M. Gorki từng nói: “Chi tiết nhỏ làm nên nhà văn lớn”. Vậy điều đã làm nên nhà
văn lớn ấy? Phải chăng ngoài tài năng xây dựng tình huống truyện độc đáo, kim lân cần
khả năng miêu t tâm sắc sảo. Ông đã đi sâu vào thế giới tâm hồn nhân vật cụ Tứ, khám
phá những phẩm chất tốt đẹp đọng thành những “hạt bụi vàng” của tác phẩm. Những
hạt bụi vàng” đó chính Giọt nước mắt của cụ tứ.
Kim lân là cây bút chuyên viết truyện ngắn. Thế giới nghệ thuật của ông tập trung
nông thôn hình tượng người nông dân nên nhà văn Nguyên Hồng xem ông người “một
lòng đi về với người với đất với thuần hậu đời sống nguyên thủy nông thôn”.
Vợ nhặt truyện ngắn xuất sắc của kim lân, in trong tập con chó xấu 1962 tiền
thân tiểu thuyết xóm ngụ cư. Tác phẩm được viết ngay sau khi cách mạng tháng tám thành
công lấy bối cảnh nạn đói năm một chín 45 nhưng còn dang dở mất bản thảo sau khi hòa
bình lập lại 195 kim lân dựa vào một phần cốt truyện viết truyện ngắn này
Giọt nước mắt của cụ tứ được coi như “hạt bụi vàng của tác phẩm”. Đó túi tiên,
chứa đựng cảm xúc, tưởng cái tôi riêng của nhà văn. Chi tiết giọt nước mắt của cụ
Tứ không chỉ sự xót thương của Kim Lân cho những con người với số phận mọn, lay
lắt, mỏng manh mà còn sự tố cáo hội thực dân nửa phong kiến lạc hậu thời bấy giờ. Đây
thực sự điểm nhấn nghệ thuật của tác phẩm.
nhân vật suất hiện khoảng giữa chuyện cụ tứ hiện lên vào một buổi chiều
chạng vạng tối, trong ng đi lọng khóc tiếng húng hắn ho. sống cực cùng người con
trai xấu xí, dở hơi trong căn nhà rúm trên mảnh vườn lôrn nhổn đầy cỏ dại, nơi xóm ngụ
nghèo. Cuộc sống của còn mong manh bắp bệnh hơn rữa nạn đói năm một chín 45 khi
cái đói tràn đến xóm y tự lúc nào về cái đói đến đâu người chết như ngã ra đến đó. hiện
lên thành mùi ẩm thối của rác rưỡi mùi gây của xác người, thanh tiếng quạ gào lên từng
hồi thế thiết. Đã thế, tg còn để rơi vào tình huống đầy nghịch cảnh, éo le: giữa lúc phải đối
diện với cái đói, cái chết kề cận như thế, con trai bả đưa vợ về. Trước tình huống ấy, tâm
trạng c tứ diễn biến thật phức tạp.
Khởi đầu sự ngạc nhiên sự ngạc nhiên ngày càng tăng của cụ tứ. Khi trở về
căn nhà tồi tàn của mình, không khỏi ngạc nhiên, băn khoăn, phấp phỏng, lo âu khi thấy
người dần lạ trong nhà, rồi chào bằng u. những câu hỏi nghi vấn nối tiếp nhau khơi
thêm nét ngạc nhiên đến sững sờ, lòng ngổn ngang trăm mối. Nhưng rốt cuộc, lão cũng
chỉ “cúi đầu nín lặng”. không chỉ vỡ lẽ còn “ngậm ngùi”, “hiểu ra bao nhiêu sự”.
Phải chăng tình cảnh khốn khổ đã đánh mất sự nhạy cảm trong trái tim người mẹ khi con trai
đã đến tuổi trưởng thành đưa về nhà một người phụ nữ? Nhà văn không tả thêm những suy
nghĩ, những căn dặn trong tiềm thức của nhân vật, hay những hành động tác động tâm
phức tạp khác đơn giản chỉ cái “cúi đầu nín lặng”. Từ thương con hướng về hờn
trách chính bản thân mình: “Chao ôi, người ta dựng vợ gả chồng cho con lúc trong nhà ăn
nên làm nổi, những mong sinh con đẻ cái mở mặt sau này. Còn mình thì…”. Suy nghĩ bỏ
lưỡng “còn mình thì ...” Thể hiện sự chạnh lòng, day dứt chưa làm tròn trách nhiệm với
con để chúng phải tìm lấy nhau trong Nạn đói. vậy, khóc “trong kẻ mắt kèm nhèm của
rỉ xuống hai dòng nước mắt”, cảm thấy tủi thân, lo lắng “biết rằng chúng nuôi nổi
nhau sống qua cơn đói khát này không?”. Giọt nước mắt đã “rỉ xuống” ấy lẽ còn sự vui
mừng, giọt nước mắt của hạnh phúc khi trong tình cảnh ngoặt nghèo này, con trai vẫn
được vợ. Kim Lân đã rất tinh tế khi miêu tả dòng nước mắt của cụ Tứ. chỉ “rỉ xuống”
chứ không tuôn rơi dường như cả cuộc đời của người mẹ tảo tần đã trải qua biết bao khổ
đau để phải khóc cạn nước mắt của mình. Thế nên, giọt nước nước mắt rỉ xuống lúc này,
phải chăng giợt nước mắt chứa bao nỗi mừng vui, hơn tuổi, âu lo của người mẹ nghèo
trong nạn đói, biểu hiện của tình mẫu tử thiêng liêng cao đẹp đang ngân lên trước số phận
của con. Chân dung số phận của còn được khắc họa qua hình ảnh “kẽ mắt kèm nhèm”.
Sự vất vả, khổ cực của c Tứ lẽ được thể hiện chân thực đầy đủ nhất qua chi tiết này,
khi người phụ nữ nông dân ấy trải qua đầy những khổ hạnh của cuộc đời. Phải yêu thương
con đến nhường nào, người mẹ này mới thể “rỉ xuống” những giọt nước mắt hiếm hoi của
cuộc đời mình?
Đặc biệt, không chỉ thương cho số kiếp của đứa con mình với tấm lòng nhân
hậu, bao dung, còn thương cả người đàn xa lạ bị hoàn cảnh đẩy mới thành con dâu
mình. Những lời độc thoại cứ như những đợt sóng cuộn trào, dâng ngập lên trong lòng người
mẹ vừa khắc khoải vừa dào dạt vừa bao la, đong đầy tình mẫu tử, hòa vào trong đó những
rung cảm xót xa trong trái tim nhân đạo của Kim Lân. Người mẹ già như cố nuốt nước mắt
vào trong, cố n nỗi đau trong lòng để tình yêu thương của mình an ủi các con. Dường như
tình yêu thương, sự bao dung của người mẹ già đã xóa nhòa mọi khoảng cách, ranh giới giữa
mẹ chồng nàng dâu. tất cả. nói: “Chúng mày lấy nhau lúc này, u thương quá”.Kim Lân
đã thật sự nung đốt lên trong tâm hồn chúng ta tình mẫu tử thiên liêng cao quý. Bao cảm
xúc như được dồn nén hết trong chữ “thương” để rồi giọt nước mắt của lại một lần nữa
tuôn rơi. Nhưng không còn chỉ “rỉ xuống” nữa trở thành “chảy xuống ròng ròng”. Nước
mắt c thế chảy ra không thể kìm nén được. Hình ảnh này đã thể hiện sự xót xa dâng
trào cùng nỗi lo trong lòng người mẹ. không chỉ thương còn thấy lỗi với con. Thân
mẹ nhưng lại không thể lo nổi cho con một mâm cỗ cưới, một đám cưới đàng hoàng. Trước
chuyện hệ trọng cả cuộc đời của con trai mình, đã không thể làm để giúp các con vun
vén hạnh phúc. Trong lòng ngập tràn niềm hờn tủi.
đã cố gắng vun đắp hạnh phúc cho các con, cố gắng hướng đến một tương lai
tươi sáng phía trước, cũng không thể kìm nổi giọt nước mắt. Giọt nước mắt bất lực khi
nhìn thấy tương lai của nạn đói “Giời đất này không chắc đã sống qua được đâu các con ạ…”.
Nhưng “không dám để con dâu nhìn thấy khóc” n “bà lão ngoảnh vội ra ngoài”.
đã rất tinh tế, lẽ khóc một hiện thực tăm tối bi đát, kiệt cùng, không lối thoát của con
người hiện ra ngay trước mắt. giấu đi giọt nước mắt của mình không muốn các con phải
lo âu. Đó giọt nước mắt của một người mẹ nhân hậu, hết lòng yêu thương, lo lắng cho con
trí tuệ của một người từng trải
.
Giọt nước mắt toát lên tình mẫu tử trời cao biển rộng,
lòng u thương con người, nhân hậu lớn lao, sức mạnh mãnh liệt, biến nỗi thống khổ
thành tiếng hát biên..
thể nói, thông qua ba lần giọt nước mắt cụ Tứ rơi, ta thấy được nổi bật lên tình
yêu con hạn. Trước tình cảnh éo le ấy, đã rất tế nhị, cố nén đi nỗi xót xa, tủi hờn để gỡ
bỏ những tủi nhục khó nói trong tình huống nên vợ nên chồng của hai con. Nhưng rốt cuộc,
nỗi lo lắng, sự xót thương bị đẩy lên đỉnh điểm phải “rỉ xuống” những dòng nước mắt.
Người m gạt sự tủi hờn ấy an ủi, động viên vợ chồng Tràng. Nhưng với sự ai oán, mặc
cảm, nỗi lo số phận lại quay lại, đeo bám bà. Giờ đây, không còn nén được nữa dòng
nước mắt “chảy xuống ròng ròng” như một giọt nước tràn ly. Giọt nước mắt của người mẹ
nghèo này chính hiện thân của tình mẫu tử thiêng liêng, lòng bao dung, sự hi sinh nhưng
cũng sự bất lực của người mẹ khi không thể làm trọn trách nhiệm với con.
Kim Lân không đi vào miêu tả chi tiết ngoại hình, nh cách của cụ Tứ, nhưng bằng
dáng vẻ cử chỉ, hành động “cúi đầu nín lặng”, “ngậm ngùi”,… ta thấy được hình ảnh hiện
lên với dòng chảy nội tâm, chuỗi diễn biến tâm vui, buồn lẫn lộn, chân thực sắc nét. Chi
tiết giọt nước mắt đã cho ta thấy sự am hiểu, tinh tường của Kim lân trong nghệ thuật miêu tả
tâm lý nhân vật. Qua đó, ta thấy được tài năng miêu tả nội tâm nhân vật của ông, quả
“Thần mượn tay người để viết nên những trang bất hủ”
Nhà văn đã xây dựng rất thành công nh huống éo le, độc đáo những chi tiết nghệ
thuật đặc sắc, điểm sáng thẩm mỹ của tác phẩm. Bằng bút pháp nửa trực tiếp hiện thực
tâm lí, kết hợp với giọng văn chậm, đều, ngôn từ giản dị, phù hợp với nhân vật đặc biệt
sự tinh tế, sắc sảo để thấu hiếu tâm con người, Kim Lân đã phác họa chân thực nét
hình nh cụ Tứ làm nổi bật tình mẫu tử, lòng nhân hậu niềm hy vọng vào tương lai
của bà.
Nhà văn Nguyễn Khải đã từng nhận xét về ngòi bút của Kim Lân: “Thần mượn tay
người để viết nên những trang bất hủ”. Kim Lân quả xứng đáng một nhà văn lớn của nền
văn học Việt Nam, khi chỉ từ những chi tiết nhỏ sâu sắc, ông đã đặt cả một tài năng
tấm lòng nhân đạo của mình vào đó. lẽ thế cho đến nay, “Vợ nhặt” vẫn để lại âm
khó phai mờ trong lòng người đọc của nhiều thế hệ.

Preview text:

M. Gorki từng nói: “Chi tiết nhỏ làm nên nhà văn lớn”. Vậy điều gì đã làm nên nhà
văn lớn ấy? Phải chăng ngoài tài năng xây dựng tình huống truyện độc đáo, kim lân cần có
khả năng miêu tả tâm lý sắc sảo. Ông đã đi sâu vào thế giới tâm hồn nhân vật bà cụ Tứ, khám
phá những phẩm chất tốt đẹp và cô đọng thành những “hạt bụi vàng” của tác phẩm. Những
“ hạt bụi vàng” đó chính là Giọt nước mắt của bà cụ tứ.
Kim lân là cây bút chuyên viết truyện ngắn. Thế giới nghệ thuật của ông tập trung ở
nông thôn và hình tượng người nông dân nên nhà văn Nguyên Hồng xem ông là người “một
lòng đi về với người với đất với thuần hậu đời sống nguyên thủy ở nông thôn”.
Vợ nhặt là truyện ngắn xuất sắc của kim lân, in trong tập con chó xấu xí 1962 có tiền
thân là tiểu thuyết xóm ngụ cư. Tác phẩm được viết ngay sau khi cách mạng tháng tám thành
công lấy bối cảnh nạn đói năm một chín 45 nhưng còn dang dở và mất bản thảo sau khi hòa
bình lập lại 195 tư kim lân dựa vào một phần cốt truyện cũ và viết truyện ngắn này
Giọt nước mắt của bà cụ tứ được coi như “hạt bụi vàng của tác phẩm”. Đó là túi tiên,
chứa đựng cảm xúc, tư tưởng và cái tôi riêng của nhà văn. Chi tiết giọt nước mắt của bà cụ
Tứ không chỉ là sự xót thương của Kim Lân cho những con người với số phận bé mọn, lay
lắt, mỏng manh mà còn là sự tố cáo xã hội thực dân nửa phong kiến lạc hậu thời bấy giờ. Đây
thực sự là điểm nhấn nghệ thuật của tác phẩm.
Là nhân vật suất hiện ở khoảng giữa chuyện bà cụ tứ hiện lên vào một buổi chiều
chạng vạng tối, trong sáng đi lọng khóc và tiếng húng hắn ho. Bà sống cơ cực cùng người con
trai xấu xí, dở hơi trong căn nhà rúm ró trên mảnh vườn lôrn nhổn đầy cỏ dại, nơi xóm ngụ
cư nghèo. Cuộc sống của bà còn mong manh bắp bệnh hơn rữa nạn đói năm một chín 45 khi
cái đói tràn đến xóm này tự lúc nào về cái đói đến đâu người chết như ngã ra đến đó. Nó hiện
lên thành mùi ẩm thối của rác rưỡi và mùi gây của xác người, thanh tiếng quạ gào lên từng
hồi thế thiết. Đã thế, tg còn để bà rơi vào tình huống đầy nghịch cảnh, éo le: giữa lúc phải đối
diện với cái đói, cái chết kề cận như thế, con trai bả đưa vợ về. Trước tình huống ấy, tâm
trạng bà cụ tứ diễn biến thật phức tạp.
Khởi đầu là sự ngạc nhiên và sự ngạc nhiên ngày càng tăng của bà cụ tứ. Khi trở về
căn nhà tồi tàn của mình, bà không khỏi ngạc nhiên, băn khoăn, phấp phỏng, lo âu khi thấy
có người dần bà lạ trong nhà, rồi chào bà bằng u. những câu hỏi nghi vấn nối tiếp nhau khơi
thêm nét ngạc nhiên đến sững sờ, lòng bà ngổn ngang trăm mối. Nhưng rốt cuộc, bà lão cũng
chỉ “cúi đầu nín lặng”. Bà không chỉ vỡ lẽ mà còn “ngậm ngùi”, “hiểu ra bao nhiêu cơ sự”.
Phải chăng tình cảnh khốn khổ đã đánh mất sự nhạy cảm trong trái tim người mẹ khi con trai
đã đến tuổi trưởng thành đưa về nhà một người phụ nữ? Nhà văn không tả thêm những suy
nghĩ, những căn dặn trong tiềm thức của nhân vật, hay những hành động có tác động tâm lí
phức tạp khác mà đơn giản chỉ là cái “cúi đầu nín lặng”. Từ thương con bà hướng về hờn
trách chính bản thân mình: “Chao ôi, người ta dựng vợ gả chồng cho con là lúc trong nhà ăn
nên làm nổi, những mong sinh con đẻ cái mở mặt sau này. Còn mình thì…”. Suy nghĩ bỏ
lưỡng “còn mình thì . .” Thể hiện sự chạnh lòng, day dứt vì chưa làm tròn trách nhiệm với
con để chúng phải tìm lấy nhau trong Nạn đói. Vì vậy, bà khóc “trong kẻ mắt kèm nhèm của
bà rỉ xuống hai dòng nước mắt”, cảm thấy tủi thân, lo lắng “biết rằng chúng nó có nuôi nổi
nhau sống qua cơn đói khát này không?”. Giọt nước mắt đã “rỉ xuống” ấy có lẽ còn là sự vui
mừng, giọt nước mắt của hạnh phúc khi trong tình cảnh ngoặt nghèo này, con trai bà vẫn có
được vợ. Kim Lân đã rất tinh tế khi miêu tả dòng nước mắt của bà cụ Tứ. Nó chỉ “rỉ xuống”
chứ không tuôn rơi vì dường như cả cuộc đời của người mẹ tảo tần đã trải qua biết bao khổ
đau để bà phải khóc cạn nước mắt của mình. Thế nên, giọt nước nước mắt rỉ xuống lúc này,
phải chăng là giợt nước mắt chứa bao nỗi mừng vui, hơn tuổi, âu lo của người mẹ nghèo
trong nạn đói, là biểu hiện của tình mẫu tử thiêng liêng cao đẹp đang ngân lên trước số phận
của con. Chân dung và số phận của bà còn được khắc họa qua hình ảnh “kẽ mắt kèm nhèm”.
Sự vất vả, khổ cực của bà cụ Tứ có lẽ được thể hiện chân thực và đầy đủ nhất qua chi tiết này,
khi người phụ nữ nông dân ấy trải qua đầy những khổ hạnh của cuộc đời. Phải yêu thương
con đến nhường nào, người mẹ này mới có thể “rỉ xuống” những giọt nước mắt hiếm hoi của cuộc đời mình?
Đặc biệt, bà không chỉ thương cho số kiếp của đứa con mình mà với tấm lòng nhân
hậu, bao dung, bà còn thương cả người đàn bà xa lạ bị hoàn cảnh xô đẩy mới thành con dâu
mình. Những lời độc thoại cứ như những đợt sóng cuộn trào, dâng ngập lên trong lòng người
mẹ vừa khắc khoải vừa dào dạt vừa bao la, đong đầy tình mẫu tử, hòa vào trong đó là những
rung cảm xót xa trong trái tim nhân đạo của Kim Lân. Người mẹ già như cố nuốt nước mắt
vào trong, cố nén nỗi đau trong lòng để tình yêu thương của mình an ủi các con. Dường như
tình yêu thương, sự bao dung của người mẹ già đã xóa nhòa mọi khoảng cách, ranh giới giữa
mẹ chồng – nàng dâu. tất cả. Bà nói: “Chúng mày lấy nhau lúc này, u thương quá”.Kim Lân
đã thật sự nung đốt lên trong tâm hồn chúng ta tình mẫu tử thiên liêng và cao quý. Bao cảm
xúc như được dồn nén hết trong chữ “thương” để rồi giọt nước mắt của bà lại một lần nữa
tuôn rơi. Nhưng không còn chỉ là “rỉ xuống” nữa mà trở thành “chảy xuống ròng ròng”. Nước
mắt cứ thế chảy ra mà bà không thể kìm nén được. Hình ảnh này đã thể hiện sự xót xa dâng
trào cùng nỗi lo trong lòng người mẹ. Bà không chỉ thương mà còn thấy có lỗi với con. Thân
là mẹ nhưng lại không thể lo nổi cho con một mâm cỗ cưới, một đám cưới đàng hoàng. Trước
chuyện hệ trọng cả cuộc đời của con trai mình, bà đã không thể làm gì để giúp các con vun
vén hạnh phúc. Trong lòng bà ngập tràn niềm hờn tủi.
Dù bà đã cố gắng vun đắp hạnh phúc cho các con, cố gắng hướng đến một tương lai
tươi sáng phía trước, bà cũng không thể kìm nổi giọt nước mắt. Giọt nước mắt bất lực khi
nhìn thấy tương lai của nạn đói “Giời đất này không chắc đã sống qua được đâu các con ạ…”.
Nhưng vì “không dám để con dâu nhìn thấy bà khóc” nên “bà lão ngoảnh vội ra ngoài”. Bà
đã rất tinh tế, có lẽ bà khóc vì một hiện thực tăm tối bi đát, kiệt cùng, không lối thoát của con
người hiện ra ngay trước mắt. Bà giấu đi giọt nước mắt của mình vì không muốn các con phải
lo âu. Đó là giọt nước mắt của một người mẹ nhân hậu, hết lòng yêu thương, lo lắng cho con
và là trí tuệ của một người từng trải. Giọt nước mắt toát lên tình mẫu tử trời cao biển rộng,
lòng yêu thương con người, nhân hậu lớn lao, có sức mạnh mãnh liệt, biến nỗi thống khổ thành tiếng hát vô biên.
Có thể nói, thông qua ba lần giọt nước mắt bà cụ Tứ rơi, ta thấy được nổi bật lên tình
yêu con vô hạn. Trước tình cảnh éo le ấy, bà đã rất tế nhị, cố nén đi nỗi xót xa, tủi hờn để gỡ
bỏ những tủi nhục khó nói trong tình huống nên vợ nên chồng của hai con. Nhưng rốt cuộc,
nỗi lo lắng, sự xót thương bị đẩy lên đỉnh điểm và bà phải “rỉ xuống” những dòng nước mắt.
Người mẹ gạt sự tủi hờn ấy và an ủi, động viên vợ chồng Tràng. Nhưng với sự ai oán, mặc
cảm, nỗi lo số phận lại quay lại, đeo bám bà. Giờ đây, bà không còn nén được nữa và dòng
nước mắt “chảy xuống ròng ròng” như một giọt nước tràn ly. Giọt nước mắt của người mẹ
nghèo này chính là hiện thân của tình mẫu tử thiêng liêng, lòng bao dung, sự hi sinh nhưng
cũng là sự bất lực của người mẹ khi không thể làm trọn trách nhiệm với con.
Kim Lân không đi vào miêu tả chi tiết ngoại hình, tính cách của bà cụ Tứ, nhưng bằng
dáng vẻ cử chỉ, hành động “cúi đầu nín lặng”, “ngậm ngùi”,… ta thấy được hình ảnh bà hiện
lên với dòng chảy nội tâm, chuỗi diễn biến tâm lý vui, buồn lẫn lộn, chân thực và sắc nét. Chi
tiết giọt nước mắt đã cho ta thấy sự am hiểu, tinh tường của Kim lân trong nghệ thuật miêu tả
tâm lý nhân vật. Qua đó, ta thấy được tài năng miêu tả nội tâm nhân vật của ông, quả là
“Thần mượn tay người để viết nên những trang bất hủ”
Nhà văn đã xây dựng rất thành công tình huống éo le, độc đáo và những chi tiết nghệ
thuật đặc sắc, điểm sáng thẩm mỹ của tác phẩm. Bằng bút pháp nửa trực tiếp và hiện thực
tâm lí, kết hợp với giọng văn chậm, đều, ngôn từ giản dị, phù hợp với nhân vật và đặc biệt là
sự tinh tế, sắc sảo để thấu hiếu tâm lí con người, Kim Lân đã phác họa chân thực và rõ nét
hình ảnh bà cụ Tứ và làm nổi bật tình mẫu tử, lòng nhân hậu và niềm hy vọng vào tương lai của bà.
Nhà văn Nguyễn Khải đã từng nhận xét về ngòi bút của Kim Lân: “Thần mượn tay
người để viết nên những trang bất hủ”. Kim Lân quả xứng đáng là một nhà văn lớn của nền
văn học Việt Nam, khi chỉ từ những chi tiết nhỏ bé mà sâu sắc, ông đã đặt cả một tài năng và
tấm lòng nhân đạo của mình vào đó. Có lẽ vì thế cho đến nay, “Vợ nhặt” vẫn để lại dư âm
khó phai mờ trong lòng người đọc của nhiều thế hệ.