Tìm hiểu khái niệm “tha hóa” trong triết học?
dụ về tha hóa trong hội hiện nay?
1. Khái niệm “tha hóa” trong quan điểm triết học của Rút-xô
Trong triết học của Rút-xô (1712 - 1778), nhà triết học nổi tiếng của phong
trào Khai sáng Pháp, tha hoá sự chuyển hoá những mối quan hệ hội,
những hiện tượng hội thành cái đối lập với bản chất tự nhiên của nó. Khi
nghiên cứu vấn đề con người quá trình phát triển của hội, Rút-xô khẳng
định bản chất con người tự do - con người sinh ra vốn được tự do, tuy thế,
trong các hội từ trước tới giờ, luôn tồn tại sự bất công, mất dân chủ giữa
người người, tự do của con người luôn bị kìm hãm. Ông đi tìm nguồn gốc
của tình trạng đó bản thân sự phát triển kinh tế các hình thái sở hữu của
hội.
Bằng duy biện chứng, Rút-xô phân tích, “trạng thái tự nhiên” giai đoạn
tồn tại đầu tiên của hội loài người, trong thời kỳ này, các mối quan hệ
hội còn thuần khiết, mọi người sinh ra ai cũng như nhau, chưa sự khác
nhau rệt về địa vị hội, về kinh tế, đẳng cấp, mọi người đều bình đẳng
tự do. “Trạng thái công dân” ra đời với sự xuất hiện sở hữu nhân phá vỡ
trạng thái tự nhiên của hội. Xã hội phân chia thành kẻ giàu người nghèo,
đầy rẫy những bất công áp bức, chiến tranh mọi tệ nạn hội khác xuất
hiện. Những đạo luật trong hội ng dân đều những xiềng xích trói buộc
kẻ yếu, đem lại sinh lực cho kẻ mạnh, huỷ hoại không thương tiếc tự do
nhân. Các mối quan hệ hội hoàn toàn bị biến chất đối lập với bản chất tự
nhiên của con người. Đây tình trạng hội bị tha hoá, đối lập với bản chất
tự nhiên của . Cùng với sự tha hoá các mối quan hệ hội, nhà nước cũng
bị tha h bản chất của mình. Sự tha h của bộ máy nhà nước được hiểu:
nhà nước (xuất hiện trên sở khế ước hội) đáng lẽ phải đảm bảo quyền
lợi cho mọi người dân trong hội, nhưng trong “trạng thái công dân” trở
thành công cụ đàn áp nhân dân, trở thành phương tiện hợp pháp hoá sở hữu
nhân cũng như mọi bất công trong hội. Rút-xô cho rằng cần phải thông
qua cách mạng đưa hội trở về “trạng thái tự nhiên” ban đầu của nó, nhưng
trên sở cao hơn, khôi phục tự do bình đẳng hội, xoá bỏ mọi bất ng
tệ nạn, lập lại kỷ cương.
Những ởng nhân văn của Rút-xô trở thành phương châm hành động của
giai cấp sản Pháp trong cách mạng sản Pháp 1789 - 1794.
2. Khái niệm “tha hóa” trong quan điểm triết học của Hêghen
Đến triết học của Hêghen, phạm trù tha hoá được xem như một trong những
đặc trưng trong hệ thống triết học đồ sộ của ông.
Tha hoá, như 3 thích, tức biến thành cái khác nhưng chính là trạng
thái khác hình thái khác. ý niệm tuyệt đối trong sự phát triển biện chứng
của nó, sau khi đạt tới sự phát triển đầy đủ trong thế giới tinh thần thuần tuý,
đã tha hoá thành giới tự nhiên để tiếp tục t nhận thức chính mình. Theo đó,
quá trình phát triển của giới tự nhiên từ vật chất đến vật chất hữu ,
từ sinh đến hữu sinh, xuất hiện sự sống sự phát triển của chính sự
sống chẳng qua ch sự biểu hiện bên ngoài của các phạm trù lôgic. Quá
trình phát triển từ thấp đến cao đó của giới tự nhiên cũng chính quá trình ý
niệm tuyệt đối vượt bỏ sự tha h của mình, trở thành cái tồn tại cho bản
thân mình, tiếp tục phát triển với cách tự ý thức của loài người trong toàn
bộ tiến trình lịch sử thế giới.
Như vậy, giới tự nhiên chính do ý niệm tuyệt đối tha hoá thành. Giới tự
nhiên chỉ tồn tại khác của ý niệm tuyệt đối, kết quả của sự vận động của
ý niệm tuyệt đối, hiện thân của ý niệm tuyệt đối. ý niệm tuyệt đối, được hiểu
như một lực lượng siêu nhiên thực thể cao nhất, sáng tạo ra toàn b thế
giới hiện thực. Quan niệm của ghen điển hình cho lập trường duy tâm
trong triết học.
3. Khái niệm “tha hóa” trong quan điểm triết học của Phơ-bach
Khái niệm tha hoá với nghĩa đã phân tích (sự chuyển hoá một hiện tượng,
mối quan hệ, đặc tính... sang cái khác với bản thân nó) được Phơ-bach sử
dụng khi phân tích bản chất của tôn giáo.
Nếu như Hêghen nói đến sự tha h của ý niệm tuyệt đối thì Phơ-bách nói
đến sự tha hoá của bản chất con người vào Thượng đế. Ông lập luận: bản
chất tự nhiên của con người muốn hướng tới cái chân, cái thiện, hướng tới
cái tốt đẹp nhất; nhưng trong thực tế con người không đạt được những
điều đó nên đã gửi gắm tất cả ước muốn của mình vào hình tượng Thượng
đế. Như thế, không phải Thượng đế sáng tạo ra con người chính con
người sáng tạo ra Thượng đế. Con người đã tưởng ợng ra Thượng đế
bằng cách trừu tượng hoá bản chất của mình, gán cho Thượng đế những
bản chất ấy. Với hình tượng Chúa con người đã tuyệt đối hoá, thần thánh hoá
những đặc tính của mình. Phơ-bách đã viết: tưởng, dụng ý của con người
như thế nào thì Chúa của con người như thế.
Bản chất của tôn giáo, theo đó, chính sự tha hoá các đặc tính của con
người. Con người dường n nhân đôi mình, ngắm nhìn mình trong gương
mặt của Thượng đế.
Khi phê phán chủ nghĩa duy tâm, Phơ bách cũng chỉ ra rằng, ch nghĩa duy
tâm chính sự tha hoá của tính. Vấn đề bản của triết học được Phơ-
bách quan niệm như sau, quan hệ thực sự của duy đối với tồn tại là: tồn tại,
chủ thể; duy, thuộc tính. Nguồn gốc của duy, của tính cảm giác,
trong đó ông hiểu cảm giác sự phản ánh các vật thể của thế giới vật chất.
Theo ông, tính bao giờ cũng phải đứng nguyên trên sở thế giới vật chất
của tính cảm giác. Ch nghĩa duy m đã đặt một tinh thần siêu tự nhiên
đứng trên giới tự nhiên, sinh ra giới tự nhiên, như vậy thì tính không phải
tính của con người sở ban đầu, khởi nguyên của thế giới - đó
sự tha hoá của tính.
Sự phê phán của Phơ bách đối với tôn giáo, với chủ nghĩa duy m như đã
phân tích hoàn toàn hợp lý. Điểm hạn chế của ông chỗ, khi chỉ đ cập
đến sự tha hoá trong lĩnh vực tinh thần, ý thức, ông đã không tìm được
những con đường hiện thực để thủ tiêu nó.
4. Khái niệm “tha hóa” trong quan điểm triết học của Mác
Quan điểm của Mác về tha hoá đối lập với quan điểm của Hêghen khác
căn bản với quan điểm của Phơ-bách. Mác không quy sự tha hoá thành
những hiện tượng của ý thức xem t nó trong chính đời sống hiện thực
hoạt động thực tiễn của con người. Xuất phát từ chỗ cho rằng tha hoá biểu
hiện những mâu thuẫn của một giai đoạn phát triển nhất định của hội,
do sự phân công lao động tính chất đối kháng đẻ ra gắn liền với chế đ
hữu. Trong những điều kiện đó, các mối quan hệ hội được hình thành
một cách tự phát vượt khỏi sự kiểm soát của con người, còn những kết
quả sản phẩm của hoạt động t b tha hoá khỏi các nhân các tập
đoàn hội.
Trong tác phẩm “Bản thảo kinh tế - triết học năm 1844” Mác đã chỉ ra sự tha
hoá của hiện tượng bản của đời sống hội - hiện tượng lao động. Sự tha
hoá của lao động kết quả của tất yếu của quan hệ sản xuất bản chủ
nghĩa.
Trong điều kiện của chế độ bóc lột tư bản, sự tha h lao động của người
công nhân được Mác phân tích trên 3 phương diện:
- Người công nhân bị tha hoá trong sản phẩm: Sản phẩm lao động kết quả
của quá trình lao động, trong quá trình đó, người công nhân đã chuyển đời
sống của anh ta vào sản phẩm, tự phát tiết trong lao động đ sáng tạo ra sản
phẩm. Sản phẩm lao động kết quả sáng tạo của người công nhân, biểu
hiện năng lực lao động của anh ta, gắn với anh ta, thuộc về anh ta. Nhưng
những sản phẩm lao động của anh ta đều bị nhà bản tước đoạt. Việc
chiếm hữu sản phẩm biểu hiện ra là một sự tha hoá đến nỗi người ng nhân
sản xuất ra càng nhiều sản phẩm bao nhiêu thì lại càng nghèo đi bấy nhiêu,
người công nhân càng tạo ra nhiều hàng hoá t anh ta lại trở thành một hàng
hoá rẻ mạt, thế giới vật phẩm càng tăng thêm giá trị thì thế giới nhân loại
càng mất giá trị. Như vậy người công nhân bị chính sản phẩm của mình, tức
bản thống trị. Do đó người công nhân đối với sản phẩm lao động của mình
như đối với một vật xa lạ. S tha hoá của công nhân trong sản phẩm được
hiểu mối quan hệ của công nhân với sản phẩm của lao động như với một
vật xa lạ thống trị anh ta.
- Người công nhân bị tha hoá trong lao động: sự tha hoá của công nhân trong
sản phẩm lao động dẫn tới sự tha hoá trong hoạt động lao động của anh ta.
Mác phân tích, lao động là hoạt động bản chất của con người, thông qua lao
động, con người tự khẳng định mình, được trạng thái sung sướng, thoải
mái; lao động giúp con người phát huy hoạt động thể xác tự do hoạt động
tinh thần tự do; hoạt động lao động do đó một nhu cầu của con người, con
người tự nguyện lao động cảm thấy mình chính mình trong quá trình lao
động.
Song điều đó không xảy ra quá trình lao động trong chủ nghĩa bản, do
sản phẩm của lao động sự tha h nên bản thân lao động cũng một sự
tha hoá, đó sự tha hoá bằng hành động, sự tha hoá của hoạt động. Sự tha
hoá đó biểu hiện chỗ: hoạt động lao động không còn là của người công
nhân, không thuộc về anh ta thuộc về người khác; bản thân anh ta trong
quá trình lao động không thuộc về anh ta thuộc về người khác. vậy lao
động của người công nhân không phải để tự khẳng định lại phủ định anh
ta, anh ta cảm thấy khổ sở, bị hành hạ trong lao động; lao động làm kiệt quệ
thân thể của anh ta hu hoại tinh thần của anh ta; lao động trở thành sự
cưỡng bức đối với công nhân, tồn tại bên ngoài anh ta, trở thành xa lạ với
anh ta, người công nhân đi đến chỗ trốn tránh lao động như trốn tránh bệnh
dịch hạch.
- Sự tha hoá bản chất tộc loài của con người. Lao động tha hoá làm cho giới
tự nhiên (thân thể của con người) bị biến thành một bản chất xa l với
con người. cũng làm cho bản thân con người, chức năng hoạt động của
bản thân con người, hoạt động sinh sống của con người trở thành xa lạ với
chính họ.
Sự tha h bản chất tộc loài của con người được hiểu là: “lao động bị tha hoá
làm cho thân thể của bản thân con người, cũng như giới tự nhiên bên ngoài
con người, cũng như bản chất tinh thần của con người, bản chất nhân loại
của con người trở thành xa lạ với con người”(1).
Tiếp tục phân tích kết quả của lao động bị tha hoá, Mác chứng minh mối quan
hệ tính chất quy luật giữa chế độ hữu lao động bị tha hoá: Sở hữu
nhân sở, nguyên nhân của lao động bị tha hoá, nhưng mặt khác lại
“phương tiện nhờ đó lao động tự tha hoá, sự thực hiện sự tha hoá
ấy”(2). Mối quan hệ trên đặc trưng của hệ thống các mối quan hệ bản
chủ nghĩa, sự tha hoá của lao động là sở của mọi hình thái tha hoá khác,
kể cả sự tha hoá về tưởng. Từ đó, theo Mác “còn thể kết luận thêm
rằng, sự giải phóng hội khỏi sở hữu tư nhân... khỏi sự nô dịch, trở thành
hình thức chính trị của sự giải phóng công nhân, vả lại vấn đề đây không
chỉ sự giải phóng của họ, sự giải phóng của họ bao hàm sự giải phóng
toàn thể loài người”(3).
Thủ tiêu sự tha h chỉ thể bằng sự giải phóng giai cấp công nhân, cải tạo
lại hội theo chủ nghĩa cộng sản nhằm giải phóng toàn diện con người.
Tóm lại, trong lịch sử triết học, khái niệm “tha hoá” được hiểu như sau:
Một là, quá trình những kết quả chuyển hoá của các sản phẩm hoạt động
của con người ng như của những đặc tính năng lực của con người
thành một cái độc lập với con người thống trị con người.
Hai là, sự chuyển h của những hoạt động quan h nào đó thành một cái
khác với bản thân chúng, sự bóp méo xuyên tạc trong ý thức của con
người những quan hệ sinh sống hiện thực của họ.
5. dụ về sự tha hóa
Với nghĩa n vậy, tha hoá một hiện tượng phổ biến trong mọi giai đoạn
phát triển của hội cho đến ngày nay. Trong hội chúng ta, hội trạng
thái quá độ, còn tồn tại nhiều mâu thuẫn về lợi ích, thậm chí những mâu
thuẫn tính chất đối kháng, thể thấy sự hiện diện của tha hoá trong nhiều
lĩnh vực, trong nhiều thời điểm.
Sự biến chất của không ít cán bộ công chức trong kinh tế th trường, sự
xuống cấp về đạo đức của một b phận dân cư, sự phai nhạt tưởng sống
của một bộ phận thanh niên, sự hình thức hoá trong thực hiện chế dân
chủ, sự dễ dãi trong sinh hoạt Đảng, sự lạm dụng quyền lực để trục lợi...
chính là những biểu hiện của tha hoá trong hội chúng ta.
Sự tha hoá đó được hiểu như thế nào? Xin phân tích một dụ: Nhà nước
CHXHCN Việt Nam xét về bản chất nhà nước mang bản chất giai cấp công
nhân, nhà nước của dân, do dân, dân, thực hiện quyền làm chủ của
nhân dân lao động. Trong n nước ta, nhân dân lao động chủ thể tối cao
của quyền lực. chế thực hiện quyền lực là: bằng quyền bầu cử, nhân dân
lao động gián tiếp lập ra bộ máy hành chính các cấp, bộ máy đó sẽ thay mặt
nhân dân triển khai thực hiện quyền lực của họ. Nói cách khác, nhân dân
đã trao cho các cán bộ công chức nhà nước - các “công bộc” của mình quyền
lực chính trị. Như vậy, quyền lực trong tay các vị công bộc quyền lực để
phục vụ nhân dân. Nhưng trong thực tế, không ít vị công bộc đã biến quyền
lực phục vụ đó thành quyền lực thống trị nhân dân. Điều đó thể hiện rệt
sự quan liêu, cửa quyền của bộ máy hành chính mặc chúng ta đã ra sức
cải cách; thể hiện sự xa dân, cảm với dân của rất nhiều cán bộ công
chức; thể hiện sự lợi dụng chức quyền tước đoạt số lượng lớn của cải của
nhà nước, của nhân dân trong các vụ tham nhũng liên tiếp bị phát hiện gần
đây; thể hiện sự lãng phí đến mức đáng báo động trong nếp làm ăn, sinh
hoạt của cán bộ công chức đối với những tài sản ng...
Quyền lực phục vụ nhân dân biến thành quyền lực thống trị nhân dân, đó
sự tha hoá quyền lực đó lực cản của sự phát triển.
Quá trình phát triển hội đòi hỏi phải khắc phục bằng được những hiện
tượng tha hoá , trả lại bản chất đích thực, tốt đẹp, vốn của các quan hệ
hội, các hiện tượng hội... Quá trình khắc phục không thể diễn ra trong thời
gian ngắn, cũng không hề dễ dàng. Nhưng một điều chắc chắn là: quá
trình đó trước tiên đòi hỏi mỗi cán bộ, đảng viên, thành viên của hội tự rèn
luyện cho mình một nếp sống trung thực, trong sạch, không ngừng nâng cao
năng lực chuyên môn, hoàn thành nhiệm vụ được giao với ý thức trách nhiệm
cao nhất.
Ghi chú:
(1) Mác - Ăngghen (1993), Toàn tập, Nxb. Sự thật, T.1, tr.138.
(2) sđd, tr.142.
(3) sđd, tr143.
Bài viết tham khảo:
1. Từ cách tiếp cận của C.Mác về tha hóa đến các hiện tượng tha hóa Việt
Nam hiện nay; PGS, TS Ngô Đình Xây - Học viện Báo chí Tuyên truyền;
2. Bước đầu tìm hiểu khái niệm “tha hóa” trong triết học; TS Bùi Thanh
Hương - Bài đăng trên Tạp chí Báo chí Tuyên truyền số tháng 6.2006.
3. Tha hóa chủ nghĩa hội; Hồ Ngọc Hương (Tạp chí Triết học, số
3/1989)

Preview text:

Tìm hiểu khái niệm “tha hóa” trong triết học? Ví
dụ về tha hóa trong xã hội hiện nay?
1. Khái niệm “tha hóa” trong quan điểm triết học của Rút-xô
Trong triết học của Rút-xô (1712 - 1778), nhà triết học nổi tiếng của phong
trào Khai sáng Pháp, tha hoá là sự chuyển hoá những mối quan hệ xã hội,
những hiện tượng xã hội thành cái đối lập với bản chất tự nhiên của nó. Khi
nghiên cứu vấn đề con người và quá trình phát triển của xã hội, Rút-xô khẳng
định bản chất con người là tự do - con người sinh ra vốn được tự do, tuy thế,
trong các xã hội từ trước tới giờ, luôn tồn tại sự bất công, mất dân chủ giữa
người và người, tự do của con người luôn bị kìm hãm. Ông đi tìm nguồn gốc
của tình trạng đó ở bản thân sự phát triển kinh tế và các hình thái sở hữu của xã hội.
Bằng tư duy biện chứng, Rút-xô phân tích, “trạng thái tự nhiên” là giai đoạn
tồn tại đầu tiên của xã hội loài người, trong thời kỳ này, các mối quan hệ xã
hội còn thuần khiết, mọi người sinh ra ai cũng như nhau, chưa có sự khác
nhau rõ rệt về địa vị xã hội, về kinh tế, đẳng cấp, mọi người đều bình đẳng và
tự do. “Trạng thái công dân” ra đời với sự xuất hiện sở hữu tư nhân phá vỡ
trạng thái tự nhiên của xã hội. Xã hội phân chia thành kẻ giàu người nghèo,
đầy rẫy những bất công và áp bức, chiến tranh và mọi tệ nạn xã hội khác xuất
hiện. Những đạo luật trong xã hội công dân đều là những xiềng xích trói buộc
kẻ yếu, đem lại sinh lực cho kẻ mạnh, huỷ hoại không thương tiếc tự do cá
nhân. Các mối quan hệ xã hội hoàn toàn bị biến chất đối lập với bản chất tự
nhiên của con người. Đây là tình trạng xã hội bị tha hoá, đối lập với bản chất
tự nhiên của nó. Cùng với sự tha hoá các mối quan hệ xã hội, nhà nước cũng
bị tha hoá bản chất của mình. Sự tha hoá của bộ máy nhà nước được hiểu:
nhà nước (xuất hiện trên cơ sở khế ước xã hội) đáng lẽ phải đảm bảo quyền
lợi cho mọi người dân trong xã hội, nhưng trong “trạng thái công dân” nó trở
thành công cụ đàn áp nhân dân, trở thành phương tiện hợp pháp hoá sở hữu
tư nhân cũng như mọi bất công trong xã hội. Rút-xô cho rằng cần phải thông
qua cách mạng đưa xã hội trở về “trạng thái tự nhiên” ban đầu của nó, nhưng
trên cơ sở cao hơn, khôi phục tự do và bình đẳng xã hội, xoá bỏ mọi bất công
và tệ nạn, lập lại kỷ cương.
Những tư tưởng nhân văn của Rút-xô trở thành phương châm hành động của
giai cấp tư sản Pháp trong cách mạng tư sản Pháp 1789 - 1794.
2. Khái niệm “tha hóa” trong quan điểm triết học của Hêghen
Đến triết học của Hêghen, phạm trù tha hoá được xem như một trong những
đặc trưng trong hệ thống triết học đồ sộ của ông.
Tha hoá, như 3 thích, tức là biến thành cái khác nó nhưng chính là nó ở trạng
thái khác và hình thái khác. ý niệm tuyệt đối trong sự phát triển biện chứng
của nó, sau khi đạt tới sự phát triển đầy đủ trong thế giới tinh thần thuần tuý,
đã tha hoá thành giới tự nhiên để tiếp tục tự nhận thức chính mình. Theo đó,
quá trình phát triển của giới tự nhiên từ vật chất vô cơ đến vật chất hữu cơ,
từ vô sinh đến hữu sinh, xuất hiện sự sống và sự phát triển của chính sự
sống chẳng qua chỉ là sự biểu hiện bên ngoài của các phạm trù lôgic. Quá
trình phát triển từ thấp đến cao đó của giới tự nhiên cũng chính là quá trình ý
niệm tuyệt đối vượt bỏ sự tha hoá của mình, trở thành cái tồn tại cho bản
thân mình, tiếp tục phát triển với tư cách tự ý thức của loài người trong toàn
bộ tiến trình lịch sử thế giới.
Như vậy, giới tự nhiên chính là do ý niệm tuyệt đối tha hoá thành. Giới tự
nhiên chỉ là tồn tại khác của ý niệm tuyệt đối, là kết quả của sự vận động của
ý niệm tuyệt đối, là hiện thân của ý niệm tuyệt đối. ý niệm tuyệt đối, được hiểu
như một lực lượng siêu nhiên là thực thể cao nhất, sáng tạo ra toàn bộ thế
giới hiện thực. Quan niệm của Hêghen điển hình cho lập trường duy tâm trong triết học.
3. Khái niệm “tha hóa” trong quan điểm triết học của Phơ-bach
Khái niệm tha hoá với nghĩa đã phân tích (sự chuyển hoá một hiện tượng,
mối quan hệ, đặc tính... sang cái khác với bản thân nó) được Phơ-bach sử
dụng khi phân tích bản chất của tôn giáo.
Nếu như Hêghen nói đến sự tha hoá của ý niệm tuyệt đối thì Phơ-bách nói
đến sự tha hoá của bản chất con người vào Thượng đế. Ông lập luận: bản
chất tự nhiên của con người là muốn hướng tới cái chân, cái thiện, hướng tới
cái gì tốt đẹp nhất; nhưng trong thực tế con người không đạt được những
điều đó nên đã gửi gắm tất cả ước muốn của mình vào hình tượng Thượng
đế. Như thế, không phải Thượng đế sáng tạo ra con người mà chính con
người sáng tạo ra Thượng đế. Con người đã tưởng tượng ra Thượng đế
bằng cách trừu tượng hoá bản chất của mình, gán cho Thượng đế những
bản chất ấy. Với hình tượng Chúa con người đã tuyệt đối hoá, thần thánh hoá
những đặc tính của mình. Phơ-bách đã viết: tư tưởng, dụng ý của con người
như thế nào thì Chúa của con người như thế.
Bản chất của tôn giáo, theo đó, chính là sự tha hoá các đặc tính của con
người. Con người dường như nhân đôi mình, ngắm nhìn mình trong gương mặt của Thượng đế.
Khi phê phán chủ nghĩa duy tâm, Phơ bách cũng chỉ ra rằng, chủ nghĩa duy
tâm chính là sự tha hoá của lý tính. Vấn đề cơ bản của triết học được Phơ-
bách quan niệm như sau, quan hệ thực sự của tư duy đối với tồn tại là: tồn tại,
chủ thể; tư duy, thuộc tính. Nguồn gốc của tư duy, của lý tính là ở cảm giác,
trong đó ông hiểu cảm giác là sự phản ánh các vật thể của thế giới vật chất.
Theo ông, lý tính bao giờ cũng phải đứng nguyên trên cơ sở thế giới vật chất
và của tính cảm giác. Chủ nghĩa duy tâm đã đặt một tinh thần siêu tự nhiên
đứng trên giới tự nhiên, sinh ra giới tự nhiên, như vậy thì lý tính không phải là
lý tính của con người mà là cơ sở ban đầu, khởi nguyên của thế giới - đó là sự tha hoá của lý tính.
Sự phê phán của Phơ bách đối với tôn giáo, với chủ nghĩa duy tâm như đã
phân tích là hoàn toàn hợp lý. Điểm hạn chế của ông là ở chỗ, khi chỉ đề cập
đến sự tha hoá trong lĩnh vực tinh thần, ý thức, ông đã không tìm được
những con đường hiện thực để thủ tiêu nó.
4. Khái niệm “tha hóa” trong quan điểm triết học của Mác
Quan điểm của Mác về tha hoá đối lập với quan điểm của Hêghen và khác
căn bản với quan điểm của Phơ-bách. Mác không quy sự tha hoá thành
những hiện tượng của ý thức mà xem xét nó trong chính đời sống hiện thực
và hoạt động thực tiễn của con người. Xuất phát từ chỗ cho rằng tha hoá biểu
hiện những mâu thuẫn của một giai đoạn phát triển nhất định của xã hội, nó
do sự phân công lao động có tính chất đối kháng đẻ ra và gắn liền với chế độ
tư hữu. Trong những điều kiện đó, các mối quan hệ xã hội được hình thành
một cách tự phát và vượt khỏi sự kiểm soát của con người, còn những kết
quả và sản phẩm của hoạt động thì bị tha hoá khỏi các cá nhân và các tập đoàn xã hội.
Trong tác phẩm “Bản thảo kinh tế - triết học năm 1844” Mác đã chỉ ra sự tha
hoá của hiện tượng cơ bản của đời sống xã hội - hiện tượng lao động. Sự tha
hoá của lao động là kết quả của tất yếu của quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa.
Trong điều kiện của chế độ bóc lột tư bản, sự tha hoá lao động của người
công nhân được Mác phân tích trên 3 phương diện:
- Người công nhân bị tha hoá trong sản phẩm: Sản phẩm lao động là kết quả
của quá trình lao động, trong quá trình đó, người công nhân đã chuyển đời
sống của anh ta vào sản phẩm, tự phát tiết trong lao động để sáng tạo ra sản
phẩm. Sản phẩm lao động là kết quả sáng tạo của người công nhân, là biểu
hiện năng lực lao động của anh ta, gắn bó với anh ta, thuộc về anh ta. Nhưng
những sản phẩm lao động của anh ta đều bị nhà tư bản tước đoạt. Việc
chiếm hữu sản phẩm biểu hiện ra là một sự tha hoá đến nỗi người công nhân
sản xuất ra càng nhiều sản phẩm bao nhiêu thì lại càng nghèo đi bấy nhiêu,
người công nhân càng tạo ra nhiều hàng hoá thì anh ta lại trở thành một hàng
hoá rẻ mạt, thế giới vật phẩm càng tăng thêm giá trị thì thế giới nhân loại
càng mất giá trị. Như vậy người công nhân bị chính sản phẩm của mình, tức
tư bản thống trị. Do đó người công nhân đối với sản phẩm lao động của mình
như đối với một vật xa lạ. Sự tha hoá của công nhân trong sản phẩm được
hiểu là mối quan hệ của công nhân với sản phẩm của lao động như với một
vật xa lạ và thống trị anh ta.
- Người công nhân bị tha hoá trong lao động: sự tha hoá của công nhân trong
sản phẩm lao động dẫn tới sự tha hoá trong hoạt động lao động của anh ta.
Mác phân tích, lao động là hoạt động bản chất của con người, thông qua lao
động, con người tự khẳng định mình, có được trạng thái sung sướng, thoải
mái; lao động giúp con người phát huy hoạt động thể xác tự do và hoạt động
tinh thần tự do; hoạt động lao động do đó là một nhu cầu của con người, con
người tự nguyện lao động và cảm thấy mình là chính mình trong quá trình lao động.
Song điều đó không xảy ra ở quá trình lao động trong chủ nghĩa tư bản, do
sản phẩm của lao động là sự tha hoá nên bản thân lao động cũng là một sự
tha hoá, đó là sự tha hoá bằng hành động, sự tha hoá của hoạt động. Sự tha
hoá đó biểu hiện ở chỗ: hoạt động lao động không còn là của người công
nhân, không thuộc về anh ta mà thuộc về người khác; bản thân anh ta trong
quá trình lao động không thuộc về anh ta mà thuộc về người khác. Vì vậy lao
động của người công nhân không phải để tự khẳng định mà lại phủ định anh
ta, anh ta cảm thấy khổ sở, bị hành hạ trong lao động; lao động làm kiệt quệ
thân thể của anh ta và huỷ hoại tinh thần của anh ta; lao động trở thành sự
cưỡng bức đối với công nhân, tồn tại bên ngoài anh ta, trở thành xa lạ với
anh ta, người công nhân đi đến chỗ trốn tránh lao động như trốn tránh bệnh dịch hạch.
- Sự tha hoá bản chất tộc loài của con người. Lao động tha hoá làm cho giới
tự nhiên (thân thể vô cơ của con người) bị biến thành một bản chất xa lạ với
con người. Nó cũng làm cho bản thân con người, chức năng hoạt động của
bản thân con người, hoạt động sinh sống của con người trở thành xa lạ với chính họ.
Sự tha hoá bản chất tộc loài của con người được hiểu là: “lao động bị tha hoá
làm cho thân thể của bản thân con người, cũng như giới tự nhiên ở bên ngoài
con người, cũng như bản chất tinh thần của con người, bản chất nhân loại
của con người trở thành xa lạ với con người”(1).
Tiếp tục phân tích kết quả của lao động bị tha hoá, Mác chứng minh mối quan
hệ có tính chất quy luật giữa chế độ tư hữu và lao động bị tha hoá: Sở hữu tư
nhân là cơ sở, nguyên nhân của lao động bị tha hoá, nhưng mặt khác nó lại
là “phương tiện nhờ đó lao động tự tha hoá, nó là sự thực hiện sự tha hoá
ấy”(2). Mối quan hệ trên là đặc trưng của hệ thống các mối quan hệ tư bản
chủ nghĩa, sự tha hoá của lao động là cơ sở của mọi hình thái tha hoá khác,
kể cả sự tha hoá về tư tưởng. Từ đó, theo Mác “còn có thể kết luận thêm
rằng, sự giải phóng xã hội khỏi sở hữu tư nhân... khỏi sự nô dịch, trở thành
hình thức chính trị của sự giải phóng công nhân, vả lại vấn đề ở đây không
chỉ là sự giải phóng của họ, vì sự giải phóng của họ bao hàm sự giải phóng
toàn thể loài người”(3).
Thủ tiêu sự tha hoá chỉ có thể bằng sự giải phóng giai cấp công nhân, cải tạo
lại xã hội theo chủ nghĩa cộng sản nhằm giải phóng toàn diện con người.
Tóm lại, trong lịch sử triết học, khái niệm “tha hoá” được hiểu như sau:
Một là, quá trình và những kết quả chuyển hoá của các sản phẩm hoạt động
của con người cũng như của những đặc tính và năng lực của con người
thành một cái gì độc lập với con người và thống trị con người.
Hai là, sự chuyển hoá của những hoạt động và quan hệ nào đó thành một cái
gì khác với bản thân chúng, sự bóp méo và xuyên tạc trong ý thức của con
người những quan hệ sinh sống hiện thực của họ.
5. Ví dụ về sự tha hóa
Với nghĩa như vậy, tha hoá là một hiện tượng phổ biến trong mọi giai đoạn
phát triển của xã hội cho đến ngày nay. Trong xã hội chúng ta, xã hội ở trạng
thái quá độ, còn tồn tại nhiều mâu thuẫn về lợi ích, thậm chí những mâu
thuẫn có tính chất đối kháng, có thể thấy sự hiện diện của tha hoá trong nhiều
lĩnh vực, trong nhiều thời điểm.
Sự biến chất của không ít cán bộ công chức trong kinh tế thị trường, sự
xuống cấp về đạo đức của một bộ phận dân cư, sự phai nhạt lý tưởng sống
của một bộ phận thanh niên, sự hình thức hoá trong thực hiện cơ chế dân
chủ, sự dễ dãi trong sinh hoạt Đảng, sự lạm dụng quyền lực để trục lợi...
chính là những biểu hiện của tha hoá trong xã hội chúng ta.
Sự tha hoá đó được hiểu như thế nào? Xin phân tích một ví dụ: Nhà nước
CHXHCN Việt Nam xét về bản chất là nhà nước mang bản chất giai cấp công
nhân, là nhà nước của dân, do dân, vì dân, thực hiện quyền làm chủ của
nhân dân lao động. Trong nhà nước ta, nhân dân lao động là chủ thể tối cao
của quyền lực. Cơ chế thực hiện quyền lực là: bằng quyền bầu cử, nhân dân
lao động gián tiếp lập ra bộ máy hành chính các cấp, bộ máy đó sẽ thay mặt
nhân dân triển khai và thực hiện quyền lực của họ. Nói cách khác, nhân dân
đã trao cho các cán bộ công chức nhà nước - các “công bộc” của mình quyền
lực chính trị. Như vậy, quyền lực trong tay các vị công bộc là quyền lực để
phục vụ nhân dân. Nhưng trong thực tế, không ít vị công bộc đã biến quyền
lực phục vụ đó thành quyền lực thống trị nhân dân. Điều đó thể hiện rõ rệt ở
sự quan liêu, cửa quyền của bộ máy hành chính mặc dù chúng ta đã ra sức
cải cách; thể hiện ở sự xa dân, vô cảm với dân của rất nhiều cán bộ công
chức; thể hiện ở sự lợi dụng chức quyền tước đoạt số lượng lớn của cải của
nhà nước, của nhân dân trong các vụ tham nhũng liên tiếp bị phát hiện gần
đây; thể hiện ở sự lãng phí đến mức đáng báo động trong nếp làm ăn, sinh
hoạt của cán bộ công chức đối với những tài sản công...
Quyền lực phục vụ nhân dân biến thành quyền lực thống trị nhân dân, đó là
sự tha hoá quyền lực và đó là lực cản của sự phát triển.
Quá trình phát triển xã hội đòi hỏi phải khắc phục bằng được những hiện
tượng tha hoá , trả lại bản chất đích thực, tốt đẹp, vốn có của các quan hệ xã
hội, các hiện tượng xã hội... Quá trình khắc phục không thể diễn ra trong thời
gian ngắn, cũng không hề dễ dàng. Nhưng có một điều chắc chắn là: quá
trình đó trước tiên đòi hỏi mỗi cán bộ, đảng viên, thành viên của xã hội tự rèn
luyện cho mình một nếp sống trung thực, trong sạch, không ngừng nâng cao
năng lực chuyên môn, hoàn thành nhiệm vụ được giao với ý thức trách nhiệm cao nhất. Ghi chú:
(1) Mác - Ăngghen (1993), Toàn tập, Nxb. Sự thật, T.1, tr.138. (2) sđd, tr.142. (3) sđd, tr143. Bài viết tham khảo:
1. Từ cách tiếp cận của C.Mác về tha hóa đến các hiện tượng tha hóa ở Việt
Nam hiện nay; PGS, TS Ngô Đình Xây - Học viện Báo chí và Tuyên truyền;
2. Bước đầu tìm hiểu khái niệm “tha hóa” trong triết học; TS Bùi Thanh
Hương - Bài đăng trên Tạp chí Báo chí và Tuyên truyền số tháng 6.2006.
3. Tha hóa và chủ nghĩa xã hội; Hồ Ngọc Hương (Tạp chí Triết học, số 3/1989)
Document Outline

  • Tìm hiểu khái niệm “tha hóa” trong triết học? Ví d
    • 1. Khái niệm “tha hóa” trong quan điểm triết học c
    • 2. Khái niệm “tha hóa” trong quan điểm triết học c
    • 3. Khái niệm “tha hóa” trong quan điểm triết học c
    • 4. Khái niệm “tha hóa” trong quan điểm triết học c
    • 5. Ví dụ về sự tha hóa