Tiểu sử của ông Maximilian Karl Emil Weber
1. Tiểu sử của Max Weber
Max Weber (1864 - 1920) một nhà hội học nổi tiếng người Đức, sống
cùng một thời kỳ với Taylor Fayol. Ông đã những cống hiến kiệt xuất
đối với luận quản cổ điển phương Tây.
Maximilian Karl Emil Weber một nhà hội học, nhà sử học, nhà luật học
n kinh tế chính trị người Đức, người được coi một trong những nhà
thuyết quan trọng nhất về sự phát triển của hội phương y hiện đại. Ý
tưởng của ông đã ảnh hưởng sâu sắc đến thuyết hội nghiên cứu
hội. Mặc được ng nhận một trong những cha đẻ của hội học, cùng
với Auguste Comte Émile Durkheim, Weber chưa bao giờ thừa nhận mình
như một nhà hội học, một nhà sử học.
Khác với Émile Durkheim, Weber không tin vào những lời giải thích đơn
nguyên, thay vào đó đề xuất rằng đối với bất kỳ kết quả nào cũng thể
nhiều nguyên nhân. Do đó, ông người đ xướng phương pháp luận chống
chủ nghĩa thực chứng, lập luận cho việc nghiên cứu hành động hội thông
qua các phương pháp diễn giải (chứ không phải theo chủ nghĩa kinh nghiệm),
dựa trên sự hiểu biết về mục đích ý nghĩa của các nhân gắn với hành
động của chính họ. Mối quan tâm chính của Weber tìm hiểu các quá trình
hợp hóa, thế tục hóa "sự biến đổi", ông cho kết quả của một cách
nghĩ mới về thế giới, liên kết các quá trình đó với sự trỗi dậy của chủ nghĩa
bản nền văn minh hiện đại.
Ông Weber được biết đến nhiều nhất với luận án kết hợp hội học kinh tế
hội học tôn giáo, nhấn mạnh tầm quan trọng của những ảnh hưởng văn
hóa gắn liền với tôn giáo như một phương tiện để hiểu về nguồn gốc của chủ
nghĩa bản (trái ngược với chủ nghĩa duy vật lịch sử của Marx).
2. Sự đóng góp của ông đối với viết sách
Đầu tiên Weber trình bày chi tiết hơn thuyết của mình trong c phẩm nổi
tiếng của mình, Nền đạo đức Tin Lành tinh thần của chủ nghĩa
bản (1905), ông đã cho rằng Đạo Tin lành một trong những "mối quan hệ
tự chọn" liên quan đến sự trỗi dậy của chủ nghĩa bản theo định hướng kinh
tế thị trường nhà nước hợp pháp trong thế giới phương Tây. Lập luận việc
thúc đẩy chủ nghĩa bản nguyên bản của đạo Tin lành, Weber cho
rằng tinh thần của chủ nghĩa bản vốn trong các giá trị tôn giáo của đạo
Tin lành.[8] Đạo đức Tin lành đã sớm hình thành các cuộc khám phá rộng lớn
hơn của Weber về tôn giáo thế giới, sau đó ông đã xem xét các tôn giáo của
Trung Quốc Ấn Độ, cũng như Do Thái giáo cổ đại, đặc biệt liên quan đến
các hệ quả kinh tế khác nhau của chúng sự phân tầng hội. Trong một
tác phẩm lớn khác, "Politics as a Vocation", Weber đã định nghĩa "nhà nước"
một thực thể tuyên bố thành công "độc quyền sử dụng lực hợp pháp
trong một lãnh thổ nhất định". Ông cũng sẽ người đầu tiên phân loại quyền
lực hội thành các hình thức riêng biệt: lôi cuốn, truyền thống hợp pháp.
Trong số đó, phân tích của Weber về bộ y quan liêu nhấn mạnh rằng các
thể chế nhà nước hiện đại ngày ng dựa trên sở quan pháp hợp lý.
Weber cũng nhiều đóng góp khác cho lịch sử kinh tế, thuyết phương
pháp luận. Phân tích của ông về nh hiện đại hợp hóa đã ảnh hưởng
đáng kể đến thuyết phê bình liên quan đến Trường phái Frankfurt. Sau
Chiến tranh thế giới thứ nhất, ông một trong những người sáng lập Đảng
Dân ch Đức Tự do. Ông cũng tranh cử không thành công cho một ghế trong
quốc hội làm cố vấn cho ủy ban soạn thảo Hiến pháp Weimar năm 1919.
Sau khi mắc bệnh cúm Tây Ban Nha, ông qua đời bệnh viêm phổi năm
1920, thọ 56 tuổi.
Từ cuối thế kỷ XIX đến đầu thế kỷ XX, một nước bản chủ nghĩa phát
triển sau, Đức đã nhanh chóng hoàn thành quá trình cách mạng công nghiệp,
kinh tế bản chủ nghĩa phát triển nhanh, các nghiệp gia đình với đặc
trưng ngành nghề gia truyền bắt đầu chuyển hóa theo hình thái nghiệp
bản chủ nghĩa hiện đại, các tổ chức bản lũng đoạn lần lượt xuất hiện.
Trước chiến tranh thế giới lần thứ nhất, các tổ chức bản lũng đoạn đã ngự
trị một cách phổ biến trong các ngành ng nghiệp chủ yếu n than đá,
luyện kim, điện, hóa chất. Sự phát triển của kinh tế bản ch nghĩa việc
không ngừng m rộng quy các tổ chức kinh tế - hội đòi hỏi phải
những biện pháp quản tổ chức kiểu mới.tương xứng, ổn định, hiệu
quả cao. một nhà hội học, Weber đã say nghiên cứu vấn đề này
đề ra một thể chế quản hành chính gọi thể chế hành chính trong “lý
tướng” bằng học thức uyên bác luận sâu sắc của ông, khiến cho ông trở
thành người địa vị quan trọng trong luận tổ chức cổ điển.
Weber sinh năm 1864 trong một gia đình giàu An pho sau đó không
lâu, chuyển đến Berlin. Năm 1882, ông vào học khoa kinh tế khoa luật tại
trường Đại học Heidelberg, sau đó lại học trường Đại học Berlin trường
Đại học c. Trong thời kỳ này, Weber đã tùng phục vụ trong quân đội nên ông
hiểu biết khá nhiều về chế độ quản trong quân đội Đức. Điều này rất ích
cho việc nghiên cứu luận tổ chức của ông sau đó. Năm 1891, ông thi đỗ
tiến với luận văn “Bàn về lịch sử c công ty thương mại trong thếkỷ”.
Từ năm 1892 đến năm 1920, tức năm ông qua đời, ông đã lần lượt giảng
dạy trường Đại học Berlin, trường Đại học Hamburg, trường Đại học
Heidelberg, trường Đại học Viên, trường Đại học Mu nich. Các mòn học
ông giảng dạy pháp luật, chính tr kinh tế học, hội học. Ông người
sáng lập tạp chí “Văn hiến khoa học hội chính trị hội” cố vấn
Chính phủ Đức. Những vấn đề óng say sưa nghiên cứu rất nhiều, liên
quan đến hội học, chính trị học, kinh tếhọc, lịch sử, n giáo. Với những
kiến giải sâu sác, độc đáo, ông đã trở thành một học giả nổi tiếng củã nước
Đức lúc đó. Những ý kiến của ông về quan hệ giữa các tổ chức kinh tế với
hội đã thúc đẩy mạnh mẽ nhận thức mang lính liên tục về quan hệ giữa chủ
nghĩa bản trong các nghiệp gia đình thê' kỷ XIX với các tổ chức còng
nghiệp lớn đang phát triển Châu Âu trong thời kỳ của Weber với các đơn
vị của Chính phủ.
3. Nghiên cứu và viết sách của ông Max Weber
Sau khi cho xuất bản một khối lượng đồ sộ các tác phẩm của ông vào đầu
thập niên 1890, từ đầu năm 1898 cho đến cuối năm 1902, không một tác
phẩm nào của Weber được ra đời, đến mùa thu năm 1903, ông từ nhiệm
chức giáo sư. Trong m ấy, Weber nhận công việc phó tổng biên tập cho
tạp chí Văn khố Khoa học hội Phúc lợi hội cùng làm việc với các
đồng nghiệp Edgar Jaffé Werner Sombart. Năm 1904, Weber bắt đầu cho
xuất bản một số trong những nghiên cứu của ông đăng trên tạp chí này, quan
trọng nhất luận văn Nền đạo đức Tin lành tinh thần của chủ nghĩa bản.
Đây tác phẩm nổi tiếng nhất của Weber, lập nền cho công trình nghiên cứu
của ông về ảnh hưởng của văn hóa tôn giáo trong tiến trình phát triển hệ
thống kinh tế.
Luận văn này chỉ một trong những nghiên cứu của ông được xuất bản
thành sách. Cũng trong m ấy, Weber đến thăm Hoa Kỳ tham dự Đại hội
Nghệ thuật Khoa học được tổ chức cùng với Hội chợ Thế giới tại St. Louis.
Mặc những thành công vang dội, Weber cảm thấy không thể trở lại bục
giảng, nên tiếp tục công việc nghiên cứu nhờ những trợ giúp tài chính
nhân, nhờ tài sản thừa kế năm 1907. Năm 1912, Weber cố tổ chức một
đảng chính trị cánh tả qui tụ những người khuynh hướng tự do dân chủ
hội, nhưng không thành ng, lẽ do phe t do e sợ những ởng
cách mạng của phe dân chủ hội vào lúc y
4. Tác phẩm nổi tiếng của Weber
Các tác phẩm chủ yếu của ông Luân tôn giáo tinh thần bản chủ
nghĩa”, “Lịch sử kinh tế nói chung”, “Lý luận về tổ chức kinh tế hội”,
“Những luận vãn về hội học”. Do thế chế hành chính trong “lý tưởng”
ông nêu ra đã đóng góp to lớn vào luận tổ chức cổ điển nên các n khoa
học về quản phương Tây gọi ông “người cha của luận về tổ chức”.
5. Thành tựu của ông Weber
Theo từ điển bách khoa toàn thư, Max Weber người trẻ nhất trong 3 người
được xem những người thành lập ra nền hội học Đức, (bên cạnh hai
người Tönnies Simmel). Ông được xem người sáng lập ra nền hội
học chỉ huy (Herrschaftssoziologie) bên cạnh Émile Durkheim cũng được
xem người sáng lập hội học tôn giáo (Religionssoziologie). Ngoài ra ông
cũng được xếp bên cạnh Karl Marx Georg Simmel, tác giả của những tác
phẩm cổ điển quan trọng của ngành hội học kinh tế (Wirtschaftssoziologie).
Ông cũng viết nhiều về c đề i hội học khác. Trong khi Durkheim, chịu
ảnh ởng Auguste Comte, theo trường phái thực chứng, Weber giống
Werner Sombart, một người bạn người đại diện nổi tiếng nhất cho
ngành hội học Đức thiết lập nghiên cứu theo truyền thống phản thực
chứng.
Các nghiên cứu của ông khởi xướng cuộc cách mạng phản thực chứng trong
ngành khoa học hội, nhấn mạnh đến sự khác biệt giữa khoa học hội
khoa học tự nhiên, nhất trong lĩnh vực nghiên cứu hành động hội của
con người (trong đó Weber phân biệt giữa hành động truyền thống, cảm tính,
giá trị thuần lý, ng cụ. Mặc những biên khảo đầu tiên của Weber là về
hội học công nghiệp, nhưng chính những nghiên cứu về hội học tôn
giáo hội học chính quyền mới làm Weber trở nên một tên tuổi lớn.
Trong Nền đạo đức Tin lành tinh thần của chủ nghĩa bản, Max Weber
bắt đầu các sưu khảo về sự hợp hóa, giải thích hiện tượng các giáo phái
Kháng Cách, đặc biệt là các giáo hội chịu ảnh hưởng Thần học Calvin theo
chủ trương khổ hạnh đã sử dụng các phương tiện thuần trong hoạt động
kinh tế n cách thể hiện rằng họ đang được Thiên Chúa chúc phúc.
Weber tiếp tục khảo t về vấn đề này, nhất trong c nghiên cứu của ông
về bộ máy hành chính, về sự phân tầng thẩm quyền.
Cần lưu ý rằng nhiều tác phẩm nổi tiếng của Weber chỉ được tuyển chọn,
nhuận chính, xuất bản sau khi ông mất. Những luận giải giá trị về các
nghiên cứu của Weber đến từ các c giả nổi tiếng trong ngành hội học
như Talcott Parsons C. Wright Mills.

Preview text:

Tiểu sử của ông Maximilian Karl Emil Weber 1. Tiểu sử của Max Weber
Max Weber (1864 - 1920) là một nhà xã hội học nổi tiếng người Đức, sống
cùng một thời kỳ với Taylor và Fayol. Ông đã có những cống hiến kiệt xuất
đối với lý luận quản lý cổ điển phương Tây.
Maximilian Karl Emil Weber là một nhà xã hội học, nhà sử học, nhà luật học
và nhà kinh tế chính trị người Đức, người được coi là một trong những nhà lý
thuyết quan trọng nhất về sự phát triển của xã hội phương Tây hiện đại. Ý
tưởng của ông đã ảnh hưởng sâu sắc đến lý thuyết xã hội và nghiên cứu xã
hội. Mặc dù được công nhận là một trong những cha đẻ của xã hội học, cùng
với Auguste Comte và Émile Durkheim, Weber chưa bao giờ thừa nhận mình
như một nhà xã hội học, mà là một nhà sử học.
Khác với Émile Durkheim, Weber không tin vào những lời giải thích đơn
nguyên, thay vào đó đề xuất rằng đối với bất kỳ kết quả nào cũng có thể có
nhiều nguyên nhân. Do đó, ông là người đề xướng phương pháp luận chống
chủ nghĩa thực chứng, lập luận cho việc nghiên cứu hành động xã hội thông
qua các phương pháp diễn giải (chứ không phải theo chủ nghĩa kinh nghiệm),
dựa trên sự hiểu biết về mục đích và ý nghĩa của các cá nhân gắn với hành
động của chính họ. Mối quan tâm chính của Weber là tìm hiểu các quá trình
hợp lý hóa, thế tục hóa và "sự biến đổi", mà ông cho là kết quả của một cách
nghĩ mới về thế giới, liên kết các quá trình đó với sự trỗi dậy của chủ nghĩa tư
bản và nền văn minh hiện đại.
Ông Weber được biết đến nhiều nhất với luận án kết hợp xã hội học kinh tế
và xã hội học tôn giáo, nhấn mạnh tầm quan trọng của những ảnh hưởng văn
hóa gắn liền với tôn giáo như một phương tiện để hiểu về nguồn gốc của chủ
nghĩa tư bản (trái ngược với chủ nghĩa duy vật lịch sử của Marx).
2. Sự đóng góp của ông đối với viết sách
Đầu tiên Weber trình bày chi tiết hơn lý thuyết của mình trong tác phẩm nổi
tiếng của mình, Nền đạo đức Tin Lành và tinh thần của chủ nghĩa tư
bản
(1905), ông đã cho rằng Đạo Tin lành là một trong những "mối quan hệ
tự chọn" liên quan đến sự trỗi dậy của chủ nghĩa tư bản theo định hướng kinh
tế thị trường và nhà nước hợp pháp trong thế giới phương Tây. Lập luận việc
thúc đẩy chủ nghĩa tư bản là nguyên lý cơ bản của đạo Tin lành, Weber cho
rằng tinh thần của chủ nghĩa tư bản vốn có trong các giá trị tôn giáo của đạo
Tin lành.[8] Đạo đức Tin lành đã sớm hình thành các cuộc khám phá rộng lớn
hơn của Weber về tôn giáo thế giới, sau đó ông đã xem xét các tôn giáo của
Trung Quốc và Ấn Độ, cũng như Do Thái giáo cổ đại, đặc biệt liên quan đến
các hệ quả kinh tế khác nhau của chúng và sự phân tầng xã hội. Trong một
tác phẩm lớn khác, "Politics as a Vocation", Weber đã định nghĩa "nhà nước"
là một thực thể tuyên bố thành công "độc quyền sử dụng vũ lực hợp pháp
trong một lãnh thổ nhất định". Ông cũng sẽ là người đầu tiên phân loại quyền
lực xã hội thành các hình thức riêng biệt: lôi cuốn, truyền thống và hợp pháp.
Trong số đó, phân tích của Weber về bộ máy quan liêu nhấn mạnh rằng các
thể chế nhà nước hiện đại ngày càng dựa trên cơ sở cơ quan pháp lý hợp lý.
Weber cũng có nhiều đóng góp khác cho lịch sử kinh tế, lý thuyết và phương
pháp luận. Phân tích của ông về tính hiện đại và hợp lý hóa đã ảnh hưởng
đáng kể đến lý thuyết phê bình liên quan đến Trường phái Frankfurt. Sau
Chiến tranh thế giới thứ nhất, ông là một trong những người sáng lập Đảng
Dân chủ Đức Tự do. Ông cũng tranh cử không thành công cho một ghế trong
quốc hội và làm cố vấn cho ủy ban soạn thảo Hiến pháp Weimar năm 1919.
Sau khi mắc bệnh cúm Tây Ban Nha, ông qua đời vì bệnh viêm phổi năm 1920, thọ 56 tuổi.
Từ cuối thế kỷ XIX đến đầu thế kỷ XX, là một nước tư bản chủ nghĩa phát
triển sau, Đức đã nhanh chóng hoàn thành quá trình cách mạng công nghiệp,
kinh tế tư bản chủ nghĩa phát triển nhanh, các xí nghiệp gia đình với đặc
trưng ngành nghề gia truyền bắt đầu chuyển hóa theo hình thái xí nghiệp tư
bản chủ nghĩa hiện đại, các tổ chức tư bản lũng đoạn lần lượt xuất hiện.
Trước chiến tranh thế giới lần thứ nhất, các tổ chức tư bản lũng đoạn đã ngự
trị một cách phổ biến trong các ngành công nghiệp chủ yếu như than đá,
luyện kim, điện, hóa chất. Sự phát triển của kinh tế tư bản chủ nghĩa và việc
không ngừng mở rộng quy mô các tổ chức kinh tế - xã hội đòi hỏi phải có
những biện pháp quản lý yà tổ chức kiểu mới.tương xứng, ổn định, có hiệu
quả cao. Là một nhà xã hội học, Weber đã say mê nghiên cứu vấn đề này và
đề ra một thể chế quản lý hành chính gọi là thể chế hành chính trong “lý
tướng” bằng học thức uyên bác và lý luận sâu sắc của ông, khiến cho ông trở
thành người có địa vị quan trọng trong lý luận tổ chức cổ điển.
Weber sinh năm 1864 trong một gia đình giàu có ở An pho và sau đó không
lâu, chuyển đến Berlin. Năm 1882, ông vào học khoa kinh tế và khoa luật tại
trường Đại học Heidelberg, sau đó lại học ở trường Đại học Berlin và trường
Đại học c. Trong thời kỳ này, Weber đã tùng phục vụ trong quân đội nên ông
hiểu biết khá nhiều về chế độ quản lý trong quân đội Đức. Điều này rất có ích
cho việc nghiên cứu lý luận tổ chức của ông sau đó. Năm 1891, ông thi đỗ
tiến sĩ với luận văn “Bàn về lịch sử các công ty thương mại trong thếkỷ”.
Từ năm 1892 đến năm 1920, tức là năm ông qua đời, ông đã lần lượt giảng
dạy ở trường Đại học Berlin, trường Đại học Hamburg, trường Đại học
Heidelberg, trường Đại học Viên, trường Đại học Mu nich. Các mòn học mà
ông giảng dạy là pháp luật, chính trị kinh tế học, xã hội học. Ông là người
sáng lập tạp chí “Văn hiến khoa học xã hội và chính trị xã hội” và là cố vấn
Chính phủ Đức. Những vấn đề mà óng say sưa nghiên cứu rất nhiều, liên
quan đến xã hội học, chính trị học, kinh tếhọc, lịch sử, tôn giáo. Với những
kiến giải sâu sác, độc đáo, ông đã trở thành một học giả nổi tiếng củã nước
Đức lúc đó. Những ý kiến của ông về quan hệ giữa các tổ chức kinh tế với xã
hội đã thúc đẩy mạnh mẽ nhận thức mang lính liên tục về quan hệ giữa chủ
nghĩa tư bản trong các xí nghiệp gia đình ở thê' kỷ XIX với các tổ chức còng
nghiệp lớn đang phát triển ở Châu Âu trong thời kỳ của Weber và với các đơn vị của Chính phủ.
3. Nghiên cứu và viết sách của ông Max Weber
Sau khi cho xuất bản một khối lượng đồ sộ các tác phẩm của ông vào đầu
thập niên 1890, từ đầu năm 1898 cho đến cuối năm 1902, không có một tác
phẩm nào của Weber được ra đời, đến mùa thu năm 1903, ông từ nhiệm
chức giáo sư. Trong năm ấy, Weber nhận công việc phó tổng biên tập cho
tạp chí Văn khố Khoa học Xã hội và Phúc lợi Xã hội cùng làm việc với các
đồng nghiệp Edgar Jaffé và Werner Sombart. Năm 1904, Weber bắt đầu cho
xuất bản một số trong những nghiên cứu của ông đăng trên tạp chí này, quan
trọng nhất là luận văn Nền đạo đức Tin lành và tinh thần của chủ nghĩa tư bản.
Đây là tác phẩm nổi tiếng nhất của Weber, lập nền cho công trình nghiên cứu
của ông về ảnh hưởng của văn hóa và tôn giáo trong tiến trình phát triển hệ thống kinh tế.
Luận văn này chỉ là một trong những nghiên cứu của ông được xuất bản
thành sách. Cũng trong năm ấy, Weber đến thăm Hoa Kỳ và tham dự Đại hội
Nghệ thuật và Khoa học được tổ chức cùng với Hội chợ Thế giới tại St. Louis.
Mặc dù những thành công vang dội, Weber cảm thấy không thể trở lại bục
giảng, nên tiếp tục công việc nghiên cứu nhờ những trợ giúp tài chính tư
nhân, và nhờ tài sản thừa kế năm 1907. Năm 1912, Weber cố tổ chức một
đảng chính trị cánh tả qui tụ những người có khuynh hướng tự do và dân chủ
xã hội, nhưng không thành công, có lẽ do phe tự do e sợ những lý tưởng
cách mạng của phe dân chủ xã hội vào lúc ấy
4. Tác phẩm nổi tiếng của Weber
Các tác phẩm chủ yếu của ông là “Luân lý tôn giáo và tinh thần tư bản chủ
nghĩa”, “Lịch sử kinh tế nói chung”, “Lý luận về tổ chức kinh tế và xã hội”,
“Những luận vãn về xã hội học”. Do thế chế hành chính trong “lý tưởng” mà
ông nêu ra đã đóng góp to lớn vào lý luận tổ chức cổ điển nên các nhà khoa
học về quản lý ở phương Tây gọi ông là “người cha của lý luận về tổ chức”.
5. Thành tựu của ông Weber
Theo từ điển bách khoa toàn thư, Max Weber là người trẻ nhất trong 3 người
được xem là những người thành lập ra nền xã hội học Đức, (bên cạnh hai
người Tönnies và Simmel). Ông được xem là người sáng lập ra nền xã hội
học chỉ huy (Herrschaftssoziologie) và bên cạnh Émile Durkheim cũng được
xem là người sáng lập xã hội học tôn giáo (Religionssoziologie). Ngoài ra ông
cũng được xếp bên cạnh Karl Marx và Georg Simmel, tác giả của những tác
phẩm cổ điển quan trọng của ngành xã hội học kinh tế (Wirtschaftssoziologie).
Ông cũng viết nhiều về các đề tài xã hội học khác. Trong khi Durkheim, chịu
ảnh hưởng Auguste Comte, theo trường phái thực chứng, Weber – giống
Werner Sombart, một người bạn và là người đại diện nổi tiếng nhất cho
ngành xã hội học Đức – thiết lập và nghiên cứu theo truyền thống phản thực chứng.
Các nghiên cứu của ông khởi xướng cuộc cách mạng phản thực chứng trong
ngành khoa học xã hội, nhấn mạnh đến sự khác biệt giữa khoa học xã hội và
khoa học tự nhiên, nhất là trong lĩnh vực nghiên cứu hành động xã hội của
con người (trong đó Weber phân biệt giữa hành động truyền thống, cảm tính,
giá trị thuần lý, và công cụ. Mặc dù những biên khảo đầu tiên của Weber là về
xã hội học công nghiệp, nhưng chính những nghiên cứu về xã hội học tôn
giáo và xã hội học chính quyền mới làm Weber trở nên một tên tuổi lớn.
Trong Nền đạo đức Tin lành và tinh thần của chủ nghĩa tư bản, Max Weber
bắt đầu các sưu khảo về sự hợp lý hóa, giải thích hiện tượng các giáo phái
Kháng Cách, đặc biệt là các giáo hội chịu ảnh hưởng Thần học Calvin theo
chủ trương khổ hạnh đã sử dụng các phương tiện thuần lý trong hoạt động
kinh tế như là cách thể hiện rằng họ đang được Thiên Chúa chúc phúc.
Weber tiếp tục khảo sát về vấn đề này, nhất là trong các nghiên cứu của ông
về bộ máy hành chính, và về sự phân tầng thẩm quyền.
Cần lưu ý rằng nhiều tác phẩm nổi tiếng của Weber chỉ được tuyển chọn,
nhuận chính, và xuất bản sau khi ông mất. Những luận giải có giá trị về các
nghiên cứu của Weber đến từ các tác giả nổi tiếng trong ngành xã hội học
như Talcott Parsons và C. Wright Mil s.
Document Outline

  • Tiểu sử của ông Maximilian Karl Emil Weber
    • 1. Tiểu sử của Max Weber
    • 2. Sự đóng góp của ông đối với viết sách
    • 3. Nghiên cứu và viết sách của ông Max Weber
    • 4. Tác phẩm nổi tiếng của Weber
    • 5. Thành tựu của ông Weber