Thay đổi lời khai trong quá trình điều tra làm
như thế nào?
1. Li khai ca ngưi tham gia t tng đưc hiu như thế
nào?
Theo quy định của pháp luật, lời khai đây được hiểu lời trình bày của bị
can, bị cáo, người bị hại, người bị tạm giam, tạm giữ, người làm chứng,
người quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án, nguyên đơn dân sự, bị
đơn dân sự trong vụ án hình sự người này đã thực hiện hành vi phạm tội
hoặc đã chứng kiến sự việc theo yêu cầu của quan điều tra, viện kiểm sát
Tòa án theo trình tự luật định nhằm giải quyết vụ án hình sự. Việc lấy lời
khai phải đảm bảo thực hiện theo đúng trình tự, thủ tục của pháp luật tố tụng
hình sự. Theo đó việc thu thập lời khai của bị can, bị cáo, người bị hại hoặc
những người liên quan khác đến tình tiết vụ án sẽ giúp cho quá trình điều
tra diễn ra một cách đúng đắn, đảm bảo tính khách quan.
Lời khai của người bị hại lời trình bày về những tình tiết của vụ án, quan hệ
giữa họ với người bị bắt, người bị tạm giữ, bị can, bị cáo. Những tình tiết do
người bị hại trình bày không được dùng làm chứng cứ, nếu họ không thể nói
sao họ biết được tình tiết đó. Lời khai của người bị bắt, bị tạm giữ lời
trình bày về những tình tiết liên quan đến việc họ bị tình nghỉ thực hiện tội
phạm. Lời khai của người làm chứng lời trình bày về những họ biết
về vụ án, nhân thân của bị can, bị cáo, người bị hại, quan hệ giữa họ với
người bị bắt, bị tạm giữ, bị hại. Những tình tiết do người làm chứng trình bày
sẽ không được dùng làm chứng cứ nếu họ không thể nói sao biết được
tình tiết đó. Lời khai của bị can, bị cáo lời trình bày về những tình tiết, diễn
biến vụ án, do đó lời nhận tội của bị can, bị cáo chỉ được coi chứng cứ nếu
phù hợp với những chứng cứ khác đã thu thập được trong vụ án.
2. Quy định v ly li khai.
Thẩm quyền lấy lời khai thuộc về Điều tra viên, kiểm sát viên thực hiện bằng
cách trực tiếp gặp hỏi người đã chứng kiến hoặc những thông tin về
các tình tiết về vụ án hình sự hoặc thông tin về người phạm tội. Mục đích lấy
lời khai của quan điều tra điều tra m ra sự thật khách quan liên
quan đến tội phạm. Để điều tra tìm ra sự thật khách quan thì quan điều
tra cần phải thực hiện đúng theo quy định pháp luật triệu tập người bị tố
giác, người liên quan, người làm chứng... Việc viết bản tự khai, lấy lời khai
hoặc lập biên bản làm việc lần đầu đối với người được triệu tập là quan trọng
nhất. Bởi đây là chứng cứ, manh mối sở đầu tiên đ quan điều
tra thực hiện ng loạt các thủ tục tiếp theo của một vụ án nh sự đang điều
tra nhằm để chứng minh tội phạm. Chính vậy, bản tự khai, biên bản lấy lời
khai, biên bản làm việc lần đầu với quan điều tra “nút thắt” “giới
hạn sinh tử” của một vụ án cho cả quan điều tra, người được triệu tập làm
việc cả người phạm tội.
Trước khi tiến hành lấy lời khai thì điều tra viên phải giấy triệu tập giấy
triệu tập cần gửi cho người được triệu tập, trong giấy cần các nội dung
như họ, tên, chỗ hiện tại của người đó nếu đến ngày người đó vắng mặt
phải do chính đáng. Giấy triệu tập được giao trực tiếp hoặc gửi đến nơi
người được triệu tập đang mặt. Nếu bắt giữ trong trường hợp khẩn
cấp mà muốn lấy lời khai thì quan điều tra cần phải thông báo trước thời
gian, địa điểm, hỏi cung. Việc hỏi cung tuyệt đối minh bạch không bạo lực hay
các hành vi như bức cung, mớm cung, dụ cung, nhục hình tuyệt đối
không hỏi cung o ban đêm tr trường hợp cấp thiết.... . Ngoài ra cần hạn
chế tối đa lấy lời khai của người chưa thành niên. Thời gian lấy lời khai sẽ
không quá hai lần/ một ngày mỗi lần không được phép diễn ra hai gi
đồng hồ trừ trường hợp vụ án tình tiết phức tạp...
3. đư c thay đ i l i khai trong quá trình đi u tra
không?
Việc thay đổi lời khai được quy định theo B Luật Tố tụng hình sự năm
2015 như sau: Căn cứ tại Điều 133, 178,184, 187 quy định thì : Biên bản
ghi địa điểm, giờ, ngày, tháng, năm lấy lời khai, thời gian bắt đầu thời
gian kết thúc, nội dung lấy lời khai, KSV lấy lời khai, người làm chứng
những người khác tham gia buổi lấy lời khai (người chứng kiến, Kiểm tra viên
ghi biên bản), khiếu nại, yêu cầu hoặc đề nghị của họ
Đối với biên bản điều tra lấy lời khai, hỏi cung... Điều tra viên, Cán bộ điều tra
cần phải đọc biên bản cho người tham gia tố tụng nghe, giải thích cho họ về
quyền được bổ sung nhận xét về biên bản. người tham gia tố tụng
quyền nêu ý kiến bổ sung nhận xét vào biên bản. Sau khi hỏi cung, Điều
tra viên, Cán bộ điều tra phải đọc biên bản cho bị can nghe hoặc để bị can tự
đọc. Trường hợp muốn bổ sung, sửa chưa biên bản thi Điều tra viên, Cán bộ
điều tra bị can cùng xác nhận. Nếu biên bản nhiều tang thì bị can
phải vào từng trang biên bản. Nếu bị can viết vào bản tự khai thì Điều tra
viên, Cán bộ điều tra bị càn cũng phải cùng xác nhận o bản tự khai
đó. Vậy thể hiểu, việc thay đổi lời khai ch thể xảy ra trước khi kết thúc
buổi hỏi cung.
Tóm lại, theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự thì thể thay đổi, sửa
chữa lời khai trong quá trình điều tra nhưng người thay đổi cần vào nội
dung sửa chữa. Trường hợp không chấp nhận những ý kiến của họ thì phải
ghi do vào biên bản. Biên bản lấy lời khai người làm chứng phải chữ
của KSV, người làm chứng, người khác (nếu có). Ngoài ra pháp luật tố
tụng không quy định thêm về việc thay đổi lời khai trong quá trình điều tra.
4. Quy định v ly li khai ca ngưi m chính trong v án
hình s
Trước khi lấy lời khai thì quan thẩm quyền cần triệu tập người làm
chứng theo quy định tại Điều 185 B luật T tụng. Trong giấy triệu tập người
làm chứng ghi họ tên, chỗ hoặc nơi làm việc, học tập của người làm
chứng; giờ, ngày, tháng, năm địa điểm mặt; mục đích nội dung làm
việc, thời gian làm việc; gặp ai trách nhiệm về việc vắng mặt không do
bất khả kháng hoặc không do trở ngại khách quan.
Việc giao giấy triệu tập được thực hiện như sau: Giấy triệu tập được giao trực
tiếp cho người m chứng hoặc thông qua chính quyền xã, phường, thị trấn
nơi người làm chứng t hoặc quan, tổ chức nơi người làm chứng làm
việc, học tập. Trong mọi trường hợp, việc giao giấy triệu tập phải được
nhận. Chính quyền xã, phường, thị trấn nơi người làm chứng trú hoặc
quan, tổ chức nơi người làm chứng làm việc, học tập trách nhiệm tạo điều
kiện cho người làm chứng thực hiện nghĩa vụ;
Giấy triệu tập người làm chứng dưới 18 tuổi được giao cho cha, mẹ hoặc
người đại diện khác của họ; Việc giao giấy triệu tập người làm chứng theo ủy
thác pháp của nước ngoài được thực hiện theo quy định tại khoản này
Luật tương trợ pháp. Trường hợp cần thiết, Kiểm t viên thể triệu
tập người làm chứng để lấy lời khai. Việc triệu tập người làm chứng được
thực hiện theo quy định tại Điều này. Sau đó sẽ tiến hành lấy lời khai người
làm chứng được tiến hành tại nơi tiến hành điều tra, nơi trú, nơi làm việc
hoặc nơi học tập của người đó.
Lưu ý, nếu vụ án nhiều người m chứng thì phải lấy lời khai riêng từng
người không để cho họ tiếp xúc, trao đổi với nhau trong thời gian lấy lời
khai. Trước khi lấy lời khai, Điều tra viên, Cán bộ điều tra phải giải thích cho
người làm chứng biết quyền nghĩa vụ của họ theo quy định tại Điều 66 của
Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015. Việc này phải ghi vào biên bản. Trước khi
hỏi về nội dung vụ án, Điều tra viên phải hỏi về mối quan hệ giữa người làm
chứng với bị can, bị hại những tình tiết khác về nhân thân của người làm
chứng. Điều tra viên yêu cầu người làm chứng trình bày hoặc tự viết một
cách trung thực tự nguyện những họ biết về vụ án, sau đó mới đặt câu
hỏi. Trường hợp xét thấy việc lấy lời khai của Điều tra viên không khách quan
hoặc vi phạm pháp luật hoặc xét cần làm chứng cứ, tài liệu để quyết
định việc p chuẩn hoặc không phê chuẩn quyết định t tụng của quan
điều tra hoặc để quyết định việc truy tố thì Kiểm sát viên thể lấy lời khai
người làm chứng. Việc lấy lời khai người làm chứng được tiến hành theo quy
định tại Điều này. Biên bản ghi lời khai của người làm chứng được lập theo
quy định tại Điều 178 của B luật Tố tụng Hình sự năm 2015. Ngoài ra, pháp
luật quy định việc lấy lời khai của người làm chứng thể ghi âm hoặc ghi
hình âm thanh.

Preview text:

Thay đổi lời khai trong quá trình điều tra làm như thế nào?
1. Li khai ca người tham gia ttng được hiu như thế nào?
Theo quy định của pháp luật, lời khai ở đây được hiểu là lời trình bày của bị
can, bị cáo, người bị hại, người bị tạm giam, tạm giữ, người làm chứng,
người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến vụ án, nguyên đơn dân sự, bị
đơn dân sự trong vụ án hình sự mà người này đã thực hiện hành vi phạm tội
hoặc đã chứng kiến sự việc theo yêu cầu của cơ quan điều tra, viện kiểm sát
và Tòa án theo trình tự luật định nhằm giải quyết vụ án hình sự. Việc lấy lời
khai phải đảm bảo thực hiện theo đúng trình tự, thủ tục của pháp luật tố tụng
hình sự. Theo đó việc thu thập lời khai của bị can, bị cáo, người bị hại hoặc
những người có liên quan khác đến tình tiết vụ án sẽ giúp cho quá trình điều
tra diễn ra một cách đúng đắn, đảm bảo tính khách quan.
Lời khai của người bị hại là lời trình bày về những tình tiết của vụ án, quan hệ
giữa họ với người bị bắt, người bị tạm giữ, bị can, bị cáo. Những tình tiết do
người bị hại trình bày không được dùng làm chứng cứ, nếu họ không thể nói
rõ vì sao họ biết được tình tiết đó. Lời khai của người bị bắt, bị tạm giữ là lời
trình bày về những tình tiết liên quan đến việc họ bị tình nghỉ thực hiện tội
phạm. Lời khai của người làm chứng là lời trình bày về những gì mà họ biết
về vụ án, nhân thân của bị can, bị cáo, người bị hại, quan hệ giữa họ với
người bị bắt, bị tạm giữ, bị hại. Những tình tiết do người làm chứng trình bày
sẽ không được dùng làm chứng cứ nếu họ không thể nói rõ vì sao biết được
tình tiết đó. Lời khai của bị can, bị cáo là lời trình bày về những tình tiết, diễn
biến vụ án, do đó lời nhận tội của bị can, bị cáo chỉ được coi là chứng cứ nếu
nó phù hợp với những chứng cứ khác đã thu thập được trong vụ án.
2. Quy định vly li khai.
Thẩm quyền lấy lời khai thuộc về Điều tra viên, kiểm sát viên thực hiện bằng
cách trực tiếp gặp và hỏi người đã chứng kiến hoặc có những thông tin về
các tình tiết về vụ án hình sự hoặc thông tin về người phạm tội. Mục đích lấy
lời khai của cơ quan điều tra là điều tra và tìm ra sự thật khách quan liên
quan đến tội phạm. Để điều tra và tìm ra sự thật khách quan thì cơ quan điều
tra cần phải thực hiện đúng theo quy định pháp luật và triệu tập người bị tố
giác, người liên quan, người làm chứng... Việc viết bản tự khai, lấy lời khai
hoặc lập biên bản làm việc lần đầu đối với người được triệu tập là quan trọng
nhất. Bởi vì đây là chứng cứ, manh mối và là cơ sở đầu tiên để Cơ quan điều
tra thực hiện hàng loạt các thủ tục tiếp theo của một vụ án hình sự đang điều
tra nhằm để chứng minh tội phạm. Chính vì vậy, bản tự khai, biên bản lấy lời
khai, biên bản làm việc lần đầu với Cơ quan điều tra là “nút thắt” và là “giới
hạn sinh tử” của một vụ án cho cả Cơ quan điều tra, người được triệu tập làm
việc và cả người phạm tội.
Trước khi tiến hành lấy lời khai thì điều tra viên phải có giấy triệu tập và giấy
triệu tập cần gửi cho người được triệu tập, trong giấy cần có các nội dung
như họ, tên, chỗ ở hiện tại của người đó nếu đến ngày người đó vắng mặt
phải có lý do chính đáng. Giấy triệu tập được giao trực tiếp hoặc gửi đến nơi
mà người được triệu tập đang có mặt. Nếu bắt giữ trong trường hợp khẩn
cấp mà muốn lấy lời khai thì cơ quan điều tra cần phải thông báo trước thời
gian, địa điểm, hỏi cung. Việc hỏi cung tuyệt đối minh bạch không bạo lực hay
có các hành vi như bức cung, mớm cung, dụ cung, nhục hình và tuyệt đối
không hỏi cung vào ban đêm trừ trường hợp cấp thiết.... . Ngoài ra cần hạn
chế tối đa lấy lời khai của người chưa thành niên. Thời gian lấy lời khai sẽ
không quá hai lần/ một ngày và mỗi lần không được phép diễn ra hai giờ
đồng hồ trừ trường hợp vụ án có tình tiết phức tạp...
3. Có đư ợ c thay đ ổ i l i khai trong quá trình đi u tra không?
Việc thay đổi lời khai được quy định theo Bộ Luật Tố tụng hình sự năm
2015 như sau: Căn cứ tại Điều 133, 178,184, 187 có quy định thì : Biên bản
ghi rõ địa điểm, giờ, ngày, tháng, năm lấy lời khai, thời gian bắt đầu và thời
gian kết thúc, nội dung lấy lời khai, KSV lấy lời khai, người làm chứng và
những người khác tham gia buổi lấy lời khai (người chứng kiến, Kiểm tra viên
ghi biên bản), khiếu nại, yêu cầu hoặc đề nghị của họ
Đối với biên bản điều tra lấy lời khai, hỏi cung... Điều tra viên, Cán bộ điều tra
cần phải đọc biên bản cho người tham gia tố tụng nghe, giải thích cho họ về
quyền được bổ sung và nhận xét về biên bản. Và người tham gia tố tụng có
quyền nêu ý kiến bổ sung và nhận xét vào biên bản. Sau khi hỏi cung, Điều
tra viên, Cán bộ điều tra phải đọc biên bản cho bị can nghe hoặc để bị can tự
đọc. Trường hợp muốn bổ sung, sửa chưa biên bản thi Điều tra viên, Cán bộ
điều tra và bị can cùng ký xác nhận. Nếu biên bản có nhiều tang thì bị can
phải ký vào từng trang biên bản. Nếu bị can viết vào bản tự khai thì Điều tra
viên, Cán bộ điều tra và bị càn cũng phải cùng ký xác nhận vào bản tự khai
đó. Vậy có thể hiểu, việc thay đổi lời khai chỉ có thể xảy ra trước khi kết thúc buổi hỏi cung.
Tóm lại, theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự thì có thể thay đổi, sửa
chữa lời khai trong quá trình điều tra nhưng người thay đổi cần ký vào nội
dung sửa chữa. Trường hợp không chấp nhận những ý kiến của họ thì phải
ghi rõ lý do vào biên bản. Biên bản lấy lời khai người làm chứng phải có chữ
ký của KSV, người làm chứng, người khác (nếu có). Ngoài ra pháp luật tố
tụng không quy định thêm về việc thay đổi lời khai trong quá trình điều tra.
4. Quy định vly li khai ca người làm chính trong ván hình s
Trước khi lấy lời khai thì cơ quan có thẩm quyền cần triệu tập người làm
chứng theo quy định tại Điều 185 Bộ luật Tố tụng. Trong giấy triệu tập người
làm chứng ghi rõ họ tên, chỗ ở hoặc nơi làm việc, học tập của người làm
chứng; giờ, ngày, tháng, năm và địa điểm có mặt; mục đích và nội dung làm
việc, thời gian làm việc; gặp ai và trách nhiệm về việc vắng mặt không vì lý do
bất khả kháng hoặc không do trở ngại khách quan.
Việc giao giấy triệu tập được thực hiện như sau: Giấy triệu tập được giao trực
tiếp cho người làm chứng hoặc thông qua chính quyền xã, phường, thị trấn
nơi người làm chứng cư trú hoặc cơ quan, tổ chức nơi người làm chứng làm
việc, học tập. Trong mọi trường hợp, việc giao giấy triệu tập phải được ký
nhận. Chính quyền xã, phường, thị trấn nơi người làm chứng cư trú hoặc cơ
quan, tổ chức nơi người làm chứng làm việc, học tập có trách nhiệm tạo điều
kiện cho người làm chứng thực hiện nghĩa vụ;
Giấy triệu tập người làm chứng dưới 18 tuổi được giao cho cha, mẹ hoặc
người đại diện khác của họ; Việc giao giấy triệu tập người làm chứng theo ủy
thác tư pháp của nước ngoài được thực hiện theo quy định tại khoản này
và Luật tương trợ tư pháp. Trường hợp cần thiết, Kiểm sát viên có thể triệu
tập người làm chứng để lấy lời khai. Việc triệu tập người làm chứng được
thực hiện theo quy định tại Điều này. Sau đó sẽ tiến hành lấy lời khai người
làm chứng được tiến hành tại nơi tiến hành điều tra, nơi cư trú, nơi làm việc
hoặc nơi học tập của người đó.
Lưu ý, nếu vụ án có nhiều người làm chứng thì phải lấy lời khai riêng từng
người và không để cho họ tiếp xúc, trao đổi với nhau trong thời gian lấy lời
khai. Trước khi lấy lời khai, Điều tra viên, Cán bộ điều tra phải giải thích cho
người làm chứng biết quyền và nghĩa vụ của họ theo quy định tại Điều 66 của
Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015. Việc này phải ghi vào biên bản. Trước khi
hỏi về nội dung vụ án, Điều tra viên phải hỏi về mối quan hệ giữa người làm
chứng với bị can, bị hại và những tình tiết khác về nhân thân của người làm
chứng. Điều tra viên yêu cầu người làm chứng trình bày hoặc tự viết một
cách trung thực và tự nguyện những gì họ biết về vụ án, sau đó mới đặt câu
hỏi. Trường hợp xét thấy việc lấy lời khai của Điều tra viên không khách quan
hoặc có vi phạm pháp luật hoặc xét cần làm rõ chứng cứ, tài liệu để quyết
định việc phê chuẩn hoặc không phê chuẩn quyết định tố tụng của Cơ quan
điều tra hoặc để quyết định việc truy tố thì Kiểm sát viên có thể lấy lời khai
người làm chứng. Việc lấy lời khai người làm chứng được tiến hành theo quy
định tại Điều này. Biên bản ghi lời khai của người làm chứng được lập theo
quy định tại Điều 178 của Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015. Ngoài ra, pháp
luật quy định việc lấy lời khai của người làm chứng có thể ghi âm hoặc ghi hình có âm thanh.
Document Outline

  • Thay đổi lời khai trong quá trình điều tra làm như
    • 1. Lời khai của người tham gia tố tụng được hiểu n
    • 2. Quy định về lấy lời khai.
    • 3. Có được thay đổi lời khai trong quá trình điều
    • 4. Quy định về lấy lời khai của người làm chính tr