Tìm hiểu về học thuyết giá trị của trường phái
cổ điển
1. Khái quát về học thuyết giá trị của trường phái cổ điển
Những nhà kinh tế cổ điển được nhắc tới như một tập hợp lần đầu tiên
bởi Karl Marx. Điểm chung trong các học thuyết của họ học thuyết giá trị
lao động, đối lập với giá trị xuất phát từ một sự cân bằng giữa cung cầu.
Những nhà kinh tế này trước hết đã chứng kiến sự chuyển đổi kinh tế hội
do cuộc Cách mạng công nghiệp: sự giảm dân số nông thôn, bất ổn, nghèo
đói, sự xuất hiện của giai cấp công nhân.
Họ đặt câu hỏi về gia tăng dân số, những chuyển dịch nhân khẩu đã bắt
đầu Anh vào thời đó. Họ cũng nêu ra những câu hỏi mang tính nền tảng, về
nguồn gốc của giá trị hàng hóa, những nguyên nhân dẫn tới tăng trưởng kinh
tế vai trò của tiền trong nền kinh tế. Họ ủng hộ nền kinh tế thị trường tự do,
lập luận rằng đó một hệ thống tự nhiên dựa trên sự tự do quyền sở hữu
tài sản. Tuy nhiên, những nhà kinh tế học cổ điển chia rẽ không tạo thành
một dòng tưởng thống nhất.
Một học thuyết đáng chú ý trong kinh tế học cổ điển học thuyết về tiêu dùng
dưới mức, được trường phái Birmingham Thomas Malthus phát triển vào
đầu thế kỷ 19. Những người thuộc trường phái này lập luận rằng chính quyền
phải hành động để giảm bớt nh trạng thất nghiệp suy thoái kinh tế, họ là
những người tiền bối về học thuật của kinh tế học Keynes sau này vào những
năm 1930. Một trường phái đáng chú ý khác chủ nghĩa bản Manchester,
trường phái muốn thúc đẩy thương mại tự do, chống lại học thuyết của chủ
nghĩa trọng thương trước đó.
Nhiều quan điểm chủ đạo của trường phái này vẫn còn lưu giữ ý nghĩa đến
tận ngày nay. Xu hướng tưởng của trường phái cổ điển bắt đầu xuất hiện
từ thế kỷ 17 phát triển mạnh mẽ vào thế kỷ 18 đến nửa cuối thế kỷ 19.
2. Những người sáng lập học thuyết giá trị của trường phái cổ
điển
Người đại diện đầu tiên được xem ông tổ của kinh tế cổ điển William
Petty (1623 1687), người Anh. Những công trình khoa học của ông chuyên
về lĩnh vực thuế, hải quan thống kê. người được K. Marx đánh giá cao
qua các phát minh khoa học kinh tế.
Những tên tuổi lớn của trường phái này gồm Adam Smith (1723-1790), David
Ricardo (1772-1823), Thomas Malthus (1766-1834), John Stuart Mill (1806-
1873). Quan điểm về khoa học kinh tế của họ, giống như các nhà nghiên cứu
trước đó, khoa học về sự giàu cách thức nhân rộng của cải lên.
3. Phương pháp luận trong học thuyết giá tr của trường phái cổ
điển
Trường phái cổ điển đối lập với chủ nghĩa trọng thương trên nhiều phương
diện, trong đó sự khác biệt biểu hiện phương pháp luận đối tượng nội
dung các luận thuyết. Thực tiễn giai đoạn phát triển kinh tế công ởng lên
công nghiệp hóa thể hiện sự trỗi dậy của lực lượng doanh nghiệp hoạt động
trong sản xuất công nghiệp, đẩy hoạt động buôn bán cho vay vào ng
thứ yếu. Với do đó đối tượng nội dung của nghiên cứu kinh tế học chuyển
từ lĩnh vực giao thương sang lĩnh vực sản xuất. Phương pháp nghiên cứu
dựa trên việc đề xuất c định đề thu nhận từ các quy luật sản xuất thể
quan sát. thể nói, trường phái cổ điển biến kinh tế chính trị thành một môn
khoa học thực sự, nghiên cứu những vấn đề kinh tế về cạnh tranh tự do.
Đóng p quan trọng của trường phái đặt phạm trù lao động lực lượng
khởi tạo nền kinh tế, phạm trù giá trị kinh tế sự biểu hiện của giá trị
chung, vào trung tâm của nghiên cứu kinh tế; đã đề ra ý tưởng tự do kinh tế;
nhiều tác phẩm khoa học về các vấn đề giá trị thặng dư, lợi nhuận, thuế, địa
được trình bày. Chính từ trường phái này đã sản sinh ra môn khoa học
kinh tế.
4. Những đặc điểm riêng biệt
1. Không công nhận chính sách bảo hộ mậu dịch của n nước chú trọng
phân tích các vấn đề của lĩnh vực sản xuất trong sự tách biệt khỏi lĩnh vực
giao thương; đề xuất áp dụng các phương pháp nghiên cứu tiến bộ như
phương pháp nguyên nhân-hậu quả, suy diễn, quy nạp, logic trừu tượng. Tuy
nhiên, việc đặt ra sự đối nghịch giữa hai nh vực sản xuất giao thương đã
làm cho các nhà kinh tế học cổ điển đánh giá không đầy đủ những liên quan
mật thiết giữa hai lĩnh vực đó, trong đó ảnh hưởng của các yếu tố giao
thương lên quá trình sản xuất.
2. Dựa trên phương pháp phân tích nguyên nhân-hậu quả, tính toán các chỉ
số kinh tế trung bình, c nhà “cổ điển” m cách làm sáng tỏ cấu hình
thành giá trị hàng hóa. H cho rằng dao động của giá cả trên thị trường
không liên quan đến bản chất tự nhiên” của tiền số lượng của chúng,
liên quan đến các chi phí sản xuất, hay nói ch khác, đến số lượng lao động
bỏ ra.
3. Phạm trù giá trị vào thời đó được đánh giá mấu chốt của phân tích kinh
tế, gốc rễ để nảy mầm các phạm trù khác. Vấn đ giá trị hàm chứa các câu
hỏi như sau: giá trị biểu hiện giống n một hiện ợng các dạng thức của
thế nào? sở, nguồn gốc hay nguyên nhân nào của giá trị? Giá trị đại
lượng hay không cách xác định đại lượng đó như thế nào? Cái thể
dùng để đo giá trị? Giá trị thực hiện chức năng nào trong thuyết kinh tế?
Ngoài ra, việc đơn giản hóa phân tích hệ thống hóa đã làm cho khoa học
kinh tế hướng đến phát minh các quy luật mang tính học, tương tự như
trong vật học, nghĩa là không tính đến các yếu tố tâm lý, đạo đức, luật pháp
các yếu tố hội khác.
4. Tăng trưởng kinh tế phồn thịnh hội được cho không phải dựa vào
nguyên tắc xuất siêu, sự năng động cân bằng trạng thái nền kinh tế
quốc gia. Trong vấn đề này c nhà “cổ điển” không vận dụng các phương
pháp phân tích toán học hay hình toán học để thể chọn ra phương án
tối ưu trong số các phương án về tình trạng kinh tế. Trường phái cổ điển cho
rằng n bằng trong kinh tế thể đạt được một cách tự động theo quy
luật thị trường của Jean-Baptiste Say
5. Từ lâu tiền tệ được cho của con người tạo ra một cách chủ ý. Đến giai
đoạn của trường phái cổ điển tiền t được cho là một dạng hàng hóa tách
biệt từ trong thế giới hàng hóa, chúng không thể bị thay thế bởi những
thỏa thuận giữa mọi người. Tuy nhiên, chức năng của tiền chỉ được đánh giá
phương tiện trao đổi mang nh kỹ thuật.
5. Các giai đoạn phát triển
Vấn đ xác định giai đoạn phát triển trường phái cổ điển được xem xét từ lâu.
Thời điểm mở đầu của trường phái này được chấp nhận theo quan điểm của
K. Marx ờng như không gây tranh cãi trong giới nghiên cứu lịch sử kinh
tế. Tuy nhiên thời điểm kết thúc của thì Marx chỉ hạn chế bằng những tác
phẩm của A. Smith D. Ricardo. Các luận thuyết của các nhà nghiên cứu
tiếp theo không được Marx công nhận thuộc về trường phái này, Marx
gọi đó là Kinh tế chính trị tầm thường, những người đứng đầu của khuynh
hướng này Th. Malthus J. B. Say. Quan điểm trên của Marx không được
hưởng ứng bởi các nhà nghiên cứu khác, dụ như J. K. Gelbreyt giáo
trường đại học tổng hợp Harvard. Ông cho rằng ý tưởng của Smith
Ricardo vẫn còn tiếp tục phát triển đến tận giữa thế kỷ 19 với những tác
phẩm nổi tiếng của J. S. Mill . Ý kiến này được các nhà nghiên cứu lịch sử
tưởng kinh tế Ben Celigmen, P. Samuelson M. Blaug công nhận. Dựa vào
những đặc điểm chung, đúc kết từ các luận thuyết của các nhà nghiên cứu
tiêu biểu, thể xem cách phân chia giai đoạn phát triển của trường phái này
như sau:
* Giai đoạn 1: Từ cuối thế kỷ 17 đầu thế kỷ 18, bắt đầu bằng những c phẩm
luận của U. Petty người Anh, P. Buagilber người Pháp, với những ý
tưởng đối lập chủ nghĩa trọng thương. Đó những người đầu tiên tìm cách
giải thích nguồn gốc giá trị của hàng hóa dịch vụ (bằng cách xác định
lượng thời gian lao động công lao động đã bỏ ra trong sản xuất). Họ đã
khẳng định ý nghĩa tiên quyết của nguyên tắc tự do đối với hoạt động kinh tế
trong chính lĩnh vực sản xuất vật chất.
Tiếp theo đó sự xuất hiện chủ nghĩa trọng nông một khuynh hướng thuộc
về trường phái cổ điển mà đứng đầu Francois Quesnay Anne-Robert-
Jacques Turgot với những p phán sâu sắc đầy luận chứng đối với chủ
nghĩa trọng thương, kéo dài trong 1/3 khoảng giữa thế kỷ 18.
Trong giai đoạn đầu tiên này chưa nhà kinh tế học đại diện nào được
luận đầy đủ về phát triển hiệu quả sản xuất trong công nghiệp cả trong
nông nghiệp.
* Giai đoạn 2: kéo dài trong 1/3 khoảng cuối thế kỷ 18, giai đoạn gắn liền
với tên tuổi của nhà kinh tế học đại Adam Smith với tác phẩm “Sự giàu
của các dân tộc” (1776), đã đưa Kinh tế chính tr đến mức hoàn chỉnh của
một môn khoa học. Những khái niệm “con người kinh tế” “bàn tay hình”
đã thuyết phục được nhiều thế hệ nghiên cứu kinh tế. Đến tận những năm 30
của thế kỷ 20 nhiều n kinh tế học còn tin vào sự đúng đắn của quan điểm
laisez faire không can thiệp nhà nước vào tự do cạnh tranh. Những luận
thuyết của A. Smith đã trở thành sở để xuất hiện các thuyết hiện đại về
hàng hóa, tiền tệ, tiền công lao động, lợi nhuận, bản, lao động sản xuất
các phạm trù khác.
* Giai đoạn 3: trong nửa đầu thế kỷ 19, giai đoạn chuyển bước từ sản xuất
dạng công xưởng lên dạng nhà máy với việc khí hóa các công đoạn sản
xuất, diễn ra đặc biệt c nước phát triển như Anh Pháp. Tiếp tục
tưởng của Smith các nghiên cứu của D. Ricardo, T. Malthus, N. Cenior, J.B.
Say, F. Bastia
* Giai đoạn 4: trong nửa cuối thế kỷ 19 giai đoạn kết thúc của trường phái
cổ điển với những tác phẩm của J. C. Mill K. Marx. Tuy trong giai đoạn này
bắt đầu hình thành khuynh hướng tưởng mới sau này được gọi
trường phái tân cổ điển, nhưng các luận phổ biến của c nhà cổ điển vẫn
còn ảnh hưởng rất lớn trong phạm vi nghiên cứu kinh tế thời gian này.
6. Các nguyên bản
* Con người chỉ được xem xét trên phương diện kinh tế với một nguyện vọng
duy nhất: hướng đến lợi ích hữu để nâng cao vị thế của mình. Đạo đức,
văn hóa, truyền thống nhiều thứ khác không nằm trong tầm quan sát.
* Mọi chủ thể tham gia vào quá trình kinh tế đều tự do công bằng trước
pháp luật, kể cả trên phương diện khả năng tiên liệu trước các vấn đề kinh tế.
* Mọi chủ thể kinh tế đều nhận được thông tin đầy đủ về giá cả, mức lợi
nhuận, tiền ng lao động, giá th đất bất kỳ thị trường nào, ngay tại thời
điểm hiện tại hay trong tương lai.
* Thị trường đảm bảo ổn định tài nguyên: lao động vốn thể lập tức
được đáp ứng tại nơi cần chúng.
* Độ đàn hồi của lượng lao động theo giá tiền lương không dưới 1, nghĩa
tiền công lao động tăng kéo theo ng số lượng lao động; ngược lại, tiền công
giảm thì lượng lao động cũng giảm.
* Mục đích duy nhất của nhà bản là tối đa lợi nhuận từ vốn.
* Trên thị trường lao động tồn tại sự mềm dẻo tuyệt đối của tiền công lao
động, nghĩa giá lao động chỉ được xác định bởi cung cầu của thị trường
lao động.
* Yếu tố quan trọng làm ng số lượng của cải tích lũy bản.
* Cạnh tranh phải hoàn hảo, nền kinh tế phải hoàn toàn giải phóng
khỏi sự can thiệp nhà nước, đó “bàn tay hình” sẽ điều phối tài nguyên
một cách tối ưu.

Preview text:

Tìm hiểu về học thuyết giá trị của trường phái cổ điển
1. Khái quát về học thuyết giá trị của trường phái cổ điển
Những nhà kinh tế cổ điển được nhắc tới như một tập hợp lần đầu tiên
bởi Karl Marx. Điểm chung trong các học thuyết của họ là học thuyết giá trị
lao động, đối lập với giá trị xuất phát từ một sự cân bằng giữa cung và cầu.
Những nhà kinh tế này trước hết đã chứng kiến sự chuyển đổi kinh tế xã hội
do cuộc Cách mạng công nghiệp: sự giảm dân số ở nông thôn, bất ổn, nghèo
đói, sự xuất hiện của giai cấp công nhân.
Họ đặt câu hỏi về gia tăng dân số, vì những chuyển dịch nhân khẩu đã bắt
đầu ở Anh vào thời đó. Họ cũng nêu ra những câu hỏi mang tính nền tảng, về
nguồn gốc của giá trị hàng hóa, những nguyên nhân dẫn tới tăng trưởng kinh
tế và vai trò của tiền trong nền kinh tế. Họ ủng hộ nền kinh tế thị trường tự do,
lập luận rằng đó là một hệ thống tự nhiên dựa trên sự tự do và quyền sở hữu
tài sản. Tuy nhiên, những nhà kinh tế học cổ điển chia rẽ và không tạo thành
một dòng tư tưởng thống nhất.
Một học thuyết đáng chú ý trong kinh tế học cổ điển là học thuyết về tiêu dùng
dưới mức, được trường phái Birmingham và Thomas Malthus phát triển vào
đầu thế kỷ 19. Những người thuộc trường phái này lập luận rằng chính quyền
phải hành động để giảm bớt tình trạng thất nghiệp và suy thoái kinh tế, họ là
những người tiền bối về học thuật của kinh tế học Keynes sau này vào những
năm 1930. Một trường phái đáng chú ý khác là chủ nghĩa tư bản Manchester,
trường phái muốn thúc đẩy thương mại tự do, chống lại học thuyết của chủ
nghĩa trọng thương trước đó.
Nhiều quan điểm chủ đạo của trường phái này vẫn còn lưu giữ ý nghĩa đến
tận ngày nay. Xu hướng tư tưởng của trường phái cổ điển bắt đầu xuất hiện
từ thế kỷ 17 và phát triển mạnh mẽ vào thế kỷ 18 đến nửa cuối thế kỷ 19.
2. Những người sáng lập học thuyết giá trị của trường phái cổ điển
Người đại diện đầu tiên và được xem là ông tổ của kinh tế cổ điển là Wil iam
Petty (1623 – 1687), người Anh. Những công trình khoa học của ông chuyên
về lĩnh vực thuế, hải quan và thống kê. Là người được K. Marx đánh giá cao
qua các phát minh khoa học kinh tế.
Những tên tuổi lớn của trường phái này gồm Adam Smith (1723-1790), David
Ricardo (1772-1823), Thomas Malthus (1766-1834), John Stuart Mil (1806-
1873). Quan điểm về khoa học kinh tế của họ, giống như các nhà nghiên cứu
trước đó, là khoa học về sự giàu có và cách thức nhân rộng của cải lên.
3. Phương pháp luận trong học thuyết giá trị của trường phái cổ điển
Trường phái cổ điển đối lập với chủ nghĩa trọng thương trên nhiều phương
diện, trong đó sự khác biệt biểu hiện ở phương pháp luận và đối tượng nội
dung các luận thuyết. Thực tiễn giai đoạn phát triển kinh tế công xưởng lên
công nghiệp hóa thể hiện sự trỗi dậy của lực lượng doanh nghiệp hoạt động
trong sản xuất công nghiệp, đẩy hoạt động buôn bán và cho vay vào hàng
thứ yếu. Với lý do đó đối tượng nội dung của nghiên cứu kinh tế học chuyển
từ lĩnh vực giao thương sang lĩnh vực sản xuất. Phương pháp nghiên cứu
dựa trên việc đề xuất các định đề thu nhận từ các quy luật sản xuất có thể
quan sát. Có thể nói, trường phái cổ điển biến kinh tế chính trị thành một môn
khoa học thực sự, nghiên cứu những vấn đề kinh tế về cạnh tranh tự do.
Đóng góp quan trọng của trường phái là đặt phạm trù lao động – lực lượng
khởi tạo nền kinh tế, và phạm trù giá trị kinh tế – sự biểu hiện của giá trị
chung, vào trung tâm của nghiên cứu kinh tế; đã đề ra ý tưởng tự do kinh tế;
nhiều tác phẩm khoa học về các vấn đề giá trị thặng dư, lợi nhuận, thuế, địa
tô được trình bày. Chính từ trường phái này đã sản sinh ra môn khoa học kinh tế.
4. Những đặc điểm riêng biệt
1. Không công nhận chính sách bảo hộ mậu dịch của nhà nước và chú trọng
phân tích các vấn đề của lĩnh vực sản xuất trong sự tách biệt khỏi lĩnh vực
giao thương; đề xuất và áp dụng các phương pháp nghiên cứu tiến bộ như
phương pháp nguyên nhân-hậu quả, suy diễn, quy nạp, logic trừu tượng. Tuy
nhiên, việc đặt ra sự đối nghịch giữa hai lĩnh vực sản xuất và giao thương đã
làm cho các nhà kinh tế học cổ điển đánh giá không đầy đủ những liên quan
mật thiết giữa hai lĩnh vực đó, trong đó có ảnh hưởng của các yếu tố giao
thương lên quá trình sản xuất.
2. Dựa trên phương pháp phân tích nguyên nhân-hậu quả, tính toán các chỉ
số kinh tế trung bình, các nhà “cổ điển” tìm cách làm sáng tỏ cơ cấu hình
thành giá trị hàng hóa. Họ cho rằng dao động của giá cả trên thị trường
không liên quan đến “bản chất tự nhiên” của tiền và số lượng của chúng, mà
liên quan đến các chi phí sản xuất, hay nói cách khác, đến số lượng lao động bỏ ra.
3. Phạm trù giá trị vào thời đó được đánh giá là mấu chốt của phân tích kinh
tế, là gốc rễ để nảy mầm các phạm trù khác. Vấn đề giá trị hàm chứa các câu
hỏi như sau: giá trị biểu hiện giống như một hiện tượng và các dạng thức của
nó thế nào? Cơ sở, nguồn gốc hay nguyên nhân nào của giá trị? Giá trị có đại
lượng hay không và cách xác định đại lượng đó như thế nào? Cái gì có thể
dùng để đo giá trị? Giá trị thực hiện chức năng nào trong lý thuyết kinh tế?
Ngoài ra, việc đơn giản hóa phân tích và hệ thống hóa đã làm cho khoa học
kinh tế hướng đến phát minh các quy luật mang tính cơ học, tương tự như
trong vật lý học, nghĩa là không tính đến các yếu tố tâm lý, đạo đức, luật pháp
và các yếu tố xã hội khác.
4. Tăng trưởng kinh tế và phồn thịnh xã hội được cho là không phải dựa vào
nguyên tắc xuất siêu, mà là sự năng động và cân bằng trạng thái nền kinh tế
quốc gia. Trong vấn đề này các nhà “cổ điển” không vận dụng các phương
pháp phân tích toán học hay mô hình toán học để có thể chọn ra phương án
tối ưu trong số các phương án về tình trạng kinh tế. Trường phái cổ điển cho
rằng cân bằng trong kinh tế là có thể đạt được một cách tự động theo quy
luật thị trường của Jean-Baptiste Say
5. Từ lâu tiền tệ được cho là của con người tạo ra một cách chủ ý. Đến giai
đoạn của trường phái cổ điển tiền tệ được cho là một dạng hàng hóa tách
biệt từ trong thế giới hàng hóa, và chúng không thể bị thay thế bởi những
thỏa thuận giữa mọi người. Tuy nhiên, chức năng của tiền chỉ được đánh giá
là phương tiện trao đổi mang tính kỹ thuật.
5. Các giai đoạn phát triển
Vấn đề xác định giai đoạn phát triển trường phái cổ điển được xem xét từ lâu.
Thời điểm mở đầu của trường phái này được chấp nhận theo quan điểm của
K. Marx và dường như không gây tranh cãi trong giới nghiên cứu lịch sử kinh
tế. Tuy nhiên thời điểm kết thúc của nó thì Marx chỉ hạn chế bằng những tác
phẩm của A. Smith và D. Ricardo. Các luận thuyết của các nhà nghiên cứu
tiếp theo không được Marx công nhận là thuộc về trường phái này, và Marx
gọi đó là Kinh tế chính trị tầm thường, mà những người đứng đầu của khuynh
hướng này là Th. Malthus và J. B. Say. Quan điểm trên của Marx không được
hưởng ứng bởi các nhà nghiên cứu khác, ví dụ như J. K. Gelbreyt – giáo sư
trường đại học tổng hợp Harvard. Ông cho rằng ý tưởng của Smith và
Ricardo vẫn còn tiếp tục phát triển đến tận giữa thế kỷ 19 với những tác
phẩm nổi tiếng của J. S. Mil . Ý kiến này được các nhà nghiên cứu lịch sử tư
tưởng kinh tế Ben Celigmen, P. Samuelson và M. Blaug công nhận. Dựa vào
những đặc điểm chung, đúc kết từ các luận thuyết của các nhà nghiên cứu
tiêu biểu, có thể xem cách phân chia giai đoạn phát triển của trường phái này như sau:
* Giai đoạn 1: Từ cuối thế kỷ 17 đầu thế kỷ 18, bắt đầu bằng những tác phẩm
lý luận của U. Petty – người Anh, và P. Buagilber – người Pháp, với những ý
tưởng đối lập chủ nghĩa trọng thương. Đó là những người đầu tiên tìm cách
giải thích nguồn gốc giá trị của hàng hóa và dịch vụ (bằng cách xác định
lượng thời gian lao động và công lao động đã bỏ ra trong sản xuất). Họ đã
khẳng định ý nghĩa tiên quyết của nguyên tắc tự do đối với hoạt động kinh tế
trong chính lĩnh vực sản xuất vật chất.
Tiếp theo đó là sự xuất hiện chủ nghĩa trọng nông – một khuynh hướng thuộc
về trường phái cổ điển mà đứng đầu là Francois Quesnay và Anne-Robert-
Jacques Turgot – với những phê phán sâu sắc và đầy luận chứng đối với chủ
nghĩa trọng thương, kéo dài trong 1/3 khoảng giữa thế kỷ 18.
Trong giai đoạn đầu tiên này chưa có nhà kinh tế học đại diện nào có được lý
luận đầy đủ về phát triển hiệu quả sản xuất trong công nghiệp và cả trong nông nghiệp.
* Giai đoạn 2: kéo dài trong 1/3 khoảng cuối thế kỷ 18, là giai đoạn gắn liền
với tên tuổi của nhà kinh tế học vĩ đại Adam Smith với tác phẩm “Sự giàu có
của các dân tộc” (1776), đã đưa Kinh tế chính trị đến mức hoàn chỉnh của
một môn khoa học. Những khái niệm “con người kinh tế” và “bàn tay vô hình”
đã thuyết phục được nhiều thế hệ nghiên cứu kinh tế. Đến tận những năm 30
của thế kỷ 20 nhiều nhà kinh tế học còn tin vào sự đúng đắn của quan điểm
laisez faire – không có can thiệp nhà nước vào tự do cạnh tranh. Những luận
thuyết của A. Smith đã trở thành cơ sở để xuất hiện các lý thuyết hiện đại về
hàng hóa, tiền tệ, tiền công lao động, lợi nhuận, tư bản, lao động sản xuất và các phạm trù khác.
* Giai đoạn 3: trong nửa đầu thế kỷ 19, là giai đoạn chuyển bước từ sản xuất
dạng công xưởng lên dạng nhà máy với việc cơ khí hóa các công đoạn sản
xuất, diễn ra đặc biệt ở các nước phát triển như Anh và Pháp. Tiếp tục tư
tưởng của Smith là các nghiên cứu của D. Ricardo, T. Malthus, N. Cenior, J.B. Say, F. Bastia
* Giai đoạn 4: trong nửa cuối thế kỷ 19 – giai đoạn kết thúc của trường phái
cổ điển với những tác phẩm của J. C. Mil và K. Marx. Tuy trong giai đoạn này
bắt đầu hình thành khuynh hướng tư tưởng mới mà sau này được gọi là
trường phái tân cổ điển, nhưng các lý luận phổ biến của các nhà cổ điển vẫn
còn ảnh hưởng rất lớn trong phạm vi nghiên cứu kinh tế thời gian này.
6. Các nguyên lý cơ bản
* Con người chỉ được xem xét trên phương diện kinh tế với một nguyện vọng
duy nhất: hướng đến lợi ích tư hữu để nâng cao vị thế của mình. Đạo đức,
văn hóa, truyền thống và nhiều thứ khác không nằm trong tầm quan sát.
* Mọi chủ thể tham gia vào quá trình kinh tế đều tự do và công bằng trước
pháp luật, kể cả trên phương diện khả năng tiên liệu trước các vấn đề kinh tế.
* Mọi chủ thể kinh tế đều nhận được thông tin đầy đủ về giá cả, mức lợi
nhuận, tiền công lao động, giá thuê đất ở bất kỳ thị trường nào, ngay tại thời
điểm hiện tại hay trong tương lai.
* Thị trường đảm bảo ổn định tài nguyên: lao động và vốn có thể lập tức
được đáp ứng tại nơi cần chúng.
* Độ đàn hồi của lượng lao động theo giá tiền lương là không dưới 1, nghĩa là
tiền công lao động tăng kéo theo tăng số lượng lao động; ngược lại, tiền công
giảm thì lượng lao động cũng giảm.
* Mục đích duy nhất của nhà tư bản là tối đa lợi nhuận từ vốn.
* Trên thị trường lao động tồn tại sự mềm dẻo tuyệt đối của tiền công lao
động, nghĩa là giá lao động chỉ được xác định bởi cung và cầu của thị trường lao động.
* Yếu tố quan trọng làm tăng số lượng của cải là tích lũy tư bản.
* Cạnh tranh phải là hoàn hảo, và nền kinh tế phải là hoàn toàn giải phóng
khỏi sự can thiệp nhà nước, ở đó “bàn tay vô hình” sẽ điều phối tài nguyên một cách tối ưu.
Document Outline

  • Tìm hiểu về học thuyết giá trị của trường phái cổ
    • 1. Khái quát về học thuyết giá trị của trường phái
    • 2. Những người sáng lập học thuyết giá trị của trư
    • 3. Phương pháp luận trong học thuyết giá trị của t
    • 4. Những đặc điểm riêng biệt
    • 5. Các giai đoạn phát triển
    • 6. Các nguyên lý cơ bản