Thâm hụt ngân sách (budget decifit) ?
1. Thâm hụt ngân sách gì?
1.1 Một số thuật ngữ liên quan
Ngân sách Nhà nước tổng các kế hoạch hàng năm về chi tiêu thu nhập
của Chính phủ.
Thặng ngân sách Nhà nước khi tất cả các loại thuế các nguồn thu
khác lớn hơn chi tiêu chính phủ trong một năm.
Ngân sách cân bằng khi số thu số chi của chính phủ bằng nhau trong một
giai đoạn nhất định.
Nợ chính phủ (nợ công) tổng những khoản vay hay tổng các khoản nợ tồn
của chính phủ. Nợ trong ớc nợ của chính phủ một nước đối với công
dân của nước đó. Nợ nước ngoài nợ của chính phủ đối với người nước
ngoài.
Thâm hụt ngân sách trong tiếng Anh gọi Budget deficit. Thâm hụt ngân
sách Nhà nước tình trạng chi tiêu vượt quá nguồn thu ngân sách Nhà nước,
phần chênh lệch gọi thâm hụt ngân sách Nhà nước.
Thâm hụt ngân sách trong kinh tế học kinh tế học công cộng tình
trạng các khoản chi của ngân sách Nhà nước (ngân sách chính phủ) lớn hơn
các khoản thu, phần chênh lệch chính thâm hụt ngân sách. Trường hợp
ngược lại, khi các khoản thu lớn hơn các khoản chi được gọi thặng dư
ngân sách. Thu của chính phủ không bao gồm khoản đi vay. Đi vay chính
một cách chính phủ tài trợ cho thâm hụt ngân ch. Trong lịch sử, phát
hành thêm tiền đã từng một cách tài trợ cho thâm hụt ngân sách, nhưng do
hậu quả nghiêm trọng của dẫn đến lạm phát mức cao nên ngày nay
cách này hầu như không được chính phủ của bất cứ quốc gia nào sử dụng
nữa. Do chính phủ bù đắp cho thâm hụt ngân ch bằng ch đi vay, nên lũy
kế các khoản thâm hụt ngân sách chính phủ đến một thời điểm nào đó chính
nợ chính phủ. Về mặt tài chính, thâm hụt xảy ra khi chi phí vượt quá doanh
thu, nhập khẩu vượt xuất khẩu, hoặc nợ phải trả vượt quá tài sản. Thâm hụt
đồng nghĩa với thiếu hụt hoặc thua lỗ ngược lại với thặng dư. Thâm hụt
thể xảy ra khi chính phủ, công ty hoặc nhân chi tiêu nhiều hơn số tiền họ
nhận được trong một khoảng thời gian nhất định, thường một năm.
Ngân ch thường bao gồm một danh mục c chương trình cụ thể (giáo dục,
phúc lợi, quốc phòng) cũng như các nguồn thuế (thuế thu nhập nhân, thuế
tiêu thụ đặc biệt). Theo P. A Samuelson, ngân sách Chính ph phục vụ ba
chức năng kinh tế chính. Thứ nhất, ngân sách Chính phủ một công cụ theo
đó sản lượng quốc gia được phân chia giữa tiêu dùng đầu nhân
công cộng. Thứ hai, thông qua chi tiêu trực tiếp các khuyến khích gián tiếp
về thuế, ngân ch của Chính phủ tác động đến các cung đầu vào như lao
động, vốn tác động đến đầu ra của hầu hết các khu vực trong nền kinh tế.
Thứ ba, chính ch tài khóa hay ngân sách của Chính phủ vai trò trong
việc tác động đến những mục tiêu then chốt. Chính sách tài khóa hay
Ngân sách của Chính phủ chính quá trình xây dựng thuế khóa chi tiêu
công cộng nhằm hạn chế những dao động của chu kỳ kinh doanh góp
phần duy trì một nền kinh tế tăng trưởng, mức hữu nghiệp cao, tránh được
lạm phát lớn hay lạm phát không ổn định. Chính phủ thể điều chỉnh ngân
sách hay chính sách tài khóa bằng cách thay đổi thuế suất hoặc các chương
trình chi tiêu, còn được gọi chính sách tài khóa tùy biến. Bên cạnh đó, bản
thân hệ thống tài khóa hiện đại còn những tính chất ổn định tự động.
chế ổn định tự động chủ yếu những thay đổi tự động trong doanh thu thuế
thanh toán chuyển nhượng trước những biến động của nền kinh tế. Quan
điểm của c nhà kinh tế học trường phái Keynes rất xem trọng vai trò của
chính sách tài khóa đối với nền kinh tế, đặc biệt trong thời kỳ khủng hoảng
hay trì trệ. thuyết của trường phái Keynes nhấn mạnh đến vai trò của chi
tiêu Chính phủ nhằm ch cầu, thông qua hiệu ứng số nhân đưa nền kinh tế
thoát khỏi khủng hoảng. Tuy nhiên, thực tiễn cho thấy chính sách tài khóa
không phải lúc nào cũng hoạt động tốt như trong thuyết không phải lúc
nào cũng thể hạn chế những tác động tiêu cực của chu kỳ kinh doanh.
Hơn nữa, chính sách tiền tệ đã trở thành một công cụ được ưa thích hơn đ
điều hòa những dao động của nền kinh tế hiện đại. Mặc vậy, bất cứ công
cụ chính sách nào cũng những ưu điểm hạn chế nhất định của nó, bao
gồm cả chính sách tài khóa chính ch tiền tệ. Do vậy, các giáo trình kinh
tế học hiện đại đều quan tâm đến sự kết hợp hiệu quả của các chính sách để
thực hiện các mục tiêu của nền kinh tế.
dụ: Thâm hụt ngân sách liên bang ngày nay Hoa Kỳ. Vào tháng 9 năm
2020, Văn phòng Ngân sách Quốc hội (CBO) dự kiến thâm hụt ngân
sách liên bang 3,3 nghìn tỷ đô la cho năm 2020, cao hơn gấp ba lần thâm
hụt cho năm 2019. Sự gia tăng này, CBO giải thích, "phần lớn kết quả của
sự gián đoạn kinh tế gây ra vào năm 2020. đại dịch coronavirus việc ban
hành luật pháp để ứng phó. " CBO nói thêm rằng thâm hụt ngân sách 3,3
nghìn tỷ USD sẽ bằng 16% tổng sản phẩm quốc nội (GDP) của đất nước,
khiến nước này trở thành mức thâm hụt hàng năm lớn nhất kể từ năm 1945,
năm cuối cùng của Thế chiến thứ hai. Về nợ quốc gia, CBO dự kiến rằng
vào cuối năm 2020, nợ liên bang do công chúng nắm giữ (ch không phải
chính phủ) sẽ đạt 98% GDP, so với 79% vào cuối năm 2019. Đối mục đích so
sánh, trước khi bắt đầu cuộc Đại suy thoái năm 2007, mức 35% GDP.
Tại thời điểm này, CBO ng dự đoán rằng nợ sẽ đạt 107% GDP vào năm
2023, mức cao nhất trong lịch sử quốc gia. Các doanh nghiệp thể điều
hành thâm hụt ngân sách để tối đa hóa hội thu nhập trong tương lai,
chẳng hạn như giữ nhân viên trong những tháng thấp điểm để đảm bảo lực
lượng lao động đầy đủ trong thời gian bận rộn hơn. Ngoài ra, một số chính
phủ thể bị thâm hụt để tài trợ cho các dự án công cộng duy trì các
chương trình cho công dân của họ. Trong thời kỳ suy thoái, chính phủ thể
cố nh thâm hụt bằng ch giảm c nguồn thu nhập (chẳng hạn như thuế),
trong khi duy trì hoặc thậm chí ng chi tiêu cho sở hạ tầng, để cung cấp
việc làm thu nhập. Theo thuyết, những biện pháp này sẽ thúc đẩy sức
mua của cộng đồng, kích thích nền kinh tế phát triển.
1.2 Phân loại
Các thuyết kinh tế học hiện đại cho rằng: NSNN không nhất thiết lúc nào
cũng phải thăng bằng. Vấn đề quản thu chi sao cho ngân sách không bị
thâm hụt quá lớn kéo dài. Khi nền kinh tế vận động theo chu kỳ thì chính
chu kỳ kinh doanh tác động không nhỏ đến thâm hụt ngân sách Nhà nước.
Thường thì thu ngân sách Nhà nước tăng lên trong thời kỳ nền kinh tế phồn
thịnh (giai đoạn mở rộng) giảm đi trong thời kỳ suy thoái. Ngược lại chi
ngân sách Nhà ớc tăng trong thời kỳ suy thoái giảm trong thời kỳ phồn
thịnh. Chính vậy thâm hụt ngân sách Nhà nước càng trầm trọng trong
thời kỳ suy thoái, bất chấp mọi cố gắng của chính phủ.
Hai loại thâm hụt chính một quốc gia th gánh chịu thâm hụt ngân
sách thâm hụt thương mại.
Thâm hụt ngân sách
Thâm hụt ngân sách xảy ra khi một năm Chính phủ chi tiêu nhiều hơn số thu
ngân sách thu được, chẳng hạn như thuế. Ví dụ đơn giản, nếu một chính phủ
đạt doanh thu 10 tỷ đô la trong một năm cụ thể chi tiêu của họ trong cùng
năm 12 tỷ đô la, thì chính phủ đó đang thâm hụt 2 tỷ đô la. Thâm hụt đó,
cộng với những năm trước đó, tạo thành nợ quốc gia của đất nước.
Thâm hụt thương mại
Thâm hụt thương mại tồn tại khi giá trị hàng hóa nhập khẩu của một quốc gia
vượt q giá trị hàng a xuất khẩu của quốc gia đó. dụ, nếu một quốc gia
nhập khẩu 3 tỷ đô la hàng hóa nhưng chỉ xuất khẩu tr giá 2 t đô la, thì quốc
gia đó nhập siêu 1 tỷ đô la cho năm đó. Trên thực tế, nhiều tiền rời khỏi đất
nước hơn đổ vào, điều này thể gây ra sự sụt giảm giá trị của đồng tiền
cũng như giảm việc làm.
Điều khoản thâm hụt khác: Cùng với thâm hụt ngân sách thương mại, đây
một số điều khoản khác liên quan đến thâm hụt bạn thể gặp phải:
Thâm hụt tài khoản vãng lai (Current account deficit) khi một quốc gia
nhập khẩu nhiều hàng hóa dịch vụ hơn xuất khẩu.
Thâm hụt theo chu kỳ (Cyclical deficit) xảy ra khi một nền kinh tế hoạt động
không tốt do chu kỳ kinh doanh đi xuống.
Tài trợ thâm hụt (Deficit financing) đề cập đến các phương pháp chính
phủ sử dụng để tài trợ cho thâm hụt ngân sách của họ chẳng hạn n phát
hành trái phiếu hoặc in thêm tiền.
Thâm hụt chi tiêu (Deficit spending) khi chính phủ chi tiêu nhiều hơn
doanh thu họ thu được trong một thời kỳ nhất định.
Thâm hụt tài khóa (Fiscal deficit) xảy ra khi tổng chi tiêu của chính phủ vượt
quá doanh thu chính phủ tạo ra, không bao gồm tiền từ việc đi vay.
Thâm hụt chính (Primary deficit) thâm hụt tài chính cho năm hiện tại trừ đi
các khoản trả lãi cho các khoản vay trước đó.
Thâm hụt doanh thu (Revenue deficit) tả sự thiếu hụt của tổng thu nhập
so với tổng thu chi cho một chính phủ.
Thâm hụt cấu (Structural deficit) được cho xảy ra khi một quốc gia
thâm hụt ngay cả khi nền kinh tế của họ đang hoạt động hết khả năng.
Thâm hụt kép (Twin deficit) xảy ra khi một nền kinh tế vừa thâm hụt tài khóa
vừa thâm hụt tài khoản vãng lai.
Tài chính công hiện đại phân loại thâm hụt ngân sách thành hai loại: thâm hụt
cấu thâm hụt chu kỳ.
Thâm hụt cấu các khoản thâm hụt được quyết định bởi những chính
sách tùy biến của chính phủ như quy định thuế suất, trợ cấp bảo hiểm hội
hay quy chi tiêu cho giáo dục, quốc phòng,...
Thâm hụt chu kỳ các khoản thâm hụt gây ra bởi tình trạng của chu kỳ
kinh tế, nghĩa bởi mức độ cao hay thấp của sản lượng thu nhập quốc
dân. dụ khi nền kinh tế suy thoái, tỷ lệ thất nghiệp tăng sẽ dẫn đến thu
ngân sách từ thuế giảm xuống trong khi chi ngân ch cho trợ cấp thất
nghiệp tăng lên. G trị tính ra tiền của thâm hụt cấu thâm hụt chu kỳ
được tính toán như sau:
+ Ngân sách thực có: liệt các khoản thu, chi thâm hụt tính bằng tiền
trong một giai đoạn nhất định (thường một quý hoặc một năm).
+ Ngân sách cấu: tính toán thu, chi thâm hụt của chính phủ sẽ là bao
nhiêu nếu nền kinh tế đạt mức sản lượng tiềm năng.
+ Ngân sách chu kỳ: chênh lệch giữa ngân sách thực ngân sách
cấu.
Việc phân biệt giữa ngân sách cấu ngân sách chu kỳ phản ánh sự khác
nhau giữa chính sách tài chính: chính sách ổn định tùy biến chính sách n
định tự động. Việc phân biệt hai loại thâm hụt trên đây tác dụng quan trọng
trong việc đánh giá ảnh hưởng thực sự của chính sách tài chính khi thực hiện
chính sách tài chính m rộng hay thắt chặt sẽ nh hưởng đến thâm hụt ngân
sách như thế nào giúp cho chính phủ những biện pháp điều chỉnh chính
sách hợp trong từng giai đoạn của chu kỳ kinh tế
2. Cách xác định thâm hụt ngân ch
Thâm hụt ngân sách (budget decifit) là tình hình trong đó tổng chi tiêu ợt
quá tổng thu nhập hay nguồn thu ngân sách. Khái niệm này thường được
dùng đ chỉ tình trạng tổng nguồn thu t thuế của chính phủ không đủ để đáp
ứng nhu cầu chi tiêu của chính phủ. Nếu hiệu thâm hụt ngân sách của
chính phủ BD, tổng nguồn thu của chính phủ T tổng mức chi tiêu của
chính phủ G, chúng ta thể viết:
BD = G -T
BD < 0: Thặng ngân sách Nhà nước
BD = 0: Ngân sách Nhà nước cân bằng
BD > 0: Thâm hụt ngân sách Nhà nước
Tùy vào tình hình kinh tế các sự kiện khác nhau, thu chi thực tế thể
lớn hoặc nh hơn so với dự kiến. Khi lâm vào tình trạng thâm hụt ngân sách
thì chính phủ phải đi vay công chúng để trả cho những khoản nợ của mình.
mức thu ròng từ thuế (T = Te + Td - TR) của chính phủ phụ thuộc vào thu
nhập (T - tY, trong đó t thuế suất bình quân), còn mức chi tiêu của chính
phủ một đại lượng không phụ thuộc vào thu nhập (Y) của nền kinh tế (G =
G ), nên thâm hụt ngân sách thể biểu thị bằng phương trình:
BD = G - tY
Phương trình này cho thấy thâm hụt ngân sách thể phát sinh một cách
khách quan (khi thu nhập Y của nền kinh tế giảm xuống dưới một mức nào
đó), chứ không phải chỉ phụ thuộc vào chính phủ (tức việc chính phủ quyết
định mức chi tiêu thuế suất bình quân). Để chi tiêu đánh giá mức thâm
hụt hoàn toàn do Yếu t chủ quan của chính phủ gây ra, người ta dùng chi
tiêu thâm hụt ngân sách toàn dụng (với Y = y*. trong đó y* sản lượng toàn
dụng).
3. Ảnh hưởng thâm hụt ngân sách đến nền kinh tế
Thâm hụt ngân sách một trong những vấn đề gây nhiều tác động phức tạp
đối với nền kinh tế. Như đã nói phần trên, thâm hụt ngân sách sẽ dấn đến
việc Chính phủ phải vay nợ để tài trợ cho khoản thâm hụt ngân sách này.
vậy xem tác động của thâm hụt ngân sách đối với nền kinh tế không thể bỏ
qua tác động của n Chính phủ do thâm hụt ngân sách gây nên. Theo P.A
Sam-uelson, xét trong ngắn hạn, trữ lượng n của Chính phủ cho trước
sản lượng thực tế thể dao động quanh mức sản lượng tiềm năng của nó.
Tác động ngắn hạn của thâm hụt ngân sác đối với nền kinh tế được gọi sự
"thoái giảm" trong đầu nhân. Trong i hạn, nợ Chính phủ thay đổi tùy
theo c đường lối tài khóa tiền tệ khác nhau, còn sản lượng xu hướng
tiến tới mức tiềm năng của nó. Tác động dài hạn của thâm hụt ngân sách bao
gồm tác động của nợ Chính phủ đối với sự tạo vốn tiêu dùng của các thế
hệ tương lai, được gọi "gánh nặng nợ nần" đối với nền kinh tế.
Thâm hụt ngân sách thể ảnh hưởng đến nền kinh tế theo nhiều cách như:
Làm giảm đầu nhân: Khi chính phủ vay nợ để tài trợ thâm hụt ngân
sách, sẽ làm giảm nguồn tiết kiệm của hội làm tăng lãi suất. Điều này
sẽ làm giảm khả năng động lực của các nhà đầu nhân, gây ra hiện
tượng “đuổi vốn” (crowding out).
Làm giảm giá trị đồng tiền: Khi chính phủ in thêm tiền để tài trợ thâm hụt
ngân sách, sẽ làm ng lượng tiền lưu thông trong nền kinh tế làm giảm
giá trị của đồng tiền. Điều này sẽ làm tăng tỷ giá hối đoái làm mất cạnh
tranh của hàng hóa xuất khẩu.
Làm tăng nợ ng: Khi chính phủ vay nợ để tài trợ thâm hụt ngân sách, sẽ
làm tăng mức nợ công của quốc gia. Điều này sẽ làm giảm độ tin cậy của các
nhà đầu các tổ chức quốc tế, làm tăng chi phí vay gánh nặng trả nợ
cho chính phủ
Theo dự toán của Chính phủ, thu ngân sách năm 2021 1.343,33 nghìn tỷ
đồng, tăng 1,5% so với ước thực hiện năm 2020, giảm 11,1% so với dự toán
năm 2020; tỷ l huy động o ngân sách khoảng 15,5%GDP điều chỉnh, trong
đó từ thuế, phí khoảng 13%GDP (tương ứng 16,6% nếu tính theo quy
GDP chưa điều chỉnh; thấp hơn tỷ lệ 21% của mục tiêu giai đoạn 2016-
2020). Dự toán chi cân đối ngân sách năm 2021 1.687.000 tỷ đồng, thấp
hơn 60,1 nghìn tỷ đồng (-3,4%) so với dự toán năm 2020. Dự toán chi đầu
phát triển năm 2021 477,3 nghìn tỷ đồng, chiếm 28,3% tổng chi ngân sách,
tăng 6,7 nghìn tỷ đồng so với dự toán năm 2020. Chính phủ dự kiến tỷ lệ bội
chi năm 2021 khoảng 4%GDP điều chỉnh (tương ứng khoảng 5% nếu tính
theo quy GDP chưa điều chỉnh), thâm hụt ngân sách là 343,67 nghìn tỷ
đồng, tăng 108,87 nghìn tỷ đồng so với dự toán năm 2020; nợ công d kiến
khoảng 46,1%GDP điều chỉnh nợ Chính phủ 41,9%GDP điều chỉnh (tương
ứng khoảng 59,6% 53,2% nếu tính theo quy GDP chưa điều chỉnh).
Thâm hụt ngân sách nợ công cao n hiện nay một trong những rủi ro
mô lớn nhất của nền kinh tế, đồng thời làm hạn chế các lựa chọn của
Chính phủ trong việc đưa nền kinh tế thoát khỏi vũng trũng suy giảm tiến
vào quỹ đạo tăng trưởng mới. khu vực tài chính ngân sách, các chuyên gia
kinh tế đã phân tích, Việt Nam vẫn trong nh trạng mức mất cân bằng
ngân sách cao so với các nước trong khu vực. Thâm hụt ngân sách cao qua
các năm đã khiến nợ công gia tăng so với nhiều nước đang phát triển thì
Việt Nam thuộc nhóm tỷ lệ nợ công cao. Để cải thiện tình trạng này, Chính
phủ cần tăng cường chính sách trọng cung, phát triển kinh tế nhân. Khu
vực kinh tế nhân không chỉ được coi một động lực quan trọng, cần
khẳng định động lực bản, trụ cột chính nhằm tạo ra được những bứt
phá trong phát triển kinh tế phù hợp với xu thế của nền kinh tế thị trường hiện
đại trong bối cảnh đẩy nhanh hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu rộng.
Bên cạnh đó, cần thay đổi chính sách ưu đãi cho khu vực FDI. Cụ thể giảm
dần việc áp dụng nh thức ưu đãi về thời gian miễn thuế, giảm thuế một
cách tràn lan, “xé rào” các địa phương; soát lại toàn bộ c quy định
pháp về ưu đãi thuế đối với c dòng vốn FDI kém chất lượng. Ngoài ra,
cần tăng cường khả ng chống đỡ tốt hơn những sốc từ bên ngoài. Đồng
thời, cần cải cách hệ thống thuế nhằm giảm bớt gánh nặng thuế khóa, tạo
nguồn thu ngân sách ổn định n bằng. Đặc biệt cần cấu lại chi ngân
sách theo hướng ổn định gia tăng hiệu quả đầu phát triển, chỉ bố trí vốn
từ ngân sách nhà nước cho những công trình thật sự cần thiết, hiệu quả
cao, đồng thời kiểm soát chặt chẽ đầu công nhằm chống dàn trải, lãng phí,
thất thoát, tham nhũng…

Preview text:

Thâm hụt ngân sách (budget decifit) là gì ?
1. Thâm hụt ngân sách là gì?
1.1 Một số thuật ngữ liên quan
Ngân sách Nhà nước là tổng các kế hoạch hàng năm về chi tiêu và thu nhập của Chính phủ.
Thặng dư ngân sách Nhà nước là khi tất cả các loại thuế và các nguồn thu
khác lớn hơn chi tiêu chính phủ trong một năm.
Ngân sách cân bằng khi số thu và số chi của chính phủ bằng nhau trong một giai đoạn nhất định.
Nợ chính phủ (nợ công) là tổng những khoản vay hay tổng các khoản nợ tồn
của chính phủ. Nợ trong nước là nợ của chính phủ một nước đối với công
dân của nước đó. Nợ nước ngoài là nợ của chính phủ đối với người nước ngoài.
Thâm hụt ngân sách trong tiếng Anh gọi là Budget deficit. Thâm hụt ngân
sách Nhà nước là tình trạng chi tiêu vượt quá nguồn thu ngân sách Nhà nước,
phần chênh lệch gọi là thâm hụt ngân sách Nhà nước.
Thâm hụt ngân sách trong kinh tế học vĩ mô và kinh tế học công cộng là tình
trạng các khoản chi của ngân sách Nhà nước (ngân sách chính phủ) lớn hơn
các khoản thu, phần chênh lệch chính là thâm hụt ngân sách. Trường hợp
ngược lại, khi các khoản thu lớn hơn các khoản chi được gọi là thặng dư
ngân sách. Thu của chính phủ không bao gồm khoản đi vay. Đi vay chính là
một cách mà chính phủ tài trợ cho thâm hụt ngân sách. Trong lịch sử, phát
hành thêm tiền đã từng là một cách tài trợ cho thâm hụt ngân sách, nhưng do
hậu quả nghiêm trọng của nó là dẫn đến lạm phát ở mức cao nên ngày nay
cách này hầu như không được chính phủ của bất cứ quốc gia nào sử dụng
nữa. Do chính phủ bù đắp cho thâm hụt ngân sách bằng cách đi vay, nên lũy
kế các khoản thâm hụt ngân sách chính phủ đến một thời điểm nào đó chính
là nợ chính phủ. Về mặt tài chính, thâm hụt xảy ra khi chi phí vượt quá doanh
thu, nhập khẩu vượt xuất khẩu, hoặc nợ phải trả vượt quá tài sản. Thâm hụt
đồng nghĩa với thiếu hụt hoặc thua lỗ và ngược lại với thặng dư. Thâm hụt có
thể xảy ra khi chính phủ, công ty hoặc cá nhân chi tiêu nhiều hơn số tiền họ
nhận được trong một khoảng thời gian nhất định, thường là một năm.
Ngân sách thường bao gồm một danh mục các chương trình cụ thể (giáo dục,
phúc lợi, quốc phòng) cũng như các nguồn thuế (thuế thu nhập cá nhân, thuế
tiêu thụ đặc biệt). Theo P. A Samuelson, ngân sách Chính phủ phục vụ ba
chức năng kinh tế chính. Thứ nhất, ngân sách Chính phủ là một công cụ theo
đó sản lượng quốc gia được phân chia giữa tiêu dùng và đầu tư tư nhân và
công cộng. Thứ hai, thông qua chi tiêu trực tiếp và các khuyến khích gián tiếp
về thuế, ngân sách của Chính phủ tác động đến các cung đầu vào như lao
động, vốn và tác động đến đầu ra của hầu hết các khu vực trong nền kinh tế.
Thứ ba, chính sách tài khóa hay ngân sách của Chính phủ có vai trò trong
việc tác động đến những mục tiêu vĩ mô then chốt. Chính sách tài khóa hay
Ngân sách của Chính phủ chính là quá trình xây dựng thuế khóa và chi tiêu
công cộng nhằm hạn chế những dao động của chu kỳ kinh doanh và góp
phần duy trì một nền kinh tế tăng trưởng, có mức hữu nghiệp cao, tránh được
lạm phát lớn hay lạm phát không ổn định. Chính phủ có thể điều chỉnh ngân
sách hay chính sách tài khóa bằng cách thay đổi thuế suất hoặc các chương
trình chi tiêu, còn được gọi là chính sách tài khóa tùy biến. Bên cạnh đó, bản
thân hệ thống tài khóa hiện đại còn có những tính chất ổn định tự động. Cơ
chế ổn định tự động chủ yếu là những thay đổi tự động trong doanh thu thuế
và thanh toán chuyển nhượng trước những biến động của nền kinh tế. Quan
điểm của các nhà kinh tế học trường phái Keynes rất xem trọng vai trò của
chính sách tài khóa đối với nền kinh tế, đặc biệt trong thời kỳ khủng hoảng
hay trì trệ. Lý thuyết của trường phái Keynes nhấn mạnh đến vai trò của chi
tiêu Chính phủ nhằm kích cầu, thông qua hiệu ứng số nhân đưa nền kinh tế
thoát khỏi khủng hoảng. Tuy nhiên, thực tiễn cho thấy chính sách tài khóa
không phải lúc nào cũng hoạt động tốt như trong lý thuyết và không phải lúc
nào cũng có thể hạn chế những tác động tiêu cực của chu kỳ kinh doanh.
Hơn nữa, chính sách tiền tệ đã trở thành một công cụ được ưa thích hơn để
điều hòa những dao động của nền kinh tế hiện đại. Mặc dù vậy, bất cứ công
cụ chính sách nào cũng có những ưu điểm và hạn chế nhất định của nó, bao
gồm cả chính sách tài khóa và chính sách tiền tệ. Do vậy, các giáo trình kinh
tế học hiện đại đều quan tâm đến sự kết hợp hiệu quả của các chính sách để
thực hiện các mục tiêu vĩ mô của nền kinh tế.
Ví dụ: Thâm hụt ngân sách liên bang ngày nay ở Hoa Kỳ. Vào tháng 9 năm
2020, Văn phòng Ngân sách Quốc hội (CBO) dự kiến ​ ​ thâm hụt ngân
sách liên bang là 3,3 nghìn tỷ đô la cho năm 2020, cao hơn gấp ba lần thâm
hụt cho năm 2019. Sự gia tăng này, CBO giải thích, "phần lớn là kết quả của
sự gián đoạn kinh tế gây ra vào năm 2020. đại dịch coronavirus và việc ban
hành luật pháp để ứng phó. " CBO nói thêm rằng thâm hụt ngân sách 3,3
nghìn tỷ USD sẽ bằng 16% tổng sản phẩm quốc nội (GDP) của đất nước,
khiến nước này trở thành mức thâm hụt hàng năm lớn nhất kể từ năm 1945,
năm cuối cùng của Thế chiến thứ hai. Về nợ quốc gia, CBO dự kiến ​ ​ rằng
vào cuối năm 2020, nợ liên bang do công chúng nắm giữ (chứ không phải
chính phủ) sẽ đạt 98% GDP, so với 79% vào cuối năm 2019. Đối mục đích so
sánh, trước khi bắt đầu cuộc Đại suy thoái năm 2007, nó ở mức 35% GDP.
Tại thời điểm này, CBO cũng dự đoán rằng nợ sẽ đạt 107% GDP vào năm
2023, mức cao nhất trong lịch sử quốc gia. Các doanh nghiệp có thể điều
hành thâm hụt ngân sách để tối đa hóa cơ hội thu nhập trong tương lai,
chẳng hạn như giữ nhân viên trong những tháng thấp điểm để đảm bảo lực
lượng lao động đầy đủ trong thời gian bận rộn hơn. Ngoài ra, một số chính
phủ có thể bị thâm hụt để tài trợ cho các dự án công cộng và duy trì các
chương trình cho công dân của họ. Trong thời kỳ suy thoái, chính phủ có thể
cố tình thâm hụt bằng cách giảm các nguồn thu nhập (chẳng hạn như thuế),
trong khi duy trì hoặc thậm chí tăng chi tiêu cho cơ sở hạ tầng, để cung cấp
việc làm và thu nhập. Theo lý thuyết, những biện pháp này sẽ thúc đẩy sức
mua của cộng đồng, kích thích nền kinh tế phát triển. 1.2 Phân loại
Các lý thuyết kinh tế học hiện đại cho rằng: NSNN không nhất thiết lúc nào
cũng phải thăng bằng. Vấn đề là quản lý thu chi sao cho ngân sách không bị
thâm hụt quá lớn và kéo dài. Khi nền kinh tế vận động theo chu kỳ thì chính
chu kỳ kinh doanh tác động không nhỏ đến thâm hụt ngân sách Nhà nước.
Thường thì thu ngân sách Nhà nước tăng lên trong thời kỳ nền kinh tế phồn
thịnh (giai đoạn mở rộng) và giảm đi trong thời kỳ suy thoái. Ngược lại chi
ngân sách Nhà nước tăng trong thời kỳ suy thoái và giảm trong thời kỳ phồn
thịnh. Chính vì vậy mà thâm hụt ngân sách Nhà nước càng trầm trọng trong
thời kỳ suy thoái, bất chấp mọi cố gắng của chính phủ.
Hai loại thâm hụt chính mà một quốc gia có thể gánh chịu là thâm hụt ngân
sách và thâm hụt thương mại. – Thâm hụt ngân sách
Thâm hụt ngân sách xảy ra khi một năm Chính phủ chi tiêu nhiều hơn số thu
ngân sách thu được, chẳng hạn như thuế. Ví dụ đơn giản, nếu một chính phủ
đạt doanh thu 10 tỷ đô la trong một năm cụ thể và chi tiêu của họ trong cùng
năm là 12 tỷ đô la, thì chính phủ đó đang thâm hụt 2 tỷ đô la. Thâm hụt đó,
cộng với những năm trước đó, tạo thành nợ quốc gia của đất nước. – Thâm hụt thương mại
Thâm hụt thương mại tồn tại khi giá trị hàng hóa nhập khẩu của một quốc gia
vượt quá giá trị hàng hóa xuất khẩu của quốc gia đó. Ví dụ, nếu một quốc gia
nhập khẩu 3 tỷ đô la hàng hóa nhưng chỉ xuất khẩu trị giá 2 tỷ đô la, thì quốc
gia đó nhập siêu 1 tỷ đô la cho năm đó. Trên thực tế, nhiều tiền rời khỏi đất
nước hơn là đổ vào, điều này có thể gây ra sự sụt giảm giá trị của đồng tiền cũng như giảm việc làm.
Điều khoản thâm hụt khác: Cùng với thâm hụt ngân sách và thương mại, đây
là một số điều khoản khác liên quan đến thâm hụt mà bạn có thể gặp phải:
– Thâm hụt tài khoản vãng lai (Current account deficit) là khi một quốc gia
nhập khẩu nhiều hàng hóa và dịch vụ hơn xuất khẩu.
– Thâm hụt theo chu kỳ (Cyclical deficit) xảy ra khi một nền kinh tế hoạt động
không tốt do chu kỳ kinh doanh đi xuống.
– Tài trợ thâm hụt (Deficit financing) đề cập đến các phương pháp mà chính
phủ sử dụng để tài trợ cho thâm hụt ngân sách của họ – chẳng hạn như phát
hành trái phiếu hoặc in thêm tiền.
– Thâm hụt chi tiêu (Deficit spending) là khi chính phủ chi tiêu nhiều hơn
doanh thu mà họ thu được trong một thời kỳ nhất định.
– Thâm hụt tài khóa (Fiscal deficit) xảy ra khi tổng chi tiêu của chính phủ vượt
quá doanh thu mà chính phủ tạo ra, không bao gồm tiền từ việc đi vay.
– Thâm hụt chính (Primary deficit) là thâm hụt tài chính cho năm hiện tại trừ đi
các khoản trả lãi cho các khoản vay trước đó.
– Thâm hụt doanh thu (Revenue deficit) mô tả sự thiếu hụt của tổng thu nhập
so với tổng thu chi cho một chính phủ.
– Thâm hụt cơ cấu (Structural deficit) được cho là xảy ra khi một quốc gia
thâm hụt ngay cả khi nền kinh tế của họ đang hoạt động hết khả năng.
– Thâm hụt kép (Twin deficit) xảy ra khi một nền kinh tế vừa thâm hụt tài khóa
vừa thâm hụt tài khoản vãng lai.
Tài chính công hiện đại phân loại thâm hụt ngân sách thành hai loại: thâm hụt
cơ cấu và thâm hụt chu kỳ.
– Thâm hụt cơ cấu là các khoản thâm hụt được quyết định bởi những chính
sách tùy biến của chính phủ như quy định thuế suất, trợ cấp bảo hiểm xã hội
hay quy mô chi tiêu cho giáo dục, quốc phòng,...
– Thâm hụt chu kỳ là các khoản thâm hụt gây ra bởi tình trạng của chu kỳ
kinh tế, nghĩa là bởi mức độ cao hay thấp của sản lượng và thu nhập quốc
dân. Ví dụ khi nền kinh tế suy thoái, tỷ lệ thất nghiệp tăng sẽ dẫn đến thu
ngân sách từ thuế giảm xuống trong khi chi ngân sách cho trợ cấp thất
nghiệp tăng lên. Giá trị tính ra tiền của thâm hụt cơ cấu và thâm hụt chu kỳ được tính toán như sau:
+ Ngân sách thực có: liệt kê các khoản thu, chi và thâm hụt tính bằng tiền
trong một giai đoạn nhất định (thường là một quý hoặc một năm).
+ Ngân sách cơ cấu: tính toán thu, chi và thâm hụt của chính phủ sẽ là bao
nhiêu nếu nền kinh tế đạt mức sản lượng tiềm năng.
+ Ngân sách chu kỳ: là chênh lệch giữa ngân sách thực có và ngân sách cơ cấu.
Việc phân biệt giữa ngân sách cơ cấu và ngân sách chu kỳ phản ánh sự khác
nhau giữa chính sách tài chính: chính sách ổn định tùy biến và chính sách ổn
định tự động. Việc phân biệt hai loại thâm hụt trên đây có tác dụng quan trọng
trong việc đánh giá ảnh hưởng thực sự của chính sách tài chính khi thực hiện
chính sách tài chính mở rộng hay thắt chặt sẽ ảnh hưởng đến thâm hụt ngân
sách như thế nào giúp cho chính phủ có những biện pháp điều chỉnh chính
sách hợp lý trong từng giai đoạn của chu kỳ kinh tế
2. Cách xác định thâm hụt ngân sách
Thâm hụt ngân sách (budget decifit) là tình hình trong đó tổng chi tiêu vượt
quá tổng thu nhập hay nguồn thu ngân sách. Khái niệm này thường được
dùng để chỉ tình trạng tổng nguồn thu từ thuế của chính phủ không đủ để đáp
ứng nhu cầu chi tiêu của chính phủ. Nếu ký hiệu thâm hụt ngân sách của
chính phủ là BD, tổng nguồn thu của chính phủ là T và tổng mức chi tiêu của
chính phủ là G, chúng ta có thể viết: BD = G -T
BD < 0: Thặng dư ngân sách Nhà nước
BD = 0: Ngân sách Nhà nước cân bằng
BD > 0: Thâm hụt ngân sách Nhà nước
Tùy vào tình hình kinh tế và các sự kiện khác nhau, thu và chi thực tế có thể
lớn hoặc nhỏ hơn so với dự kiến. Khi lâm vào tình trạng thâm hụt ngân sách
thì chính phủ phải đi vay công chúng để trả cho những khoản nợ của mình.
Vì mức thu ròng từ thuế (T = Te + Td - TR) của chính phủ phụ thuộc vào thu
nhập (T - tY, trong đó t là thuế suất bình quân), còn mức chi tiêu của chính
phủ là một đại lượng không phụ thuộc vào thu nhập (Y) của nền kinh tế (G =
G ), nên thâm hụt ngân sách có thể biểu thị bằng phương trình: BD = G - tY
Phương trình này cho thấy thâm hụt ngân sách có thể phát sinh một cách
khách quan (khi thu nhập Y của nền kinh tế giảm xuống dưới một mức nào
đó), chứ không phải chỉ phụ thuộc vào chính phủ (tức việc chính phủ quyết
định mức chi tiêu và thuế suất bình quân). Để có chi tiêu đánh giá mức thâm
hụt hoàn toàn do Yếu tố chủ quan của chính phủ gây ra, người ta dùng chi
tiêu thâm hụt ngân sách toàn dụng (với Y = y*. trong đó y* là sản lượng toàn dụng).
3. Ảnh hưởng thâm hụt ngân sách đến nền kinh tế
Thâm hụt ngân sách là một trong những vấn đề gây nhiều tác động phức tạp
đối với nền kinh tế. Như đã nói ở phần trên, thâm hụt ngân sách sẽ dấn đến
việc Chính phủ phải vay nợ để tài trợ cho khoản thâm hụt ngân sách này. Vì
vậy xem tác động của thâm hụt ngân sách đối với nền kinh tế không thể bỏ
qua tác động của nợ Chính phủ do thâm hụt ngân sách gây nên. Theo P.A
Sam-uelson, xét trong ngắn hạn, trữ lượng nợ của Chính phủ là cho trước và
sản lượng thực tế có thể dao động quanh mức sản lượng tiềm năng của nó.
Tác động ngắn hạn của thâm hụt ngân sác đối với nền kinh tế được gọi là sự
"thoái giảm" trong đầu tư tư nhân. Trong dài hạn, nợ Chính phủ thay đổi tùy
theo các đường lối tài khóa và tiền tệ khác nhau, còn sản lượng có xu hướng
tiến tới mức tiềm năng của nó. Tác động dài hạn của thâm hụt ngân sách bao
gồm tác động của nợ Chính phủ đối với sự tạo vốn và tiêu dùng của các thế
hệ tương lai, được gọi là "gánh nặng nợ nần" đối với nền kinh tế.
Thâm hụt ngân sách có thể ảnh hưởng đến nền kinh tế theo nhiều cách như:
– Làm giảm đầu tư tư nhân: Khi chính phủ vay nợ để tài trợ thâm hụt ngân
sách, sẽ làm giảm nguồn tiết kiệm của xã hội và làm tăng lãi suất. Điều này
sẽ làm giảm khả năng và động lực của các nhà đầu tư tư nhân, gây ra hiện
tượng “đuổi vốn” (crowding out).
– Làm giảm giá trị đồng tiền: Khi chính phủ in thêm tiền để tài trợ thâm hụt
ngân sách, sẽ làm tăng lượng tiền lưu thông trong nền kinh tế và làm giảm
giá trị của đồng tiền. Điều này sẽ làm tăng tỷ giá hối đoái và làm mất cạnh
tranh của hàng hóa xuất khẩu.
– Làm tăng nợ công: Khi chính phủ vay nợ để tài trợ thâm hụt ngân sách, sẽ
làm tăng mức nợ công của quốc gia. Điều này sẽ làm giảm độ tin cậy của các
nhà đầu tư và các tổ chức quốc tế, làm tăng chi phí vay và gánh nặng trả nợ cho chính phủ
Theo dự toán của Chính phủ, thu ngân sách năm 2021 là 1.343,33 nghìn tỷ
đồng, tăng 1,5% so với ước thực hiện năm 2020, giảm 11,1% so với dự toán
năm 2020; tỷ lệ huy động vào ngân sách khoảng 15,5%GDP điều chỉnh, trong
đó từ thuế, phí khoảng 13%GDP (tương ứng 16,6% nếu tính theo quy mô
GDP chưa điều chỉnh; thấp hơn tỷ lệ 21% của mục tiêu giai đoạn 2016-
2020). Dự toán chi cân đối ngân sách năm 2021 là 1.687.000 tỷ đồng, thấp
hơn 60,1 nghìn tỷ đồng (-3,4%) so với dự toán năm 2020. Dự toán chi đầu tư
phát triển năm 2021 là 477,3 nghìn tỷ đồng, chiếm 28,3% tổng chi ngân sách,
tăng 6,7 nghìn tỷ đồng so với dự toán năm 2020. Chính phủ dự kiến tỷ lệ bội
chi năm 2021 khoảng 4%GDP điều chỉnh (tương ứng khoảng 5% nếu tính
theo quy mô GDP chưa điều chỉnh), thâm hụt ngân sách là 343,67 nghìn tỷ
đồng, tăng 108,87 nghìn tỷ đồng so với dự toán năm 2020; nợ công dự kiến
khoảng 46,1%GDP điều chỉnh và nợ Chính phủ 41,9%GDP điều chỉnh (tương
ứng khoảng 59,6% và 53,2% nếu tính theo quy mô GDP chưa điều chỉnh).
Thâm hụt ngân sách và nợ công cao như hiện nay là một trong những rủi ro
vĩ mô lớn nhất của nền kinh tế, đồng thời làm hạn chế các lựa chọn của
Chính phủ trong việc đưa nền kinh tế thoát khỏi vũng trũng suy giảm và tiến
vào quỹ đạo tăng trưởng mới. Ở khu vực tài chính ngân sách, các chuyên gia
kinh tế đã phân tích, Việt Nam vẫn ở trong tình trạng có mức mất cân bằng
ngân sách cao so với các nước trong khu vực. Thâm hụt ngân sách cao qua
các năm đã khiến nợ công gia tăng và so với nhiều nước đang phát triển thì
Việt Nam thuộc nhóm có tỷ lệ nợ công cao. Để cải thiện tình trạng này, Chính
phủ cần tăng cường chính sách trọng cung, phát triển kinh tế tư nhân. Khu
vực kinh tế tư nhân không chỉ được coi là một động lực quan trọng, mà cần
khẳng định là động lực cơ bản, là trụ cột chính nhằm tạo ra được những bứt
phá trong phát triển kinh tế phù hợp với xu thế của nền kinh tế thị trường hiện
đại trong bối cảnh đẩy nhanh hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu rộng.
Bên cạnh đó, cần thay đổi chính sách ưu đãi cho khu vực FDI. Cụ thể là giảm
dần việc áp dụng hình thức ưu đãi về thời gian miễn thuế, giảm thuế một
cách tràn lan, “xé rào” ở các địa phương; rà soát lại toàn bộ các quy định
pháp lý về ưu đãi thuế đối với các dòng vốn FDI kém chất lượng. Ngoài ra,
cần tăng cường khả năng chống đỡ tốt hơn những cú sốc từ bên ngoài. Đồng
thời, cần cải cách hệ thống thuế nhằm giảm bớt gánh nặng thuế khóa, tạo
nguồn thu ngân sách ổn định và cân bằng. Đặc biệt cần cơ cấu lại chi ngân
sách theo hướng ổn định và gia tăng hiệu quả đầu tư phát triển, chỉ bố trí vốn
từ ngân sách nhà nước cho những công trình thật sự cần thiết, có hiệu quả
cao, đồng thời kiểm soát chặt chẽ đầu tư công nhằm chống dàn trải, lãng phí, thất thoát, tham nhũng…
Document Outline

  • Thâm hụt ngân sách (budget decifit) là gì ?
    • 1. Thâm hụt ngân sách là gì?
      • 1.1 Một số thuật ngữ liên quan
      • 1.2 Phân loại
    • 2. Cách xác định thâm hụt ngân sách
    • 3. Ảnh hưởng thâm hụt ngân sách đến nền kinh tế