




Preview text:
Tập quyền là gì? Các hình thức thức phân loại tập quyền? 1. Tập quyền là gì?
Tập quyền là nguyên tắc tổ chức quyền lực nhà nước thể hiện việc tập trung
quyền lực vảo tay một người hoặc một cơ quan.
Ở nhà nước quân chủ trung ương tập quyền, quyền lực nhà nước tập trung
vào trong tay vua. Ở nhà nước xã hội chủ nghĩa, quyền lực nhà nước tổ chức
thực hiện theo nguyên tắc tập trung dân chủ. Ở nước ta, cơ quan quyền lực
nhà nước cao nhất là Quốc hội.
Tập quyền là nguyên tắc tổ chức chính quyền nhà nước có nội dung là sự tập
trung mọi quyền lực vào tay các cơ quan trung ương. Các cơ quan này nắm
trong tay quyền quyết định mọi vấn đề từ trung ương đến địa phương. Cơ
quan trung ương điều khiển, kiểm soát mọi hoạt động của các cơ quan chính
quyền địa phương, nên các cơ quan chính quyền địa phương không có
quyền sáng tạo, chỉ tuân thủ, phục tùng mọi quyết định từ cấp trên đưa xuống.
Trong trường hợp áp dụng một cách triệt để nguyên tắc tập quyền, chỉ có
chính quyền trung ương mới có thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm
pháp luật, tư cách pháp nhân, nghĩa là chỉ có chính quyền trung ương mới
cóngân sách riêng, có năng lực pháp lý để kiện tụng. Tập quyền là nguyên
tắc chủ đạo trong tổ chức thực hiện quyền lực nhà nước theo lãnh thổ của
mọi quốc gia từ thuở khai thiên lập địa khi mới xuất hiện những nhà nước đầu
tiên trên trái đất cho đến hết thời kỳ thống trị của các nhà nước phong kiến,
mặc dù có cả những hình thức nhà nước xem ra có vẻ dân chủ, như cộng
hòa dân chủ chủ nô (nhưng đây chỉ là dân chủ đối với tầng lớp chủ nô và chỉ
là hình thức chính thể, tức là hình thức quan hệ giữa các cơ quan nhà nước
ở trung ương và phương thức hình thành chúng). Nhà nước tư sản trước khi
chấm dứt thời kỳ chiến tranh lạnh (những năm 70-80 của thế kỷ 20) cũng vẫn
là chế độ tập quyền. Nhìn chung, trong những năm sau chiến tranh thế giới
lần thứ hai, loại tổ chức này vẫn còn tồn tại ở khắp các nước Tây Âu. Các
nước XHCN cũng duy trì chế độ tập quyền, nhưng là chế độ tập quyền XHCN.
Các nước đang phát triển hiện nay cũng có những nơi, những lúc tồn tại
chính quyền địa phương theo kiểu này. Nhưng cần lưu ý rằng, chế độ tập
quyền có nhiều hình thức. Chế độ tập quyền tuyệt đối tồn tạitrong các nhà
nước quân chủ chuyên chế, cộng hòa phát xít (chế độ độc tài của) hay chế độ quân quản.
Chế độ tập quyền có phân chia trách nhiệm thông qua phân công, phân cấp,
ủy quyền phổ biến hơn và đến nay vẫn còn tồn tại, đặc trưng là chế độ tản
quyền - là một hình thức của tập quyền. Mặt khác, ngay trong các chế độ tập
quyền cổ xưa, kể cả trong các nhà nước có chế độ quân chủ chuyên chế
(dạng phổ biến của tập quyền tuyệt đối) vẫn tồn tại các hình thức tự trị như
chế độ tự trị của các giáo phận ở Tây Âu, chế độ tự trị của công xã nông thôn,
làng xã ở phương Đông, trong đó có Việt Nam và tồn tại đến thời cận đại.
2. Phân loại tập quyền
2.1. Tập quyền tuyệt đối
Đây có thể gọi là hình thức cơ quan nhà nước trung ương tối cao trực tiếp bổ
nhiệm và chỉ đạo mọi hoạt động ở địa phương, nguyên thủ quốc gia (hoàng
đế, tổng thống) hoặc thủ tướng chính phủ bổ nhiệm/bãi nhiệm tất cả các chức
vụ cao cấp (trưởng, cấp phó và các chức vụ cao cấp khác) của các cơ quan
đầu não ở trungương và các cấp chính quyền địa phương (thường đến cấp
huyện và tương đương, cấp xã, công xã và tương đương thường thực hiện
chế độ tự quản). Mọi hoạt động của chính quyền địa phương đều theo mệnh
lệnh từ một trung tâm duy nhất ở trung ương. Đây là mô hình tập quyền tuyệt
đối. Đây là mô hình chính quyền của hầu hết các quốc gia thời cố đại (chủ nô
và phong kiến giai đoạn nhà nước trung ương tập quyền.
Thời cận đại mô hình này hay gặp vào giai đoạn đất nước có chiến tranh.
Hiện nay mô hình này vẫn tồn tại ở nhiều nước như: Cô-oét (có đặc thù là
quyền lập pháp được phân chia giữa Tiểu vương và Quốc hội), A-rập Xê-út,
Brunây... Dạng đặc biệt của mô hình này là “chính quyền quân quản”, đã tồn
tại khá phố biến ở nhiều nước khác nhau. Xét từ góc độ lịch sử thì những nhà
nước “dân chủ quân sự” - loại hình nhà nước đầu tiên trong lịch sử loài người
vốn là “chính quyềnquân quản”: đứng đầu nhà nước vốn là các tù trưởng chỉ
huy quân đội. Toàn bộ hệ thống chính quyền từ trung ương tới địa phương
đều là tướng lĩnh. Cách tổ chức này giữ mãi đến sau này, như ở các triều đại
phong kiến, trong đó có Việt Nam, tuysau này các chức vụ “quan võ” có kết
hợp với các chức vụ “quan văn”. Trong lịch sử cận hiện đại, “chính quyền
quân quản” thường tồn tại trong buổigiao thời ở những nước mới giải phóng
chờthành lập chính quyền mới. Trong những năm sau Chiến tranh Thế giới
lần thứ II, loại tổ chức này tồn tại ở khắp các nước châu Âu, hay ở Miền Nam
nước ta vào thời gian sau 30-4-1975. Các nước đang phát triển hiện nay, như
ở châu Phi, cũng có những lúc tồn tại chính quyền địa phương theo kiểu
“quân quản”. Ở Myanma nó đã tồn tại suốt thời gian dài đến tận những năm
gần đây. Ở Thái Lan, đất nước “sôi động với những cuộc đảo chính quân sự”
chính quyền quân quản vẫn đã tồn tại nay sau cuộc đảo chính, trước khi
Chính phủ mới được thành lập.
2.2. Tập quyền có phân chia trách nhiệm
Xét một cách cụ thể thì không một ông vua/ hoàng đế nào có thể tự mình cai
quản mọi vấn đề trong một quốc gia, dù nhỏ. Các vị vua thường vẫn phải cử
các quan lại, tướng lĩnh thay mặt mình để vỗ về dân chúng, giữ yên bờ cõi.
Mỗi quan lại, tướng lĩnh lúc đó được ủy quyền thực hiện lệnh của vua/hoàng
đế. Được sắc phong một chức quan là được giao những quyền hạn nhất định,
kể cả quyền quyết định đến sinh mệnh của dân. Nhưng trong chế độ tập
quyền thì những quyền hạn này cóthể bị vua lấy đi bất cứ lúc nào. Đó là bản
chất của nhà nước chuyên chế, một dạng cổ điển của chế độ tập quyền có
phân chia trách nhiệm. Chế độ tập quyền có phân chia trách nhiệm được
thực hiện thông qua các hình thức phân công, phân cấp, ủy quyền.
Theo mô hình này, nguyên thủ quốc gia (hoàng đế, tổng thống) hoặc thủ
tướng chính phủ chỉ trực tiếp bổ nhiệm/bãi nhiệm các cấp trưởng và phó của
các cơ quan đầu não ở trung ương và của các cấp chính quyền địa phương,
tức là chỉ bổ nhiệm/ bãi nhiệm các chức vụ lãnh đạo cấp dưới trực tiếp, và
các cấp này được trao quyền bổ nhiệm/ bãi nhiệm cho cấp dưới tiếp theo.
Trong hoạt động các cấp chính quyền địa phương được chính quyền trung
ương (bao gồm cả cơ quan cao nhất và các cơ quan đầu não quản lý ngành)
phân công, phân cấp, ủy quyền thực hiện những chức năng, nhiệm vụ, quyền
hạn trong những phạm vi nhất định và chịu trách nhiệm trong những phạm vi
đó. Nhiệm vụ của chính quyền địa phương theo mô hình này là thực hiện các
chức năng quản lý chung hay quản lý trên một số lĩnh vực nhất định. Bên
cạch việc thực hiện các chức năng quản lý của nhà nướctrung ương, các cơ
quan này còn thực hiện các chức năng của địa phương. Mô hình này vẫn
đảm bảo chế độ tập trung và tiện lợi, tuy nhiên nó đòi hỏi sự phân công, phân
cấp, ủy quyền phải rõ ràng, chế độ kiểm soát phải chặt chẽ và chế độ trách
nhiệm phải nghiêm minh, nếu không cũng dễ tập trung quan liêu hoặc phân
tán, tự do tùy tiện. Nhưng dù hình thành theo cách nào thì cơ quan chính
quyền địa phương theo mô hình tập quyền có phân chia trách nhiệm vẫn nằm
dưới sự chỉ đạo trực tiếp, chịu sự kiểm soát chặt chẽ, thống nhất từ một cơ
quan đầu não ở trung ương là nguyên thủ quốc gia hoặc chính phủ. Cả nước
là một hệ thống hành chính nhà nước thống nhất, thông suốt từ trung ương đến tận cơ sở
3. Nguyên tắc tổ chức quyền lực ở Việt Nam
Tổ chức thực hiện quyền lực nhà nước là một nội dung quan trọng của chế
độ chính trị được ghi nhận trong các bản Hiến pháp của Việt Nam. Nội dung
này chi phối quá trình thiết lập và tổ chức bộ máy nhà nước, cũng như cơ chế
vận hành các cơ quan trong bộ máy nhà nước nhằm bảo đảm nguyên tắc tất
cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân. Nguyên tắc tổ chức quyền lực
nhà nước được quy định tại Hiến pháp 2013 như sau:
“Quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công, phối hợp,
kiểm soát giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các
quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp” và “Nhân dân thực hiện
quyền lực nhà nước bằng dân chủ trực tiếp, bằng dân chủ đại
diện thông qua Quốc hội, Hội đồng nhân dân và thông qua các
cơ quan khác của Nhà nước”.
Thứ nhất, quyền lực nhà nước là thống nhất. Theo đó, tất cả quyền lực nhà
nước thuộc về nhân dân và tập trung vào Quốc hội theo nguyên tắc tập
quyền xã hội chủ nghĩa. Với nhận thức nhân dân là chủ thể của quyền lực
nhà nước, nhưng vì không thực hiện được quyền lực nhà nước một cách
trực tiếp nên đã trao toàn bộ quyền lực nhà nước của mình cho Quốc hội.
Trong khi nhiều nước trên thế giới, quyền lực nhà nước được tổ chức theo
nguyên tắc “tam quyền phân lập” với những biến thể khác nhau, thì ở nước ta
ba nhánh quyền lực này lại không tổ chức theo hướng độc lập và đối trọng
với nhau, mà chỉ có sự phân công, phối hợp và kiểm soát, cách thức tổ chức
quyền lực này tạm gọi là nguyên tắc thứ cấp “phân – hợp – kiểm”. Trong điều
kiện xã hội hiện đại và thể chế nhà nước đơn nhất, chúng ta chỉ vận dụng yếu
tố hợp lý của học thuyết phân quyền là sự phân công quyền lực, chứ không
áp dụng toàn bộ nội dung học thuyết này.
Quyền lực nhà nước không phải sự cộng lại đơn thuần của các quyền lập
pháp, hành pháp, tư pháp, mà có thể yêu cầu chúng tách biệt, độc lập khỏi
nhau. Mỗi cơ quan không chỉ thuần túy, đơn phương thực hiện một quyền,
mà không tham gia vào việc thực hiện các quyền khác. Các cơ quan dù được
phân nhiệm thực hiện các quyền khác nhau, nhưng trong quá trình thực hiện
quyền hạn của mình đều phải có sự phối hợp với các cơ quan khác.
Thứ hai, quyền lực nhà nước có sự phân công, phối hợp, kiểm soát giữa các
cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư
pháp. So với quyền lực nhà nước là thống nhất thì phân công, phối hợp, kiểm
soát giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp,
hành pháp, tư pháp thể hiện vai trò thứ yếu, hỗ trợ, bổ sung. Điều này có
nghĩa là việc phân công, phối hợp, kiểm soát phải dướng đến thống nhất thực
hiện quyền lực nhà nước.
– Phân công: mặc dù có sự phân định ba quyền nhưng cả ba quyền lập, hành,
tư pháp không tách biệt hoàn toàn mà “ràng buộc lẫn nhau” . Mục đích của
việc phân công quyền lực nhà nước là để giao phó cho các cơ quan nắm giữ
một phần quyền lực nhà nước hướng đến việc kiểm soát quyền lực nhà nước,
bảo đảm tính pháp quyền của nhà nước để tăng cường sự giám sát từ phía
nhân dân, chứ không phải để phân chia, tách biệt các nhánh quyền lực nhà nước.
– Phối hợp: là sự kết hợp các hoạt động của các cơ quan lại với nhau theo
một cách thức nhất định để bảo đảm cho các cơ quan đó thực hiện đầy đủ,
hiệu quả chức năng, nhiệm vụ của mình nhằm tạo ra sự thống nhất, đồng
thuận và hiệu quả trong việc các cơ quan nhà nước thực hiện chức năng, nhiệm vụ của mình.
– Kiểm soát: mục đích chính của kiểm soát quyền lực nhà nước nhằm ngăn
chặn, hạn chế sự lạm quyền của một bộ phận quyền lực trong bộ máy nhà
nước. Tinh thần dùng quyền lực để chế ước, kiểm soát quyền lực đã được
Đảng ta thừa nhận và trở thành quan điểm chỉ đạo trong việc thiết kế mô hình
quyền lực trong giai đoạn hiện nay. Theo đó, phân công quyền lực và kiểm
soát quyền lực có quan hệ chặt chẽ với nhau. Phân công quyền lực là cơ sở,
tiền đề cho kiểm soát quyền lực còn phân công để xác định rõ chức năng,
thẩm quyền của mỗi nhánh quyền lực.
Qua những phân tích trên có thể thấy từ phương diện pháp lý, bản chất của
tổ chức quyền lực nhà nước là việc chủ thể của quyền lực (nhân dân) sử
dụng các phương tiện pháp lý để hiện thực hóa chủ quyền nhân dân, đảm
bảo quyền lực thuộc về nhân dân, đảm bảo quyền lực nhà nước nằm trong
quỹ đạo phục vụ nhân dân.
Document Outline
- Tập quyền là gì? Các hình thức thức phân loại tập
- 1. Tập quyền là gì?
- 2. Phân loại tập quyền
- 2.1. Tập quyền tuyệt đối
- 2.2. Tập quyền có phân chia trách nhiệm
- 3. Nguyên tắc tổ chức quyền lực ở Việt Nam