




Preview text:
Tiền nóng (HOT MONNEY) là gì ? Tác động của
dòng tiền nóng đối với nền kinh tế?
1. Tiền nóng - hot money là gì? 1.1 Khái niệm tiền nóng
Tiền nóng là tiền (vốn) di chuyển thường xuyên và nhanh chóng giữa các thị
trường tài chính, nhằm múc đích để các nhà đầu tư nhận được mức lãi suất
ngắn hạn cao nhất hiện có.
1.2 Đặc điểm của tiền nóng
Tiền nóng liên tục chuyển từ các quốc gia có lãi suất thấp sang các quốc gia
có lãi suất cao hơn; các khoản tiền được chuyển đi này có thể ảnh hưởng
đến tỉ giá hối đoái, nếu là một khoản tiền đủ lớn và cũng có khả năng ảnh
hưởng đến cán cân thanh toán của một quốc gia. Tiền nóng không chỉ liên
quan đến tiền tệ của các quốc gia khác nhau mà còn liên quan đến vốn đầu
tư vào các doanh nghiệp cạnh tranh.
Các ngân hàng tìm cách thu về tiền nóng bằng cách cung cấp cho các nhà
đầu tư chứng chỉ tiền gửi ngắn hạn với lãi suất cao hơn mức trung bình. Nếu
ngân hàng giảm lãi suất, hoặc một tổ chức tài chính khác đưa ra lãi suất cao
hơn, các nhà đầu tư sẽ rút tiền nóng và chuyển chúng đi để tận dụng lãi suất cao hơn.
Như đã đề cập ở trên, vốn ở dạng sau có thể được coi là tiền nóng:
Đầu tư gián tiếp nước ngoài ngắn hạn, bao gồm đầu tư vào vốn chủ sở
hữu, trái phiếu và các công cụ phái sinh tài chính.
Vay ngân hàng nước ngoài ngắn hạn.
Vay ngân hàng nước ngoài với thời gian đầu tư ngắn hạn.
Các loại vốn trong các thể loại trên chia sẻ đặc điểm chung là thời gian đầu tư
ngắn và chúng có thể đến nhanh và rời đi nhanh chóng.
2. Ví dụ về dòng tiền nóng
Dòng tiền nóng (hot money flow) là các nguồn vốn ngắn hạn và nhạy
cảm di chuyển giữa các nước. Hiện tượng này xuất hiện khi các nhà đầu tư
muốn lợi dụng sự chênh lệch lãi suất giữa các trung tâm tài chính để kiếm lợi
hoặc khi họ dự kiến có khả năng đồng tiền của một nước sẽ bị phá giá (hay
xuống giá) hay tăng giá (lên giá). Các dòng tiền nóng mang tính đầu cơ như
vậy đặc biệt nguy hiểm. Chúng phá vỡ sự ổn định của hệ thống tỷ giá hối
đoái và trạng thái cân bằng của cán cân thanh toán. Vì vậy, cơ quan hữu
trách về tiền tệ thường tìm cách kiểm soát dòng tiền nóng thông qua chính
sách kiểm soát hối đoái.
Ví dụ đơn giản sau đây minh họa cho hiện tượng tiền nóng: Đầu năm 2011,
lãi suất trung bình quốc gia của chứng chỉ tiền gửi một năm tại Hoa Kỳ là
0,95%. Ngược lại, lãi suất tiền gửi một năm của Trung Quốc là 3%.
Đồng nhân dân tệ đang bị định giá thấp nghiêm trọng so với các loại tiền tệ
giao dịch chính của thế giới và do đó có khả năng tăng giá so với đồng đô la
Mỹ trong những năm tới. Với tình huống này, nếu một nhà đầu tư ở Mỹ gửi
tiền của mình vào ngân hàng Trung Quốc, nhà đầu tư sẽ nhận được tiền lãi
cao hơn so với việc họ gửi tiền vào ngân hàng Mỹ. Điều này làm cho Trung
Quốc trở thành mục tiêu hàng đầu cho dòng tiền nóng. Đây chỉ là một ví dụ
để minh họa. Trong thực tế, tiền nóng có nhiều hình thức đầu tư khác nhau.
Mô tả sau đây có thể giúp minh họa thêm cho hiện tượng này: "một quốc gia
hoặc khu vực trong nền kinh tế thế giới gặp khủng hoảng tài chính, vốn chảy
ra trong hoảng loạn; các nhà đầu tư tìm kiếm một điểm đến hấp dẫn hơn cho
tiền của họ. Ở điểm đến tiếp theo, dòng vốn tạo ra một sự bùng nổ đi kèm với
nợ nần tăng, giá tài sản tăng và tiêu dùng bùng nổ - trong một thời gian.
Nhưng điều đáng buồn thường theo sau những dòng vốn này là một cuộc
khủng hoảng khác. Một số nhà bình luận mô tả những mô hình này của dòng
vốn như là "tiền nóng" lưu chuyển từ một ngành hoặc một quốc gia tới nơi
tiếp theo và để lại phía sau dấu vết của sự hủy diệt."
3. Nguồn gốc của tiền nóng
Tiền nóng thường có nguồn gốc từ các nước phát triển, giàu vốn có tốc độ
tăng trưởng GDP thấp hơn và lãi suất thấp hơn so với tốc độ tăng trưởng
GDP và lãi suất của các nền kinh tế thị trường mới nổi như Ấn Độ, Brazil,
Trung Quốc, Thổ Nhĩ Kỳ, Malaysia, v.v. Mặc dù các nguyên nhân cụ thể của
dòng tiền nóng có phần khác nhau theo từng giai đoạn, nhưng nói chung
những điều sau đây có thể được coi là nguyên nhân của dòng tiền nóng:[3]
Sự sụt giảm lãi suất kéo dài ở các nước phát triển công nghiệp hóa cao. Lãi
suất thấp hơn ở các quốc gia phát triển thu hút các nhà đầu tư đến lợi suất
đầu tư cao và cải thiện triển vọng kinh tế ở châu Á và châu Mỹ Latinh.
Xu hướng chung hướng tới đa dạng hóa quốc tế các khoản đầu tư vào các
trung tâm tài chính lớn và hướng tới hội nhập ngày càng tăng của thị trường vốn thế giới.
Các nền kinh tế đang nổi lên bắt đầu áp dụng các chính sách tài khóa và
tiền tệ hợp lý cũng như các cải cách định hướng thị trường bao gồm tự do
hóa thương mại và thị trường vốn. Những cải cách chính sách như vậy,
trong số những cải cách khác, đã dẫn đến sự gia tăng đáng tin cậy về tỷ suất lợi tức đầu tư.
Như mô tả ở trên, tiền nóng có thể ở các dạng khác nhau. Các quỹ phòng hộ,
các quỹ đầu tư danh mục đầu tư khác và vay quốc tế của các tổ chức tài
chính trong nước thường được coi là phương tiện truyền tải tiền nóng.
Trong cuộc khủng hoảng tài chính Đông Á năm 1997 và trong cuộc khủng
hoảng tài chính Nga năm 1998, "tiền nóng" chủ yếu đến từ các ngân hàng,
chứ không phải từ các nhà đầu tư danh mục đầu tư.
4. Tác động của Dòng tiền nóng
Dòng tiền nóng có thể tăng phúc lợi bằng cách cho phép các hộ gia đình dàn
xếp mức tiêu thụ theo thời gian và đạt được mức tiêu thụ cao hơn. Dòng vốn
có thể giúp các nước phát triển đạt được sự đa dạng hóa quốc tế tốt hơn về
danh mục đầu tư của họ và thu hút nhà đầu tư nước ngoài, Các nhà đầu tư
tiền nóng cũng có thể kiếm được lợi nhuận đáng kể bằng cách sử dụng các
quỹ một cách chiến lược.
Tuy nhiên, dòng vốn lớn và đột ngột với thời hạn đầu tư ngắn hạn có tác
động kinh tế vĩ mô tiêu cực, bao gồm mở rộng tiền tệ nhanh chóng, áp lực
lạm phát, tăng tỷ giá hối đoái thực và thâm hụt tài khoản vãng lai. Đặc biệt,
khi dòng vốn lớn đổ vào thị trường tài chính địa phương nhỏ và nông, tỷ giá
có xu hướng tăng, giá tài sản tăng và giá hàng hóa địa phương bùng nổ.
Những biến động giá tài sản thuận lợi này cải thiện các chỉ số tài khóa quốc
gia và khuyến khích mở rộng tín dụng trong nước. Những điều này, đến lượt
nó, làm trầm trọng thêm sự yếu kém cấu trúc trong khu vực ngân hàng trong
nước. Khi tâm lý của các nhà đầu tư toàn cầu đối với các thị trường mới nổi
thay đổi, dòng chảy đảo chiều và giá tài sản hoàn trả lại những gì kiếm được
từ nó, thường buộc phải điều chỉnh đau đớn đối với nền kinh tế.
Sau đây là chi tiết về những nguy hiểm mà tiền nóng mang lại cho nền kinh tế
của đất nước tiếp nhận:
Dòng vốn vào khổng lồ với thời gian đầu tư ngắn (tiền nóng) có thể
khiến giá tài sản tăng và lạm phát tăng. Dòng tiền vào lớn đột ngột của
nước ngoài sẽ làm tăng tiền cơ sở của nước nhận (nếu ngân hàng trung
ương đang cố định tiền tệ), điều này sẽ giúp tạo ra sự bùng nổ tín dụng.
Điều này, đến lượt nó, sẽ dẫn đến một tình huống trong đó "quá nhiều tiền
theo đuổi quá ít hàng hóa". Hậu quả của điều này sẽ là lạm phát. Hơn nữa,
tiền nóng có thể dẫn đến tăng tỷ giá hối đoái hoặc thậm chí gây ra tình trạng
tăng vọt tỷ giá hối đoái. Và nếu sự tăng giá tỷ giá này kéo dài dai dẳng, nó
sẽ làm tổn hại đến khả năng cạnh tranh của lĩnh vực xuất khẩu của quốc gia
tương ứng do làm cho xuất khẩu của nước này đắt đỏ hơn so với hàng hóa
và dịch vụ tương tự của nước ngoài.
Dòng tiền nóng thoát ra đột ngột, điều chắc chắn sẽ luôn xảy ra, sẽ làm
giảm giá tài sản và có thể gây ra sụp đổ giá trị của đồng tiền của quốc gia
tương ứng. Điều này đặc biệt đúng là như vậy với các nước có tài sản
thanh khoản quốc tế tương đối khan hiếm. Ngày càng có nhiều sự tán thành
cho rằng đây là trường hợp của cuộc khủng hoảng tài chính Đông Á năm
1997. Trước cuộc khủng hoảng, các công ty và doanh nghiệp tư nhân ở
Hàn Quốc, Thái Lan và Indonesia đã tích lũy một lượng lớn nợ nước ngoài
ngắn hạn (một loại tiền nóng). Ba nước chia sẻ một đặc điểm chung là có tỷ
lệ nợ nước ngoài ngắn hạn lớn so với dự trữ quốc tế. Khi vốn bắt đầu thoát
ra, nó đã gây ra sự sụp đổ về giá tài sản và tỷ giá hối đoái. Sự hoảng loạn
tài chính đã tự nuôi chính nó, khiến các chủ nợ nước ngoài thu hồi các
khoản cho vay và người gửi tiền rút tiền từ ngân hàng. Tất cả những điều
này đã khuếch đại tính mất thanh khoản của hệ thống tài chính trong nước
và buộc phải thực hiện một đợt thanh lý tài sản tốn kém và giảm phát giá. Ở
cả ba quốc gia này, các tổ chức tài chính trong nước đã đi đến bờ vực vỡ
nợ đối với nghĩa vụ ngắn hạn bên ngoài của họ. Tuy nhiên, một số nhà kinh
tế và chuyên gia tài chính cho rằng tiền nóng cũng có thể đóng vai trò tích
cực ở các quốc gia có mức dự trữ ngoại hối tương đối thấp, bởi vì dòng vốn
vào có thể tạo cơ hội hữu ích cho các quốc gia này để tăng cường nắm giữ
dự trữ của ngân hàng trung ương
5. Kiểm soát dòng tiền nóng
Vì dòng tiền nóng vừa đem lại lợi ích những cũng ẩn chứa nhiều nguy cơ cho
nền kinh tế vì vạy các quốc gia thường kiểm soát dòng vốn bằng một số biện pháp:
Tăng tỷ giá hối đoái: Tỷ giá hối đoái có thể được sử dụng như một công cụ
để kiểm soát dòng tiền nóng. Nếu tiền tệ được cho là bị định giá thấp, đó sẽ
là một nguyên nhân của dòng tiền nóng. Trong hoàn cảnh như vậy, các nhà
kinh tế thường đề xuất một sự định giá cao một lần đáng kể thay vì tăng
dần tỷ giá hối đoái, vì sự tăng giá dần dần của tỷ giá sẽ thu hút nhiều tiền
nóng hơn vào nước này. Một nhược điểm của phương pháp này là tăng tỷ
giá sẽ làm giảm khả năng cạnh tranh của lĩnh vực xuất khẩu.
Giảm lãi suất: Các quốc gia áp dụng chính sách này sẽ hạ lãi suất chuẩn
của ngân hàng trung ương của họ để giảm động lực cho dòng vốn vào. Ví
dụ, vào ngày 16 tháng 12 năm 2010, Ngân hàng Trung ương Thổ Nhĩ Kỳ đã
làm thị trường ngạc nhiên khi cắt giảm lãi suất tại thời điểm lạm phát gia
tăng và tăng trưởng kinh tế tương đối cao. Erdem Basci, phó thống đốc
Ngân hàng Trung ương Thổ Nhĩ Kỳ lập luận rằng việc cắt giảm lãi suất dần
dần là cách tốt nhất để ngăn chặn dòng vốn quá mức làm tăng bong bóng
tài sản và tăng giá tiền tệ.[9] Vào ngày 14 tháng 2 năm 2011, Mehmet
Simsek, Bộ trưởng Tài chính Thổ Nhĩ Kỳ cho biết: Khoản đầu tư ngắn hạn
hơn 8 tỷ USD đã rời khỏi đất nước sau khi ngân hàng trung ương cắt giảm
lãi suất và thực hiện các bước để làm chậm tăng trưởng tín dụng. Các thị
trường đã nhận được thông điệp rằng Thổ Nhĩ Kỳ không muốn dòng tiền nóng chảy vào[10]
Kiểm soát vốn: Một số chính sách kiểm soát vốn được Trung Quốc áp
dụng thuộc danh mục này. Ví dụ, ở Trung Quốc, chính phủ không cho phép
các quỹ nước ngoài đầu tư trực tiếp vào thị trường vốn của mình. Ngoài
ra, ngân hàng trung ương Trung Quốc đặt ra hạn ngạch cho các tổ chức tài
chính trong nước trong sử dụng nợ nước ngoài ngắn hạn và ngăn các ngân
hàng lạm dụng hạn ngạch của họ.[11] Vào tháng 6 năm 1991, chính phủ
Chile đã đưa ra yêu cầu dự trữ 20% không trả thù lao (không trả tiền) để gửi
tại Ngân hàng Trung ương trong thời gian một năm đối với các khoản nợ
bằng ngoại tệ, đối với các công ty đang vay trực tiếp bằng ngoại tệ.
Document Outline
- Tiền nóng (HOT MONNEY) là gì ? Tác động của dòng t
- 1. Tiền nóng - hot money là gì?
- 1.1 Khái niệm tiền nóng
- 1.2 Đặc điểm của tiền nóng
- 2. Ví dụ về dòng tiền nóng
- 3. Nguồn gốc của tiền nóng
- 4. Tác động của Dòng tiền nóng
- 5. Kiểm soát dòng tiền nóng
- 1. Tiền nóng - hot money là gì?