc phải trả giá cho những khuyết điểm,
xô lệch nhất định .
Ở đây, việc bám sát thực tiễn, phát huy óc phát minh sáng tạo của cán bộ và nhân dân là rất
quan trọng. Trên sở, phương hướng kế hoạch đúng, hãy làm rồi thực tiễn sẽ cho ta hiểu
sự vật hơn nữa đó bài học không riêng của sự nghiệp kháng chiến chống ngoại
xâm mà còn là bài học của sự nghiệp thay đổi vừa mới qua và lúc bấy giờ .
Trong khi tôn vinh vai trò của thực tiễn, Đảng ta không hề hạ thấp, không hề coi nhẹ
luận. Quá trình thay đổi quy trình Đảng ta không ngừng nâng cao trình độ luận của
mình, cố gắng nỗ lực tăng trưởng luận, thay đổi duy luận về chủ nghĩa hội
con đường đi lên chủ nghĩa hội nước ta. được bộc lộ qua năm bước chuyển của
thay đổi tư duy tương thích với sự hoạt động của thực tiễn đời sống trong những thực trạng
và điều kiện kèm theo mới
1. Bước chuyển thứ nhất:
Từ duy, dựa trên quy kinh tế tài chính hiện vật với sự tuyệt đối hóa sở hữu hội (
Nhà nước tập thể ) với sự tăng trưởng vượt trước của quan hệ sản xuất đối với sự phát
triền của lực lượng sản xuất dẫn tới hậu quả ngưng trệ sự tăng trưởng sản xuất sang
duy mới. Xây dựng nền kinh tế tài chính sản phẩm & hàng hóa nhiều thành phần trong đó
kinh tế tài chính nhà nước giữ vai trò chủ yếu trong sự thống nhất biện chứng với tính
phong phú những hình thức chiếm hữu, phong phú những hình thức phân phối, lấy phân
phối theo lao động làm đặc trưng hầu hết nhằm mục đích thôi thúc sản xuất tăng trưởng .
Đây chính bước chuyển bản ý nghĩa sâu xa tôn trọng quy luật khách
| 1/29

Preview text:

3. Bước chuyển thứ ba:
1. Vận dụng mối quan hệ giữa vật chất và ý thức trong cuộc sống 2 4. Bước chuyển thứ tư:
a. Trong kinh tế và chính trị
25. Bước chuyển thứ năm:
b. Trong việc xây dựng nền kinh tế mới
26. Từ lý luận về vai trò của thực tiễn đối với nhận thức của Chủ nghĩa Mác - Lê-nin 3. Cái chung và cái riêng 5
7. Đến quan điểm “Học đi đôi với hành” của Chủ tịch Hồ Chí Minh
4. Vận dụng cặp phạm trù nguyên nhân và kết quả để nói lên thực trạng của vấn đề tắc
nghẽn giao thông thủ đô Hà Nội. 5
13. Sự vận dụng của Đảng ta trong công cuộc đổi mới ở Việt Nam: 35
a. Một số nguyên nhân cơ bản dẫn đến tắc nghẽn giao thông.
5a. Những sai lầm về quy luật quan hệ sản xuất – lực lượng sản xuất trước kia
b. Hậu quả của việc tắc nghẽn giao thông:
6b. Sự hình thành và phát triển nền kinh tế nhiều thành phần trong giai đoạn hiện nay ở nước ta
c. Một số giải pháp và kiến nghị.
6c. Công nghiệp hóa vận dụng tuyệt vời quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với tính chất 5. Nội dung và hình thức 8
và trình độ phát triển của lực lượng sản xuất trong sự nghiệp đổi mới ở nước ta hiện nay
6. Nội dung và ý nghĩa phương pháp luận của cặp phạm trù tất nhiên và ngẫu nhiên qua 1
ví dụ trong lĩnh vực xã hội: 8
a. Khái niệm của phạm trù tất nhiên và ngẫu nhiên 9
14. Tìm hiểu kiến trúc thượng tầng ở Việt Nam hiện nay 38
a. Hành động, tư tưởng dựa trên chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh
b. Quan hệ biện chứng giữa tất nhiên và ngẫu nhiên trong ví dụ
9b. Chủ trương xây dựng nhà nước do dân và vì dân
c. Ý nghĩa của phương pháp luận trong tư duy và thực tiễn 11
15. Cuộc đấu tranh giai cấp của giai cấp vô sản trong điều kiện hiện nay 38
d. Phương pháp dự phòng để đáp ứng những thay đổi bất ngờ có thể xảy ra
12a. Về điều kiện hiện nay của đấu tranh giai cấp
7. Vận dụng thực tiễn cặp phạm trù bản chất và hiện tượng 12
b. Về nhận định về tình hình hiện nay của Đảng Cộng sản Việt Nam (Đại hội IX).
8. Ứng dụng quy luật lượng chất trong quá trình học tập và rèn luyện của học sinh, sinh viên 13
c. Đặc điểm giai cấp và đấu tranh giai cấp trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở
9. Ví dụ về quy luật thống nhất và đấu tranh giữa các mặt đối lập 13 Việt Nam
10. Vận dụng quy luật thống nhất và đấu tranh giữa các mặt đối lập vào đời sống thực tiễn
16. Về quan niệm, bản chất, giá trị, đặc trưng của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa hiện nay 14 Việt Nam 39
Bài số 1: Kinh tế thị trường và mâu thuẫn biện chứng trong nền kinh tế thị trường ở Việt
a. Về quan niệm và bản chất của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam Nam
14b. Về giá trị của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam
1. Khái quát chung về kinh tế thị trường (KTTT): 14
2. Kinh tế thị trường theo định hướng XHCN ở Việt Nam. 15
c. Về đặc trưng của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam
3. Những mâu thuẫn phát sinh trong quá trình chuyển sang kinh tế thị trường ở Việt 17. Cách mạng xã hội 42 Nam. 20
a. Điều kiện khách quan 4. Kết luận 28
11. Vận dụng quy luật phủ định của phủ định vào học tập 31 b. Nhân tố chủ quan
12. Vận dụng vai trò của thực tiễn đối với nhận thức vào quá trình đổi mới ở Việt Nam 32
c. Mối quan hệ giữa điều kiện khách quan và nhân tố chủ quan
1. Bước chuyển thứ nhất: 33
18. Việc tìm hiểu và nhận thức sâu sắc, có hệ thống những quan niệm của triết học Mác - 2. Bước chuyển thứ hai: 33
Lênin về ý thức xã hội có ý nghĩa rất lớn đối với quá trình xây dựng ý thức xã hội mới Việt Nam hiện nay 43 1
19. Vận dụng tính độc lập tương đối của ý thức xã hội: 45
Chúng ta có thể áp dụng những quan điểm này trong cuộc sống 1. Báo: 45
Chúng ta hiện nay đều là những tân sinh viên, khi mới nhập học hầu như là không quen
biết nhau. Khi nhìn thấy 1 bạn nào đấy , chắc chắn chúng ta đều có những ấn tượng đầu 2. SV: 45
tiên về ngoại hình , tính cách của bạn đó. Nhưng nếu chỉ qua 1 vài lần gặp mặt mà chúng ta
20. Tìm hiểu luận điểm của C.Mác về bản chất con người và ý nghĩa trong phát huy nguồn
đã đánh giá bạn là người xấu hoặc tốt , dễ tính hay khó tính. Cách đánh giá như vậy là
lực con người Việt Nam hiện nay 46
phiến diện , chủ quan trái với quan điểm toàn diện.Điều có thể làm cho chúng ta có những
quyết định sai lầm . Chẳng hạn như khi nhìn thấy một người có gương mặt ưa nhìn , ăn nói
1. Vận dụng mối quan hệ giữa vật chất và ý thức trong cuộc sống
nhỏ nhẹ đã vội vàng kết luận là người tốt và muốn làm bạn , còn khi nhìn thấy một người ít
a. Trong kinh tế và chính trị
nói , không hay cười thì cho là khó tính không muốn kết bạn. Qua một thời gian kết bạn
mới nhận ra người bạn mà mình chọn có những đức tính không tốt như lợi dụng bạn bè, ích
Vận dụng của ĐCS Việt Nam vào sự nghiệp đổi mới – Từ lý luận của chủ nghĩa Mác – Lê
nin, kinh nghiệm những thành công và thất bại trong quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng
kỷ. Còn người bạn ít nói kia thực ra rất tốt bụng , hay giúp đỡ bạn bè. Ấn tượng đầu tiên
Cộng sản Việt Nam đã rút ra bài học kinh nghiệm quan trọng đó là “Mọi đường lối, chủ
chỉ quyết định đến quá trình giao tiếp về sau. Quan điểm toàn diện dạy cho ta biết rằng khi
trương của Đảng phải xuất phát từ thực tế, tôn trọng quy luật khách quan”.
xem xét, đánh giá một sự vật, hiện tượng phải xem xét đánh giá một cách toàn diện , mọi
mặt của vấn đề để hiểu được bản chất thật sự của sự vật hiện tượng. Chúng ta không thể chỉ
b. Trong việc xây dựng nền kinh tế mới
nhìn bề ngoài mà phán xét về phẩm chất, đạo đức của người đó.Vẻ bề ngoài không nói lên
Hiện nay, người dân hiểu và tiếp thu những nghiên cứu, đúc kết từ phân tích của nhà khoa
được tất cả , có thể bạn đó có gương mặt lạnh lùng nhưng tính bạn rất cởi mở, hòa đồng, dễ
học, nhà triết học vào thực tiễn cuộc sống. Sau đó áp dụng mối quan hệ giữa vật chất và ý
gần. Vì vậy muốn đánh giá 1 con người cần phải có thời gian tiếp xúc lâu dài , nhìn nhận
thức. Nó là cơ sở để con người phản ứng với thực tại vật chất thông qua những nhận thức
họ trên mọi phương diện , ở từng thời điểm ,từng hoàn cảnh khác nhau.
cụ thể. Có những thứ tồn tại trong thực tế cuộc sống cần phải có sự cải tạo của con người
mới có ích cho nhiều việc.
Trong quan hệ giữa con người với con người, chúng ta phải biết ứng xử sao cho phù hợp
Từ sự hiện diện của vật chất trên thế giới này, con người nhận thức đúng, thậm chí thay đổi
với từng con người. Đối với những người bề trên như ông ,bà ,bố ,mẹ, thầy cô… thì chúng
và tác động trở lại một cách sáng tạo. Làm cho vật chất đó sinh ra các vật thể, đồ vật, sinh
ta cần có thái độ cư xử lễ phép, tôn trọng họ. Đối với bạn bè thì có những hành động , thái
vật, thực vật, …. đa dạng hơn hoặc nếu chủ thể coi đó là vật có hại thì sẽ tìm cách kìm hãm
độ thoải mái,tự nhiên .Ngay cả quan hệ với một con người nhất định ở những không gian
sự phát triển của nó và loại bỏ nó khỏi thế giới loài người.
khác nhau hoặc thời gian khác nhau, chúng ta cũng phải có cách giao tiếp, cách quan hệ
Đất nước ta đang bước vào thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, Đảng ta chủ
phù hợp như ông cha đã kết luận: “đối nhân xử thế”. Ví dụ như khi xưa anh ta là người xấu
trương: “huy động ngày càng cao mọi nguồn lực cả trong và ngoài nước, đặc biệt là nguồn
,tính cách không tốt hay vụ lợi không nên giao tiếp chơi thân, nhưng hiện nay anh ta đã sửa
lực của dân và công cuộc phát triển đất nước”, muốn vậy phải “nâng cao năng lực lãnh đạo
đổi tính cách tốt hơn biết quan tâm mọi người không như xưa , chúng ta cần nhìn nhận anh
và sức chiến đấu của Đảng phát huy sức mạnh toàn dân tộc, đẩy mạnh toàn diện công cuộc
ta khác đi , có thể cư xử khác trước, có thể giao tiếp , kết bạn với anh ta.
đổi mới, sớm đưa nước ta ra khỏi tình trạng kém phát triển, thực hiện “dân giàu, nước
Hay khi xem xét nguyên nhân của một vấn đề nào đó để giải quyết, chúng ta cần xem xét
mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”
chúng trong các mối liên hệ để xem nguyên nhân từ đâu để có cách giải quyết, xử lý tốt .
2. Vận dụng nguyên lý Mối liên hệ phổ biến
Khi ta học kém đi , điểm số giảm cần tìm nguyên nhân do đâu khiến ta như vậy. Do lười
học, không hiểu bài, không làm bài tập hay không có thời gian học. Nếu tìm được nguyên
Với tư cách là những nguyên tắc phương pháp luận, quan điểm toàn diện, quan điểm lịch
nhân cụ thể, chủ yếu , thì sẽ tìm được cách giải quyết đúng đắn.
sử - cụ thể góp phần định hướng, chỉ đạo hoạt động nhận thức và hoạt động thực tiễn cải
tạo hiện thực, cải tạo chính bản thân chúng ta. Song để thực hiện được chúng, mỗi chúng ta
Chúng ta có thể áp dụng những quan điểm này trong việc học tập:
cần nắm chắc cơ sở lý luận của chúng - nguyên lý về mối liên hệ phổ biến và nguyên lý về
Trong học tập bao giờ cũng xác định mục tiêu, động cơ, thái độ đúng đắn thì mới có kết
sự phát triển, biết vận dụng chúng một cách sáng tạo trong hoạt động của mình. Đối với
quả cao hơn. Việc vận dụng quan điểm toàn diện và lịch sử cụ thể trong học tập sẽ giúp
sinh viên, ngay từ khi còn ngồi trên ghế nhà trường, vẫn có thể sử dụng các nguyên tắc
định hướng học tập sâu hơn và cao hơn, quan điểm toàn diện và lịch sử cụ thể là thế giới
phương pháp luận đó vào việc thực hiện nhiệm vụ chính trị của mình góp phần xây dựng quan của mỗi con người.
đất nước ngày càng phồn vinh, xã hội ta ngày càng tươi đẹp. 2
Để vận dụng quan điểm trên chúng ta cần phân tích, xem xét các mặt của việc học một
Hậu quả sâu xa hơn của việc “học” không đi đôi với “hành” là có nhiều học sinh, sinh viên
cách cụ thể, toàn diện, phù hợp với từng thời điểm :
đạt kết quả học tập rất cao nhưng vẫn ngơ ngác khi bước vào cuộc sống, nhiều thủ khoa sau
- Học tập là suốt đời, học bằng cái gì: bằng mắt, bằng tai, bằng tay, bằng da, bằng mũi,
khi ra trường, va vấp cuộc sống mới tự hỏi: “Không biết việc chọn trường chọn ngành của
bằng miệng, học cái gì trước, cái gì sau, học cái gì để biết, cái gì để làm, học để tồn tại, học
mình đã đúng hay chưa?”. Nhất là khi xã hội đang cần những người có tay nghề cao phục
để chung sống với con người, với vạn vật, với muôn loài...
vụ cho công cuộc công nghiệp hoá - hiện đại hoá thì việc “Học đi đôi với hành” càng trở
- Người học phải biết khiêm tốn, học phải hỏi, học ở mọi người.
nên quan trọng hơn bao giờ hết.
- Nhiều thứ con người muốn học, nhưng muốn hiểu kỷ và sâu sắc thì phải tốn nhiều thời
gian, kiên trì, kiên nhẫn. ví dụ như người trồng lúa: học biết các giống lúa, loại nào phù
- Tuy nhiên, nếu chỉ chăm vào học tập thôi thì chưa đủ, chúng ta cần phải rèn luyện cả về
hợp vùng đất nào, thời tiết nào, những điều kiện và cách chăm bón đúng cách để đạt năng
phẩm chất, đạo đức như Bác đã từng dạy “Có tài mà không có đức là người vô dụng, có
suất, khi phát hiện có sâu rầy phải giải quyết thế nào...
đức mà không có tài thì làm việc gì cũng khó” Tài và đức là những phẩm chất khác nhau
- Học phải gắn với hành thì việc học có kết quả nhanh hơn. Người xưa vẫn dạy rằng:
nhưng luôn luôn gắn bó mật thiết không thể tách rời. Có tài mà không có đức là người vô
“Trăm hay không bằng tay quen”. Lao động thời nào cũng vậy, phải luôn ý thực là lí thuyết
dụng, bởi tài năng đó không phục vụ cái chung mà chỉ mưu cầu lợi ích cho một cá nhân thì
hay cũng không bằng thực hành giỏi. Vai trò của thực hành được đề cao là điều hiển nhiên.
cũng trở thành vô giá trị. Con người ta không thể sống một mình, không thể tách rời khỏi
Ngày nay với đà phát triển của xã hội, quan niệm lí thuyết và thực hành được hiểu khác
gia đình, bạn bè, đồng nghiệp, nhân dân, nhân loại. Giá trị một con người được xem xét
hơn, học và hành lúc nào cũng đi đôi, không thể tách rời nhau. Trước hết ta cần hiểu :
chính bởi tác dụng của cá nhân đó trong mối quan hệ với đồng loại. Người không có đức là
“học” là tiếp thu kiến thức đã được tích luỹ trong sách vở, là nắm vững lí luận đã được đúc
người không quan tâm đến quyền lợi của người khác. Nếu có tài, họ cũng chỉ vun vén để
kết trong các bộ môn khoa học, đồng thời tếp nhận những kinh nghiệm của cha anh đi
có lợi cho riêng họ. Người có tài mà phản bội Tổ quốc, đi ngược lại lợi ích của tập thể thì
trước. “Học” là trau dồi kiến thức, mở mang trí tuệ, từng lúc cập nhật hóa sự hiểu biết của
chẳng những vô dụng mà còn có tội. Người càng có tài mà kém đạo đức thì tác hại mang
mình, không để tụt lùi, lạc hậu. “Học” là tìm hiểu, khám phá những tri thức của loài người
đến cho gia đình, xã hội càng lớn.
nhằm chinh phục thiên nhiên, chinh phục vũ trụ. Còn “hành” nghĩa là làm, là thực hành, là
ứng dụng kiến thức, lí thuyết vào thực tiễn đời sống. Cho nên học và hành có mối quan hệ
Nhưng nếu chỉ có đức mà không có tài thì làm việc gì cũng khó. Có đức, có khát vọng
rất chặt chẽ với nhau. Học và hành là hai mặt của một qua trình thống nhất, nó không thể
hành động vì lợi ích của mọi người nhưng không có kiến thức, năng lực kém thì những ý
tách rời mà phải luôn gắn chặt với nhau làm một.
định tốt cũng khó trở thành hiện thực. Tài năng giúp con người lao động có hiệu quả. Thiếu
tài năng, người ta trở nên ít có tác dụng trong đời sống con người. Rõ ràng là giá trị con
Chúng ta cần hiểu rõ “hành” vừa là mục đích vừa là phương pháp học tập. Một khi đã nắm
người phải bao gồm cả tài và đức. Đức và tài bổ sung, hỗ trợ cho nhau thì con người mới
vững kiến thức, đã tiếp thu lí thuyết mà ta không vận dụng vào thực tiễn, thì học cũng trở
trở nên toàn diện, mới đạt hiệu quả lao động cao và mới có ích cho mọi người.
nên vô ích. Có nhiều bạn trẻ khi rời ghế nhà trường vào một nhà máy, một cơ quan… Lúng
túng không biết phải làm công việc mà chuyên môn mình đã được học như thế nào? Dẫn
Chúng ta hiện nay đang là những sinh viên, là những người đang trong quá trình phát triển
đến gặp rất nhiều khó khăn, nhiều khi là sự hoang mang, chán nản. Nguyên do dẫn đến
về mọi mặt cả về thể lực và trí lực, tri thức và trí tuệ nhân cách... cho nên thời kì này phải
việc “học” mà không “hành” được là do học không thấu đáo, khi còn ngồi trên ghế nhà
tranh thủ điều kiện để hoàn thiện bản thân, phải rèn luyện cả phẩm chất, năng lực, cả đức
trường không thật sự chuyên tâm, rèn luyện, trau dồi kiến thức hoặc thiếu môi trường hoạt
cả tài, học hỏi bạn bè, gia đình, nhà trường và xã hội để trở thành con người mới xã hội chủ động.
nghĩa nhằm đáp ứng nhu cầu của xã hội hiện nay làm nền tảng cho sự phát triển tiếp tục
Ngược lại nếu hành mà không có lí luận, lí thuyết soi sáng và kinh nghiệm đã được đúc kết trong tương lai.
dẫn dắt thì việc ứng dụng vào thực tiễn sẽ lúng túng, gặp rất nhiều khó khăn trở ngại, thậm
chí có khi còn dẫn đến những sai lầm to lớn nữa. Do vậy việc học tập, trau dồi kiến thức và 3. Cái chung và cái riêng
kinh nghiệm là nền tảng để mỗi người áp dụng vào thực tế, thực hành trong thực tiễn cuộc
Chủ nghĩa Mác – Lênin là hệ thông quan điểm cách mạng và khoa học, là vũ khí lý luận sống.
của giai cấp công nhân trong cuộc đấu tranh nhằm xóa bỏ chủ nghĩa tư bản, xây dựng chủ
Một thực tế cho thấy, sự thiếu liên hệ giữa kiến thức với thực tiễn ở các trường phổ thông
nghĩa cộng sản trên phạm vi toàn thế giới. Đó là cái chung sâu sắc nhất, bản chất nhất,
đã khiến các sinh viên tương lai không biết nên lựa chọn ngành học nào trước mùa thi. Đa
đúng đắn nhất để các Đảng Cộng sản vận dụng vào từng quốc gia dân tộc, với tư cách là
số các em không biết sử dụng những kiến thức đã được học vào việc gì ngoài việc để... thi
cái riêng. Trong quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng ta đã luôn luôn trung thành, vận dụng đỗ đại học
sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lênin vào điều kiện cụ thể của cách mạng Việt Nam. Thắng lợi 3
vẻ vang của cách mạng dân tộc, dân chủ nhân dân cũng như trong cách mạng xã hội chủ
1/2 đường bên kia thì chắc chắn sẽ không có chuyện 2 luồng giao thông đối đầu nhau và
nghĩa hiện nay đã chứng minh điều đó. Theo đó, Đảng ta luôn đặt ra yêu cầu cao việc tổng
đều kẹt cứng tại chỗ. Hàng năm trên đường phố có hàng nghìn vụ tai nạn giao thông,
kết, khái quát kinh nghiệm thực tiễn và bổ sung phát triển lý luận, bảo đảm cho lý luận
không thể đổ thừa hết cho đường sá mà kết tội trước tiên cho sự thiếu tôn trọng luật lệ đi
Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh giữ được tính cách mạng và khoa học của nó.
đường, sự bất cẩn và thiếu văn hoá của con người.
4. Vận dụng cặp phạm trù nguyên nhân và kết quả để nói lên thực trạng của vấn đề
ý thức đi lại của người dân là một yếu tố quan trọng quyết định sự văn minh của đường
tắc nghẽn giao thông thủ đô Hà Nội.
phố. Như đã nói ở trên, các phương tiện giao thông cá nhân ngày càng cao và tiện lợi và
a. Một số nguyên nhân cơ bản dẫn đến tắc nghẽn giao thông.
đặc biệt hệ thống xe giao thông công cộng như xe buýt thì lại thường bị quá tải không thể
*Nguyên nhân khách quan: Thực tế cho thấy nguyên nhân cơ bản của ùn tắc giao thông
đáp ứng đủ nhu cầu đi lại cho nên phương tiện giao thông cá nhân đăc biệt là se máy đươc
là do số lượng phương tiện trên tham gia giao thông ngày một lớn. Đặc biệt là từ khi xuất
người đi lại sử dụng nhiều nhất. Với những chiếc xe máy người ta có thể tạt vào bất kỳ một
hiện trên thị trường xe máy Trung Quốc giá rẻ, hợp với tói tiền của người dân Việt Nam,
cửa hàng nào trên dãy phố để mua sắm, người ta có thể ngồi trên xe dang cả 2 chân xuống
và các công ty sản xuất xe máy trong nước đồng loạt hạ giá đã tạo điều kiện thuận lợi cho
đất, đằng trước đứa bé đằng sau đứa lớn ghé lại mua mí rau, con cá, miếng thịt ngay bên
mọi người mua sắm phương tiện đi lại này, điều đó làm cho số lượng người có xe máy,
chợ vỉa hè, chợ lề đường “xe 2 bánh + nhà phè + chợ vỉa hè” dường như là một trong
tăng lên rất nhanh, nhất là các thành phố lớn đặc biệt là Hà Nội. Tình trạng ùn tắc giao
những phương thức đi lại và sinh hoạt chủ yếu của người dân độ thị hiện nay. Từ đó hình
thông ngày càng trầm trọng hơn cả ở các tuyến phố chính đến các ngõ nhỏ. Tuy vậy việc
thành một lối sống, một nếp văn hoá chủ yếu được tạo dựng lên bằng xe 2 bánh tốc độ
xuất hiện xe gắn máy Trung Quốc chỉ nh mét giọt nước nhỏ làm tràn ly, vì mấy năm trước
chậm và nhà phố. Phải nói rõ là xe 2 bánh “tốc độ chậm” vì tốc độ chậm khác xa với tốc độ
đây khi chưa có xe Trung Quốc thì chuyện ách tắc đường phố vẫn cứ xẩy ra thường xuyên
nhanh. Khi đã ngồi lên xe với tốc độ chậm thì mọi hành vi không phù hợp với một đô thị
tuy chưa thật bức xóc nh hiện nay. Phải nói rằng nguyên nhân chính là do dân số ở Hà Nội
lớn đều có thể xảy ra chứ chưa nói đến một thành phố văn minh hiện đại. Đàn ông ở trần,
ngày càng gia tăng, nhu cầu đi lại ngày càng lớn trong lúc cơ sở hạ tầng giao thông của Hà
mặc quần đùi, đàn bà mặc đồ ngủ diễu hành trên đường phố. Xe chở 2- 3 người thậm chí 4 Nội vẫn còn hạn chế.
người trên 1 chiếc xe, các người ngồi sau thõng chân xuống đất. Xe máy chở 1 người ngồi
Hệ thống giao thông đường bộ không hoàn chỉnh: mặt đường hẹp, thiếu bãi đậu xe, có quá
sau vác theo 1 cây sắt, thanh nhôm rất dài, hoặc một tấm kính rất lớn, và với mấy chiếc dây
nhiều nót giao thông chật hẹp. Quỹ đất dành cho giao thông ở thủ đô Hà Nội chỉ khoảng
thun người đi xe máy có thể chở 3- 5 két bia, 2- 3 bình ga. Xe máy, xe đạp đi hàng đôi
2,5% trong khi ở các nước tiên tiến khác con số này phải là 20- 25%. Trong khi phương
hàng ba, hoặc xe máy thò chân qua đẩy chiếc xe đạp hoặc xe xích lô. Xe máy phóng thẳng
tiện tham gia giao thông ngày càng tăng nhanh thì các tuyến đường mới được mở ra là
từ trong nhà, trong ngõ, trên vỉa hè ra ngoài đường bất chấp xe cộ nườm nượp qua lại. Chỉ
không đáng kể. Thêm nữa đường phố thường xuyên bị đào xới để sửa chữa, thay thế, lắp
vì sự thiếu ý thức đi lại của mỗi người mà đã nảy sinh ra những kết quả có tác động ngược
mới những công trình ngầm như hệ thống cấp nước và thoát nước, cáp ngầm của các ngành
chiều nh ách tắc giao thông, tai nạn giao thông. Từ đó kéo theo một loạt hệ quả như ô
bưu điện hoặc điện lực, rồi tình trạng ngập lụt khá phổ biến vào mùa mưa. Vì thế ùn tắc
nhiễm môi trường, do khói và bụi xe, làm giảm tốc độ lưu thông và phát triển kinh tế một
giao thông là hệ quả tất yếu.
cách đáng kể việc phân luồng giao thông ở những tuyến chưa hợp lý cũng như tình trạng
*Nguyên nhân chủ quan: Đó là sự thiếu kiên quyết của chính quyền đối với việc định
thiếu đèn tín hiệu và các thiết bị điều khiển giao thông cũng góp phần làm cho tình trạng ùn
hướng phương tiện đi lại của người dân thành phố. Trong khi hệ thống vận tải khách công
tắc giao thông thêm trầm trọng.
cộng không được chú ý đầu tư đúng mức thì phương tiện cá nhân lại được thả nổi, tha hồ
b. Hậu quả của việc tắc nghẽn giao thông:
phát triển. Việc buông lỏng quản lý đô thị dẫn đến tình trạng lấn chiến lòng lề đường làm
Chắc hẳn những ai đang sống hoặc đã sống ở Hà Nội trong nhưng năm gần đây thi hẳn ai
nơi họp chợ, buôn bán, sản xuất, dịch vụ, để xe, chờ đón học sinh tan trường.
còng Ýt nhất một lần phải chứng kiến cảnh ùn tắc giao thông của thủ đô, do đó hậu quả của
Và nguyên nhân quan trọng nhất dẫn đến tình trạng ùn tắc giao thông là do sự thiếu ý thức
việc ùn tắc giao thông chắc chắn là ai cũng có thể hình dung ra được nên chỉ xin nêu một
tự giác của nhiều người dân. Những người buôn bán vẫn tranh nhau lấn chiếm vỉa hè, lòng
sè : Lãng phí thời gian vô Ých , ô nhiễm môi trường bụi bặm, chen lấn sô đẩy nhau dẫn đến
lề đường, và các nhà chức trách dẹp ở chỗ này lại đùn ra chỗ kia nên đường phố vốn đã hẹp nhiều hành vi khác, …
lại càng hẹp hơn. Đồng thời trên đường phố vẫn thường xuyên xảy ra tình trạng đi ngược
c. Một số giải pháp và kiến nghị.
chiều, vượt đèn đỏ nếu không có công an đứng gác, chưa kể đến việc vượt Èu, tranh lấn
* Một số tồn tại cần khắc phục:
đường. Thực tế việc tranh lấn đường là một nguyên nhân thường xuyên dẫn đến nạn ùn tắc
Vấn đề ùn tắc giao thông của thủ đô cho đến nay còn rất nhiều tồn tại cần khắc phục như giao thông nhiều nhất.
phân luồng giao thông một cách hợp lý, lập lại kỉ cương quản lý đô thị, ý thức tham gia
Bởi người ta tranh nhau mà đi không ai chịu nhường ai một bước. Thử quan sát một trường
giao thông của người dân,…sẽ còn rất nhiều tồn tai để phải giải quyết và điều quan trong là
hợp kẹt xe ở một chỗ tránh tàu: nếu luồng người 1/2 đường bên này không chồm lấn sang
chúng ta phải bàn đến giải pháp của các tồn tại vừa nêu trên. 4
* Giải quyết tồn tại và các biện pháp khắc phục:
quảng cáo khuyến mãi xe máy, bán trả góp xe máy. Cái đó chỉ có lợi cho nhà kinh doanh,
Mặc dù mối liên hệ nhân quả có tính khách quan nhưng ta không thể vì thế mà ỷ lại cho tự
còn rất bất lợi cho đô thị không chỉ riêng về mặt giao thông. Bởi còn nhiều xe máy thì xe
nhiên diễn ra. Không thể để tình trạng ách tắc giao thông diễn ra mà không có những biện
công cộng không thể phát huy được hiệu quả.
pháp khắc phục. Một kết quả do nhiều nguyên nhân gây ra và ngược lại một nguyên nhân
- Thu phí sử dụng đường bộ đối với ôtô và xe máy – giải pháp có tính khả thi: Về thu phí
có thể sinh ra nhiều kết quả. Muốn có kết quả tốt phải phát hiện nhiều nguyên nhân. Như ở
ôtô,chúng ta cũng biết rằng, số lượng ô tô đang tham gia giao thông phần lớn thuộc sở hữu
trên ta đã chỉ ra được một số nguyên nhân chính dẫn đến nạn ách tắc giao thông, vậy phải
nhà nước. Khoản phí mà các đơn vị này phải đóng do nhà nước cung cấp. vì vậy thu phí ở
giải quyết vấn đề này như thế nào ?
đối tượng này thực chất là quay tròn tiền của nhà nước. Nh thế các tổ chức nhà nước muốn
* Sau đây là một số giải pháp cơ bản.
mua thì vẫn cứ mua, không đắn đo gì về các khoản phí.
- Phân luồng giao thông một cách hợp lý: Với phương châm phát huy hiệu quả cao nhất
- Đối với các doanh nghiệp tư nhân và các doanh nghiệp có vốn đầu tư của nước ngoài thì
những cơ sở vật chất hiện có, đồng thời bổ sung đầu tư một số khâu chủ yếu trong hệ thống
họ bỏ vốn đầu tư vào sản xuất, kinh doanh với mục đích là lợi nhuận nên mọi quyết sách
giao thông đô thị. Phân luồng giao thông sao cho hợp lý, khoa học nhằm tháo tỡ những ách
đều dùa trên nhu cầu thực tế và hiệu quả. Mua sắm phương tiện là bắt nguồn từ điều kiện
tắc giao thông không đáng có mà nội dung chính là quy hoạch lại luồng tuyến xe buýt,
cần của công việc kinh doanh. Do đó ta không có cơ sở nào để khẳng định về khoản phí kia
mạng lưới đường bộ, đường sắt ở thành phố. Một số tuyến đường chỉ đi một chiều, thiết lập
mà họ giảm bớt việc mua xe ô tô để phục vụ việc kinh doanh.
bằng được tuyến đường dành cho xe tải để tiến tới cấm không cho xe tải có sức chở hơn
- Về việc thu phí xe máy, đây là phương tiện đi lại chủ yếu và tiện lợi nhất của người dân
2,5 tấn lưu thông trong nội thành giê cao điểm. Kiên quyết cấm xe 3 bánh chở hàng cồng
thành phố. Với mức giá xe hiện nay (trừ xe Trung Quốc) thì có thể nói là vẫn còn cao so
kềnh chạy trong giê cao điểm.
với thu nhập của người dân Việt nam. Vì thế bản thân người mua cũng phải tính toán, cân
- Giải pháp điều khiển giao thông sẽ hỗ trợ đắc lực giải pháp phân luồng giao thông : Việc
nhắc khi bá ra một số tiền tương đối lớn để mua xe, nhưng khi xét thấy việc mua xe là cần
làm đầu tiên là hoàn thiện, bổ sung hệ thống biển báo giao thông, đặc biệt là xây dựng hệ
thiết và đem lại lợi Ých thì khoản phí 4 triệu đồng/xe mới là 400 ngàn đồng/xe lưu hành
thống báo hiệu vị trí thường xẩy ra ùn tắc giao thông để giảm lượng xe đi vào, và các chốt
/1năm sẽ không ảnh hưởng lớn đến việc quyết định mua xe máy mà có chăng là họ cân
đèn có tín hiệu giây chạy lùi và phát tín hiệu còi khi đèn chuyển màu. Cần đẩy nhanh tiến
nhắc loại xe. Nh vậy biện pháp thu phí đối với xe máy liệu có khả thi?
độ xây dựng trung tâm điều khiển giao thông bằng camera, lắp đặt tại các nót trọng điểm
 Bằng sự vận dụng cặp phạm trù nhân-quả, em đã phần nào nêu lên được những nguyên
để kịp thời có biện pháp xử lý khi có triệu chứng.
nhân kết quả của nạn ách tắc giao thông. Để từ đó đưa ra một số giải pháp để giải quyết
+ Thành phố Hà Nội đã và đang gấp rút triển khai xây dựng các nót giao thông ngã tư sở , vấn đề này.
xây dựng hàng loạt dải ngăn cách đường bộ …
 Qua đó ta có thể hiểu được tầm quan trọng của mạng lưới giao thông và vai trò, ý thức
- Lập lại kỉ cương quản lý đô thị: Đối với những chợ tự phát cần phải giải toả và khuyến
của con người với hiện tượng này nh thế nào, đó là do chủ quan hay khách quan? phát hiện
khích di dời vào các nhà lồng chợ, xe các chợ đầu mối ở ngoại thành để giảm mật độ lưu
được nguyên nhân để hạn chế tác động của nguyên nhân ngược chiều.
thông ở nội bộ. Lập lại trật tự lòng lề đường, vỉa hè, đầu cầu. Tăng cường hiệu lực cưỡng
Và cuối cùng, theo chính kiến của mình, em cho rằng đi lại vốn là chuyện bình thường
chế của các lực lượng bảo vệ pháp luật và trật tự an toàn giao thông đường bộ và trật tự đô
trong đời sống đô thị nhưng đi lại còn là một hiện tượng xã hội, hiện tượng văn hoá. Nó thể
thị cũng là 1 giải pháp quan trọng.
hiện tính trật tự kỷ cương, tính tổ chức và cả tính nhân văn của cả một xã hội. Xây dựng
- Tác động vào ý thức ngươi dân: Tuyên truyền giáo dục người nông dân nâng cao ý thức
thêm các tuyến đường mới, mở rộng mặt đường, phân luồng hợp lý và tăng thêm các
cộng đồng chấphành luật lệ giao thông và quy tắc quản lý trật tự đô thị. Phát động những
phương tiện giao thông công cộng là tất yếu. Nhưng xây dựng một nếp đi lại có văn hoá lại
phong trào quần chúng trong thanh niên, học sinh phối hợp với lực lượng cảnh sát giao
là điều cần thiết hơn, bức xúc hơn, không cần đầu tư quá tốn kém và mất nhiều thời gian có
thông để giữ gìn trật tự giao thông tại các điểm nót. Giải quyết nạn ùn tắc giao thông ở các
ý thức vàcó văn hoá trong đi lại là sự giảm tải rất to lớn và ngăn chặn một cách hữu hiệu
khu vực đông người qua lại trong giê cao điểm nh trường học, bệnh viện, chợ, khu vực
nhất nạn ách tắc cho giao thông đô thị. Nên chăng, mỗi người dân cần có ý thức hơn nữa chơi giải trí.
trong việc đi lại hàng ngày để tránh nạn ách tắc giao thông nói riêng và sự phát triển của xã
* Một số giải pháp khác cần bàn luận: hội nói chung.
- Đầu tư nhiều vào đường xá hay bá xe máy: Nhà phố là cái chưa thể bỏ ngay được vì liên
5. Nội dung và hình thức
quan đến nguồn sống đại đa số người dân thành phố nhưng chắc chắn nó sẽ giảm bớt dần
Ví dụ: Thói trì trệ, chậm đổi mới các hình thức và phương pháp quản lí, sự gia tăng tệ quan
cùng với sự tiến lên công nghiệp hoá hiện đại hoá của thành phố, xe 2 bánh tốc độ chậm
liêu, tuyệt đối hoá những hình thức tổ chức xã hội được hình thành trước đây trong thực
còng không thể bỏ ngay được vì nó là phương tiện đi lại của hơn 80% cư dân trong thủ đô
tiễn là một trong những nguyên nhân chính của tình trạng khủng hoảng xã hội và của
và nó còn là một phần tài sản quý giá của họ. Nhưng không thể cứ tiếp tục bán xe máy,
những xu hướng bất lợi đã bộc lộ ở nước ta những năm gần dây. Xã hội có đạt tới sự phát 5
triển mới về chất hay không phần nhiều phụ thuộc vào việc đổi mới đến đâu những hình
nhóm A3 hiện tại chỉ là một tập hợp ngẫu nhiên một nhóm người, là một khả năng xảy ra,
thức xã hội già cỗi, phong cách và phương pháp làm việc cũ, đưa chúng vào phù hợp đến
không có điều gì chắc cắn cả.
mức độ nào với những điều kiện dạng thay đổi.
Tóm lại việc chúng ta – những sinh viên đang học ở K3818 việc đỗ đại học là điều tất
Ví dụ: Kim cương và than chì là hai dạng thù hình của cùng một nguyên tố Cacbon nhưng
nhiên, nhưng trước đó chúng ta cũng phải trải qua nhiều việc ngẫu nhiên khác như chọn
sự khác biệt ở đây là cấu trúc tinh thể của chúng (khác biệt về hình thức).
trường, may mắn v.v.v.. Và việc sau này khi chúng ta được học chung một lớp liệu điều đó
Một ví dụ tiêu biểu khác của cặp phạm trù nội dung hình thức là quan hệ giữa lực lượng
có phải là yếu tố “ngẫu nhiên” nữa hay không hay đó cũng có thể là “tất nhiên” ? Và liệu
sản xuất và quan hệ sản xuất trong cùng 1 phương thức sản xuất. Nếu như lực lượng sản
rằng yếu tố “ngẫu nhiên” trong việc được học chung một lớp sẽ ảnh hưởng đến yếu tố “tất
xuất là nội dung thì quan hệ sản xuất chính là hình thức của phương thức sản xuất đó.
nhiên” khi chúng ta đỗ vào trường đại học luật Hà Nội như thế nào? Để giải quyết vấn đề
6. Nội dung và ý nghĩa phương pháp luận của cặp phạm trù tất nhiên và ngẫu nhiên
này, chúng ta hãy xét chúng trong mối liên hệ biện chứng của chúng.
qua 1 ví dụ trong lĩnh vực xã hội:
Để đi sâu hơn về cặp phạm trù tất nhiên và ngẫu nhiên trong mối quan hệ biện chứng của
Để làm rõ những nội dung đã nêu ở chương 1 sau đây ta sẽ đi sâu vào ví dụ đã được nêu ra
chúng với nhau , thông qua ví dụ ban đầu, ta cần tìm hiểu “biện chứng” là gì ? Biện chứng
ở Lời nói đầu để hiểu rõ hơn về cặp phạm trù này và ứng dụng thực tiễn của phương pháp
ở đây là dùng để chỉ những mối liên hệ với nhau, là sự tương tác, sự chuyển hóa, sự vận
luận của nó: với tất cả chúng ta ngồi đây, để trở thành sinh viên của trường Đại học Luật
động và phát triển theo quy luật của sự vật, hiện tượng và quá trình trong tự nhiên, xã hội
Hà Nội thì điều“tất nhiên” là chúng ta phải đỗ đại học còn “ngẫu nhiên” chúng ta được và tư duy
xếp học chung một lớp, một nhóm của trường đại học luật.
b. Quan hệ biện chứng giữa tất nhiên và ngẫu nhiên trong ví dụ
a. Khái niệm của phạm trù tất nhiên và ngẫu nhiên
Một là, tất nhiên và ngẫu nhiên luôn tồn tại khách quan. Mỗi chúng ta, trước khi xác định
Xét về khái niệm phạm trù tất nhiên, để chứng minh cho nó, ta thấy: ở ví dụ đã nêu thì việc
đi thi đại học, đều đã hình thành trong đầu hai luồng suy nghĩ trái chiều, đó là hai khả năng
đỗ đại học là một điều“tất nhiên” với mỗi chúng ta bởi lẽ: Một là, trong việc từ một học
có thể xảy ra: hoặc là đỗ hoặc là trượt. Ngay từ ban đầu, chúng ta đều nhận thức được rằng
sinh trung học phổ thông mà muốn trở thành sinh viên của trường đại học luật Hà Nội thì
muốn đỗ vào đại học phải trang bị cho bản thân đầy đủ những kiến thức cơ bản: đó có thể
điều tất nhiên là ta phải đỗ vào kì thi tuyển sinh đầu vào.
là quá trình học tập tích lũy kiến thức, phương pháp học tập để hiểu sâu nhớ lâu, mục đích
Việc đỗ Đại học này với mỗi chúng ta bắt buộc phải xảy ra vì nó là điều kiện để ta thực học tập …
hiện bước chuyển hóa của ta từ học sinh thành sinh viên. Hai là, xét với mối quan hệ với
Khi đó, chúng ta mới chỉ trang bị cho bản thân về mặt tinh thần, đó là những điều tất nhiên
những việc xảy ra trước đó thì việc đỗ vào đại học luật Hà Nội là tất yếu vì: ta có một quá
phải làm. Nhưng trong lúc thi xảy ra sự cố về tâm lý, sức khỏe … thi chẳng phải việc
trình rèn luyện học tập tốt từ thời THPT, bản thân ta là người có ý thức trong việc đưa ra
chúng ta đỗ hay trượt nằm ngoài ý thức của chúng ta hay sao và yếu tố ngẫu nhiên và tất
quyết định thi vào trường đại học luật Hà Nội …và có thể kể đến những yếu tố khác như
nhiên tồn tại đối lập với ý thức của chúng ta hay sao ?
sức khỏe ,tâm lý ngày thi rất tốt .v.v.
Không những vậy, tất nhiên còn có vai trò quyết định chi phối đến sự phát triển của sự vật
Và như vậy, khi một thí sinh dự thi mà hội tụ được những điều cơ bản như trên thì việc thí
và cái ngẫu nhiên thì có tác dụng làm cho sự phát triển của sự vật diện ra nhanh hay chậm.
sinh đó trở thành sinh viên của trường đại học luật Hà Nội là tất nhiên, nhất định không thể
Trở lại với ví dụ ban đầu chúng ta đã đưa ra một ý rằng: “ngẫu nhiên chúng ta được học nào khác được.
chung một lớp” điều ngẫu nhiên này tác động như thế nào với yếu tố tất nhiên chúng ta đỗ
Xét về khái niệm phạm trù ngẫu nhiên, ta có thể xem xé ví dụ, chẳng hạn như việc xếp lớp,
hay trượt vào trường đại học luật Hà Nội.
xếp nhóm và điển hình là 11 bạn trong nhóm A3 của lớp 18 này: Sau khi đỗ vào trường
Sau khi đỗ vào trường, bản thân mỗi người chúng ta phải tự đi tìm phương pháp học tập
Đại học Luật Hà Nội thì với sự sắp xếp của phòng Đào tạo nhà trường 11 bạn này sẽ được
riêng cho mình, tự tích lũy kiến thức cho bản thân là điều tất nhiên nhưng đâu phải tất cả
ngẫu nhiên ngồi chung một lớp – lớp 18 và ngẫu nhiên họ lại được tập hợp thành 1 nhóm
những bạn ở lớp K3818 đều làm tốt việc đó, vậy nên việc chúng ta ngồi chung một lớp thì và được đặt là A3.
kết quả, thành tích của lớp lại do chính từng thành viên của lớp quy định, chi phối đến ngẫu
Việc ngồi chung một lớp hay một nhóm này không phải do các bạn tự quyết định, cũng
nhiên. Tuy nhiên, dù sao chăng nữa thì cái “tất nhiên” đỗ đại học của chúng ta vẫn luôn là
không phải do sự sắp đặt sẵn của nhà trường: những bạn có tên, có điểm, có khối thi…như
cái quan trọng quyết định những cái ngẫu nhiên sau đó.
thế này phải vào lớp này, nhóm này. Điều này chính là do nhân tố bên ngoài quyết định. Ở
Hai là, tất nhiên và ngẫu nhiên đều tồn tại trong sự thống nhất, biện chứng với nhau, không
đây nhân tố bên ngoài chính là sự sắp xếp một cách ngẫu nhiên của hệ thống máy tính, của
có cái tất nhiên thuần túy và cái ngẫu nhiên thuần túy. Tất nhiên bao giờ cũng vạch đường
phòng đào tạo đã tạo ra kết quả đó.
đi cho mình thông qua vô số cái ngẫu nhiên và ngẫu nhiên là biểu hiện của tất nhiên, bổ
Tuy nhiên cũng có thể do sự sắp xếp ngẫu nhiên này mà 11 người này có thể không ngồi sung cho tất nhiên.
cùng một lớp hoặc ngồi cùng 1 lớp nhưng khác nhóm nhau. Điều đó rất có thể xảy ra bởi lẽ 6
Xét trên biện chứng của ví dụ ban đầu thì việc chúng ta đỗ đại học là điều tất nhiên, nhưng
vần a, b, c…; có thể là theo mã số sinh viên; có thể là phòng đào tạo không sắp xếp theo
để làm nên các tất nhiên này thì chúng ta phải trải qua vô số cái ngẫu nhiên khác. “Theo
vần mà muốn lớp nào cũng có cả nam và nữ vì lượng thí sinh nam đỗ vào trường là ít hơn
tâm lý học, nhận thức của con người chỉ huy mọi hành động và hoạt đọng của con người.
hẳn so với thí sinh nữ …
Hệ quả của quan hệ này là nhận thức đúng mới tạo ra hành động đúng đắn và kết quả tôt
Như vậy tất nhiên và ngẫu nhiên không tồn tại vĩnh viễn mà luôn chuyển hóa qua lại lẫn đẹp”(1).
nhau và mang tính tương đối. Có thể trong mối quan hệ này nó được coi là ngẫu nhiên
Vì vậy cái ngẫu nhiên mà chúng ta muốn đề cập là: phương pháp học tập đúng đắn sẽ rèn
nhưng trong mối quan hệ khác lại là tất nhiên và ngược lại.
luyện khả năng tư duy cho bản thân, tạo động lực học tập, đặt mục tiêu, mơ ước cho bản
Sau khi đã nói đến 1 loạt các yếu tố về quan hệ biện chứng giữa tất nhiên và ngẫu nhiên thì
thân trước khi xác định vào trường đại học Luật và thêm vào đó là những yếu tố như:
chúng ta sẽ tự đặt ra câu hỏi rằng: bản thân cặp phạm trù này và mối liên hệ của nó có tác
chuẩn bị một sức khỏe tốt ,tâm lý vững vàng khi bước vào kì thi. Và những yếu tố ngẫu
động thế nào tới tư duy và thực tiễn của chúng ta? Và từ ý nghĩa thực tiễn đó, có phải sẽ
nhiên này chẳng phải dẫn tới việc tất yếu chúng ta cầm được tấm vé bước vào cánh cổng
giúp ta có được những phương pháp giải quyết đúng đắn, phù hợp với những trường hợp đại học hay sao?
cụ thể trong cuộc sống ngày nay? Để từ đó khi đứng trước 1 vấn đề ta sẽ không còn cảm
Tuy nhiên đúng như Ph.Anghen đã nhận định: “ … cái mà người ta quả quyết cho là tất
thấy quá lúng túng và lo lắng nữa.
yếu lại hoàn toàn do những ngẫu nhiên thuần túy cấu thành, và cái được coi là ngẫu nhiên
c. Ý nghĩa của phương pháp luận trong tư duy và thực tiễn
lại là hình thức, dưới đó ẩn nấp cái tất yếu…”(2). Việc chúng ta thi đại học thì luôn luôn
Đầu tiên, trong hoạt động thực tiễn, phải căn cứ vào cái tất nhiên chứ không phải cái ngẫu
xảy ra nhiều khả năng. Và chẳng phải điều đó có nghĩa rằng cái mà chúng ta cho là tất yểu
nhiên. Bởi vì cái tất nhiên là cái gắn liền với bản chất của sự vật, cái nhất định xảy ra theo
là việc đỗ đại học lại thực ra chỉ là một khả năng, một điều ngẫu nhiên hay sao? Vậy thì
quy luật nội tại của sự vật, còn cái ngẫu nhiên là cái không gắn với bản chất nội tại của sự
quả thực ngẫu nhiên là biểu hiện của tất nhiên
vật, nó có thể xảy ra, có thể không .
Ba là, tất nhiên và ngẫu nhiên không phải tồn tại vĩnh viễn ở trạng thái cũ mà thường
Thật vậy, nếu khi xét trở về ví dụ mà ta đã nêu ra thì chẳng phải tất cả kế hoạch ban đầu ta
xuyên thay đổi, phát triển và trong những điều kiện nhất định chúng ta có thể chuyển hòa
xây dựng nên nào là: phương pháp học tập, mục đích học tập, rèn luyện kĩ năng trong học
cho nhau, tự nhiên biến thành ngẫu nhiên và ngẫu nhiên trở thành tất nhiên.
tập, …. Cũng chỉ là nhằm vào mục tiêu cốt lõi đó là việc thi đỗ đại học. Việc đỗ vào đại
Hãy quay trở về phân tích vừa trên ta sẽ thấy rõ việc tự nhiên và ngẫu nhiên chuyển hóa
học chính là một bước chuyển mình từ học sinh phổ thông sang môi trường giáo dục hoàn
cho nhau trong vấn đề: tất nhiên biến thành ngẫu nhiên. Chúng ta nói rằng ngẫu nhiên
toàn mới đó là đại học, không những vậy, đây còn là một bước ngoặt, bước đà để ta có thể
phương pháp học tập của chúng ta là đúng đắn, rèn luyện kiến thức phù hợp với bài thi khi
tiến xa hơn trên con đường học vấn. Còn việc chúng ta được học chung một lớp, theo cá
thi đại học, mục đích, mục tiêu đặt ra là sẽ thi vào đại học Luật, đi thi lại có sức khỏe, tâm
nhân tôi nghĩ, thì đây không phải là việc quan trọng. Vì ngay từ khi biết tin mình đỗ đại lý vững vàng… Nhưng suy
học, liệu rằng có ai nghĩ mình sẽ học ở lớp nào đâu ?, đó là thứ nhất.
cho cùng thì đây lại là những điều tất nhiên chúng ta phải làm. Trong cả biển người phải
Thứ hai, việc mình học ở lớp nào thì chương trình tạo của trường Đại học Luật Hà Nội vẫn
học cả một chương trình học như nhau, kiến thức chung như nhau. Vì vậy chúng ta tất yếu là như thế.
phải có phương pháp học tập riêng cho bản thân, và vì có phương pháp học tập riêng đúng
Thứ ba, việc phân lớp cho mỗi sinh viên sẽ có lợi hơn cho nhà trường trong hoạt động quản
đắn tất yếu kiến thức chúng ta thu thập, rèn luyện sẽ phục vụ tốt nhất cho chúng ta khi
lí sinh viên, giúp cho sinh viên dễ dàng tương tác làm việc với nhà trường được hiệu quả
bước vào kì thi… Mặt khác trong quá trình ôn thi đại học rất là vất vả, việc rèn luyện sức
hơn ,… mà điều này khi ta ở bất kì một lớp nào thì nhà trường cũng có thể làm được .
khỏe là điều đương nhiên ta phải làm: bằng cách ăn uống đầy đủ chất dinh dưỡng, tập thể
Tuy nhiên, cũng không được bỏ qua hoàn toàn cái ngẫu nhiên. Vì cái ngẫu nhiên không chỉ
dục hằng sáng cho sức khỏe dẻo dai…
chi phối sự phát triển của sự vật mà nó còn ảnh hưởng đến sự phát triển của sự vật, đôi khi
Bình thường đứng trước một kì thi mang tính quyết định, tạo bước ngoặt mới cho cuộc đời,
còn có thể ảnh hưởng rất sâu sắc .
không lẽ ta lại để bản thân gặp vấn đề tâm lý? Vì thế tất yếu ta phải chuẩn bị một tâm lý
Đúng, thực sự là như vậy. Tuy việc chúng ta được sắp xếp bất ngờ vào một lớp ở phân tích
vững vàng nhất định trước khi bước vào kì thi đại học… Vì thế chẳng phải việc ta trở thành
trên cho rằng đó là điều không cần thiết, nhưng nó lại cần thiết cho quá trình học tập sau
sinh viên đại học Luật không phải là. Sau khi đã phân tích ví dụ từ tự nhiên đến ngẫu nhiên
này. Đầu tiên, việc được sắp xếp vào một lớp cố định chúng ta đã hoàn toàn chứng minh
thì sau đây bằng việc phân tích ví dụ ban đầu ta sẽ thấy sự chuyển hóa từ ngẫu nhiên thành
được rằng chúng ta chính là một sinh viên trường đại học luật Hà Nội kể từ đây. tất nhiên.
Thứ hai, khi được học chung một lớp, cái thuận tiện đó là không gian học tập cộng đồng đã
Chúng ta đã nói: “ Ngẫu nhiên được ngồi chung một lớp”. Liệu đây có phải là ngẫu nhiên
được thu hẹp phần nào ; mặt khác ở đây, ta dễ dàng làm quen nhiều bạn mới một cách
nữa hay không. Sau khi đỗ đại học Luật Hà Nội, thì tên của chúng ta đã phải chăng đã
thuận tiện hơn, tạo cho ta một không gian học tập thoải mái hơn, việc tiếp thu kiến thức
được phòng đào tạo của trường sắp xếp từ trước thông qua các nguyên tắc: có thể là theo
mới se diễn ra nhanh hơn …. Với một không gian học tập lành mạnh như thế này thì không 7
lẽ gì kết quả học tập cuối kì của chúng ta lại không đạt kết quả tốt. Đó chính là việc cái
Vận dụng cặp phạm trù bản chất - hiện tượng để phân tích lối sống của Sinh viên Việt
ngẫu nhiên chi phối đến sự phát triển của sự vật, ảnh hưởng sâu sắc đến sự vật . Nam hiện nay.
Tóm lại, với phương pháp luận này đã cung cấp cho chúng ta phương pháp tiếp cận vấn đề
Trước hết, chúng ta có thể khẳng định một điều rằng sinh viên hiện nay rất năng động, sáng
một cách chủ động hơn. Do đó khi làm một việc gì cần xuất phát từ những yếu tố ban đầu,
tạo và nhạy bén với cuộc sống. Nếu như trước đây, khi cuộc sống đang còn khó khăn,
những yếu tố góp phần triển khai những nội dung chính nhất, phù hợp nhất để tạo một
chúng ta chỉ thấy một lớp sinh viên học hành chăm chỉ cốt sao cho sau này ra trường sẽ xin
bước đà thật vững chắc nhằm đạt được mục đích ban đầu mình đề ra. Đồng thời, trong hoạt
được một công việc vào biên chế trong Nhà nước, từ đó cuộc sống cứ thế tiếp diễn.
động thực tiễn, với những phương pháp ta chủ động đề ra cần phải xây dựng thêm những
Nhưng ngày nay cơ chế thị trường mở của, sinh viên đã có điều kiện để phát triển khả năng
phương pháp dự phòng để đáp ứng những thay đổi bất ngờ có thể xảy ra.
sáng tạo do có đầy đủ thông tin, một cuộc sống chất lượng tốt hơn và chủ động hơn trong
d. Phương pháp dự phòng để đáp ứng những thay đổi bất ngờ có thể xảy ra
việc lựa chọn nghề nghiệp. Tất cả những yếu tố đó làm cho sinh viên năng động hơn, ngày
Cái tất nhiên và ngẫu nhiên trong điều kiện nhất định có thể chuyển hóa cho nhau, cái ngẫu
càng chiếm lĩnh những lĩnh vực mới lạ. Vì thế mà bốn bạn trẻ: Trịnh Xuân Hảo, Phạm Thị
nhiên biến thành tất nhiên và ngược lại. Vì vậy cần tạo ra những điều kiện nhất định để cản
Hoàng lam, Trịnh Minh Khôi và Lê Nguyễn Vũ Bình (sinh viên ĐH GTVTTPHCM) đã có
trở hoặc thúc đẩy sự chuyển hóa của chúng theo mục đích nhất định.
sự khởi đầu khá ngoạn mục: Khi đang là sinh viên năm thứ 3, họ đã hoàn thành công trình
Trước tiên, với ví dụ ban đầu, ta sẽ thấy được cái ngẫu nhiên cản trở như thế nào với cái tất
nghiên cứu “thiết kế bảng đèn thông tin điện tử” – đã đoạt giải nhất sinh viên nghiên cứu
nhiên xét về lĩnh vực học tập? Trong số những sinh viên K3818 sẽ có những bạn đã quen
khoa học cấp trường và đoạt giải ba Eureka 2002 do Sở Khoa học Công nghệ và Môi
biết hoặc có những anh chị là sinh viên khóa trên.Vì là các anh chị khóa trên nên cũng phải
trường cùng Trung tâm Khoa học Công nghệ trẻ Thành đoàn TPHCM tổ chức.
trải qua quá trình học tập cực kỳ vất vả khi học tập tại trường và do đó các anh chị biết
môn nào giáo viên sẽ lới lỏng cho sinh viên để giảm bớt áp lực trong quá trình học tập.
8. Ứng dụng quy luật lượng chất trong quá trình học tập và rèn luyện của học sinh,
Nhưng nếu bản thân những anh chị đó lơ là trong việc học tập, lợi dụng sự ưu ái của giáo sinh viên
viên mà không quan tâm tới việc học của mình thì chỉ cần câu nói như: “Môn ý dễ mà, học
Là học sinh, sinh viên, ai cũng phải trải qua quá trình học tập ở các bậc học phổ thông, từ
làm gì cho mệt, thể nào thi chẳng được qua”, hay như : “ui giời, là sinh viên mà không phải
mẫu giáo đến cấp ba, kéo dài trong suốt 12 năm.
thi lại thì không phải là sinh viên”…Với những lời nói như vậy đã vô tình tác động tiêu cực
Trong 12 năm ngồi trên ghế nhà trường, mỗi học sinh đều được trang bị những kiến thức
vào tiềm thức của những bạn sinh viên mà có anh chị như vậy. Và rồi bạn sẽ không còn
cơ bản của các môn học thuộc hai lĩnh vực cơ bản, đó là: Khoa học tự nhiên và khoa học xã
hứng thú với môn học đó, lơ là và cuối cùng sẽ dẫn đến tình trạng chán nản. Một điều tất
hội. Bên cạnh đó, mỗi học sinh lại tự trang bị cho mình những kĩ năng, những hiểu biết
nhiên sẽ xảy ra là kết quả học tập môn đó bị kém, phải học lại, gây lãng phí thời gian, lãng
riêng về cuộc sống, về tự nhiên, xã hội. Ta thấy rõ rằng là: phí tiền của…
- Quá trình tích lũy về lượng - tri thức của mỗi học sinh là một quá trình dài, đòi hỏi nỗ lực
Sau khi nói đến ngẫu nhiên cản trở quá trình của tất nhiên, thì quay trở lại vấn đề, không
không chỉ từ phía gia đình, nhà trường mà còn chính từ sự nỗ lực và khả năng của bản thân
thể phủ nhận được ngẫu nhiên cũng góp phần thúc đẩy quá trình phát triển của sự vật. Ví người học.
dụ như trong quá trình học tập tại trường đại học luật, sau khi mỗi sinh viên được phân về
- Quy luật lượng chất thể hiện ở chỗ, mỗi học sinh dần tích lũy cho mình một khối lượng
từng lớp thì mỗi sinh viên lại được phân về thành từng nhóm.
kiến thức nhất định qua từng bài học trên lớp cũng như trong việc giải bài tập ở nhà. Việc
Đây là một cách thức giảng dạy rất hay, là mô hình đào tạo được áp dụng trong hệ thống
tích lũy kiến thức sẽ được đánh giá qua các kì học, trước hết là các kì thi học kì và cuối cấp
giáo dục của các nước phương Tây như Anh, Pháp, Mỹ…Làm việc theo nhóm sẽ nâng cao là kì thi tốt nghiệp.
khả năng thuyết trình, hùng biện cho mỗi người, đặc biệt là với sinh viên trường mình.
Với việc tích lũy đủ lượng kiến thức cần thiết sẽ giúp học sinh vượt qua các kì thi và
Thông qua hoạt động học nhóm này chính chúng ta sẽ chứng tỏ được khả năng lãnh đạo, sự
chuyển sang một giai đoạn học mới.
tự tin của bản thân là tiền đề vững chắc để tiến bước xa hơn trên con đường sự nghiệp.
=> Như vậy, ta có thể thấy: Trong quá trình học tập, rèn luyện của học sinh thì quá trình
Tóm lại, với phương pháp luận này cung cấp cho chúng ta một vấn đề cần thiết trong cuộc
học tập tích lũy kiến thức chính là độ, các kì thi chính là điểm nút, việc vượt qua các kì thi
sống:trong nhận thức cũng như trong hoạt động thực tiễn, chúng ta không được xem nhẹ
chính là bước nhảy làm cho việc tiếp thu tri thức của học sinh bước sang giai đoạn mới, tức
mọi sự vật, hiện tượng dù là rất nhỏ đang diễn ra xung quanh ta. Trước khi thực hiện một
là có sự thay đổi về chất. Trong suốt 12 năm học phổ thông, mỗi học sinh đều phải tích lũy
công việc cần xem xét nó là điều có lợi hay có hại cho bản thân chúng ta. Việc đánh giá
đủ khối lượng kiến thức và vượt qua những điểm nút khác nhau, nhưng điểm nút quan
việc làm đó chính là cái kết quả cuối cùng mà ta sẽ nhận được.
trọng nhất, đánh dấu bước nhảy vọt về chất và lượng mà học sinh nào cũng muốn vượt qua
7. Vận dụng thực tiễn cặp phạm trù bản chất và hiện tượng
đó là kì thi đại học. Vượt qua kì thi tốt nghiệp cấp 3 đã là một điểm nút quan trọng, nhưng
vượt qua được kì thi đại học lại còn là điểm nút quan trọng hơn, việc vượt qua điểm nút 8
này chứng tỏ học sinh đã có sự tích lũy đầy đủ về lượng, tạo nên bước nhảy vọt, mở ra một
và lưu thông hàng hoá. Nó ra đời và phát triển cùng với sự ra đời và triển của sản xuất và
thời kì phát triển mới của lượng và chất, từ học sinh chuyển thành sinh viên. lưu thông hàng hoá.
9. Ví dụ về quy luật thống nhất và đấu tranh giữa các mặt đối lập
– Thị trường gắn liền với địa điểm nhất định, trong đó diễn ra những quá trình trao đổi,
Trong mỗi mâu thuẫn thường có hai mặt đối lập liên hệ gắn bó với nhay tạo tiền đề cho mua bán hàng hoá.
nhau cùng tồn tại, triết học gọi đó là sự thống nhất giữa các mặt đối lập.
– Sản xuất hàng hoá phát triển, lượng sản phẩm hàng hoá lưu thông trên thị trường ngày
Ví dụ như trong hoạt động kinh tế thì sản xuất và tiêu dùng sẽ phát triển theo những chiều
càng dồi dào, phong phú, thị trường được mở rộng, khái niệm thị trường được hiểu đầy đủ
hướng trái ngược nhau. Sản xuất chính là việc tạo ra của cải vật chất, sản phẩm để có thể
hơn. Đó là lĩnh vực trao đổi hàng hoá thông qua tiền tệ làm vật môi giới.
đáp ứng được nhu cầu của người tiêu dùng. Còn tiêu dùng là mục đích cuối cùng của việc
– Ngày nay các nhà kinh tế học thống nhất với nhau khái niệm về thị trường như sau: Thị
sản xuất, tất cả những sản phẩm được sản xuất ra đều cần có người tiêu dùng.
trường là một quá trình mà trong đó người bán và người mua tác động qua lại với nhau để
Sản xuất là việc tạo ra sản phẩm và là đối tượng có thể cung cấp cho việc tiêu dùng. Nếu
xác định giá cả và sản lượng.
như không có quá trình sản xuất để tạo ra sản phẩm tiêu dùng thì sẽ không thể có tiêu dùng.
* Cơ chế thị trường: là cơ chế tự chỉnh nền kinh tế hàng hoá dưới sự tác động khách quan
Sản xuất quy định phương thức tiêu dùng, tạo ra đối tượng tiêu dùng, đây không phải là đối
của các quy luật kinh tế vốn có của nó, cơ chế đó được giải quyết những vấn đề cơ bản của
tượng nói chung mà là đối với những đối tượng nhất định do bản thân sản xuất làm môi nền kinh tế.
giới cho người tiêu dùng.
Từ đó ta có khái niệm: “Nền kinh tế mà trong đó những vấn đề cơ bản của nó do thị trường
Do đó, sản xuất không chỉ là đối tượng tiêu dùng mà nó còn quyết định về phương thức
quyết định, vận động theo cơ chế thị trường gọi là “nền kinh tế thị trường””.
tiêu dùng. Sản xuất cung cấp các sản phẩm cho tiêu dùng và tạo ra nhu cầu cho người tiêu
Trong hội thảo “Phấn đấu đưa nghị quyết của Đảng vào cuộc sống ” có hai ý kiến khác
dùng. Điều này có nghĩa là chỉ khi sản xuất ra một sản phẩm nào đó thì mới tạo ra nhu cầu nhau:
tiêu dùng đối với sản phẩm đó.
Một là, xem kinh tế thị trường là phương thức vận hành kinh tế lấy thị trường hình thành
Do vậy có thể thấy được rằng sản xuất và tiêu dùng chính là sự thống nhất của hai mặt đối
do trao đổi và lưu thông hàng hoá làm người phân phối các nguồn lực chủ yếu, lấy lợi ích
lập, chúng có tính chất tương đồng và có mối liên hệ mật thiết, chặt chẽ với nhau từ đó tạo
vật chất, cung cầu, thị trường mua bán giữa hai bên làm cơ chế khuyến khích hoạt động
điều kiện cho nhau cùng chuyển hóa, phát triển.
kinh tế. Nó là một phương tổ chức vận hành kinh tế – xã hội. Tự nó không mang tính kinh
10. Vận dụng quy luật thống nhất và đấu tranh giữa các mặt đối lập vào đời sống
tế – xã hội, không tốt mà cũng không xấu. Tốt hay xấu là do người sử dụng nó. Theo quan
thực tiễn hiện nay
điểm này, kinh tế thị trường là vật “trung tính”, là “công nghệ sản xuất” ai sử dụng cũng
Bài số 1: Kinh tế thị trường và mâu thuẫn biện chứng trong nền kinh tế thị trường ở được. Việt Nam
Hai là, xem kinh tế thị trường là một loại quan hệ kinh tế – xã hội, nó in đậm dấu của lực
lượng xã hội làm chủ thị trường. Kinh tế thị trường là một phạm trù kinh tế hoạt động, có
1. Khái quát chung về kinh tế thị trường (KTTT):
Trong mô hình cũ của CNXH, sự vận hành của nền kinh tế chủ yếu dựa trên mệnh lệnh, kế
chủ thể của quá trình hoạt động đó, có sự tác động lẫn nhau của các chủ thể hoạt động.
hoạch của Nhà nước và một hệ thống bao cấp từ sản xuất đến tiêu dùng. Cơ chế kinh tế
Trong xã hội có giai cấp, chủ thể hoạt động trong kinh tế thị trường không phải chỉ là cái
riêng lẻ đó còn là những tập đoàn xã hội, những giai cấp. Sự hoạt động qua lại của các chủ
này, tuy có ưu điểm là tránh được phân cực xã hội, nhưng lại bộc lộ nhiều nhược diểm cơ
thể hành động đó có thể có lợi cho người này tầng lớp hay giai cấp này, có hại cho tầng lớp
bản. Chẳng những quy luật kinh tế khách quan được coi thường, mà tính tự chủ, năng
động, sáng tạo của người lao động cũng không được phát huy một cách đầy đủ. Sự nghiệp
hay giai cấp khác cho nên kinh tế thị trường có mặt tích cực, có mặt tiêu cực nhất định
đổi mới được tiến hành hơn 10 năm qua ở nước ta gắn liền với việc phát triển kinh tế nhiều
không thể nhấn mạnh chỉ một mặt trong hai mặt đó.
thành phần vận hành theo cơ chế thị trương, nền kinh tế mà chúng ta đang xây dựng là nền
Hiện nay không có một nước nào trên thế giới có nền kinh tế thị trường vận động theo cơ
chế thị trường “hoàn hảo”, hoàn toàn do sự chi phối của “bàn tay vô hình” theo cách nói
kinh tế thị trường định hướng XHCN.
của Adam Smith, nhà kinh tế chính trị học tư sản cổ điển Anh ở thế kỷ XIII mà trái lại
Trứơc hết ta tìm hiểu một số khái niệm: Khái niệm kinh tế hàng hoá, thị trường, cơ chế thị trường.
chúng đều vận động theo cơ chế thị trường có sự điều tiết của nhà nứơc ở những mức độ
* Kinh tế hàng hoá: là kiểu tổ chức kinh tễ mà trong đó hình thái phổ biến của sản xuất là
phạm vi khác nhau. Và ở nước ta kinh tế thị trường mà Đảng và nhà nước ta chủ trương
sản xuất ra để bán, để trao đổi trên thị trường.
xây dựng và phát triển trong thời kì quá độ lên CNXH, là “nền kinh tế nhiều thành phần
theo định hướng XHCN, vận động theo cơ chế thị trường có sự quản lí của nhà nước”.
* Thị trường: trong nền sản xuất, mọi sản phẩm hàng hoá và dịch vụ đều được mua bán
* Đặc điểm của nền kinh tế thị trường:
trên thị trường. Thị trường là một tập hợp tất yếu và hữu cơ của toàn bộ quá trình sản xuất 9
Có thể nói, kinh tế thị trường là kinh tế hàng hoá phát triển đến giai đoạn cao. Kinh tế thị
không còn giữ địa vị thống trị nhưng vẫn còn tồn tại trong XHTB cho đến ngày nay. Kinh
trường là một loại hình mà trong đó, các mối quan hệ kinh tế giữa con người với con người
tế tự nhiên, hiện vật, sinh tồn, tự cung-tự cấp gắn liền với quan niệm truyền thống về kinh
đuợc biểu hiện thông qua thị trường, tức là thông qua việc mua-bán, trao đổi hàng hoá tiền
tế XHCN tuy đã có tác dụng trong điều kiện chiến tranh, góp phần mang lại chiến thắng vẻ
tệ. Trong kinh tế thị trường, các qua hệ hàng hoá -tiền tệ phát triển, mở rộng, bao quát
vang của dân tộc ta, song khi chuyển sang xây dựng và phát triển kinh tế, chính mô hình đó
nhiều lĩnh vực, có ý nghĩa phổ biến đối với người sản xuất và người tiêu dùng. Do nảy sinh
đã tạo ra nhiều khuyết tật, nền kinh tế không có động lực, không có sức đua tranh, không
và hoạt động một cách khách quan trong những diều kiện lịch sử nhất định, kinh tế thị
phát huy được tính chủ động sáng tạo của người lao động, của các chủ thể sản xuất- kinh
trường phản ánh trình độ văn minh và sự phát triển của xã hội, là nhân tố phát triển sức sản
doanh, sản xuất không gắn liền với nhu cầu, ý chí chủ quan đã lấn át khách quan và triệt
xuất, tăng trưởng kinh tế, thúc đẩy xã hội tiến lên. Tuy nhiên, kinh tế thị trường cũng có
tiêu mọi động lực-sức mạnh nội sinh của bản thân nền kinh tế, đã làm cho nền kinh tế suy
những khuyết tật tự thân, đặc biệt là tính tự phát mù quáng, sự cạnh tranh lạnh lùng, dẫn
thoái thiếu hụt, hiệu quả thấp, nhiều mục tiêu của CNXH không thực hiện được.
đến sự phá sản, thất nghiệp, khủng hoảng chu kỳ…
Kinh tế hàng hoá, bắt đầu bằng kinh tế hàng hoá đơn giản, ra đời từ chế độ Cộng sản
KTTT trước hết là kinh tế hàng hoá, với đặc trưng phổ biến của nó là người sản xuất làm ra
nguyên thuỷ tan rã, dựa trên hai tiền đề cơ bản là có sự phân công lao động xã hội và có sự
sản phẩm với mục đích để bán, để trao đổi chứ không phải để tự tiêu dùng, hay sản phẩm
tách biệt về kinh tế do chế độ sở hữu khác nhau về tư liệu sản xuất. Chuyển từ kinh tế tự
dư thừa ngẫu nhiên như trước.
nhiên, tự cung-tự cấp sang kinh tế hàng hoá là đánh dấu bước chuyển sang thời đại kinh tế
KTTT là nền kinh tế có sự đa dạng về hình thức sở hữu, về thành phần kinh tế, về hình
của sự phát triển, thời đại văn minh của nhân loại. Trong lịch sử của mình, vì thế của kinh thức phân phối.
tế hàng hoá cũng dần được đổi thay từ chỗ như là kiểu tổ chức kinh tế – xã hội không phổ
KTTT được sử dụng như một công cụ, một phương tiện để phát triển lực lượng sản xuất,
biến, không hợp thời trong xã hội Chiếm hữu nô lệ của những người thợ thủ công và nhân
phát triển kinh tế phục vụ lợi ích của đa số nhân dân lao động nhằm mục tiêu dân giàu,
dân tự do, đến chỗ được thừa nhận trong xã hội Phong kiến, và đến CNTB thì kinh tế hàng
nước mạnh, xã hội công bằng văn minh.
hoá giản đơn không những được thừa nhận mà còn được phát triển đến giai đoạn cao hơn
KTTT là nguồn lực tổng hợp to lớn về nhiều mặt có khả năng đưa nền kinh tế vượt khỏi
đó là kinh tế thị trường.
thực trạng thấp kém, đưa nền kinh tế hàng hoá phát triển trong cả những điều kiện vốn,
KTTT là giai đoạn phát triển cao của kinh tế hàng hoá, cũng đã trãi qua ba giai đoạn phát
ngân sách Nhà nước còn hạn hẹp.
triển. Giai đoạn thứ nhất, là giai đoạn chuyển từ kinh tế hàng hoá giản đơn sang kinh tế thị
KTTT luôn vận động, phát triển tái sinh, do đó để nâng cao hiệu lực quản lý của nhà nước,
trường. Giai đoạn thứ hai là giai đoạn phát triển kinh tế thị trường tự do. Đặc trưng quan các
chính sách kinh tế vĩ mô phải thường xuyên được bổ xung hoàn thiện.
trọng của giai đoạn này là sự phát triển kinh tế diễn ra theo tinh thần tự do, Nhà nước
KTTT gắn liền với nhà nước pháp quyền và nhà nước sẽ quản lý bằng pháp luật.
không can thiệp vào hoạt động kinh tế. Giai đoạn thứ ba là giai đoạn kinh tế thị trường hiện
2. Kinh tế thị trường theo định hướng XHCN ở Việt Nam.
đại. Đặc trưng của giai đoạn này là Nhà nước can thiệp vào kinh tế thị trường và mở rộng
2. 1. Sự cần thiết khách quan phải phát triển nền kinh tế thị trường định hướng XHCN ở
giao lưu kinh tế với nước ngoài. kinh tế thị trường có những đặc trưng cơ bản như :phát nước ta.
triển kinh tế hàng hoá, mở rộng thị trường, tự do kinh doanh tự do thương mại, tự định giá
Lịch sử nhân loại đã chứng kiến nhiều mô hình kinh tế khác nhau. Mỗi một mô hình đó là
cả, đa dạng hoá sở hữu, phân phối do quan hệ cung cầu… đó là cơ chế hỗn hợp “có sự điều
sản phẩm của trình độ nhận thức nhất định trong những điều kiện lịch sử cụ thể. Có thể
tiết vĩ mô” của nhà nước để khắc phục những khuyết tật của nó.
khái quát rằng, lịch sử phát triển của sản xuất và đời sống của nhân loại đã và đang trãi qua
Mặc dù sự hình thành và phát triển của kinh tế hàng hoá tự phát sẽ “hàng ngày hàng giờ đẻ
hai kiểu tổ chức kinh tế thích ứng với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất và phân
ra CNTB” và sự phát triển của kinh tế thị trường trong lịch sử diễn ra đồng thời với sự hình
công lao động xã hội, hai thời đại kinh tế khác hẳn nhau về chất. Đó là thời đại kinh tế tự
thành và phát triển của CNTB, nhưng tuyệt nhiên kinh tế thị trường không phải là chế độ
nhiên, tự cung-tự cấp; và thời đại kinh tế hàng hoá mà giai đoạn cao của nó được gọi là
kinh tế – xã hội. kinh tế thị trường là hình thức và phương pháp vận hành kinh tế. Đây là kinh tế thị trường.
một kiểu tổ chức kinh tế hình thành và phát triển do những đòi hỏi khách quan của sự phát
Kinh tế tự nhiên là kiểu kinh tế–xã hội đầu tiên của nhân loại. Đó là phương thức sinh hoạt
triển lực lượng sản xuất. Nó là phương thức sinh hoạt kinh tế của sự phát triển. Quá trình
kinh tế ở trình độ ban đầu là sử dụng những tặng vật của tự nhiên và sau đó đựơc thực hiện
hình thành và phát triển kinh tế thị trường là quá trình mở rộng phân công lao động xã hội,
thông qua những tác động trực tiếp vào tự nhiên để tạo ra những giá trị sử dụng trong việc
phát triển khoa học – công nghệ mới và ứng dụng chúng vào thực tiễn sản xuất kinh doanh.
duy trì sự sinh tồn của con người. Nó được bó hẹp trong mối quan hệ tuàn hoàn khép kín
Sự phát triển của kinh tế thị trường gắn liền với quá trình phát triển của nền văn minh nhân
giữa con người và tự nhiên, mà tiêu biểu là giữa lao động và đất đai làm nền tảng. Hoạt
loại, của khoa học – kỹ thuật, của lực lượng sản xuất.
động kinh tế gắn liền với xã hội sinh tồn, với kinh tế nông nghiệp tự cung-tự cấp. Nó đã tồn
Cho đến cuối những năm 80, về cơ bản trong nền kinh tế nước ta sản xuất nhỏ vẫn còn là
tại và thống trị trong các xã hội Công xã nguyên thuỷ, chiếm hữu nô lệ, phong kiến và tuy
phổ biến, trạng thái kinh tế tự nhiên, hiện vật, tự cung-tự cấp đang còn chiếm ưu thế. Xã 10
hội Việt Nam về cơ bản vẫn dựa trên nền tảng của văn minh nông nghiệp lúa nước, nông
Thứ hai, nền kinh tế của chúng ta là nền kinh tế hỗn hợp nhiều thành phần với vai trò chủ
dân chiếm đại đa số. Việt Nam vẫn là một nước nghèo nàn, lạc hậu và kém phát triển. Phát
đạo của kinh tế nhà nước trong một số lĩnh vực, một số khâu quan trọng có ý nghĩa quyết
triển trở thành nhiệm vụ, mục tiêu số một đối với toàn Đảng, toàn dân ta trong bước đường
định đế sự phát triển kinh tế – xã hội của đất nước. Nền kinh tế hàng hoá, nền kinh tế thị
đi tới. Muốn vậy phải chuyển toàn bộ nền kinh tế quốc dân sang trạng thái của sự phát triển
trường phải là một nền kinh tế đa thành phần, đa hình thức sở hữu. Thế nhưng, nền kinh tế
là phát triển nền kinh tế thị trường cùng với nó là thực hiện công cuộc công nghiệp hoá,
thị trường mà chúng ta sẽ xây dựng là nền kinh tế thị trường hiện đại, cho nên cần có sự hiện đại hoá.
tham gia bởi “Bàn tay hữu hình” của nhà nước trong việc điều tiết, quản lí nền kinh tế đó.
Sự phát triển kinh tế xã hội nào rút cuộc cũng nhằm mục tiêu xã hội, nhân văn nhất định.
Đồng thời, chính nó sẽ bảo đảm sự định hướng phát triển của nền kinh tế thị trường. Việc
Phát triển theo nghĩa đầy đủ là bên cạnh sự gia tăng về lượng (tăng trưởng kinh tế) còn bao
xây dựng kinh tế Nhà nước giữ vai trò chủ đạo là sự khác biệt có tính chất bản chất giữa
hàm cả sự thay đổi về chất (những biến đổi về mặt xã hội). Học thuyết về hình thái kinh tế
kinh tế thị trường định hướng XHCN với kinh tế thị trường TBCN. Tính định hướng
xã hội của C. Mác là một thành tựu khoa học của loài người. Nó phác hoạ quy luật vận
XHCN của nền kinh tế ở nước ta đã quy định kinh tế Nhà nước giữ vai trò chủ đạo, bởi lẽ
động tổng quát của nhân loại, và sự phát triển của xã hội loài ngừơi sẽ tiến tới Chủ nghĩa
mỗi một chế độ xã hội đều có một cơ sở cho chế độ xã hội mới-chế độ XHCN.
Cộng sản mà giai đoạn thấp của nó là CNXH. CNXH không đối lập với phát triển, với kinh
Thứ ba, nhà nước quản lý nền định hướng XHCN ở nước ta là nhà nước pháp quyền
tế thị trường, mà là một nấc thang phát triển của loài người được đánh dấu bằng tiến bộ xã
XHCN, là nhà nước của dân, do dân và vỡ dân. Thành tố quan trọng mang tính quyết định
hội của sự phát triển. Nó là cách thức giải quyết của các quan hệ xã hội, là một sự thiết lập
trong nền kinh tế thị trường hiện đại là nhà nước tham gia vào các quá trình kinh tế. Nhà
một trật tự xã hội với mục tiêu dân giàu nước mạnh, xã hội công bằng văn minh. Cuộc đấu
nước ta là nhà nước “của dân, do dân và vỡ dân”, nhà nước công nông, nhà nước của đại đa
tranh cách mạng trường kỳ gian khổ và quyết liệt của nhân dân ta dưới sự lãnh đạo của
số nhân dân lao động, đặt dưới sự lãnh đạo của ĐCS Việt Nam. Nó có đủ bản lĩnh, khả
Đảng Cộng sản Việt Nam đứng đầu là chủ tịch Hồ Chí Minh nhằm giải phóng nhân dân lao
năng và đang tự đổi mới để bảo đảm giữ vững định hướng XHCN trong việc phát triển nền
động đem lại cuộc sống hạnh phúc và giàu sang cho nhân dân lao động. Vì vậy, sự phát
kinh tế thị trường hiện đại ở nước ta.
triển của Việt Nam trong hiện tại và tương lai phải là sự phát triển vì sự giàu có, phồn vinh,
Thứ tư, cơ chế vận hành của nền kinh tế được thực hiện thông qua cơ chế thị trường với sự
hạnh phú của nhân dân lao động, vì sự hùng mạnh và giàu có của toàn xã hội-toàn dân tộc,
tham gia quản lý, điều tiết của Nhà nước. Mọi hoạt động sản xuất- kinh doanh trong nền
là sự phát triển mang tính XHCN, là sự phát triển hiện đại. Nghĩa là, chúng ta phải phát
kinh tế được thực hiện thụng qua thị trường. Điều đó có nghĩa là nền kinh tế thị trường
triển nền kinh tế thị trường định hướng XHCN.
định hướng XHCN ở nước ta vận động theo những quy luật nội tại của nền kinh tế thị
2. 2. Một số đặc điểm chung của nền kinh tế thị trường ở Việt Nam.
trường nói chung, thị trường có vai trò quyết định đối với việc phân phối các nguồn lực
Chuyển nền kinh tế từ hoạt động theo cơ chế kế hoạch tập trung – hành chính, quan liêu –
kinh tế. Việc quản lý Nhà nước nhằm hạn chế, khắc phục những “thất bại của thị trường”,
bao cấp sang phát triển nền kinh tế nhiều thành phần, vận hành theo cơ chế thị trường có sự
thực hiện các mục tiêu xã hội, nhân đạo mà bản thân thị trường không thể làm được.
quản lý của Nhà nước theo định hướng XHCN là nội dung, bản chất và đặc điểm khái quát
vai trò quản lý của Nhà nước trong nền kinh tế thị trường hết sức quan trọng. Sự quản lý
nhất đối với nền kinh tế nước ta trong hiện nay và tương lai. Đặc biệt, cương lĩnh xây dựng
của Nhà nước bảo đảm cho nền kinh tế tăng trưởng ổn định, đạt hiệu quả, đặc biệt là bảo
đất nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH, được Đại hội đại biểu toàn quốc của Đảng cộng
đảm sự công bằng và tiến bộ xã hội. không có ai ngoài nhà nước lại có thể giảm bớt sự
sản Việt Nam lần thứ VII thông qua vào năm 1991 đã nêu lên những đặc trưng bản chất
chênh lệch giữa giàu- nghèo, giữa thành thị và nông thôn, giữa công nghiệp và nông
của nền kinh tế thị trường và phát triển nền kinh tế thị trường theo định hướng XHCN.
nghiệp, giữa các vùng của đất nước. Tuy vậy, cần phải nhấn mạnh rằng sự can thiệp của
Thứ nhất, nền kinh tế thị trường định hướng XHCN mà nước ta xây dựng là nền kinh tế thị
Nhà nước vào kinh tế sao cho tương hợp với thị trường.
trường hiện đại với tính chất xã hội hiện đại. Mặc dù nền kinh tế nước ta đang nằm trong
Thứ năm, mở cửa, hội nhập nền kinh tế trong nước với nền kinh tế thế giới, trên cơ sở giữ
tình trạng lạc hậu và kém phát triển nhưng khi nước ta chuyển sang phát triển kinh tế hàng
vững độc lập, tự chủ và toàn vẹn lãnh thổ quốc gia là nội dung quan trọng của nền kinh tế
hoá, kinh tế thị trường, thì thế giới đã chuyển sang giai đoạn kinh tế thị trường hiện đại.
thị trường ở nước ta. Quá trình phát triển của kinh tế thị trường đi liền với xã hội húa nền
Bởi vậy, chúng ta không thể và không nhất thiết phải trãi qua giai đoạn kinh tế hàng hoá
sản xuất xã hội. Tiến trình xã hội húa trờn cơ sở phát triển của kinh tế thị trường là không
giản đơn và giai đoạn kinh tế thị trường tự do mà đi thẳng vào phát triển kinh tế thị trường
có biên giới quốc gia về phương diện kinh tế. Một trong những đặc trưng quan trọng của
hiện đại. Mặt khác, thế giới vẫn nằm trong thời quá độ từ CNTB lên CNXH, cho nên sự
kinh tế thị trường hiện đại là việc mở rộng giao lưu kinh tế với nước ngoài. Xu hướng quốc
phát triển kinh tế – xã hội nước ta phải theo định hướng XHCN là cần thiết khách quan và
tế hóa đời sống kinh tế với những khu vực hóa và toàn cầu hóa đang ngày càng phát triển
cũng là nội dung yêu cầu của sự phát triển rút ngắn. Sự nghiệp “dân giàu, nước mạnh, xã
và trở thành xu thế tất yếu trong thời đại của cuộc cách mạng khoa học – công nghệ hiện
hội công bằng và văn minh” vừa là mục tiêu vừa là nội dung, nhiệm vụ của việc phát triển
nay. Tranh thủ thuận lợi và cơ hội, tránh nguy cơ tụt hậu xa hơn và vượt qua thách thức là
kinh tế thị trường định hướng XHCN ở nước ta.
yêu cầu nhất thiết phải thực hiện. Để phát triển trong điều kiện của kinh tế thị trường hiện 11
đại, Việt Nam không thể đóng cửa, khép kín nền kinh tế trong trạng thái tự cung- tự cấp mà
trường có sự quản lí của nhà nước theo định hướng XHCN, đó là nền kinh tế thị trường
phải mở của, hội nhập với nền kinh tế thế giới trên cơ sở phát huy lợi thế so sánh và không theo định hướng XHCN”.
ngừng nâng cao sức cạnh tranh của nền kinh tế, giữ vững độc lập, tự chủ và toàn vẹn lãnh
Chủ trương xây dựng và phát triển nền kinh tế thị trường định hướng XHCN thể hiện tư thổ quốc gia.
duy, quan niệm của đảng ta về sự phù hợp giữa quan hệ sản xuất với tính chất và trình độ
Thứ sáu, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế đồng thời với việc bảo đảm công bằng xã hội cũng là
của lực lượng sản xuất. Đó là mô hình kinh tế tổng quát của nước ta trong thời kỡ quá độ
một nội dung rất quan trọng trong nền kinh tế thị trường ở nước ta. Phát triển trong công lên CNXH.
bằng được hiểu là những chính sách phát triển phải bảo đảm sự công bằng xã hội, là tạo
Trong công cuộc đổi mới hiện nay, Đại hội IX Đảng ta một lần nữa khẳng định: “Thực tiễn
cho mọi tầng lớp nhân dân đều có thể tham gia vào quá trình phát triển va được hưởng
phong phú và những thành tựu thu được qua 15 năm đổi mới đó chứng minh tính đúng đắn
những thành quả tương xứng với sức lực, khả năng và trí tuệ họ bỏ ra, là giảm bớt chênh
của cương lĩnh được thông qua tại đại hội VII của Đảng đồng thời giúp đảng ta nhận thức
lệch giàu – nghèo giữa các tầng lớp dân cư giữa các vùng. Khác với nhiều nước, chúng ta
ngày càng rừ hơn về con đường đi lên CNXH ở nước ta. Chúng ta một lần nữa khẳng định :
phát triển kinh tế thị trường nhưng chủ trương bảo đảm công bằng xã hội, thực hiện sự
Cương lĩnh là ngọn cờ chiến đấu vỡ thắng lợi của sự nghiệp xây dựng nước Việt Nam từng
thống nhất giữa tăng trưởng kinh tế và công bằng xã hội, trong tất cả các giai đoạn của sự
bước quá độ lên CNXH định hướng cho mọi hoạt động của Đảng ta hiện nay và trong
phát triển kinh tế ở nước ta. Mức độ bảo đảm công bằng xã hội phụ thuộc rất lớn vào sự
những thập kỉ tới. Đảng và nhân dân ta quyết tâm xây dựng đất nước Việt Nam theo con
phát triển, khả năng và sức mạnh kinh tế của quốc gia.
đường XHCN trên nền tảng chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh”.
Tóm lại, quá trình phát triển nền kinh tế thị trường định hướng XHCN ở nước ta phải là
Tuy vậy đi đôi với thành tựu là rất nhiều khó khăn đũi hỏi phải có phương hướng giải
“Quá trình thực hiện dân giàu nước mạnh, tiến lên hiện đại trong một xã hội nhân dân làm
quyết đúng đắn, đặc biệt, lao động và việc làm đang là vấn đề gay gắt nổi cộm nhất hiện
chủ, nhân ỏi, có văn hóa, có kỉ cương, xóa bỏ áp bức bất công tạo điều kiện cho mọi người
nay với tỉ lệ thất nghiệp ở thành thị là 74% và tỉ lệ thiếu việc làm ở nông thôn là 30% tỉ lệ
có cuộc sống ấm no, tự do hạnh phúc”.
lao động được đào tạo về chuyên môn kĩ thuật cũng thấp trong tổng số lao động :theo kết
Từ những đặc trưng và sự phát triển đúng hướng của nền kinh tế thị trường ở nước ta
quả điều tra dân số và nhà ở ngày 1/4/1999, công nhân kỹ thuật và nghiệp vụ chiếm 30,
chúng ta đó đạt được nhiều thành tựu to lớn:
3%; lao động có trình độ trung học chuyên nghiệp chiếm 36, 8%; trình độ Cao đẳng và Đại
* Nền kinh tế Việt Nam chuyển dần từ nền kinh tế kế hoạch hóa toàn diện, khép kín sang
học chiếm 31, 6%; trên Đại học chiếm 1, 3%. [Kinh tế và phát triển số 42, tháng12/2000,
một nền kinh tế thị trường mới, theo định hướng XHCN. Công cuộc đổi mới kinh tế – xã
tr19]. Từ năm 2001, khi Việt Nam áp dụng chuẩn hóa đói nghèo mới thì tỷ lệ đói nghèo sẽ
hội được mở đầu từ Đại hội VI của ĐCS Việt Nam ( 1986)
cũng khỏ hơn, khoảng 17% so với 11% chuẩn cũ. Hiện tại, mức tiêu dùng của dân cư thấp,
– Năm 1991 Đại hội VII của Đảng nhận định “Công cuộc đổi mới đó đạt được những thành
tích lũy nội bộ của nền kinh
tựu bước đầu quan trọng nhưng nước ta vẫn chưa thoát khỏi khủng hoảng kinh tế xã hội”.
tế mới đạt khoảng 25-27%GDP, cũng tích lũy rũng chỉ đạt dưới 20% GDP. Trong khi đó
– Năm 1996 Đại hội đảng VIII nhận định “Nước ta đã ra khỏi cuộc khủng hoảng kinh tế –
kết cấu hạ tầng cũng yếu kém, sản lượng điện bình quân đầu người mới chỉ đạt trên
xã hội, nhưng một số mặt cũng chưa được củng cố vững chắc”. Nền kinh tế Việt Nam đó ra
340kwh, mật độ đường giao thông tính trên 1000 dân cũng thấp xa so với các nước xung
khỏi khủng hoảng với nhịp độ tăng trưởng kinh tế ngày càng cao: tốc độ tăng GDP bình
quanh. [Thời báo kinh tế Việt Nam, số 151, 18/12/2000]
quân thời kỳ 1986- 1990 là 3, 6%; 1991-1995 là 8, 2%; 1996-2000 là 7%.
Nguyên nhân phát sinh ra những khó khăn trên là trong nội bộ nền kinh tế của nước ta vẫn
* Lạm phát được đẩy lùi từ 67, 4% năm 1990 xuống 12, 7% năm 1995, 0, 1% năm 1999 và
cũng tồn tại nhiều mâu thuẫn phát sinh trong quá trình xây dựng kinh tế thị trường.
0% năm 2000. Phá được thế bao vây cấm vận, mở rộng quan hệ đối ngoại và chủ động hội
3. Những mâu thuẫn phát sinh trong quá trình chuyển sang kinh tế thị trường ở Việt
nhập kinh tế quốc tế, thu hút vốn đầu tư nước ngoài cùng nhiều công nghệ và kinh nghiệm Nam. quản lý tiên tiến.
3. 1. Mâu thuẫn giữa phát triển kinh tế thị trường và mục tiêu xây dựng con người XHCN.
* Điều kiện vật chất và tinh thần của nhân dân được cải thiện rừ rệt, văn hóa không ngừng
Chủ Tịch Hồ Chí Minh cho rằng muốn xây dựng CNXH trước hết phải có con người
tiến bộ. Việt Nam từ một nước thiếu lương thực đó trở thành một nước xuất khẩu gạo lớn
XHCN. Yếu tố con người giữ vai trò cực kỳ quan trọng trong sự nghiệp cách mạng, bởi vỡ thứ hai trên thế giới.
con người là chủ thể của mọi sáng tạo, của mọi nguồn của cải vật chất và văn hóa. Con
* Quốc phũng và an ninh được đảm bảo, ổn định chính trị được giữ vững, các mối quan hệ
người phát triển cao về trí tuệ, cường tráng về thể chất, phong phú về tinh thần, trong sáng
kinh tế được mở rộng với nhiều nước trên thế giới, bộ mặt đất nước đó có những biến đổi
về đạo đức là động lựu của sự nghiệp xây dựng xã hội mới, là mục tiều của CNXH. Từ một
to lớn trên mọi lĩnh vực.
nước nông nghiệp, lạc hậu đi lên CNXH, chúng ta phải bắt đầu từ con người, lấy con người
Đại hội IX khẳng định :”Đảng và Nhà nước ta chủ trương thực hiện nhất quán và lâu dài
làm điểm xuất phát. Một trong những điều kiện đảm bảo thắng lợi cho sự nghiệp xây dựng
chính sách phát triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần vận động theo cơ chế thị
con người trong giai đoạn hiện nay là đời sống sinh hoạt vật chất. Nhưng nhu cầu về vật 12
chất và tinh thần phong phú của con người chỉ có thể được thỏa món trong một nền kinh tế
trường không những không làm cho con người ta năng động hơn, tốt đẹp hơn mà ngược lại,
vững vàng, ổn định, phát triển cao, có tốc độ tăng trưởng nhanh. Việc tiến hành sự nghiệp
cũng làm tha húa bản chất con người, biến con người thành nô lệ sùng bài đồng tiền hoặc
trồng người hôm nay gắn bó một cách chặt chẽ với quá trình mở rộng, hoàn thiện kinh tế
kẻ đạo đức giả chỉ biết tôn trọng sức mạnh và lợi ích cá nhân, sẵn sàng chà đạp lên nhân
thị trường kết hợp với mở cửa giao lưu quốc tế. Đại hội Đảng lần thứ IX đó khẳng định :
phẩm, văn hóa, đạo đức, luân lý… Bờn cạnh những tác động tích cực, kinh tế thị trường
“Giáo dục- đào tạo là quốc sách hàng đầu, phát triển giáo dục- đào tạo là một động lực
cũng có nhiều khuyết tật, hạn chế gây ra những tác động xấu. Việc quá đề cao lợi ích cá
quan trọng thúc đẩy sự nghiệp công nghiệp hóa- hiện đại hóa đất nước, là điều kiện để phát
nhân, bất chấp lợi ích tập thể và lợi ích xã hội là một nguy cơ lớn. Lợi nhuận kích thích sản
huy nguồn lực con người – yếu tố cở bản để phát triển xã hội, tăng trưởng kinh tế nhanh và
xuất, nhưng mặt khác, lợi nhuận cũng tự phát đẩy con người tới những hành vi phá hoại bền vững”.
môi trưũng sống và làm tha húa đạo đức, nhân phẩm. Sự cạnh tranh trên thương trường làm
KTTT là một loại hình kinh tế mà trong đó các mối quan hệ kinh tế giữa con người với con
cho con người năng động hơn, sáng tạo hơn nhưng nhiều khi cũng làm mất đi lũng nhân ỏi,
người được biểu hiện thông qua thị trường, tức là thông qua việc mua- bán, trao đổi hàng
vị tha, biến con người thành những cỗ mỏy chỉ biết tính toỏn một cách sũng phẳng, lạnh
hóa- tiền tệ. Trong kinh tế thị trường, các quan hệ hàng hóa- tiền tệ phát triển, mở rộng,
lựng, thiếu nhân tính. Quan hệ hàng húa – tiền tệ làm sống động thị trường nhưng cũng làm
bao quát trờn nhiều lĩnh vực, có ý nghĩa phổ biến đối với người sản xuất và tiêu dùng. Do
xói mũn nhân cách và hạ thấp phẩm giỏ của con người. Ngoài ra đi kèm với kinh tế thị
nảy sinh và hoạt động một cách khách quan trong những điều kiện lịch sử nhất định, kinh
trường là hàng loạt tệ nạn xã hội để đưa đến những rối loạn, khủng hoảng cho gia đình, hạt
tế thị trường phản ánh trình đọ văn minh, và sự phát triển của xã hội, là nhân tố phát triển
nhân, tế bào của xã hội. Nạn cờ bạc, rượu chè, mại dâm, ma tuý, buụn lậu, hối lộ, tham
sức sản xuất, tăng trưởng kinh tế, thúc đẩy xã hội tiến lờn. Tuy nhiên, kinh tế thị trường
nhũng… là những căn bệnh trầm kha không dễ khắc phục trong kinh tế thị trường. Thật
cũng có những khuyết tật tự thân, đặc biệt là tính tự phát mù quáng, sự cạnh tranh lạnh
không sai khi hình dung kinh tế thị trường là con dao hai lưỡi, nếu dùng không cẩn thận rất
lùng, dẫn đến sự phá sản, thất nghiệp, khủng hoảng chu kỳ, ô nhiễm môi trường… dễ bị đứt tay.
Xuất phát từ sự phân tích trên đây, chúng ta thấy rằng đối với nước ta hiện nay, không thể
Những phân tích trên đây cho thấy, kinh tế thị trường và mục tiêu xây dựng con người
xây dựng và phát triển con người nếu thiếu yếu tố kinh tế thị trường. Việc xây dựng, củng
XHCN là một mâu thuẫn biện chứng trong thực tiễn nước ta hiện nay. Đây chính là hai mặt
cố, hoàn thiện cơ cế thị trường có sự quản lý cả Nhà nước theo định hướng XHCN cũng
đối lập của một mâu thuẫn xã hội. Giữa kinh tế thị trường và quá trình xây dựng con người
đồng nghĩa với việc tạo ra các điều kiện vật chất cơ bản để thực hiện chiến lược xây dựng
vừa có sự thống nhất, vừa có sự đấu tranh. kinh tế thị trường vừa tạo ra những điều kiện để
phát triển con người cho thế kỷ XXI.
xây dựng, phát huy nguồn lực con người, vừa tạo ra những độc tố đầu độc, hủy hoại con
Trong những năm vừa qua, kinh tế thị trường ở nước ta đó được nhân dân hưởng ứng rộng người.
rói và đi vào cuộc sống rất nhanh chóng, góp phần khơi dậy nhiều tiềm năng sáng tạo, làm
Việc giải quyết những mâu thuẫn trên đây là việc làm không đơn giản. Đối với nước ta,
cho nền kinh tế sôi động hơn, các hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ phát triển hơn,
mâu thuẫn giữa kinh tế thị trường và quá trình xây dựng con người được giải quyết bằng
bộ mặt thị trường được thay đổi. Đây là những kết quả đáng mừng, đáng được phát huy, nó
vai trò lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước theo định hướng XHCN. Đảng ta xác
thể hiện sự phát triển và vận động đúng đắn các quy luật xã hội. quá trình biện chứng đi lên
định: “Sản xuất hàng hóa không đối lập với CNXH mà là thành tựu phát triển của nền văn
CNXN từ khách quan đáng trở thành nhận thức chủ quan trên quy mô toàn xã hội.
minh nhân loại, tồn tại khách quan, cần htiết cho công cuộc xây dựng CNXH và cả khi
Bên cạnh đó, có một khía cạnh khác cũng cần được đề cập đến: kinh tế thị trường ở nước ta
CNXH đó được xây dựng ”. Như vậy, Đảng ta vạch ra sự thống nhất giữa kinh tế thị
hiện nay không chỉ tạo ra điều kiện vật chất để xây dựng, phát huy nguồn lực con người,
trường và mục tiêu xây dựng con người mới XHCN : ”Việc áp dụng cơ chế thị trường đũi
mà cũng tạo ra môi trường xã hội thích hợp cho con người phát triển hài hòa, toàn diện cả
hỏi phải nâng cao năng lực quản lý vĩ mô của Nhà nước, đồng thời xác lập đầy đủ chế độ
về thể chất lẫn tinh thần. kinh tế thị trường tạo ra sự cạnh tranh, chạy đua quyết liệt. Điều
tự chủ của các đơn vị sản xuất kinh doanh. Thực hiện tốt vấn đề này không phát huy được
đó buộc con người phải năng động, sáng tạo, linh hoạt, có tác phong nhanh nhẹn, có đầu óc
tác động tích cực, to lơn cũng như ngăn ngừa, hạn chế, khắc phục những tiêu cực, khiếm
quan sát, phân tích để thích nghi và hành động có hiệu quả, từ đó nâng cao năng lực hoạt
khuyết của kinh tế thị trường. Các hoạt động sản xuất kinh doanh phải hướng vào phục vu
động thực tiễn của con người, góp phần làm giảm đi sự chậm chạp và trì trệ vốn có của
công cuộc xây dựng nguồn lực con người. Cần phải tiến hành các hoạt động văn hóa, giáo
người lao động trong nền kinh tế nông nghiệp lạc hậu từ ngàn đời ở con ngời Viêt Nam.
dục nhằm khắc phục tâm lý sựng bỏi đồng tiền, bất chấp đạo lý, coi thưũng các giỏ trị nhân
kinh tế thị trường tạo ra những điều kiện thích hợp để con người mở rộng các mối quan hệ,
văn. Phải ra sức phát huy các giá trị tinh thần, đạo đức, thẩm mỹ, các di sản văn hóa, nghệ
giao lưu buôn bán, từ đó hình thành các chuẩn mực văn hóa, đạo đức mới theo tiêu chí thị
thuật của dân tộc. Đây chính là công cụ, phưong tiện quan trọng để tác động, góp phần giải
trường như chữ tín trong chất lượng, chữ tín trong giao dịch ….
quyết mâu thuẫn đó nêu”. Và Đại hội Đảng IX cũng xác định : ”Xây dựng đội ngũ cán bộ,
Tuy nhiên, cần phải thấy rằng không phải cứ xây dựng được kinh tế thị trường là những
trước hết cán bộ lãnh đạo và quản lý ở các cấp vững vàng về chính trị, gương mẫu về đạo
phẩm chất tốt đẹp tự nó hình thành cho con người, có những lúc, những nơi, kinh tế thị 13
đức, trong sạch về lối sống, có trí tuệ, kiến thức và năng lực hoạt động thực tiễn, gắn bó với
phẩm dư thừa ngẫu nhiên như trước. Ngày nay, khi kinh tế thị trường hiện đại đó phát triển nhân dân”.
một cách phổ biến thì đặc trưng căn bản đó không những không mất đi mà cũng được bổ
Túm lại, kinh tế thị trường là mục tiều xây dựng CNXH là một mâu thuẫn biện chứng xã
sung, làm phong phú thêm bởi các hình thức và nội dung của quan hệ trao đổi và vai trò
hội trong thực tiễn nước ta hiện nay. Mâu thuẫn đó được giải quyết bằng cách tăng cường
can thiệp của Nhà nước vào quá trình đó.
vai trò lãnh đạo của Đảng, nâng cao hiệu lực quản lý của Nhà nước và phát huy tối đa các
Như vậy, kinh tế thị trường phát triển từ sơ khai đến hiện đại là một công trình sỏng tạo
giá trị tinh thần dân tộc.
của loài người trong quá trình sản xuất và trao đổi, đó là trình độ văn minh mà nhân loại đó
3.2. Mâu thuẫn giữa phát triển kinh tế thị trường và định hướng XHCN.
đạt được. Do đó, mọi quan niệm cho rằng kinh tế thị trường là phát minh riêng của CNTB
Một trong những luận điểm rất quan trọng phản ánh tư duy mới của Đảng ta thể hiện trong
là không có căn cứ : việc đồng nhất kinh tế thị trường với CNTB để rồi né tránh, hoặc sử
văn kiện Đại hội Đảng VI là : ”chính sách, cơ cấu kinh tế nhiều thành phần”. Từ đó, Đảng
dụng nó như một công cụ tạm thời, hoặc coi việc áp dụng cơ chế thị trường có nghĩa là mặc
ta từng bước xác định chủ trương xây dựng ở nước ta một nền kinh tế thị trường theo định
nhiên chấp nhận con đường TBCN… đều có thể dẫn đến những sai lầm đáng tiếc. Sự ra
hướng XHCN. Trải qua thực tiễn đổi mới, chính sách, cơ cấu kinh tế nhiều thành phần, vận
đời của kinh tế thị trường TBCN chỉ đẩy lùi kinh tế thị trường lên một giai đoạn phát triển
hành theo cơ chế thị trường, có sự quản lý của Nhà nước, theo định hướng XHCN đó đưa
mới về chất cả về quy mô, tính chất và mức độ bao quát của nó. Là sự phát triển tiếp tục xu
lại hiệu quả, góp phần lớn vào sự thành công của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc.
hướng khách quan nền kinh tế của CNXH nói chung, của thời kỳ quá độ lên CNXH nói
Năm 1996, khi tổng kết 10 năm đổi mới, chúng ta đó thống nhất đánh giá, đó là quyết sách
riêng, là một sự phát triển mang tính phủ định biện chứng đối với kinh tế thị trường TBCN.
chiến lược đúng đắn của Đảng. Nhờ đó đó tạo nờn những thành tựu to lớn, đưa nước ta vào
Từ đấy ra đời một nền kinh tế thị trường mới về chất.
thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa.
KTTT bao giờ cũng tồn tại dưới một thể chế chính trị, một chế độ chính trị. Nhờ sử dụng
Tuy nhiên, trong khi nghiên cứu, thảo luận, đóng góp ý kiến vào dự thảo văn kiện Đại hội
triệt để kinh tế thị trường, CNTB đó đạt được những thành tựu về kinh tế – xã hội, phát
IX, có ý kiến băn khoăn về việc Đảng ta tiếp tục xác định chủ trương xây dựng ” nền kinh
triển lực lượng sản xuất, nâng cao năng xuất lao động. Cũng nhờ kinh tế thị trường, quản lý
tế thị trường định hướng XHCN”, nhất là cụm từ ”định hướng XHCN” có người cho rằng
xã hội đạt được những thành quả về văn minh hành chính, văn minh công cộng, con người
:” cả về lý thuyết và thực tiễn, kinh tế thị trường – điều kiện tất yếu để phát triển kinh tế –
nhạy cảm, tinh tế, với khả năng sáng tạo, sự thách thức đua tranh phát triển.
không thể đi đôi với định hướng XHCN được” và ”Giữa hai cái phải chọn lấy một, không
Ngay trong văn kiện Đại hội VIII, Đảng ta đó khẳng định : “Sản xuất hàng hóa là thành
thể ”Bắt cá hai tay”” và theo họ, nếu chọn định hướng thì “đấy là thất bại, là ngừ cụt”. í
tựu, văn minh của nhân loại”, chúng ta không chỉ kiên định “Không bỏ qua kinh tế hàng
kiến đó lập luận rằng đó là nền kinh tế thị trường thì đương nhiên nó vận động theo định
hóa” như văn kiện Đại hội VI đó nêu, mà cũng khẳng định kinh tế thị trường cũng tồn tại
hướng TBCN, nước ta đang cần phát triển, cần vận dụng cơ chế thị trường để thu hút mọi
khách quan cho đến khi CNXH được xây dựng. Trong dự thảo văn kiện Đại hội IX lại tiếp
nguồn lực cho phát triển kinh tế, thì hà tất phải nêu “định hướng XHCN”. Việc nêu cụm từ
tục khẳng định :”Đảng và Nhà nước ta chủ trương thực hiện nhất quán và lâu dài chính
”định hướng XHCN” có thể dẫn đến hai điều bất lợi: một là, kinh tế thị trường là sản phẩm
sách phát triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, vận hành theo cơ chế thi trường, có
của CNTB nên không thể gắn cho nó cái định hướng XHCN; hai là, nêu định hướng
sự quản lý của Nhà nước theo định hướng XHCN”.
XHCN vào đây dễ gây ra nghi ngại cho các nhà đầu tư, nhất là các nhà đầu tư tư nhân
Mặt khác, vấn đề định hướng phát triển cho nền kinh tế thị trường cũng là vấn đề đáng
trong nước và các nhà đầu tư từ các nước TBCN.
được quan tâm. Trong lịch sử hình thành Nhà nước, chức năng kinh tế thường xuyên xuất
Như đó biết, vào cuối thời kỳ cụng xã nguyên thủy, đầu thời kỳ xã hội nụ lệ, loài người đó
hiện sau chức năng hành chính công, lúc đầu chỉ “mờ nhạt”, đơn thuần là thu thuế của các
có một bước nhảy vọt trong lĩnh vực sản xuất ra của cải vật chất. Trong sản xuất đó bắt đầu
tầng dân cư có hoạt động sản xuất kinh doanh. Nhưng, do tính tự phát của kinh tế thị
có sản phẩm thặng dư, tức là phần sản phẩm vượt quá phần sản phẩm tất yếu do người sản
trường đó gây ra hậu quả ngày càng nặng nề mà xã hội phải gánh chịu, Nhà nước phải can
xuất tạo ra, mặc dù lúc đầu sự ”dư thừa” đó chỉ là ngẫu nhiên, nhưng cùng với lao động tư
thiệp sâu hơn về kinh tế. Từ đó, chức năng kinh tế của Nhà nước cũng dần được xác định.
hữu được xác lập, người lao động đó có thể làm chủ những sản phẩm ”dư thừa” đó, mang
Học thuyết của J. M. Kên (Nhà kinh tế học Anh, 1884. 1946) là một điển hình về sự kờu
trao đổi với nhau để nhận lại những sản phẩm mà mình thiếu do kết quả của phân cụng
gọi phải có “Bàn tay hữu hình” của Nhà nước can thiệp vào thị trường để hạn chế tính tự
chuyên mụn húa đưa lại. Thị trường sơ khai xuất hiện từ đó.
phát, tiêu cực của cơ chế thị trường… Do đó, việc can thiệp vào quá trình kinh tế đó được
Tuy nhiên, phải trải qua quá trình phát triển lâu dài, mói đến giai đoạn cuối xã hội phong
coi là đương nhiên, mang tính quy luật của kinh tế thị trường, và việc định hướng phát triển
kiến đầu xã hội TBCN thì kinh tế thị trường mới được xác lập, và phải đến cuối giai đoạn
cho nền kinh tế đó cũng hoàn toàn phụ thuộc vào bản chất giai cấp của đảng cầm quyền.
của CNTB tự do kinh doanh cạnh tranh thì kinh tế thị trường mới được xác lập hoàn toàn.
Nhà nước là sản phẩm của đấu tranh giai cấp, là công cụ của giai cấp cầm quyền, nhà nước
KTTT trước hết là kinh tế hàng hóa với đặc trưng phổ biến của nó là những người sản xuất
can thiệp vào kinh tế thị trường là nhằm bảo vệ lợi ích của giai cấp, Đảng cầm quyền. Nhà
làm ra sản phẩm với mục đích để bán (để trao đổi), chứ không phải để tự tiêu dùng, hay sản
nước TBCN can thiệp vào kinh tế thị trường ngay từ buổi bình minh của nú là để đẩy 14
nhanh quá trình tích lũy nguyên thủy của tư bản, nhằm hình thành và phát triển CNTB;
hàng hóa, kinh tế thị trường gắn kiền với kinh tế nhiều thành phần và xu hướng xã hội hóa,
ngay cả sau này, khi nhà nước TBCN ban hành các đạo luật chống độc quền cũng không
không biệt lập mà đoàn kết, trong đó có xu hướng chỉ đạo.
phải vỡ lợi ích của giai cấp cần lao mà vẫn vỡ lợi ích toàn cục của chế độ TBCN nói chung
“Định hướng XHCN” cũng thể hiện ở quan hệ phân phối: phân phối cụng bằng sẽ tạo động
và của các tập đoàn tài chính nói riêng.
lực cho sự phát triển. Trong kinh tế thị trường, chúng ta chủ trương phân phối theo lao
Vì vậy, việc Nhà nước ta quản lý vĩ mô nền kinh tế, định hướng XHCN cho nền kinh tế thị
động, theo vốn trên cơ sở khuyến khích mọi người tự do sản xuất kinh doanh công khai
trường là điều đương nhiên, phù hợp với tính quy luật đó hình thành trong thực tiễn. Ngay
hợp pháp, đồng thời thực hiện chính sách cụng bằng xã hội. Chế độ XHCN là chế độ của
trong Nghị quyết Trung ương 4 khóa VIII, Đảng ta đó khẳng định :”Đổi mới và tăng cường
con người, do con người, vỡ con người do đó chúng ta chủ trương chống bóc lột, bất công,
quản lý Nhà nước về kinh tế – xã hội”. Coi đó như là một chính sách lớn để đảm bảo cho
chăm lo sự nghiệp y tế, giáo dục, đấu tranh cho nền đạo đức mới, một lối sống lành mạnh.
định hướng XHCN được thực hiện.
Khả năng định hướng trước hết phụ thuộc vào yếu tố chính trị- sự lãnh đạo của Đảng, sự
Việc xác định “định hướng XHCN” cho nền kinh tế thị trường mà chúng ta đang xây dựng
cân nhắc chọn lựa từ những yếu tố dân tộc, thời đại. Một Đảng có đủ bản lĩnh mới vỡ
liệu có gây ra sự nghi ngại cho các nhà đầu tư hay không? Chúng ta biết rằng, mục đính
CNXH, vỡ hạnh phỳc của nhân dân, có trớ tuệ, có khả năng hình thành một hệ thống tri
đầu tư của các nhà Tư bản trong hay ngoài nước trước hết là phải thu được lợi nhuận, tỷ
thức khoa học và cụng nghệ chính trị thích hợp, có sức hỳt đối với các lực lượng kinh tế
xuất lợi nhuận càng cao thì khả năng thu hút đầu tư càng lớn, đó là bản chất của vấn đề. Do
khác, có năng lực tổ chức thực tiễn. Thực tiễn lãnh đạo cách mạng cũng như công cuộc đổi
đó, việc có hay không sự nghi ngại của các nhà đầu tư, nhất là các nhà đầu tư có xuất xứ từ
mới kinh tế ở Việt Nam chứng tỏ không có một Đảng nào ngoài ĐCS Việt Nam làm được
các nước TBCN, phụ thuộc trước hết vào vấn đề lợi thế so sánh giữa thị trường Việt Nam
điều đó. Chính công cuộc đổi mới đó củng cố thờm niềm tin của nhân dân về vai trò lãnh
với thị trường quốc tế; sau đó là những vấn đề thuộc môi trường kinh doanh như :cơ sở hạ
đạo của Đảng, về con đường XHCN mà Đảng và Bác Hồ đó lựa chọn.
tầng, hệ số an toàn về vốn, pháp luật, chính sánh, sự hấp dẫn của thị trường, những ưu đói
KTTT gắn liền với nhà nước pháp quyền, nhân tố định hướng cũng tựy thuộc vào năng lực
có tính cạnh tranh cao trong thu hỳt đối tác đầu tư so với các nước trong khu vực… chứ
quản lý, điều hành nhà nước. Nhà nước điều hành nền kinh tế trên cơ sở pháp luật và bằng
không phải là có hay không cụm từ “định hướng XHCN” trong văn kiện của Đại hội Đảng.
pháp luật bảo đảm sự bình đẳng của các chủ thể kinh tế, hạn chế những khuyết tật vốn có
Trong bước chuyển sang kinh tế thị trường, vấn đề “định hướng XHCN” được xem xét một
của thị trường, chống lại những động lực vật chất trái chiều của nó. Khả năng định hướng
cách cơ bản, toàn diện từ kinh tế đến chính trị, xã hội. Xột riêng gúc độ kinh tế, “định
cũng tựy thuộc vào khả năng kiểm soát của Nhà nước, trên cơ sở xác định rừ các chủ thể
hướng XHCN” chỉ được xem từ bản thân phương thức sản xuất, từ hình thỏi kinh tế – xã
tham gia thị trường, tạo môi trường cho hoạt động sản xuất- kinh doanh, đồng thời chống
hội, không thể xem xét “định hướng XHCN” trong phạm vi kinh tế. Xét riêng phạm vi kinh
được tệ tham nhũng quan liêu, làm trong sạch bộ máy Nhà nước. Khả năng định hướng
tế, có hai nhân tố khách quan trực tiếp góp phần bảo đảm tính “định hướng XHCN”. Trước
cũng tựy thuộc vào việc xây dựng đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý, đội ngũ lao động kiểu
hết là định hướng về chế độ kinh tế, vai trò quản lý của Nhà nước XHCN và sau đó là vai
mới, trung thành với lý tưởng XHCN, có kiến thức để xây dựng CNXH. Cùng với việc
trò chủ đạo của kinh tế Nhà nước.
thừa nhận sự tồn tại lâu dài của các thành phần kinh tế ở nước ta cho đến khi CNXH được
Về chế độ kinh tế, trải qua một số năm đổi mới, nền kinh tế nước ta đó mang bản chất mới,
xây dựng thành công như đó nêu trong văn kiện Đại hội VIII của Đảng, lần này trong văn
chứa đựng những động lực phát triển bên trong từ những khả năng vốn có của chế độ sở
kiện Đại hội IX, Đảng ta khẳng định : mọi tổ chức kinh doanh theo các hình thức sở hữu
hữu đa dạng. Nhờ chuyển sang kinh tế thị trường, kinh tế phát triển, đời sống nhân dân
khác nhau hoặc đan xen hỗn hợp đều được khuyến khích phát triển lâu dài, hợp tác, cạnh
được cải thiện, bước đầu niềm tin vào CNXH của người dân được củng cố. Trong lũng
tranh bình đẳng và là bộ phận cấu thành của nền kinh tế thị trường định hướng XHCN.
dân, CNXH không chỉ là những triết tự lý thuyết trừu tượng mà gắn liền với những vấn đề
Như vậy, việc xác định chủ trương thực hiện nhất quán và lâu dài chính sách phát triển nền
cụ thể của đời thường tiến về phía trước phù hợp với cách nghĩ, cách làm của hàng triệu
kinh tế nhiều thành phần, xây dựng “nền kinh tế thị trường định hướng XHCN” hoàn toàn
quần chúng. Vì vậy, càng đổi mới kinh tế càng gần với CNXH hơn.
không phải là kiểu “Bắt cá hai tay hay là một sự lựa chọn theo hệ tư tưởng… do Đảng áp
Chế độ kinh tế mới mang tinh thần dân chủ, giải phóng sức sản xuất, thật sự tôn trọng cá
đặt lên toàn xã hội”. Trái lại, đó là một chủ trương đúng đắn, là sự nhất quán giữa cương
nhân, phát triển cá nhân trong quan hệ hợp tác, là cơ sở của nền dân chủ mang bản chất
lĩnh đầu tiên của Đảng ta với tính chất của thời đại ngày nay, thời đại quá độ từ CNTB lên
XHCN, trong đó quyền công dân về kinh tế, trước hết là quyền tự do sản xuất, buôn bán
CNXH trên phạm vi toàn thế giới. Do đó, việc phát triển kinh tế thị trường theo định hướng
công khai, hîp pháp, lao động tích lũy phát triển sản xuất- kinh doanh, biết làm giàu cho
XHCN không những không làm hạn chế khả năng thu hút đầu tư cho xây dựng, phát triển
mình và cho xã hội được bảo đảm. Cũng từ đó lợi ích thiết thân của mỗi người được thực
đất nước mà cũng là động lực tinh thần và vật chất to lớn để thực hiện chính sách đại đoàn
hiện tạo điều kiện để thực hiện chiến lược kinh tế – xã hội của đất nước. Chúng ta không
kết toàn dân, phát huy nội lực – sức mạnh dân tộc, gắn với nguồn lực bên ngoài – sức mạnh
thể thực hiện được ý tưởng “định hướng XHCN” nếu không coi trọng đúng mức kinh tế
thời đại để dân tộc ta vững bước tiến vào thế kỷ mới.
3.3. Mâu thuẫn giữa lợi ích cá nhân và lợi ích xã hội. 15
Lợi ích là sự tồn tại hiện thực trong quan hệ giữa người với người trong đời sống xã hội.
Trong các xã hội có giai cấp búc lột thống trị thì bất cứ giai cấp thống trị nào cũng mưu
Nú không phải là sản phẩm thuần tỳy của ý thức, mà là sản phẩm của ý thức phản ánh
toan vĩnh viễn hóa đặc quyền lợi ích của chúng cho nên cái gọi là “lợi ích chung, lợi ích xã
những điều kiện khách quan – cỏi quyết định ý thức và hành động của con người. Do đó,
hội” thực chất là lợi ích của giai cấp thống trị. Tuyệt đại đa số nhân dân lao động bị áp bức
không thể tách lợi ích ra khỏi con người và đời sống xã hội của con người.
bóc lột, buộc phải phục vụ cho cái gọi là ”lợi ích chung” đó. Dĩ nhiên, lợi ích cá nhân trong
xã hội là một hệ thống lớn được tạo nên từ những cá nhân cụ thể. Nói cách khác, do lợi ích
tình hình đó bị hạn chế, bị chà đạp, thậm chí bị tước đoạt. Bởi vậy, không thể có cơ sở
và thông qua việc thực hiện lợi ích mà các cá nhân mới tập hợp, liên kết lại với nhau, có
dung hũa mối quan hệ giữa lợi ích chung và lợi ích riêng. Trong chế độ XHCN, chế độ
mối quan hệ chặt chẽ với nhau, và do đó tạo thành xã hội. Để có được sự tăng trưởng kinh
nhân dân lao động làm chủ, mỗi cá nhân là một thành viên của tập thể, giữ một vị trí nhất
tế, bất kỳ một chính sách kinh tế nào cũng đều phải quan âm đến lợi ích cá nhân. Bất cứ ai
định, và do đó cũng đóng gáp một phân công lao vào thành tựu chung của toàn xã hội. Vì
bỏ vốn ra kinh doanh hay học tập rèn luyện để có trình độ chuyên môn và nghề nghiệp cao
vậy, dưới chế đô XHCN ”lợi ích chung của tập thể được đảm bảo thì lợi ích riêng của cá
mà chẳng nhằm mục đích thu lợi cho cá nhân và thỏa món nhu cầu của cá nhân mình.
nhân mới có điều kiện được thỏa món”. Khi mà CNXH chưa được xây dựng một cách hoàn
Trong điều kiện cơ chế thị trường, mỗi con người cụ thể có những nhu cầu riêng, không ai chỉnh thì giữa
giống ai, có thể phù hợp hay không phù hợp, phát triển không theo hướng tích cực mà theo
lợi ích cá nhân và lợi ích chung nhiều khi vẫn cũng nhiều mâu thuẫn, thậm chớ xung đột.
hướng tiêu cực, hướng chủ nghĩa cá nhân. Từ đó xuất hiện mâu thuẫn giữa lợi ích cá nhân
Ngoài lợi ích của dân tộc, của tổ quốc thì Đảng ta không có lợi ích nào khác. Chính Vì vậy,
và lợi ích xá hội. Việc giải quyết hài hòa mối quan hệ lợi ích cá nhân và lợi ích xã hội có
mỗi cán bộ Đảng viên phải nhận thức rừ đươc rằng ”lợi ích cá nhân nhất định phải phục
vai trò và ý nghĩa to lớn. Trong nhận thức và hoạt động thực tiễn, chúng ta cần tránh sai
tùng lợi ích của Đảng, lợi ích của mỗi bộ phận nhất định phải phục tùng lợi ích của toàn
lầm khi thấy sự thống nhất mà không thấy sự khác biệt giữa các mặt lợi ích hoặc chỉ thấy
thể. Lợi ích tạm thời phải phục tùng lợi ích lâu dài. Nghĩa là phải đặt lợi ích của Đảng lên
sự khác biệt mà không thấy sự thống nhất giữa chúng. Sự phát triển xã hội và lịch sử núi
trên hết vỡ lợi ích cả Đảng tức là lợi ích của dân tộc của tổ quốc, Chủ tịch Hồ Chí Minh
chung chỉ có thể diễn ra bình thường, lành mạnh, đi đúng quy luật, khi mỗi cá nhân nhận
khẳng định một cách dứt khoát :”nếu gặp khi lợi ích chung của Đảng mâu thuẫn với lợi ích
thức tự giác về mối quan hệ cá nhận- xã hội xột trờn phương diện lợi ích. Mác và Ăng-
riêng của cá nhân thì phải kiên quyết hi sinh lợi ích của cá nhân cho lợi ích của Đảng…”.
ghen đó chỉ rừ :”Chừng nào con người ở trong xã hội hình thành một cách tự nhiên, do đó
Trên thực tế ở nước ta hiện nay, có không ít cán bộ, đảng viên chỉ quan tâm đến lợi ích cá
chừng nào cũng có sự chia cắt giữa lợi ích riêng và lợi ích chung, chừng nào cũng có sự
nhân mình, chỉ chăm lo vun vén cho mình vỡ lợi ích riêng mà sẵn sàng giày xộo lờn lợi ích
phân chia hoạt động cũng được tiến hành không phải một cách tự nguyện mà một cách tự
chung của toàn thể xã hội. Nhiều trường hợp do bị chủ nghĩa cá nhân chi phối đó mượn
nhiên thì chừng đó hành động của bản thân con người sẽ trở thành một lực lượng xa lạ, đối
danh nghĩa tập thể để làm ăn bất chính, làm giàu cho riêng bản thân và gia đình mình, làm
lập với con người, và nô dịch cho con người, chứ không phải bị con người thống trị. Vì
tổn hại đến lợi ích chung của tâp thể, xã hội nhiều chục tỉ đồng… Hiện tượng xem nhẹ, coi
vậy, sự thống nhất biện chứng của các loại lợi ích trong quan hệ cá nhân – xã hội là cơ sở,
thương lợi ích chung của tập thể, xã hội, đề cao lợi ích cá nhân tới mức tuyệt đối hóa nó là
động lực thúc đẩy cá nhân hành động”.
khá phổ biến. Mâu thuẫn giữa lợi ích cá nhân và lợi ích xã hội nếu không giải quyết tốt sẽ
Trong các loại lợi ích, lợi ích riêng của cá nhân có vai trò to lớn, vỡ nú đáng ứng nhu cầu
xảy ra bất cụng xã hội. Nếu gợi ích cá nhân bị vi phõm thì xã hội sẽ mất đi một động lực
hưởng thụ chính đáng của con người. Lợi ích cá nhân mang tính chất trực tiếp, cụ thể cũng
của sự phát triển, ngược lại, nếu chỉ có cá nhân có lợi cũng lợi ích xã hội bị vi phạm thì nạn
lợi ích chung của tập thể, xã hội mang tính giỏn tiếp. Do vậy, trong bất cứ thời đại nào, mỗi
nhân của sự bất cụng lại là cộng đồng xã hội. Cả hai lợi ích này lại thống nhất trong lợi ích
cá nhân bao giờ cũng hành động vỡ lợi ích của bản thân mình. Chính Vì vậy lợi ích cá nhân
quốc gia, lợi ích dân tộc. Nếu vỡ lý do nào đó mà chúng bị tổn hại thì quốc gia dân tộc
đóng vai trò là cơ sở, động lực trực tiếp kích thích tính tích cực của con người. cũng lợi tập
cũng bị ảnh hưởng trực tiếp mà sẽ thể hiện rừ nhất của nú là khủng hoảng về lợi ích, về
thể và xã hội thể hiện vai trò, động lực của mình thụng qua lợi ích của mỗi cá nhân. Mối
nhận thức của mỗi cá nhân và cộng đồng, sẽ ảnh hưởng đến quá trình xây dựng nền kinh tế
quan hệ biện chứng giữa cá nhân và xã hội chỉ có thể được thực hiện đúng đắn khi quan hệ
ở nước ta. Sự đấu tranh giữa hai mặt đối lập, lợi ích cá nhân và lợi ích xã hội trong tính
lợi ích cá nhân và xã hội được giải quyết một cách hài hòa. Đó là quá trình mà lợi ích của
thống nhất của nú là lợi ích quốc gia tất yếu sẽ dẫn đến sự đẩu tranh chuyển hóa giữa
cá nhân này không xõm phạm đến lợi ích của cá nhân khác và của toàn xã hội.
chúng. Phương thức của sự chuyển hóa mà chúng ta sẽ tác động vào chính là phương pháp
Hồ Chớ Minh nêu rằng :”… Lợi ích cá nhân là nằm trong lợi ích tập thể, là bộ phận của lợi
giải quyết mâu thuẫn. Để giải quýờt mâu thuẫn giữa lợi ích cá nhân và lợi ích xã hội, về cơ
ích tập thể. Lợi ích chung của tập thể được bảo đảm thì lợi ích riêng của cá nhân mới có
bản phải kết hợp hài hòa giữa lợi ích cá nhân và lợi ích xã hội, đồng thời phải chống lại
điều kiện để được thỏa món” và “đặt lợi ích của Đảng, của nhân dân lao động lên trên lợi
những biểu hiện tiêu cực của chủ nghĩa cá nhân. Trong việc đấu tranh chông chủ nghĩa cá
ích của cá nhân mình”. Đây chính là quan điểm cơ bản xác định vị trí và mối quan hệ giữa
nhân, chúng ta cần phân biệt rừ lợi ích cá nhân chính đáng với chủ nghĩa cá nhân. Lợi ích
lợi ích riêng và lợi ích chung.
cá nhân chính đáng là cái tích cực, là một động lực của sự phát triển xã hội, vỡ nú không
những không đi ngược lại lợi ích chung mà nó cũng là tiền đề để thực hiện lợi ích chung. 16
cũng chủ nghĩa cá nhân là cỏi tiều cực vỡ nú là khuynh hướng, lối sống của những người
chất và trình độ của lực lượng sản xuất , mở đường cho lực lượng sản xuất phát triển. quan
đặt lợi ích cá nhân, gia đình lờn trờn cả lợi ích tập thể, lợi ích xã hội. Nhận thức đúng về lợi
hệ sản xuất là yếu tố quyết định, làm tiền đề cho lực lượng sản xuất phát triển khi nó phù
ích cá nhân và lợi ích xã hội là trách nhiệm đạo đức của mỗi con người trong xã hội hiện
hợp được với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất . Nó làm nhiệm vụ chỉ ra mục tiêu, nay.
bước đi và tạo ra quy mô thích hợp cho lực lượng sản xuất hoạt động, cũng như bảo đảm
3.4. Mâu thuẫn giữa lực lượng sản xuất (LLSX) và quan hệ sản xuất (QHSX).
lợi ích chính đáng của người lao động, phát huy tính tích cực, sáng tạo của con người –
“Lực lượng sản xuất là mối quan hệ giữa con người với tự nhiên được hình thành trong quá
nhân tố quan trọng và quyết định trong lực lượng sản xuất . trình sản xuất”
Ở nước ta, giai đoạn đầu của thời kỳ quá độ, khi thành phần kinh tế XHCN chưa chiếm vị
“Quan hệ sản xuất là toàn bộ những quan hệ giữa người và người trong quá trình sản xuất
trí độc tôn, khi các thành phần kinh tế khác có nhiều khả năng góp phần làm cho sản xuất
và tỏi sản xuất xã hội”. Nú được thể hiện ở ba mặt cơ bản sau:
phát triển, thì một số yếu tố trong quan hệ sản xuất vượt lên lực lượng sản xuất và hướng
– Quan hệ sở hữu đối với tư liệu sản xuất.
vào việc tạo ra cơ sở vật chất- kỹ thuật ban đầu. Ở đây, phải kể đến yếu tố chủ quan của
– Quan hệ trong tổ chức và quản lý sản xuất.
việc Đảng lãnh đạo, Nhà nước phát động tính tích cực xã hội của quần chúng bằng những
– Quan hệ phân phối sản phẩm lao động.
lợi ích vật chất và tinh thần yờu nước vốn có của họ. Tuy nhiên, không thể cho rằng những
Ba mặt nói trên là một thể thống nhất hữu cơ tạo thành quan hệ sản xuất, trong đó quan hệ
yếu tố tiên tiến của quan hệ sản xuất mói là tiền đề thúc đẩy sự phù hợp giữa lực lượng sản
sở hữu về tư liệu sản xuất có ý nghĩa quyết định đối với các mặt quan hệ khác.
xuất và quan hệ sản xuất, chúng chỉ tác động tích cực trong một thời gian ngắn. Tại Đại hội
Trong công cuộc xây dựng và phát triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, vận hành
VI, Đảng ta đó hoàn toàn đúng khi nhận định :”. . . lực lượng sản xuất bị kìm hóm không
theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng XHCN ở nước ta hiện
chỉ trong trường hợp quan hệ sản xuất lạc hậu, mà cả khi quan hệ sản xuất phát triển không
nay, vấn đề lực lượng sản xuất – quan hệ sản xuất là một vấn đề hết sức phức tạp được
đồng bộ, có những yếu tố đi quá so với trình độ của lực lượng sản xuất “.
Đảng ta đặc biệt quan tâm. Điều đó được thể hiện trong quán triệt lý luận của Chủ nghĩa
Quan hệ sở hữu đối với tư liệu sản xuất ở nước ta là một vấn đề cần được quan tâm. Sự lớn
Mác- Lờnin và tư tưởng Hồ Chí Minh về CNXH. lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất là
mạnh của lực lượng sản xuất tất yếu dẫn tới mâu thuẫn với chế độ sở hữu tư nhân TBCN,
hai mặt của phương thức sản xuất, chúng tồn tại không tách rời nhau mà tác động biện
mà mục tiêu của kinh tế thị trường ở Việt Nam là phải dựa trên chế đô sở hữu xã hội về tư
chứng lẫn nhau hình thành quy luật phổ biến của toàn bộ lịch sử loài người – quy luật về sự
liệu sản xuất, tức là sự làm chủ của người lao động đối với những tư liệu sản xuất chủ yếu
phù hợp quan hệ sản xuất với tính chất và trình độ của lực lượng sản xuất . Quy luật này
của xã hội. Sở hữu xã hội cũng tức là sở hữu Nhà nước, muốn vậy kinh tế Nhà nước phải
vạch rừ sự phụ thuộc khách quan của quan hệ sản xuất vào trình độ phát triển của lực
phát triển mạnh để thâu tóm nền kinh tế. Nhưng nếu xét trên quan điểm toàn diện, thì kinh
lượng sản xuất , cũng như sự tác động trở lại của quan hệ sản xuất đối với lực lượng sản
tế Nhà nước hiện nay phát triển chưa đạt yêu cầu mà nguyên nhân chính là do ý thức thái
xuất trong quá trình sản xuất và phát triển xã hội. Theo đó lực lượng sản xuất là nội dung
độ của một số người làm việc trong hệ thống kinh tế Nhà nước cũng chưa đúng đắn, các
của phương thức sản xuất cũng quan hệ sản xuất là hình thức xã hội của nú, lực lượng sản
thủ tục hành chính liên quan đến kinh tế cũng phức tạp, bệnh quan liều bao cấp vẫn cũn.
xuất quyết định quan hệ sản xuất. Trong quá trình sản xuất để lao động bớt nặng nhọc và
Quan hệ trong tổ chức và quản lý sản xuất, phân phối sản phẩm ở nước ta cũng nhiều bất
đạt hiệu quả cao hơn, con người luôn tìm cách cải tiến, hoàn thiện cụng cụ lao động và chế
cập. Tổ chức quản lý sản xuất là điều kiện thiết yếu cho sự phát triển của sản xuất. Một nền
tạo ra những công cụ lao động mới, tinh xảo hơn. Cùng với sự biến đổi và phát triển công
sản xuất muốn phát triển không chỉ dựa trên những cơ cấu tổ chức quản lý lỗi thời, chồng
cụ lao động thì kinh nghiệm sản xuất, thói quen lao động, kỹ năng sản xuất, kiến thức khoa
chộo. Ở nước ta hiện nay, qua quá trình đổi mới đó xây dựng được một hệ thống chính
học của con người cũng tiến bộ. lực lượng sản xuất trở thành yếu tố hoạt động nhất, cách
sách mà bao quát ở tầm vĩ mô thì nú đó giải quyết được những vấn đề chính của kinh tế thị
mạng nhất. cũng quan hệ sản xuất là yếu tố tương đối ổn định, có khuynh hướng lạc hậu
trường: định hướng XHCN, phát triẻn thành phần kinh tế Nhà nước, tiến tới sở hữu toàn
hơn sự phát triển của lực lượng sản xuất .
dân, bảo đảm sự công bằng xã hội. . . Nhưng đi vào cụ thể thì cũng nhiều việc cần phải
Cùng với sự phát triển của lực lượng sản xuất , quan hệ sản xuất cũng hình thành và biến
xem xột thờm. Đó là sự chồng chéo về chức năng giữa các cơ quan quản lý, có quá nhiều
đổi cho phù hợp với tính chất và trình độ của lực lượng sản xuất . Sự phù hợp đó là động
cơ quan cùng quản lý về một lĩnh vực nhưng chẳng có cơ quan nào chịu trách nhiệm hính
lực làm cho lực lượng sản xuất phát triển mạnh mẽ. Nhưng lực lượng sản xuất luôn phát
cả; sự độc quyền quản lý Nhà nước về một số ngành, lĩnh vức như điện, than. . . làm cho
triển cũng quan hệ sản xuất có xu hướng tương đối ổn định. Khi lực lượng sản xuất phát
các cơ quan quản lý tương ứng đó sinh kiêu căng, ỷ lại, không có ý thức tự vươn lên, ngày
triển lên một trình độ mới thì quan hệ sản xuất không cũng phự hợp với nú nữa, trở thành
càng xa rời quần chúng. Một số chủ trương cũng mâu thuẫn nhau như khuyến khích sản
chướng ngại, kìm hóm sự phát triển của lực lượng sản xuất , sẽ nảy sinh mâu thuẫn gay gắt
xuất trong nước với việc nhập khẩu tràn lan các mặt hàng làm sản xuất trong nước lao đao.
giữa hai mặt của phương thức sản xuất. Sự phát triển khách quan đó tất yếu dẫn đến việc . .
xóa bỏ quan hệ sản xuất cũ, thay thế bằng một kiểu quan hệ sản xuất mới phự hợp với tính 17
Phân phối ở nước ta với mục tiêu tới là mọi người đều có đầy đủ các nhu cầu cần thiết.
Trong việc xây dựng và phát triển nền kinh tế thị trường theo định hưóng XHCN ở nước ta
Nhưng hiện nay, vẫn cũng một số vựng nghèo, cơ sở vật chất rất thiếu thốn trong khi đó ở
đó đạt được nhiều thành tựu to lớn. Song bên cạnh đó nó đang nảy sinh hàng loạt mâu
đo thị thì sản phẩm quá dư thừa tạo nên sự mất cân bằng trong quan hệ phân phối, ảnh
thuẫn giữa các kiểu kinh tế thị trường như là một đặc trưng của CNTB với việc thực hiện
hưởng sâu sắc đến đời sống nhân dân.
kinh tế thị trường ở nước ta, mâu thuẫn giữa sự yếu kém của quan hệ sản xuất so với trình
Như vậy, trong quá trình xây dựng nền kinh tế thị trường hiện nay ở Việt Nam, mâu thuẫn
độ phát triển cả lực lượng sản xuất , giữa việc phát triển kinh tế thị trường với định hướng
giữa lực lượng sản xuất tiên tiến với quan hệ sản xuất lạc hậu kìm hóm nú diễn ra gay gắt –
XHCN, mâu thuẫn giữa kinh tế thị trường và mục tiêu xây dựng con người XHCN …
quyết liệt và cần được giải quyết. Muốn giải quyết mâu thuẫn này, ta phải nhận biết được
Sự thành công trong sự nghiệp xây dựng CNXH ở nước ta phụ thuộc vào việc giải quyết
nguyên nhân và kết quả của sự đấu tranh giữa hai mặt đối lập đó mà tìm ra phương thức
các mâu thuẫn trên. Vấn đề đặt ra là phải nghiên cứu những mâu thuẫn đó và tìm ra
thích hợp để tác động vào sự đấu tranh và chuyển hóa giữa chúng. Từ đó ta có một số biện
phương hướng giải quyết chúng. Nghiên cứu mâu thuẫn là phải thấy được mâu thuẫn nào
pháp để giải quyết mâu thuẫn trên :
là cơ bản, mâu thuẫn nào là không cơ bản, rồi cuối cùng tìm ra hướng giải quyết, từ đó các
Cần phải nắm vững định hướng XHCN trong việc xây dựng nền kinh tế nhiều thành phần.
mâu thuẫn không cơ bản sẽ được giải quyết.
Vỡ, thứ nhất, mỗi thành kinh tế có bản chất, hoạt động khác nhau và không tránh khỏi mâu
4.2. Giải pháp cho nền kinh tế thị trường ở Việt Nam hiện nay.
thuẫn. Thứ hai, nền kinh tế nhiều thành phần tự nó không đi theo định hướng XHCN mà có
Muốn giải quyết tốt các mâu thuẫn trong nền kinh tế thị trường ở Việt Nam hiện nay, trước
xu hướng tự phát TBCN. Thứ ba, việc xử lý vấn đề cơ cấu phát triển, cơ cấu thành phần
hết ta phải nắm được cơ sở lý luận của vấn đề, đây là những quan điểm, chủ trương, đường
kinh tế có liên quan đến sự tồn tại và phát triển của chế độ XHCN ở nước ta.
lối của Đảng và Nhà nước, nhứng vấn đề có tình tất yếu, quy luật cần được vận dụng và
Tiếp tục đổi mới cơ chế quản lý kinh tế vỡ việc xây dựng nền kinh tế thị trường không thể
giải quyết những vướng mắc trong thực tiễn cuộc sống. Chủ tịch Hồ Chí Minh viết :”thống
tách rời việc xây dựng đông bộ và vận hành có hiêu quả cơ chế quản lý kinh tế – cơ chế thị
nhất lý luận và thực tiễn là mụt nguyên tắc căn bản của chủ nghĩa Mác- Lờnin. Thực tiễn
trường có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng XHCN. Xây dựng và củng có cơ chế
không có lý luận hướng dẫn thi hành thành thực tiễn mù quáng. Lý luận mà không liên hệ
phân phối trong nền kinh tế thị trường.
với thực tiễn là lý luận suụng…” Lý luận mà ta quan tõm ở đây chính là lý luận mâu thuẫn
Mâu thuẫn giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất ở nước ta là mâu thuẫn giữa hai
biện chứng của chủ nghĩa Mác- Lờnin.
mặt đối lập thống nhất trong phương thức sản xuất XHCN, việc giải quyết mâu thuẫn này
Nhà nước ta là nhà nước XHCN, nhà nước của nhân dân, do nhân dân và vỡ nhân dân.
sẽ thúc đẩy kinh tế phát triển, dẫn đến việc chuyển hóa giữa chúng tạo nên phương thức
Chúng ta tiến tới một xã hội có cơ sở toàn dân, sở hữu Nhà nước. Muốn được vậy thì Nhà
sản xuất mới: phương thức sản xuất Cộng sản chủ nghĩa.
nước phải có vai trò chủ đạo trong nền kinh tế, tức là Nhà nước phải nắm việc ”cầm lái” 4. Kết luận
con thuyền kinh tế. Để nền kinh tế nước ta vận hành theo cơ chế thị trường có sự điều tiết 4.1. Kết luận
của Nhà nước theo định hướng XHCN cần giải quyết những vấn đề cơ bản sau:
Mâu thuẫn là một hiện tượng khách quan phổ biến, nó tồn tại trong tất cả các sự vật, hiện
– Thứ nhất, thực hiện tốt vai trò, chức năng quản lý của Nhà nước về kinh tế. Nhà nước có
tượng, ở mọi giai đoạn tồn tại và phát triển của sự vật vât hiện tượng. Nhưng ở các sự vật,
chức năng cơ bản là tổ chức và xây dựng kinh tế Vì vậy có chức năng quản lý. Trong nền
hiện tượng khác nhau ở mỗi giai đoạn phát triển khác nhau của mỗi sự vật hiện tượng ở
kinh tế thị trường vai trò của Nhà nước ngày càng đặc biệt quan trọng. Một nền kinh tế thị
mỗi lĩnh vực, mỗi yếu tố cấu thành môt sự vật sẽ có những mâu thuẫn khác nhau. Sự thống
trường mà không có sự can thiệp của Nhà nước thì khác nào vỗ tay bằng một bàn tay.
nhất và đấu tranh giữa các mặt đối lập tạo thành xung lực nội tại của sự vận động và phát
Ở nước ta, chức năng quản lý Nhà nước về kinh tế cần tập trung vào những nội dung sau:
triển dẫn đến sự mất đi của cái cũ và sự ra đời của cái mới tiến bộ hơn. Do đó, trong hoạt
+ Tạo điều kiện, môi trường cho các quy luật kinh tế hoạt động như quy luật giá trị, quy
động thực tiễn phát triển từng mặt đôc lập tạo thành mâu thuẫn cụ thể để nhận thức được
luật cung cầu, quy luật cạnh tranh. Đồng thời phát triển thị trường đồng bộ như thị trường
bản chất, khuynh hướng vận động phát triển của sự vật, hiện tượng để từ đó tìm ra phương
tư liệu sản xuất, tư liệu tiêu dùng, thị trường tài chính, thị trường lao động, thị trường dịch
thức, phương tiện và lực lượg có khả năng giải quyết mâu thuẫn và tổ chức thực hiện để
vụ… Trên cơ sở đó thị trường mới có thể tham gia phân phối nguồn lực và khai thác tài
giải quyết mâu thuẫn. Vì vậy trong đời sống xã hội, mọi hành vi đấu tranh cần đươc coi là nguyên có hiệu quả.
chân chính khi nó thúc đẩy sự phát triển.
+ Tập trung vào việc xây dựng, hoàn thiện hệ thống luật pháp, chính sách tạo môi trường
Việc xuất hiện những mâu thuẫn trong kinh tế phải được coi là một thực thế khách quan.
bình đẳng cho sự hoạt động của các thành phần kinh tế.
Bởi vỡ việc giải quyết những mâu thuẫn ấy chính là động lực để chúng ta có thể phát huy
Những năm gần đây Nhà nước ta có bổ sung, sửa đổi hoàn thiện hệ thông luật pháp, chính
được hết thế mạnh của mình, duy trì sự thống nhất và ổn định, nhằm mục tiêu chung là
sách tương đối phù hîp với điều kiện trong nước và thông lệ quốc tế nhằm hoàn thiện cơ
phát triển kinh tế, mang lại cuộc sống ấm no hạnh phúc và một xã hội cụng bằng, dân chủ,
chế thị trường. Tuy nhiên, vẫn cũng nhiều kẽ hở, thiếu đồng bộ, hoặc sai văn minh.
lệch làm cho các hình thức kinh tế bị mộo mú, các thành phần kinh tế gặp khú khăn như 18
chính sách thuế, chính sách cạnh tranh, cơ chế độc quyền ở một số ngành, lĩnh vực. Có một
phát ở mức cao thì khú có thể tăng trưởng bền vững do đó sẽ không có cơ sỏ kinh tế vững
số chính sách làm thiệt hại cho đối tượng này nhưng lại tạo kẽ hở cho đối tượng khác luồn
chắc để hoàn thành các chính sách xã hội.
lách, thoát ra khỏi sự kiểm soát của Nhà nước.
– Thứ ba, tiếp tục giữ vững sự ổn định chính trị- xã hội. Kinh nghiệm của nhiều nước cho
Vì vậy việc sửa đổi và hoàn thiện hơn nữa hệ thống luật pháp, chính sách, tạo ra khung
thây, kinh tế chỉ phát triển mọt khi giữ được sự ổn định về chính trị- xã hội và sự ổn định
pháp lý rừ ràng, ổn định làm ”sân chơi ” cho mọi hoạt động sản xuất kinh doanh. Sửa đổi
mới bảo đảm cho chiến lược và kế hoạch phát triển kinh tế không bị gián đoạn, mới tập
hệ thống chính sách theo hướng giảm bao cấp, ôm đồm, đa dạng hóa các hình thức sở hữu
trung được nhân tài, vật lực cho sự phát triển kinh tế, mới tạo được sự yên tâm cho các nhà
tạo điều kiện cho sự cạnh tranh lành mạnh trong nền kinh tế.
đầu tư trong và ngoài nước và đảm bảo cho các chính sách xã hội về cụng bằng, dân chủ và
+ Tập trung phát triển hệ thống giáo dục- Đào tạo, phát triển tiềm lực khoa học – công
văng minh được thực hiện một cách có hiệu quả.
nghệ và xây dựng kết cấu hạ tầng.
Tuy nhiên, ổn định không có nghĩa là giữ nguyên, trái lại trên cơ sở những kết quả đạt
Đây là những vấn đề rất quan trọng tạo cơ sở cho sự hoàn thiện cơ chế thị trường. Trong
được và yêu cầu của công cuộc đổi mới kinh tế phải từng bước đổi mới hệ thống chính trị
nền kinh tế thị trường, các đơn vị sản xuất kinh doanh đều thực hiện mục tiêu lợi nhuận, họ
và giải quyết các vấn đề xã hội. Đối với nước ta, vấn đề cấp bách nhất là vừa phỉa xây
tìm kiếm những ngành hàng, lĩnh vực đầu tư thuận lợi, vốn it, thu hồi nhanh. Các lĩnh vực
dựng được Nhà nước pháp quyền đủ mạnh nhưng đồng thời vừa phải thực hành dân chủ.
giáo dục- đào tạo, khoa học – công nghệ, kết cấu hạ tầng đầu tư vốn lớn, lâu dài, thu hồi
Nhà nước phải vừa thực sự là của dân, do dân và vỡ dân, lại vừa thể hiện được sự thống
chậm nên không hấp dẫn các ngành đầu tư. Vì vậy, Nhà nước phải thực hiện chức năng nhất về quyền lực.
này. Đồng thời trên cơ sở đó Nhà nước nắm một bộ phận nguồn lực, những lĩnh vực then
– Thứ tư, phải kiên trì thực hiện đường lối phát triển kinh tế nhiều thành phần, đa dạng hóa
chốt để chi phối, điều tiết các hoạt động kinh tế, xã hội bảo đảm cho sự tăng trưởng và phát
hình thức sở hữu tư liệu sản xuất. Trong những năm vừa qua chúng ta chưa chú ý đúng triển kinh tế.
mức đến kinh tế ngoài quốc doanh nên khu vực kinh tế này phát triển chậm. Tỷ trọng của
+ Thực hiện có hiệu quả các chính sách xã hội, bảo vệ môi trường.
kinh tế ngoài quốc doanh trong GDP có xu hướng giảm là vấn đề khong phù hợp với
KTTT có xu hướng phân hóa giai cấp, chênh lệch về thu nhập, đời sống giữa các tầng lớp
đường lối phát triển kinh tế đó đề ra. Giải pháp khắc phục tình trạng này không chỉ là đề ra
dân cư, giữa thành thị với nông thôn. Tăng trưởng kinh tế không gắn liền với tiến bộ và
chủ trương đường lối mà cũng phải tổ chức, hướng dẫn và giúp đỡ kinh tế ngoài quốc
công bằng xã hội, làm cạn kiệt tài nguyên, tàn phá môi trường. Do vậy chỉ có Nhà nước
doanh phát huy tiềm năng to lớn của mình. Phải kiên quyết chống những biểu hiện tiều cực
mới thực hiện được các chính sách xã hội, chính sách phõp luật bảo vệ môi trường.
trong hoạt động của kinh tế ngoài quốc doanh như: buôn lậu, trốn thuế, lừa đảo, làm hàng
Ở nước ta tiếp tục thực hiện các chính sách xóa đói giảm nghèo, chính sách đào tạo nghề,
giả… nhưng đồng thời cũng phải khuyến khích những người, những doanh nghiệp làm
hỗ trợ tìm kiếm việc làm, chính sách đầu tư vốn, các chương trình 327, 135, chương trình
giàu chính đáng và hợp pháp. Trong những lĩnh vực chỉ có kinh tế quốc doanh, cần phải
phát triển nông nghiệp, nông thôn, trợ cấp gia đình có cụng với nước, người già neo đơn.
thành lập một số cơ sở để tạo ra sự cạnh tranh, thúc đẩy phát triển, khắc phục tình trạng
Trong nền kinh tế thị trường, quản lý Nhà nước về kinh tế không phải bằng sự can thiệp
độc quyền vỡ độc quyền sẽ dẫn đến cửa quyền và trì trệ. Cần phải mở rộng hình thức hỗn
trực tiếp vào sản xuất kinh doanh của các đơn vị doanh nghiệp mà chỉ thực hiện chức năng
hợp sở hữu giữa các thành phần kinh tế trong nước với nhau cũng như giữa trong nước với
định hướng, tạo môi trương thuận lợi thông qua hệ thống luất pháp, chính sách tạo dựng
nước ngoài nhằm tạo ra ngày càng nhiều doanh nghiệp kiểu “Tư bản Nhà nước”.
những điều kiện vật chất, kỹ thuật cho việc phân bố lực lượng sản xuất và khai thác tài
– Thứ năm, phải kiên quyết giữ nghiêm kỷ cương phép nước và chống tệ nạn tham nhũng. nguyên có hiệu quả.
Trong nền kinh tế thị trường, động lực cá nhân được giải tỏa. Ở nước ta những năm vừa
– Thứ hai, phát triển hoàn thiện hệ thống tài chính, tiền tệ, tạo điều kiện cho sản xuất hàng
qua, thị trường đó xuất hiện ở mọi nơi, nhưng tất cả đều chưa hoàn chỉnh nên động lực cá
hóa, kinh tế thị trường phát triển.
nhân biến dạng, méo mó. Tình trạng vi phạm kỷ cương phép nước có xu hướng gia tăng,
Hệ thống và chính sách tài chính nước ta phải tạo điều kiện huy động các nguồn lực trong
tham những có nguy cơ phát triển. Để khắc phục tình trạng vi phạm kỷ cương phép nước
xã hội để đầu tư phát triển làm tăng tích lũy cả khu vực nhà nước và khu vực dân cư.
và tham những hiện nay, Nhà nước cần sớm vạch ra một cái khung pháp lý, trong cái
Chính sách tài chính phải mở ra các luồng bơm, hút vốn, điều hũa vốn đầu tư phù hợp
khung đó các doanh nghiệp, cũng như mọi công dân được tự do hoạt động, phát huy tiềm
trong từng thời kỳ. Chính sách tài chính tích cực phảí có tác dụng hướng dẫn sản xuất và
năng, sáng kiến của mình, nhưng tuyệt đối không được vượt ra khỏi cái khung pháp lý đó.
tiêu dùng, điều tiết sản xuất kinh doanh, điều tiết và phân phối thu nhập góp phần thực hiện
Mọi vi phạm cần phải ngăn cản và trừng phạt nghiêm minh.
cụng bằng xã hội, đông thời kích thích sản xuất phát triển.
KTTT tuy có mặt trái không thể tránh khỏi của nó, nhưng về cơ bản và lâu dài, nó là một
Chính sách tiền tệ thực hiện có hiệu quả sẽ góp phần kiềm chế và đẩy lùi lạm phát. Sự tăng
trong những điều kiện để thực hiện công bằng và bình đẳng xã hội. Bằng các biện pháp nêu
trưởng kinh tế sẽ không có ỹ nghĩa, dẫn đến bùng nổ lạm phát và trong nền kinh tế lạm
trờn, chúng ta hi vọng có thể xây dựng tốt nền kinh tế nhiều thành phần, đưa nó đi đúng
hướng mà Đảng và Nhà nước ta đó lựa chọn và xây dựng một đất nước Việt Nam giàu 19
mạnh, mọi người dân được sống trong hoà bình, độc lập, tự chủ và một xã hội cụng bằng,
lúc bấy giờ. Phải dung hòa và sống sót nhiều thành phần kinh tế tài chính là một tất yếu do dân chủ và văn minh.
lịch sử dân tộc để lại tuy nhiên đưa chúng cùng sống sót và tăng trưởng mới là một yếu tố
11. Vận dụng quy luật phủ định của phủ định vào học tập
nan giải, khó khăn vất vả. Bên cạnh việc thừa nhận sự sống sót của kinh tế tài chính tư bản
Mục tiêu giáo dục nhằm phát triển toàn diện con người Việt Nam có đạo đức, tri thức, văn
tư nhân, đương nhiên phải liên tục đấu tranh với khuynh hướng tự phát tư bản chủ nghĩa và
hóa, sức khỏe, thẩm mỹ và nghề nghiệp; có phẩm chất, năng lực và ý thức công dân; có
những mặt xấu đi trong những thành phần kinh tế tài chính, xử lý xích míc sống sót trong
lòng yêu nước, tinh thần dân tộc, trung thành với lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã
sản xuất giữa chúng để cùng tăng trưởng .
hội; phát huy tiềm năng, khả năng sáng tạo của mỗi cá nhân; nâng cao dân trí, phát triển
Sự nghiệp thay đổi ở nước ta cung ứng một bài học to lớn về nhận thức. Đó là bài học về
nguồn nhân lực, bồi dưỡng nhân tài, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp xây dựng, bảo vệ Tổ
không cho quan điểm thực tiễn – nguyên tắc cơ bản của chủ nghĩa Mác – Lênin, quan điểm
quốc và hội nhập quốc tế.
cơ bản và số 1 của triết học Mác xít. Sự nghiệp thay đổi với đặc thù mới mẻ và lạ mắt và
Trong thời điểm hiện tại thì ngành giáo dục ngày càng được thương mại hóa. Có thể thấy
khó khăn vất vả của nó yên cầu phải có lý luận khoa học soi sáng. Sự mày mò về lý luận
nước ta bước vào thời kỳ hội nhập thế giới, hàng loạt hiệu định được ký kết, các nền văn
phải trở thành tiền đề và điều kiện kèm theo cơ bản làm cơ sở cho sự thay đổi trong hoạt
hóa, giáo dục lớn du nhập vào nước ta, có ảnh hưởng không ít đến mọi mặt của đời sống.
động giải trí thức tiễn. Tuy nhiên, lý luận không tự nhiên mà có và cũng không hề chờ
Sự du nhập của nhiều nền văn hóa đã tạo sự đa dạng cho văn hóa Việt Nam, đặc biệt là tư
chuẩn bị sẵn sàng xong xuôi về lý luận rồi mới triển khai thay đổi. Hơn nữa, thực tiễn lại là
duy của giới trẻ. Đặc biệt là lĩnh vực giáo dục, học tập. Hiện nay các trường công không
cơ sở để nhận thức, của lý luận. Phải qua thực tiễn rồi mới có kinh nghiệm tay nghề, mới
còn là hướng đến tối ưu cho học sinh, sinh viên mà sự phát triển của các trường tư, trường
có cơ sở đề khái quát thành lý luận .
quốc tế đã là lựa chọn rất tốt cho học sinh, sinh viên.
Vì vậy, quy trình thay đổi ở nước ta chính là quy trình vừa học vừa làm, vừa làm vừa tổng
Do đó tiếp bước sự phát triển, đổi mới quy luật phủ định của phủ định được áp dụng trước
kết lý luận, đúc rút thành quan điểm, thành đường lối để rồi quay trở lại quy trình thay đổi.
hết là đối với đội ngũ cán bộ quản lý và giáo viên ngành giáo dục và đào tạo. Theo đó đội
Có những điều tất cả chúng ta phải mò mẫm trong thực tiễn, phải trải qua thể nghiệm, phải
ngũ cán bộ quản lý, giáo viên cần có phẩm chất chính trị và năng lực chuyên môn đáp ứng
làm rồi mới biết, thậm chí còn có nhiều điều phải chờ thực tiễn. Ví dụ như vấn đè chống
yêu cầu nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo - chất lượng. Mà cần phải có đạo đức
lạm phát kinh tế, yếu tố khoán trong nông nghiệp, yếu tố phân phối mẫu sản phẩm …
nghề nghiệp, trình độ chuyên môn, có ý chí vươn lên và đặc biệt tiêu chí được đề cao nhất
Trong quy trình đó, tất yếu sẽ không tránh khỏi việc phải trả giá cho những khuyết điểm,
hiện nay là khả năng tiếp nhận nhanh các phương pháp dạy học mới, hiện đại, áp dụng hiểu xô lệch nhất định .
quả, chuyển từ dạy học thụ động sang dạy học tích cực, lấy người học làm trung tâm; đổi
Ở đây, việc bám sát thực tiễn, phát huy óc phát minh sáng tạo của cán bộ và nhân dân là rất
mới nội dung và phương pháp dạy học,...
quan trọng. Trên cơ sở, phương hướng kế hoạch đúng, hãy làm rồi thực tiễn sẽ cho ta hiểu
Đối với học sinh, sinh viên (người học)
rõ sự vật hơn nữa – đó là bài học không riêng gì của sự nghiệp kháng chiến chống ngoại
Phát triển giáo dục là quốc sách hàng đầu. Thống nhất quan điểm coi học tập là quyền và
xâm mà còn là bài học của sự nghiệp thay đổi vừa mới qua và lúc bấy giờ .
nghĩa vụ của công dân, cần có thêm những chính sách về học bổng và học phí để khuyến
Trong khi tôn vinh vai trò của thực tiễn, Đảng ta không hề hạ thấp, không hề coi nhẹ lý
khích và giúp đỡ người học có hoàn cảnh khó khăn, đảm bảo quyền được học cho tất cả
luận. Quá trình thay đổi là quy trình Đảng ta không ngừng nâng cao trình độ lý luận của
mọi người. Quán triệt quản điểm không phân biệt dân tộc, giàu nghèo, tôn giáo, tín
mình, cố gắng nỗ lực tăng trưởng lý luận, thay đổi tư duy lý luận về chủ nghĩa xã hội và
ngưỡng, giới tính, địa vị xã hội, nguồn gốc xã hội. Tạo điều kiện bình đẳng để người giỏi
con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta. Nó được bộc lộ qua năm bước chuyển của được pháp huy tài năng;
thay đổi tư duy tương thích với sự hoạt động của thực tiễn đời sống trong những thực trạng
Đối với cơ sở vật chất - Kỹ thuật tại các cơ sở giáo dục xã hội hóa sự nghiệp giáo dục là
và điều kiện kèm theo mới
coi phát triển giáo dục là sự nghiệp của Nhà nước và của toàn dân.
1. Bước chuyển thứ nhất:
Gia đình là tế bào của xã hội, nền giáo dục Việt Nam phát triển theo nguyên lý học đi đối
Từ tư duy, dựa trên quy mô kinh tế tài chính hiện vật với sự tuyệt đối hóa sở hữu xã hội (
với hành, giáo dục kết hợp với lao động sản xuất gắn liền giữa nhà trường với gia đình và
Nhà nước và tập thể ) với sự tăng trưởng vượt trước của quan hệ sản xuất đối với sự phát xã hội.
triền của lực lượng sản xuất dẫn tới hậu quả ngưng trệ sự tăng trưởng sản xuất … sang tư
12. Vận dụng vai trò của thực tiễn đối với nhận thức vào quá trình đổi mới ở Việt
duy mới. Xây dựng nền kinh tế tài chính sản phẩm & hàng hóa nhiều thành phần trong đó Nam
kinh tế tài chính nhà nước giữ vai trò chủ yếu trong sự thống nhất biện chứng với tính
Công cuộc thay đổi chính thức bắt nguồn từ việc Đảng ta thừa nhận và được cho phép tăng
phong phú những hình thức chiếm hữu, phong phú những hình thức phân phối, lấy phân
trưởng kinh tế tài chính sản phẩm & hàng hóa nhiều thành phần, quản lý và vận hành theo
phối theo lao động làm đặc trưng hầu hết nhằm mục đích thôi thúc sản xuất tăng trưởng .
chính sách thị trường. Đó là một tất yếu khách quan khi ở vào thời kỳ quá độ như ở nước ta
Đây chính là bước chuyển cơ bản mà có ý nghĩa sâu xa vì nó là tôn trọng quy luật khách 20