
















Preview text:
ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
KHOA QUAN HỆ QUỐC TẾ ----------
NỘI DUNG THUYẾT TRÌNH
ĐỀ TÀI: SƠ LƯỢC NỘI DUNG VỀ TIỂU SỬ,
LỊCH SỬ TƯ TƯỞ ỮNG ĐÓNG GÓP NG, NH
VÀ TÁC PHẨM TIÊU BIỂU CỦA EMILE DURKHEIM VÀ MAX WEBER
Giảng viên: ThS. Nguyễn Văn Chánh
Lớp: 2420DAI021L09
Môn: Xã hội học đại cương
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH, THÁNG 4 NĂM 2025 Lớp: 2420DAI021L09
Môn: Xã hội học đại cương
Giảng viên: ThS. Nguyễn Văn Chánh
SƠ LƯỢC NỘI DUNG VỀ TIỂU SỬ, LỊCH SỬ TƯ TƯỞNG,
NHỮNG ĐÓNG GÓP VÀ TÁC PHẨM TIÊU BIỂU CỦA
EMILE DURKHEIM VÀ MAX WEBER I. Emilé Durkheim 1. Tiểu sử:
Émile Durkheim (sinh 15/04/1858 ở thị trấn Epinal, Pháp; mất 15/11/1917 ở
Paris, Pháp). Cùng với Karl Marx và Max Weber, Durkheim được công nhận là
một trong những người đầu tiên sáng lập ngành xã hội học hiện đại và thiết lập
nó như một môn học thuật. Là người đặt nền móng xây dựng chủ nghĩa chức
năng, cha đẻ của xã hội học Pháp. Ông là con, cháu của hai pháp sư Do Thái.
Đây là một gia đình quan tâm đến sự hòa nhập, như được minh chứng bằng việc
chọn cho con cái những cái tên thông dụng k hông có nguồn gốc Hê - brơ. Trái
với một truyền thuyết dài dẳng, Emile lúc trẻ chưa từng hay có dự định là pháp sư Do thái
Năm 1879, Durkheim đã được nhận vào Trường Ecole Normale Supérieure, tại
đó ông gặp một số bạn đồng môn mà sau này trở nên nổi tiếng như J.Jaurès hay
H. Bergon. Hai vị giáo sư có ảnh hưởng đáng kể đến ông là Fustel de Coulanges,
người đã làm cho ông thích nghiên cứ u các xã hội xưa để tái hiện sự hình thành
các thể chế xã hội, và É. Boutroux, người truyền lại cho ông tư tưởng của A.
Comte về tính không đồng nhất về mặt nhận thức của những khoa học khác
nhau. Sau này ông bảo vệ thành công luận án tiến sĩ “Nghiên cứu tổ chức về các
xã hội tiên tiến” - sau này được in thành sách với đầu đề “Phân công lao động trong xã hội”.
Năm 1887 , giảng dạy tại Trường Đại học Tổng hợp Bordeaux và có một số công
trình đồ sộ như “Phân công lao động trong xã hội” (1893), “Các quy tắc của
phương pháp xã hội học” (1895), “Tự tử” (1897). Cùng năm đó ông kết hôn
với Louise Dreyfus, con gái của một nhà công nghiệp, cuộc hôn nhân này giúp Lớp: 2420DAI021L09
Môn: Xã hội học đại cương
Giảng viên: ThS. Nguyễn Văn Chánh
ông có cuộc sống sung túc nhất định. Tuy nhiên cả cuộc đời ông chỉ cống hiến
cho công việc, vợ ông dường như được huy động làm phụ tá. Durkheim cũng tự
cho mình bị chứng suy nhược thần kinh và trải qua nhiều cơn trầm cảm nghiêm trọng.
Năm 1902, Durkheim giảng dạy tại Trường Đại học Tổng hợp Sorbone. Tại đây,
ông đã đư a xã hội học vào giảng dạy như một môn khoa học, mở đầu cho bước
tiến của xã hội học. “Những hình thức sơ đẳng của đời sống tôn giáo” (1912),
một tác phẩm độc đáo và quan trọng nhất của ông cũng đã ra đời vào thời điểm này.
Năm 1917, Durkheim qua đời do đột quỵ trong lúc giảng bài do sức khỏe suy
nhược sau cú sốc mất con.
1. Lịch sử tư tưởng:
Durkheim quan niệm rằng đối tượng nghiên cứu của xã hội học là các sự kiện
xã hội bao gồm sự kiện xã hội vật chất (nhóm, dân cư, và tổ chứ c xã hội) và sự
kiện xã hội phi vật chất (hệ thống giá trị, chuẩn mực, phong tục, tập quán xã hội)
"Sự kiện xã hội bao gồm cách cư xử của hành động, suy nghĩ và cảm giác bên
ngoài để các cá nhân, được đầu tư với một sức mạnh cưỡng chế nhờ đó họ thực
hiện kiểm soát hơn anh ta" - Durkheim. Những gì tồn tại bên ngoài cá nhân, có
sức mạnh cưỡng chế kiểm soát các hành vi trong xã hội, được mọi người đồng thuận chia sẻ.
2.1. Quan niệm về xã hội:
Durkheim cho rằng xã hội tồn tại độc lập, có trước cá nhân và yêu cầu cá nhân
tuân theo các chuẩn mực chung. Xã hội học cần xem xét hệ thống xã hội, cơ cấu
xã hội và các hiện tượng xã hội như các sự vật, sự kiện khách quan. Ông sử dụng
phương pháp thực chứng để nghiên cứu nguyên nhân và chức năng của các hiện
tượng xã hội. Durkheim ví xã hội như một sinh vật sống, trong đó mỗi cơ quan
đều đóng vai trò cần thiết để duy trì sự sống. Durkheim lập luận rằng ngay cả
những thành viên lệch lạc về mặt xã hội cũng là cần thiết, vì hình phạt cho hành
vi lệch lạc khẳng định các giá trị và chuẩn mực văn hóa đã được thiết lập. Lớp: 2420DAI021L09
Môn: Xã hội học đại cương
Giảng viên: ThS. Nguyễn Văn Chánh
Durkheim phân biệt hai kiểu đoàn kết xã hội:
Đoàn kết cơ giới: Liên kết xã hội dựa trên sự giống nhau tuyệt đối giữa các cá
nhân về kỹ năng và niềm tin. Các xã hội có đoàn kết cơ giới có luật pháp mang
tính cưỡng chế cao, ph ản ánh ý thức tập thể mạnh mẽ (xã hội truyền t hống)
Đoàn kết hữu cơ: Liên kết xã hội dựa trên sự phụ thuộc lẫn nhau qua phân công
lao động. Ý thức tập thể trong xã hội này yếu hơn, luật pháp chủ yếu điều chỉnh
hành vi thay vì trừng phạt (xã hội hiện đại)
VD: Durkheim giải thích rằng các xã hội tiền công nghiệ p được gắn kết với nhau
bằng sự đoàn kết cơ học , một loại trật tự xã hội được duy trì bởi ý thức tập thể
của một nền văn hóa. Các xã hội có sự đoàn kết cơ học hành động theo cách cơ
học; mọi thứ được thực hiện chủ yếu vì chúng luôn được thực hiện theo cách đó.
Kiểu suy nghĩ này phổ biến trong các xã hội tiền công nghiệp, nơi các mối quan
hệ họ hàng chặt chẽ và sự phân công lao độn g thấp đã tạo ra các giá trị và đạo
đức chung giữa mọi người, chẳng hạn như các nhóm săn bắn hái lượm.
Durkheim lập luận rằng khi mọi ngư ời có xu hướng làm cùng một loại công
việc, họ có xu hướng suy nghĩ và hành động giống nhau.
Trong các xã hội công nghiệp, sự đoàn kết cơ học được thay thế bằng sự đoàn
kết hữu cơ , là trật tự xã hội dựa trên sự chấp nhận những khác biệt về kinh tế
và xã hội. Trong các xã hội tư bản, Durkheim viết, sự phân công lao động trở
nên chuyên môn hóa đến mức mọi người đều làm những việc khác nhau. Thay
vì trừng phạt các thành viên của một xã hội vì không đồng hóa với các giá trị
chung, sự đoàn kết hữu cơ cho phép những người có các giá trị khác nhau cùng
tồn tại. Luật pháp tồn tại như đạo đức được chính thức hóa và dựa trên sự đền bù hơn là trả thù. Lớp: 2420DAI021L09
Môn: Xã hội học đại cương
Giảng viên: ThS. Nguyễn Văn Chánh
-> Durkheim tìm cách giải quyết mối quan h ệ giữa con ngư ời và xã hội bằng
cách đảm bảo tự do cá nhân mà không làm tăng tính ích kỷ, đồn g thời duy trì
trật tự xã hội thông qua sự nhất trí về giá trị và thiết chế xã hội.
2.2. Quan niệm về phân công lao động
Durkheim cho rằng phân công lao động là hiện tượng tự nhiên khi xã hội phát
triển cao, giúp tạo ra và củng cố sự đoàn kết xã hội. Sự chuyên môn hóa cao dẫn
đến sự tương tác và phụ thuộc lẫn nhau giữa các cá nhân và nhóm xã hội.
Ông đề xuất năm quy tắc phương pháp luận trong nghiên cứu xã hội học:
1. Khách quan: Loại bỏ thành kiến cá nhân vì sự kiện xã hội tồn tại khách quan, bên ngoài cá nhân.
2. Phân biệt chuẩn mực và bất thường: Xác định cái "bình thường" và
cái "không bình thư ờng" để tìm ra những tiêu chuẩn tốt đẹp cho xã hội.
VD: Có hai đặc điểm để ta có thể nhận biết một sự kiện nào đó là “bình thường”
(normal) trạng thái của sự kiện ấy (sức khỏe hoặc bệnh tật, lành mạnh hoặc bệnh
hoạn) phải là hình thức phổ biến, tức tồn tại cố hữu nơi tất cả các sự vật cùng
loại; và đó là những trạng thái có ích, tức “một nhân tố của trạng thái sức khỏe
xã hội”. Ví dụ, hành vi tội phạm là một hiện tượng bình thường, bởi lẽ “một xã
hội không có tội phạm là điều tuyệt đối không thể có”, và có ích ở chỗ nó “cần
thiết cho sự tiến hóa bình thường của luân lý và luật pháp”
3. Phân loại xã hội: Dựa vào bản chất và các thành tố cấu tạo xã hội để hiểu tiến trình phát triển lịch sử. Lớp: 2420DAI021L09
Môn: Xã hội học đại cương
Giảng viên: ThS. Nguyễn Văn Chánh
4. Giải thích nhân quả: Tìm kiếm nguyên nhân xã hội trong cấu trúc,
thiết chế, chuẩn mực hoặc giá trị để hiểu hành vi cá nhân.
5. So sánh xã hội: So sánh các xã hội khác nhau để tìm ra điểm giống và
khác trong các hiện tượng xã hội.
-> Durkheim đã áp dụ ng những quy tắc này trong nghi ên cứu c ủa ông về phân
công lao động, tôn giáo và nhiều lĩnh vực khác.
3. Tác phẩm tiêu biểu:
3.1. Phân công lao động xã hội (1893)
Durkheim lập luận rằng phân công lao động không chỉ là hiện tượng kinh tế mà
còn có chức năng xã hội, góp phần tạo nên sự gắn kết và trật tự xã hội.
3.2. Các quy tắc của phương pháp xã hội học (1895)
Đây là tác phẩm nền tảng của phương pháp luận xã hội học, trong đó Durkheim
xác định xã hội học là một khoa học độc lập. Ông giới thiệu khái niệm "sự kiện
xã hội", tức là những hiện tượng có tính khách quan, ràng buộc cá n hân và có
thể nghiên cứu một cách khoa học. 3.3. Tự tử (1897)
Nghiên cứu kinh điển về hành vi tự tử dưới góc độ xã hội học. Durkheim chỉ ra
rằng tự tử không chỉ là vấn đề cá nhân mà chịu ảnh hưởng bởi các yếu tố xã hội
như mức độ gắn kết và kiểm soát xã hội.
3.4. Các hình thức cơ bản của đời sống tôn giáo (1912)
Durkheim nghiên cứu vai trò của tôn giáo trong xã hội và đề xuất rằng tôn giáo
là một hiện tượng xã hội, giúp tạo ra sự gắn kết và duy trì trật tự xã hội. Ông
phân biệt giữa cái thiêng (sacred) và cái phàm tục (profane), đồng thời lập luận
rằng tôn giáo là nguồn gốc của nhiều thể chế xã hội. I.Max Weber Lớp: 2420DAI021L09
Môn: Xã hội học đại cương
Giảng viên: ThS. Nguyễn Văn Chánh
1. Tiểu sử
Max Weber tên đầy đủ là Maximilian Karl Emil Weber, sinh ngày 21 tháng 4
năm 1864, Erfurt, Phổ (Đức), trong một gia đình theo đạo Tin Lành; mất ngày
14 tháng 6 năm 1920, Munich, Đức. Ông là một nhà xã hội học, nhà sử học, nhà
luật học và nhà kinh tế chính trị người Đức, được coi là một trong những nhà lý
thuyết quan trọng nhất về sự phát triển của xã hội phương Tây hiện đại.
Maximilian Karl Emil Weber là con đầu trong gia đình của Max Weber Sr, một
công chức và chính trị gia có khuynh hướng tự do đầy tham vọng và Helene
Fallenstein, một phụ nữ trí thức rất quan tâm đến những vấn đề tôn giáo và xã
hội. Max từ sớm đã được trải nghiệm môi trường tri thức.
Năm 1882, Weber vào học luật tại đại học Heidelberg. Đến mùa thu 1884,
Weber về nhà và theo học tại đại học Berlin. Độ tuổi giữa và cuối 20 để làm việc
đồng thời trong hai công việc học nghề không lương - trợ lý luật sư và trợ lý đại
học - nên ông không đủ khả năng sống một mình c ho đến mùa thu năm 1893.
Vào thời điểm đó, ông nhận được một vị trí tạm thời giảng dạy luật học tại Đại học Berlin.
Đỉnh cao trong sự nghiệp học thuật ban đầu của ông là bài phát biểu nhậm chức
tại Freiburg năm 1895, trong đó ông đã tập hợp khoảng năm năm nghiên cứu về
các vấn đề nông nghiệp của Đức ở phía đông sông Elbe thành một bản cáo trạng
tàn khốc đối với c hế độ cầm quyền.
Năm 1903, M.Weber từ chức giáo sư và nhận công việc phó tổng biên tập cho
tạp chí Văn khố Khoa học Xã hội và Phúc lợi Xã hội. Sau đó, ông bắt đầu xuất
bản một số nghiên cứu, quan trọng nhất là l uận văn “Nền đạo đức Tin lành và
tinh thần của chủ nghĩa tư bản” (1905) - công trình nghiên cứu về ảnh hưởng
của văn hoá và tôn giáo trong tiến trình phát triển của kinh tế.
Năm 1919, Weber giảng dạy tại đại học Munchen và trở thành chủ nhiệm viện
xã hội học đầu tiên của Đức.
Năm 1920, Weber qua đời vì bệnh viêm phổi. Lớp: 2420DAI021L09
Môn: Xã hội học đại cương
Giảng viên: ThS. Nguyễn Văn Chánh
2. Lịch sử tư tưởng
Đối với bất kỳ kết quả nào cũng có thể có nhiều nguyên nhân, các lý do hành
động xuất phát từ chủ thể (ý nghĩa chủ quan của hành động), tức là quan tâm và
không loại trừ tính chủ quan.
2.1. Hướng nghiên cứu hành động: tìm cách thấu hiểu hành động c ủa cá nhân
rồi dần dần mới tiến tới lý giải nguyên nhân của hành động. Do đó, ông là người
đề xướng phương pháp luận chốn g chủ nghĩa thực chứng, lập luận cho việc
nghiên cứu hành động xã hội thông qua các phương pháp diễn giải (chứ không
phải theo chủ nghĩa kinh nghiệm), dựa trên sự hiểu biết về mục đích và ý nghĩa
của các cá nhân gắn với hành động của chính họ.
2.2. Ông chia hành động làm 4 loại gắn với các ý nghĩa chủ quan:
Hành động duy lý về mục tiêu và công cụ.
Hành động duy lý về gi á trị. Hành động xúc cảm.
Hành động truyền thống.
2.3. Về bất bình đẳng xã hội:
Weber không coi mọi cấu trúc xã hội đều bất bình đẳng như trong xã hội có giai cấp.
Nhấn mạnh quyền lực kinh tế có thể là kết quả nắm giữ quyền lực dựa vào các nền tảng khác.
Ông nhấn mạnh rằng tầm quan trọng của thị trường chứ không phải tái sản xuất
như là cơ sở kinh tế của giai cấp. Lớp: 2420DAI021L09
Môn: Xã hội học đại cương
Giảng viên: ThS. Nguyễn Văn Chánh
→ Nguyên nhân đầu tiên của bất bình đẳng tr ong xã hội tư bản là khác biệt về
khả năng thị trường (phụ thuộc vào sự hiểu biết, bản lĩnh và kĩ năng làm việc)
2.4. Về phân tầng xã hội:
Ông đưa ra ba yếu tố, tiêu chuẩn đề xác định phân tầng xã hội là của cải, uy tín
và quyền lực (hoặc còn gọi là giai cấp, địa vị và đảng phái),
Của cải (giai cấp): Liên quan đến vị trí kinh tế trong xã hội, tài sản sở hữu của
họ, những cơ hội đối với thu nhập của họ.
Uy tín (địa vị): Liên quan đến uy tín và danh dự mà cá nhân hoặc nhóm người
được xã hội công nhậ n. Nó không nhất th iết phụ thuộc vào kinh tế.
Quyền lực (đảng phái): Là khả năng đạt được mong mu ốn bất chấp, sự kháng
cự của người khác.
→ Không có yếu tố đơn lẻ nào có thể đóng vai trò quyết định với toàn bộ sự
phân tầng xã hội và biến đổi xã hội.
2.5. Về phương pháp luận nghiên cứu:
2 phương pháp luận nghiên cứu xã hội học rất quan trọng
Phương pháp luận cá nhân (“Individualisme méthodologique”): Gợi ý định
nghĩa “xã hội là tập hợp cá nhân cộng lại.” → Hiểu được cảm nhận, trải nghiệm,
thái độ, hành vi,... của mọi cá nhân trong xã hội ấy → Hiểu đc thực tế xã hội
đó. Nhà nghiên cứu phải chọn mẫu mang tính đại diện cho tổng thể xã hội. Trên
cơ sở đó mẫu đại diện là tập hợp các đơn vị (cá nhân) → tổng thể xã hội NNC
phải chọn mẫu cố ý vì phải chọn những cá nhân có trải nghiệm về hiện tượng xã
hội được nghiên cứu. Sự phối hợp giữa ngh iên cứu định tính và nghiên cứu định lượng: Lớp: 2420DAI021L09
Môn: Xã hội học đại cương
Giảng viên: ThS. Nguyễn Văn Chánh
Nghiên cứu định tính: Nghiên cứu định tính là hướng tiếp cận nhằm thăm dò,
mô tả và giải thích dựa vào các phư ơng tiện khảo sát kinh nghiệm, nhận thức,
động cơ thúc đẩy, dự định, hành vi, thái độ. Chúng có thể hướng chúng ta đến
việc xây dựng giả thuy ết và các giải thích.
Nghiên cứu định lượng: Nghiên cứu định lượng thường được gắn liền với việc
kiểm định (lý thuyết) dựa vào phương pháp suy diễn. Nói cách khác, nghiên cứu
định lượng là nghiên cứu sử dụng các phương pháp khác nhau để lượng hóa, đo
lường và phản ánh và diễn giải các mối quan hệ giữa các nhân tố (các biến) với nhau.
Phương pháp luận khuôn mẫu lí tưởng hay điển hình lý tưởng (“Ideal-
Type”): Đóng g óp của Weber để lại cho chúng ta công cụ nhận thức quan trọng.
Điển hìn h lý tưởng: Là khuôn mẫu được tạo dựng về mặt lý thuyết, dùng làm
thước đo và đánh giá những hiện tượng và trường hợp thực tế đang diễn ra.
Weber đã áp dụng để đánh giá về tổ chức quan liêu. 3 dạng khuôn mẫu lí tưởng:
Khuôn mẫu lý tưởng xuất phát từ bối cảnh xã hội cụ thể.
Khuôn mẫu lý tưởng là kết quả của khái quát hoá, trừu tượng hoá một thự c tế xã hội.
Khuôn mẫu lý tưởng làm công cụ lý luận để nghiên cứu một dạng hành động xã hội nhất định.
3. Tác phẩm tiêu biểu
Trong tác phẩm nổi tiếng của mình: “Nền đạo đức Tin lành và Tinh thần của
Chủ nghĩa Tư bản” (The Protestant Ethic and the Spirit of Capitalism) xuất bản
năm 1905, Weber đưa ra một vài luận điểm lý giải tại sao ông tin rằng đạo Cơ
đốc Tin lành có những ảnh hưởng sâu sắc đến Chủ nghĩa Tư bản: Lớp: 2420DAI021L09
Môn: Xã hội học đại cương
Giảng viên: ThS. Nguyễn Văn Chánh
3.1. Đạo Tin lành khiến con người luôn luôn cảm thấy tội lỗi:
Theo phân tích của Weber, nhữ ng con chiên Công giáo hẳn sẽ trả i qua điều này
một cách dễ dàng. Những tín đồ trót lầm lạc có thể thú tội thường xuyên và được
các linh mục “rửa sạch tội lỗi”, và do đó được phục hồi nhân phẩm trước Chúa.
Nhưng những con chiên theo đạo Tin lành không có sự thanh lọc như vậy, b ởi
chỉ có Chúa mới có quyền tha thứ và Chúa sẽ không hé lộ ý định của mình cho
tới Ngày Phán quyết (Day of Judgement).
3.2. Chúa thích sự chăm chỉ
Trong quan điểm của Weber, cảm giác tội lỗi của người Tin lành thường được
chuyển hướng vào đam mê làm việc. Nghỉ ngơi, thư giãn và đi săn – như giới
quý tộc Công giáo xưa thích làm – sẽ gây thêm phiền nhiễu cho Chúa. Không
ngẫu nhiên mà đạo Tin lành có ít lễ hội và ngày nghỉ hơn. Tiền bạc kiếm được
không phải để ném vào hội hè và ăn mừng hiện tại, chỉ được dùng để tái đầu tư cho ngày mai.
3.3. Mọi công việc đều thiêng liêng
Những người theo Công giáo cho rằng khái niệm về công việc thiêng liêng chỉ
giới hạn trong những hoạt động của giới tăng lữ. Nhưng hiện tại những người
theo đạo Tin lành tuyên bố rằng công việc thuộc bất cứ lĩnh vực nào cũng có thể
và nên được thực hiện nhân danh Chúa lòng lành, ngay cả những nghề như thợ
làm bánh hay nhân viên kế toán. Điều này tiếp thêm nghị lực tinh thần và sự
nghiêm túc mới cho mọi ngành nghề chuyên nghiệp. Lao động không chỉ là để
kiếm sống, mà nó còn là một phần trong thiê n hướng tôn giáo muốn thể hiện
phẩm hạnh của con chiên với Chúa.
3.4. Cộng đồng – chứ không phải gia đình – mới là điều quan trọng
Ở những quốc gia theo Công giáo, gia đình đã từng (và thường vẫn đang) là tất
cả. Nhưng đạo Tin lành có cái nhìn ít rộng lượng hơn về gia đình. Gia đình có
thể là nơi chứa đựng nhữ ng toan tính ích kỷ và vị kỷ, trái ngược hẳn với những
huấn thị của Jesus rằng một người Thiên Chúa nên quan tâm đến gia đình của
mọi tín đồ, chứ không chỉ riêng gia đình của mình. Với những con chiên đạo Tin Lớp: 2420DAI021L09
Môn: Xã hội học đại cương
Giảng viên: ThS. Nguyễn Văn Chánh
lành thời kỳ đầu, người ta phải quên mình cống hiến sức lự c cho toàn bộ cộng
đồng nơi mà mọi người đều xứng đáng có được sự công bằng và phẩm hạnh.
Việc đặt gia đình lên trên và đi ngược lại những đòi hỏi của số đông chính là
một tội lỗi; đã đến lúc chấm dứt những quyền lợi được đảm bảo nh ỏ nhen và
lòng trung thành chỉ dành riêng cho dòng tộc.
3.5. Phép màu không tồn tại
Sức mạnh siêu nhiên không thể can thiệp một cách kỳ cục và ngây ngô -> Weber
gọi điều này là “sự đập tan ảo mộng của thế giới.” Thay vào đó, triết học của
đạo Tin lành nhấn mạnh vào hành động của con người: thế giới hàng ngày được
thống trị bởi những sự việc, lý lẽ và những quy luật khoa học được khám phá.
Và do đó, sự phồn vinh không phải được Chúa bí ẩn sắp đặt và cũng không thể
đạt được bằng những lời cầu nguyện. Nó chỉ có thể là kết quả của quá trình suy
nghĩ có p hương pháp, hành xử lư ơng thiện, lao động hăng say và hiệu quả trong nhiều năm.
Tóm lại, trong quan điểm của Weber, cả năm yếu tố này đã hình thành nên những
nguyên liệu xúc tác quan trọng cho Chủ nghĩa tư bản cất cánh. Trong phân tích
của mình, Weber thể hiện rõ sự không đồng tình với Karl Marx, bởi Marx đã đề
xuất một cách nhìn duy vật về Chủ nghĩa tư bản; trong khi đó Weber ủng hộ
cách nhìn duy tâm. Cuộc tranh luận giữa Weber và Marx xoay quanh vai trò của
tôn giáo. Marx cho rằng tôn giáo là “thuốc phiện của quần chúng”, một thứ thuốc
gây ra sự chấp thuận bị động với những khía cạnh đen tối của Chủ nghĩa tư bản.
Weber cho rằng trên thực tế chính tôn giáo là căn nguyên và cũng là nguồn ủng
hộ trước nhất với Chủ nghĩa tư bản.
3.6. Những đóng góp:
Ông được xem là người sáng lập ra nền xã hội học chỉ huy
(Herrschaftssoziologie) và bên cạnh Émile Durkheim cũng được xem là người
sáng lập xã hội học tôn giáo (Religionssoziologie). Lớp: 2420DAI021L09
Môn: Xã hội học đại cương
Giảng viên: ThS. Nguyễn Văn Chánh
Khi ph ân tích lịch sử của các xã hội phương Tây, Weber tập trung vào chủ ng hĩa
duy lý như một lực lư ợng độc đáo và trung tâm định hình tất cả các thể chế
phương Tây (kinh tế, chính trị, tôn giáo, gia đình, hệ thống phân tầng, âm nhạc)
-> Quyết định đến sự phát triển của các cuộc điều tra xã hội học chuy ên sâu hơn sau này.
Ông cũng viết nhiều về các đề tài xã hội học khác. Trong khi Durk heim, chịu
ảnh hưởng Auguste Comte, theo trư ờng phái thực chứng, Weber – giống Werner
Sombart, một người bạn và là người đại diện nổi tiếng nhất cho ngành xã hội
học Đức – thiết lập và nghiên cứu theo truyền thống phản thực chứng.
Các nghiên cứu của ông khởi xướng cuộc cách mạng phản thực chứng trong
ngành khoa học xã hội, nhấn mạnh đến sự khác biệt giữa khoa học xã hội và
khoa học tự nhiên, nhất là trong lĩnh vực nghiên cứu hành động xã hội của con
người (trong đó Weber phân biệt giữa hành độ ng truyền thống, cảm tính, giá trị
thuần lý, và công cụ. Mặc dù những biên khảo đầu tiên của Weber là về xã hội
học công nghiệp, như ng chính những nghiên cứu về xã hội học tôn giáo và xã
hội học chính quyền mới làm Weber trở nên một tên tuổi lớn.
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. University of Regina. “Sociology 250 - Notes on Durkheim.”
Uregina.ca, 2003, uregina.ca/~gingrich/250j1503.htm. Lớp: 2420DAI021L09
Môn: Xã hội học đại cương
Giảng viên: ThS. Nguyễn Văn Chánh
2. Anh, Nguyễn Tuấn. Xã Hội Học Đại Cương. Đại Học Quo c Gia Thành
Pho Ho Chí Minh, 2000.
3. Mitzman, A. (2025, ngày 11 tháng 2). Max Weber . Encyclopedia
Britannica . ht ps:/ www.britannica.com/biography/Max-Weber-German- sociologist
4. Phạm Hồng Anh. (2014, August 14). Tư tưởng của Weber về quan hệ giữa tôn giáo và phát triển. Nghiên Cứu Quốc Tế.
ht ps:/ nghiencuuquocte.org/2014/08/14/tu-tuong-cua-weber-ve-quan-giua- ton-giao-va-phat-trien/
5. Max Weber (2008), Nền đạo đức Tin Lành và tinh thần của chủ nghĩa
tư bản, NXB Tri thức, Hà Nội.
6. PGS.TS. Trịnh Văn Tùng, & ThS. Đinh Phương Linh. (2016). Giáo
trình Xã hội học đại cương. NXB Đại học quốc gia Hà Nội.
7. Dictionnaire de la pensée sociologique, Massimo Borlandi, Raymond
Boudon, Mohamed Cherkaoui và Bernard Valade (chủ biên), 2005, P aris, PUF. Lớp: 2420DAI021L09 ộ ọc đại cương
ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN KHOA QUAN HỆ QUỐC TẾ ----------
NỘI DUNG THUYẾT TRÌNH
ĐỀ TÀI: SƠ LƯỢC NỘI DUNG VỀ TIỂU SỬ,
LỊCH SỬ TƯ TƯỞ ỮNG ĐÓNG GÓP NG, NH
VÀ TÁC PHẨM TIÊU BIỂU CỦA EMILE DURKHEIM VÀ MAX WEBER
Lớp: 2420DAI021L09 Môn: Xã h i h
ộ ọc đại cương
Giảng viên: ThS. Nguyễn Văn Chánh
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH, THÁNG 4 NĂM 2025