








Preview text:
Thuyết tam quyền phân lập là gì? Nội dung
thuyết tam quyền phân lập
Thuyết tam quyền phân lập là học thuyết về tổ chức bộ máy nhà nước tư sản
- do Lôckơ, Môngtexkiơ, Ruxô sáng lập dựa trên quan điểm cho rằng phải
hạn chế sự độc quyền bằng việc không tập trung quá nhiều quyền lực nhà
nước vào tay một cơ quan nhất định, bằng sự kiểm soát và khống chế lẫn
nhau giữa các hệ thống cơ quan nhà nước khác nhau.
1. Khái niệm thuyết tam quyền phân lập
Quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp được giao cho các cơ quan khác nhau
trong nhà nước: quyền lập pháp giao cho nghị viện, quyền hành pháp giao
cho chính phủ, quyền tư pháp giao cho tòa án.
Tam quyền phân lập là nhằm dùng quyền lực kiểm soát và kiểm chế quyển
lực. Theo mô hình phân quyền của Môngtexkiơ không chấp nhận việc một cơ
quan nhà nước đứng trên hoặc nắm trọn vẹn cả 3 quyền.
Mặt tích cực của học thuyết tam quyền phân lập thể hiện ở chỗ nó ngăn ngừa
được sự chuyên chế rất dễ phát sinh ở xã hội mà sự thống trị thuộc về thiểu
số thành viên trong xã hội. Tư tưởng tam quyển phân lập đã trở thành một
trong những nội dung cơ bản của học thuyết nhà nước pháp quyền tư sản.
Tam quyền phân lập (Separation of powers) hay còn hiểu theo nghĩa phân
chia quyền lực là một khái niệm đã được biết đến từ lâu nhờ sự xuất hiện của
các bản Hiến pháp Tư sản, trong đó nổi bật là Hiến pháp Hoa Kỳ. Các quy
định trong những bản hiến pháp tạo cơ sở thừa nhận sự tồn tại độc lập, kiềm
chế lẫn nhau giữa 3 cơ quan: lập pháp, hành pháp, tư pháp và được tổ chức
song song với nhau, và qua đó kiểm tra, giám sát hoạt động lẫn nhau. Theo
thể chế này, không một cơ quan nào có quyền lực tuyệt đối trong sinh hoạt chính trị của quốc gia.
Khái niệm này lần đầu được đưa ra bởi nhà nghiên cứu chính trị người Pháp
tên Charles de Secondat, Nam tước de Montesquieu. Khái niệm tam quyền
phân lập sau này được mở rộng cho cơ chế điều hành đất nước với nhiều
hơn hay ít hơn ba nhánh cầm quyền.
2. Quá trình hình thành thuyết tam quyền phân lập
Thuyết tam quyền phân lập xuất hiện lần đầu tiên bởi nhà triết học vĩ đại của
Hy Lạp Aristote. Theo Aristote, nhà nước quản lý xã hội bằng 3 phương pháp:
lập pháp, hành pháp và phân xử.
Ông cho rằng, không có loại hình chính phủ nào là duy nhất có thể phù hợp
với tất cả các thời đại và các quốc gia. Ông phân chính phủ theo tiêu chuẩn
số lượng (số người cầm quyền) và chất lượng (mục đích của sự cầm quyền)
– kết hợp 2 mặt đó, các chính phủ có thể xếp theo 2 loại: chân chính (quân
chủ, quý tộc, cộng hoà) và biến chất (độc tài, quá đầu, dân trị)
Bên cạnh Aristote, bàn về thuyết ”tam quyền phân lập” còn có John Locke.
Theo ông, quyền lực của nhà nước là quyền lực của nhân dân. Nhân dân
nhường một phần quyền của mình cho nhà nước qua khế ước. Và để chống
độc tài phải thực hiện sự phân quyền. Kế thừa tư tưởng phân quyền xcủa
Aristote, Locke cho rằng, quyền lực phải phân chia theo 3 lĩnh vực: lập pháp, hành pháp và liên hợp.
Từ thế kỷ 18, nhà tư tưởng vĩ đại người Pháp Montesquieu, đã phát triển
thuyết tam quyền phân lập trở thành một học thuyết độc lập. Tiếp thu và phát
triển tư tưởng về thể chế chính trị tự do, chống chuyên chế, Mongtesquieu
xây dựng học thuyết phân quyền với mục đích tạo dựng những thể chế chính
trị đảm bảo tự do cho các công dân.
Theo ông, tự do chính trị của công dân là quyền mà người ta có thể làm mọi
cái mà pháp luật cho phép. Pháp luật là thước đo của tự do. Cũng như
Aristote và J. Locke, Mongtesquieu cho rằng, thể chế chính trị tự do là thể
chế mà trong đó, quyền lực tối cao được phân thành 3 quyền : lập pháp, hành pháp và tư pháp.
+ Lập pháp: Biểu hiện ý chí chung của quốc gia . Nó thuộc về toàn thể nhân
dân, được trao cho hội nghị đại biểu nhân dân – Quốc hội
+ Hành pháp: Là việc thực hiện luật pháp đã được thiết lập.
+ Tư pháp: là để trừng trị tội phạm và giải quyết sự xung đột giữa các cá
nhân. Các thẩm phán được lựa chọn từ dân và xử án chỉ tuân theo pháp luật.
Tư tưởng phân quyền của Mongtesquieu là đối thủ đáng sợ của chủ nghĩa
chuyên chế phong kiến và có thể khẳng định ông là người đã phát triển và
hoàn thiện thuyết:”tam quyền phân lập”. Học thuyết về sự phân chia quyền
lực gắn liền với lí luận về pháp luật tự nhiên đã đóng vai trò quyết định trong
lịch sử đấu tranh của giai cấp tư sản chống lại sự độc đoán, chuyên quyền của nhà vua
Cùng với sự hình thành chế độ tư bản, nguyên tắc “phân chia quyền lực” đã
trở thành một trong những nguyên tắc chính của chủ nghĩa lập hiến tư sản,
lần đầu tiên được thể hiện trong các đạo luật mang tính hiến định của cuộc
Cách mạng Pháp và sau đó thể hiện đầy đủ trong Hiến pháp Hoa Kỳ 1787.
Học thuyết pháp luật – chính trị (thuyết “phân quyền”) với quyền lực nhà
nước được hiểu không phải là một thể thống nhất, mà là sự phân chia thành
3 quyền: quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp, các quyền này được thực
hiện độc lập với nhau, kiểm soát lẫn nhau, kiềm chế lẫn nhau. Trên thực tế,
việc phân chia quyền lực trong bộ máy nhà nước được áp dụng khác nhau
trong hệ thống các nước cộng hoà tổng thống, theo nguyên tắc “kiềm chế và
đối trọng”, tức là các quyền kiểm tra và giám sát lẫn nhau, tạo ra sự cân bằng giữa các quyền.
3. Giới thiệu chung về tư tưởng của Montesquieu
Trước chế độ dân chủ tư sản và dân chủ xã hội chủ nghĩa, mọi quyền lực nhà
nước đều tập trung vào trong tay một cá nhân. Chính đây là căn nguyên cho
mọi hành vi độc tài, chuyên chế của các công việc nhà nước. Vì vậy, muốn
chống chế độ này, một lý thuyết của nhiều học giả tư sản đã được nêu ra, đó
là thuyết phân chia quyền lực.
Cội nguồn của tư tưởng phân quyền đã có từ thời cổ đại ở Phương Tây mà
điển hình là nhà nước Athens và cộng hòa La Mã. Tư tưởng phân quyền
trong xã hội Hy Lạp cổ đại đã có mầm mống từ Aristotle. Ông đã quan niệm
rằng trong bất kỳ nhà nước nào cũng cần phải có những yếu tố bắt buộc: cơ
quan làm ra luật có trách nhiệm trông coi việc nước, các cơ quan thực thi
pháp luật và các tòa án, từ đó ông chia hoạt động nhà nước thành ba thành
tố: nghị luận, chấp hành và xét xử. Tuy nhiên, tư tưởng của Aristotle mới chỉ
dừng ở việc phân biệt các lĩnh vực hoạt động của nhà nước, chứ chưa chỉ rõ
phương thức vận hành cũng như mối quan hệ bên trong giữa các thành tố đó.
Những tư tưởng phân quyền sơ khai trong thời cổ đại được phát triển thành
học thuyết ở Tây Âu vào thế kỷ 17 – 18, gắn liền với hai nhà tư tưởng lớn là
John Locke và C.L. Montesquieu.
John Locke (1632 – 1704), một nhà triết học người Anh, ông là người đầu
tiên khởi thảo ra thành hệ thống lý luận hoàn chỉnh về học thuyết phân quyền,
và được thể hiện trong tác phẩm “Khảo luận thứ hai về Chính quyền.” Về
quyền lực nhà nước, ông cho rằng “chỉ có thể có một quyền lực tối cao, là cơ
quan lập pháp, mà tất cả các quyền lực còn lại là, và phải là, những cái phụ
thuộc vào nó.” Theo đó, có thể thấy Locke đồng nhất quyền lực nhà nước với quyền lập pháp.
Ông chia quyền lực nhà nước thành các phần: lập pháp, hành pháp và liên
minh. Theo đó, quyền lập pháp là quyền lực cao nhất trong nhà nước, và phải
thuộc về nghị viện; nghị viện phải họp định kỳ thông qua các đạo luật, nhưng
không thể can thiệp vào việc thực hiện chúng. Quyền hành pháp phải thuộc
về nhà vua. Nhà vua lãnh đạo việc thi hành pháp luật, bổ nhiệm các chức vị,
chánh án và các quan chức khác. Hoạt động của nhà vua phụ thuộc vào
pháp luật và vua không có đặc quyền nhất định nào với nghị viện nhằm
không cho phép vua thâu tóm toàn bộ quyền lực về tay mình và xâm phạm
vào các quyền tự nhiên của công dân. Nhà vua thực hiện quyền liên minh,
tức là giải quyết các vấn đề chiến tranh, hòa bình và đối ngoại.
Những luận điểm phân quyền của J. Locke đã được nhà khai sáng người
Pháp, C.L. Montesquieu (1689 – 1775) phát triển. Montesquieu đã phát triển
một cách toàn diện học thuyết phân quyền, và sau này khi nhắc tới thuyết
phân quyền người ta nghĩ ngay đến tên tuổi của ông.
Montesquieu kịch liệt lên án chế độ quân chủ chuyên chế ở Pháp lúc bấy giờ.
Chế độ quân chủ chuyên chế là một tổ chức quyền lực tồi tệ, phi lý, vì: nhà
nước tồn tại vốn biểu hiện của ý chí chung, nhưng trong chế độ chuyên chế
nó lại biểu hiện ý chí đặc thù; chế độ chuyên chế với bản chất vô pháp luật và
nhu cầu pháp luật. Montesquieu nhận thấy pháp luật gồm nhiều lĩnh vực,
phân ngành rõ rệt, cho nên tập trung vào một người duy nhất là trái với bản
chất của nó; gắn với bản chất chế độ chuyên chế là tình trạng lạm quyền. Vì
vậy việc thanh toán hiện tượng lạm quyền chỉ có thể là đồng thời, là sự thanh
toán chế độ chuyên chế. Theo Montesquieu, một khi quyền lực tập trung vào
một mối, kể cả một người hay một tổ chức, thì nguy cơ chuyên chế vẫn còn.
Trong tác phẩm “Tinh thần pháp luật”, Montesquieu đã lập luận tinh tế và chặt
chẽ tính tất yếu của việc tách bạch các nhánh quyền lực và khẳng định:
“Trong bất cứ quốc gia nào đều có ba thứ quyền: quyền lập pháp, quyền thi
hành những điều hợp với quốc tế công pháp và quyền thi hành những điều
trong luật dân sự.” Ta có thể nhận ra sự tiến bộ trong tư tưởng phân quyền
của Montesquieu so với tư tưởng của Locke, khi tách quyền lực xét xử –
quyền tư pháp ra độc lập với các thứ quyền khác.
Từ đó, Montesquieu chủ trương phân quyền để chống lại chế độ chuyên chế,
thanh toán nạn lạm quyền, để chính quyền không thể gây hại cho người bị trị
và đảm bảo quyền tự do cho nhân dân. Montesquieu đã viết: “Khi mà quyền
lập pháp và hành pháp nhập lại trong tay một người hay một Viện Nguyên
Lão, thì sẽ không có gì là tự do nữa, vì người ta sợ rằng chính ông ta hoặc
viện ấy chỉ đặt ra những luật độc tài để thi hành một cách độc tài. Cũng không
có gì là tự do nếu như quyền tư pháp không tách rời quyền lập pháp và hành
pháp. Nếu quyền tư pháp được nhập với quyền lập pháp, thì người ta sẽ độc
đoán với quyền sống, quyền tự do của công dân; quan tòa sẽ là người đặt ra
luật. Nếu quyền tư pháp nhập lại với quyền hành pháp thì quan tòa sẽ có cả
sức mạnh của kẻ đàn áp. Nếu một người hay một tổ chức của quan chức,
hoặc của quý tộc, hoặc của dân chúng, nắm luôn cả ba thứ quyền lực nói trên
thì tất cả sẽ mất hết.”
Tóm lại, theo Montesquieu, cách thức tổ chức nhà nước của một quốc gia là:
“Cơ quan lập pháp trong chính thể ấy gồm có hai phần, phần này ràng buộc
phần kia do năng quyền ngăn cản hỗ tương. Cả hai phần sẽ bị quyền hành
pháp ràng buộc và quyền hành pháp sẽ bị quyền lập pháp ràng buộc.”
Tư tưởng của Montesquieu tuy vẫn còn điểm hạn chế là bảo thủ phong kiến,
đòi hỏi đặc quyền cho tầng lớp quý tộc. Nhưng nó vẫn là nền móng cho tư
tưởng phân chia quyền lực sau này, có ảnh hưởng sâu sắc đến những quan
niệm sau này về tổ chức nhà nước cũng như thực tiễn tổ chức của các nhà
nước tư bản. Ví dụ như đa số Hiến pháp của các nhà nước tư bản hiện nay
đều khẳng định nguyên tắc phân quyền như một nguyên tắc cơ bản của việc
tổ chức quyền lực nhà nước. Như điều 10 Hiến pháp liên bang Nga quy định:
“Quyền lực nhà nước ở Liên bang Nga được thực hiện dựa trên cơ sở của
sự phân quyền thành các nhánh lập pháp, hành pháp và tư pháp. Các cơ
quan của các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp phải độc lập.” Điều 1 của
Hiến pháp Ba Lan cũng trực tiếp khẳng định việc tổ chức bộ máy nhà nước
theo nguyên tắc phân chia quyền lực thành ba quyền: lập pháp, hành pháp, tư pháp.
Tiếp nối Montesquieu, J.J. Rousseau cùng với tác phẩm “Bàn về khế ước xã
hội,” đã đưa ra những quan điểm rất mới mẻ và tiến bộ về sự phân chia
quyền lực trong tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước.
Rousseau (1712 – 1778) chủ trương nêu cao tinh thần tập quyền, tất cả
quyền lực nhà nước nằm trong tay cơ quan quyền lực tối cao tức toàn thể
công dân trong xã hội. Nhưng ông lại chỉ ra rằng phân chia quyền lực nhà
nước thành quyền lập pháp và quyền hành pháp, giao chúng vào tay cơ quan
quyền lực tối cao và chính phủ là cách thức hợp lý duy nhất để đảm bảo sự
hoạt động có hiệu quả cho nhà nước, cũng như ngăn chặn được xu hướng
lạm quyền. Ngoài ra ông còn nêu lên vai trò quan trọng của cơ quan tư pháp
trong việc đảm bảo cho sự hoạt động ổn định của nhà nước, cũng như cho
sự cân bằng giữa các vế cơ quan quyền lực tối cao, chính phủ và nhân dân.
Nhưng cách phân quyền của Rousseau không giống với Locke và
Montesquieu, bởi ông luôn khẳng định một điều duy nhất rằng: “những bộ
phận quyền hành được chia tách ra đều phụ thuộc vào quyền lực tối cao” và
“mỗi bộ phận chỉ thực hiện ý chí tối cao đó” mà thôi.
4. Nội dung cơ bản thuyết tam quyền phân lập
Nội dung cốt lõi của học thuyết này cho rằng, quyền lực nhà nước luôn có xu
hướng tự mở rộng, tự tăng cường vai trò của mình. Bất cứ ở đâu có quyền
lực là xuất hiện xu thế lạm quyền và chuyên quyền, cho dù quyền lực ấy
thuộc về ai. Do vậy, để đảm bảo các quyền tự do cơ bản của công dân, ngăn
ngừa các hành vi lạm quyền của các chủ thể nắm giữ quyền lực nhà nước thì
phải thiết lập pháp chế nhằm giới hạn quyền lực nhà nước. Cách tốt nhất để
chống lạm quyền là giới hạn quyền lực bằng các công cụ pháp lý và cách
thực hiện không phải là tập trung quyền lực, mà là phân chia nó ra.
Muốn hạn chế quyền lực nhà nước thì trước hết phải phân quyền, và sau đó
phải làm cho các nhánh quyền lực đã được phân chỉ được phép hoạt động
trong phạm vi quy định của pháp luật. Sau này, trong một bức thư gửi cho
một người cùng thời, ông Samuel Kercheval, Thomas Jefferson – tổng thống
thứ 3 của Hoa Kỳ, đã chỉ rõ thêm của sự phân quyền không đơn thuần chỉ
diễn ra ở một chiều ngang, mà còn cần thiết ở cả chiều dọc, và ở bất cứ lĩnh vực nào của nhà nước.
5. “Sự phân quyền” mà Jefferson đã mô tả
“Sự phân quyền” mà Jefferson đã mô tả như sau:
- Phân bổ quyền lực chính quyền giữa các nhánh riêng rẽ của chính quyền.
- Sự phân chia các quyền lực đó theo một cách thức sao cho chức năng của
một nhánh chính quyền trong một vấn đề cụ thể thì bị giới hạn bởi chức năng
của một nhánh khác có thẩm quyền về cùng vấn đề ấy hoặc về một vấn đề
khác có liên quan. Thường được gọi là: “các biện pháp kiểm soát và đối trọng
quyền lực lẫn nhau” – “checks and balance.” Về cốt lõi, đây là một hệ thống
nằm ngay bên trong chính quyền nhằm đảm bảo tính trách nhiệm của chính
quyền, được gọi là kiểm tra, giám sát bên trong. Vì sự kiểm tra này tạo ra một
cơ chế mặc nhiên ai nắm và được phân công sử dụng quyền lực nhà nước
cũng phải bị kiểm tra, theo nguyên tắc phòng ngừa, còn cơ chế kiểm tra được
tiến hành từ bên ngoài hầu như chỉ được tiến hành một khi đã có hậu quả xảy ra.
- Khía cạnh thứ ba của sự phân bổ này là sự phân chia quyền lực của chính
quyền theo ngành, dọc theo cách thức sao cho mỗi một nhiệm vụ của chính
quyền được giao cho đơn vị nào nhỏ nhất, cơ sở nhất trong chính quyền mà
có thể đảm trách được nhiệm vụ đó. Phân quyền ngang
Đây là cách thức phân quyền cổ điển mà mầm mống là của Aristotle, được
hoàn thiện bởi J. Locke, C.L. Montesquieu và J. Rousseau. Nội dung cơ bản
của phân quyền ngang cũng ít thay đổi trong thời đại hiện nay:
- Quyền lực nhà nước được phân chia thành các nhánh khác nhau, do các cơ
quan khác nhau nắm giữ để không một cá nhân hay tổ chức nào nắm được
trọn vẹn quyền lực nhà nước. Điển hình như là: ở Mỹ, nghị viện nắm quyền
lập pháp, chính phủ tổng thống nắm quyền hành pháp, còn tòa án nắm quyền tư pháp.
- Hoạt động của các cơ quan quyền lực công có sự chuyên môn hóa, mỗi cơ
quan chỉ hoạt động nhằm thực hiện chức năng riêng của mình, không làm
ảnh hưởng tới hoạt động của các cơ quan khác.
- Quyền lực giữa các cơ quan quyền lực cân bằng, không có loại quyền lực
nào vượt trội hơn. Các cơ quan quyền lực giám sát, kiềm chế đối trọng và
chế ước lẫn nhau, để không có một cơ quan nào có khả năng lạm quyền.
Ở nhiều nhà nước hiện nay, tư tưởng phân quyền ngang có một số thay đổi,
mà chủ yếu là số nhánh quyền lực được phân chia ra từ quyền lực nhà nước.
Ở một số nước Nam Mỹ, quyền lực nhà nước nhiều khi được chia thành 4, 5,
6, … bộ phận. Ví dụ: Nicaragoa có thêm quyền kiểm tra do Tổng thanh tra
thực hiện; Argentina phân làm 6 quyền; VNCH chia quyền làm 4 phần, thêm
quyền giám sát của Tối cao pháp viện.
Có ba mức độ biểu hiện của cách thức phân quyền ngang trong bộ máy nhà nước tư sản hiện nay:
1. Phân quyền cứng rắn được áp dụng trong chính thể cộng hòa tổng thống,
đặc điểm là chính phủ phải chịu trách nhiệm trước nhân dân như: Hoa Kỳ, Philipine,…
2. Phân quyền mềm dẻo được áp dụng trong chính thể đại nghị, chính phủ
phải chịu trách nhiệm trước quốc hội, như: Anh, Nhật,…
3. Phân quyền trong chính thể cộng hòa hỗn hợp, chính phủ vừa phải chịu
trách nhiệm trước nhân dân vừa phải chịu trách nhiệm trước quốc hội, như ở các nước Pháp, Nga,…
Phân quyền dọc
Để hạn chế quyền lực nhà nước thì quyền lực nhà nước không chỉ phân chia
theo chiều ngang thành các ngành lập pháp, hành pháp và tư pháp mà còn
phải tiếp tục phân chia ở chiều dọc giữa trung ương và địa phương. Chính ở
sự phân quyền này mà quyền lực nhà nước trung ương bị hạn chế. Đến lượt
mình, quyền lực của cơ quan địa phương – chính phủ địa phương lại bị phân
chia thành lập pháp địa phương và hành pháp địa phương.
Nội dung chủ yếu của tư tưởng phân quyền dọc như sau:
- Tồn tại hệ thống các cơ quan quyền lực nhà nước do dân bầu ở các cấp địa
phương, song song với bộ máy nhà nước trung ương.
- Có sự phân công nhiệm vụ, trách nhiệm và quyền hạn cụ thể giữa chính
quyền trung ương và chính quyền địa phương trong những lĩnh vực cụ thể;
mà chủ yếu là chính quyền trung ương sẽ giải quyết các vấn đề công, vì lợi
ích của cả cộng đồng xã hội, như vấn đề: chủ quyền lãnh thổ, dịch vụ
công, …; còn chính quyền địa phương sẽ phụ trách các vấn đề phát triển kinh
tế – xã hội, giáo dục, văn hóa ở địa phương, ngoài ra còn có thể chủ động
tiến hành hợp tác, giao lưu với các địa phương khác hoặc các tổ chức quốc
tế trong quyền hạn của mình.
Tổ chức và hoạt động của các cấp chính quyền trong nhiệm vụ và quyền hạn
của mình là tương đối độc lập với nhau. Chính quyền trung ương không có
quyền điều hành, chỉ đạo chính quyền địa phương, mà chỉ có thể xây dựng
chủ trương chính sách, tạo dựng khuôn khổ pháp lý, và kiểm tra, giám sát
hoạt động của các chính quyền cấp dưới, mọi phạm vi của chính quyền địa
phương sẽ do Tòa án Hành chính xét xử độc lập.
Phân quyền dọc được thực hiện theo hai phương pháp:
1. Phân quyền theo lãnh thổ: là cách phân quyền của chính quyền trung
ương cho chính quyền địa phương theo địa giới hành chính – lãnh thổ. Việc
tổ chức quản lý những vùng lãnh thổ này cần thiết phải tính đến nguyện vọng
và ý chí của cộng đồng dân cư. Vì vậy, tham gia vào cơ chế vận hành bộ máy
chính quyền địa phương, ngoài các cơ quan quản lý còn có cả các cơ quan
do dân cư hợp thành trực tiếp hoặc gián tiếp bầu ra. Việc tổ chức cơ quan ở
đây mang nhiều tính chất tự quản. Các đơn vị hành chính không có quyền
độc lập chính trị. Để tổ chức thực hiện những vấn đề về phát triển địa
phương, các đơn vị hành chính theo quy định của pháp luật có quyền thành
lập các hội đồng tự quản địa phương, chịu sự kiểm tra của đại diện cơ quan
quyền lực nhà nước cấp trên. Cơ cấu tự trị yêu cầu chính quyền địa phương
phải có một cơ quan ra nghị quyết và một cơ quan thi hành các nghị quyết đó,
giống như mô hình Nghị viện và Chính phủ.
2. Phân quyền theo chuyên môn: Là cách phân quyền giữa các bộ chuyên
môn với chính quyền địa phương. Ví dụ: ở New Zealand, chính phủ không
quản lý bất kỳ bệnh viện công nào, tất cả bệnh viện được giao về cho các
bang. Các quan chức cao cấp Chính phủ khi bị bệnh cũng phải đến các bệnh viện ở bang.
Tùy theo tiêu chí các cấp chính quyền địa phương, thì có thể chia các cấp địa
phương thành 4 cấp như Đức, Camerun, Senegan, …; 3 cấp như Italia, Ấn
độ, …; 2 cấp như Đan Mạch, Nhật Bản, …; thậm chí 5 cấp như Pháp.
Thường cơ quan địa phương được tổ chức thành 3 cấp. Ví dụ như ở Việt
Nam là trung ương – tỉnh – huyện – xã.
Nguyên tắc phân quyền dọc còn được thể hiện trong mối liên hệ giữa nhà
nước liên bang và các bang. Việc tổ chức nhà nước của các nước liên bang
trước hết phải có sự phân biệt thẩm quyền giữa liên bang và các bang. Các
bang của liên bang nhà nước tư sản không có chủ quyền về mặt đối nội và
đối ngoại. Hiến pháp liên bang nghiêm cấm các bang ký kết hợp tác với nước
ngoài về những vấn đề chính trị. Trong việc tổ chức nhà nước liên bang vấn
đề rất quan trọng là phân chia quyền lực giữa liên bang với các bang, phân
chia theo chiều dọc. Việc phân chia quyền lực nhà nước theo chiều dọc giữa
liên bang và các bang có 3 hình thức:
Những thẩm quyền đặc biệt chỉ có ở liên bang.
Những thẩm quyền đặc biệt của các bang.
Những thẩm quyền chung của liên bang và các bang.
Nhằm hạn chế quyền lực nhà nước các bang, hiến pháp liên bang thường liệt
kê nhiệm vụ, quyền hạn của thành viên. Ngoài những nhiệm vụ, quyền hạn
được liệt kê thì bang không được giải quyết. Hoặc ngược lại, nhà nước liên
bang vẫn tôn trọng chủ quyền của các thành viên hợp thành thì lại có xu
hướng liệt kê các quyền hạn hữu hạn cho liên bang.
Document Outline
- Thuyết tam quyền phân lập là gì? Nội dung thuyết t
- 1. Khái niệm thuyết tam quyền phân lập
- 2. Quá trình hình thành thuyết tam quyền phân lập
- 3. Giới thiệu chung về tư tưởng của Montesquieu
- 4. Nội dung cơ bản thuyết tam quyền phân lập
- 5. “Sự phân quyền” mà Jefferson đã mô tả