Tổ chức các nước xuất khẩu dầu mỏ (OPEC)
?
1. Tổ chức các nước xuất khẩu dầu mỏ gì?
Tổ chức các nước xuất khẩu dầu mỏ (OPEC) một tổ chức liên chính phủ
được thành lập tại Hội nghị Baghdad năm 1960. Năm nước thành viên sáng
lập của OPEC Iran, Iraq, Kuwait, Rập Út Venezuela. OPEC một
tổ chức liên chính phủ thường trực của 14 quốc gia đang phát triển xuất khẩu
dầu mỏ, tổ chức điều phối thống nhất các chính sách dầu khí của các
quốc gia thành viên.
OPEC tổ chức đa chính phủ được thành lập bởi các nước Iran, Iraq,
Kuwait, Rập Út Venezuela trong hội nghị tại Bagdad (10-14/9/1960).
Các thành viên Qatar (1961), Libya (1962), UAE (1967), Algérie (1969)
Nigeria (1971) lần lượt gia nhập tổ chức sau đó. Ecuador (1973–1992),
Indonesia (1962-2008) Gabon (1975–1994) cũng từng thành viên của
OPEC. Trong 5 năm đầu tiên trụ sở của OPEC đặt Genève, Thụy Sĩ, sau
đấy chuyển về Viên, Áo từ tháng 9/1965.
Trong năm năm đầu tiên trụ sở của OPEC đặt Genève, Thụy Sĩ, sau đấy
chuyển về Wien, Áo từ tháng 91965. Các nước thành viên OPEC khai thác
vào khoảng 40% tổng sản lượng dầu lửa thế giới nắm giữ khoảng 3/4 trữ
lượng dầu thế giới. OPEC khả ng điều chỉnh hạn ngạch khai thác dầu
lửa của các nước thành viên qua đó khả năng khống chế giá dầu. Hội
nghị các bộ trưởng phụ trách năng lượng dầu mỏ thuộc tổ chức OPEC
được tổ chức mỗi năm hai lần nhằm đánh giá thị trường dầu m đề ra các
biện pháp phù hợp để bảo đảm việc cung cấp dầu.
Bộ trưởng các nước thành viên thay nhau theo nguyên tắc xoay vòng làm
chủ tịch của tổ chức hai năm một nhiệm kỳ. Mục tiêu chính thức được ghi vào
hiệp định thành lập của OPEC ổn định thị trường dầu thô, bao gồm các
chính sách khai thác dầu, ổn định giá dầu thế giới ủng hộ về mặt chính trị
cho các thành viên khi bị các biện pháp cưỡng chế các quyết định của
OPEC.
Nhưng thật ra nhiều biện pháp được đề ra lại động bắt nguồn từ quyền
lợi quốc gia, thí dụ như trong các cơn khủng hoảng dầu, OPEC chẳng những
đã không tìm cách hạ giá dầu lại duy trì chính ch cao giá trong thời gian
dài. Mục tiêu của OPEC thật ra một chính sách dầu chung nhằm đ gi giá.
OPEC dựa vào việc phân bổ hạn ngạch cho các thành viên để điều chỉnh
lượng khai thác dầu, tạo ra khan hiếm hoặc dư dầu giả tạo nhằm thông qua
đó th tăng, giảm hoặc giữ giá dầu ổn định. thể coi OPEC như là một
liên minh độc quyền (cartel) luôn tìm cách giữ giá dầu mức lợi nhất co
các thành viên.
2. Thành viên
Thành viên gồm c nước: Vênêzuêla, Gabông, lran, Irăc, Kôoet,
Inđônêxia, Libi, Angiêri, Cata, Nigiêria, Êcuađo, Liên bang các tiểu vương
quốc Arập thống nhất, Arập Xêut. Các nước của tổ chức này chiếm 60%
nguồn dự trữ, 70% sản lượng khát te gần 80% số lượng dầu mỏ xuất khẩu
của thế giới.
Hiện nay OPEC 13 nước thành viên được liệt dưới đây theo thời gian
gia nhập.
Châu Phi
- Angêri (tháng 7 năm 1969)
- Libi (tháng 12 năm 1962)
- Nigêria (tháng 7 năm 1971)
- Angôla (tháng 1 năm 2007)
Trung Đông
- Iran (tháng 9 năm 1960)
- Irắc (tháng 9 năm 1960) (không được tính vào phần xuất khẩu của OPEC từ
năm 1998)
- oét (tháng 9 năm 1960)
- Cata (tháng 12 năm 1961)
- Arập Xêut (tháng 9 năm 1960)
- Các Tiểu vương quốc Arập Thống nhất (tháng 11 năm 1967)
Nam Mỹ
- Vênêxuêla (tháng 9 năm 1960)
- Equađo (1973-1993, 2007)
Đông Nam Á
- Inđônêxia (tháng 12 năm 1962). Đã rút khỏi Tổ chức do trên thực tế không
còn nước xuất khẩu dầu nữa.
Cựu thành viên
- Gabông (Thành viên chính thức từ 1975 đến 1995).
Các nước đã được OPEC mời tham gia gồm Bôlivia, Canađa, Xuđăng Xiri
3. quan của tổ chức
Các quan của tổ chức gồm: 1) Hội nghị quan cao nhất được triệu tập
ít nhất 2 lần/năm. Hội nghị thẩm quyền c định chính sách của t chức,
bổ nhiệm các giám đốc với nhiệm 2 năm, bầu chủ tịch hội đồng giám đốc
với nhiệm 1 năm. Hội đồng thông qua các quyết định trên sở nguyên tắc
nhất trí, 2) Hội đồng giám đốc quan quản của tổ chức; 3) Ban thư
(đứng đầu là tổng thư kí) quan chấp hành. Trong ban thư u ban
kinh tế phân tích nh hình thị trường dầu m chuẩn b các khuyến nghị về
chính sách của các nước khai thác dầu mỏ.
Trụ sở của tổ chức các nước xuất khẩu dầu mỏ đặt tại Viên (Áo).
4. Mục tiêu
Mục tiêu chính thức được ghi vào Văn bản thành lập của OPEC ổn định thị
trường dầu thô, bao gồm các chính sách khai thác dầu, n định giá dầu thế
giới ủng hộ về mặt chính trị cho các thành viên đ duy trì sự phối hợp hoạt
động của OPEC. Tuy nhiên, nhiều biện pháp được đề ra lại động bắt
nguồn từ quyền lợi quốc gia, thí dụ như trong các cuộc khủng hoảng dầu,
OPEC chẳng những đã không tìm cách hạ giá dầu lại duy trì giá cao trong
thời gian dài.
Mục tiêu của OPEC thật ra một chính sách chung về dầu nhằm để giữ giá.
OPEC dựa vào việc phân bổ hạn ngạch cho các thành viên để điều chỉnh
lượng khai thác dầu, tạo ra khan hiếm hoặc dư dầu giả tạo nhằm thông qua
đó thể điều tiết tăng, giảm hoặc giữ giá dầu ổn định. thể coi OPEC n
một liên minh độc quyền (cartel) luôn tìm cách giữ giá dầu mức lợi
nhất cho các thành viên.
5. Qúa trình hoạt động
Ngành công nghiệp dầu mỏ ngày nay mang những đặc điểm của một
hình đa nhân tố. một số nhân tố quan trọng, song không một nhân tố nào
thể một mình duy trì được sự ổn định của th trường. Tầm quan trọng của
OPEC đã suy giảm sau giai đoạn được xem đỉnh cao của tổ chức này o
giữa những năm 1970, nhưng chưa một tổ chức nào đủ khả năng để
thay thế nó.
Sự suy giảm về tầm quan trọng của OPEC cũng đi m với nỗ lực chung của
thế giới trong việc tiết kiệm năng lượng tìm kiếm các nguồn năng lượng
thay thế. Trong cấu doanh nghiệp của ngành, các công ty quốc doanh
hiện giữ vai trò chủ đạo. Theo quan Thông tin Năng lượng Mỹ (US Energy
Information Administration), tính đến thời điểm năm 2007, xấp xỉ 78% sản
lượng dầu thế giới do 50 công ty sản xuất, 70% số sản lượng này được sản
xuất bởi các công ty dầu mỏ quốc doanh.
14 tháng 9 năm 1960: thành lập tổ chức theo đề xuất của Vênêxuêla tại
Bátđa.
1965: Dời trụ sở về Viên. Các thành viên thống nhất một chính sách khai thác
chung để bảo vệ giá.
1970: Nâng giá dầu lên 30%, nâng thuế tối thiểu áp dụng cho các ng ty
khai thác dầu lên 55% của lợi nhuận.
1971: Nâng giá dầu sau khi thương lượng với các tập đoàn khai thác. Tiến tới
đạt tỷ lệ quốc gia hóa 50% các tập đoàn.
1973: Tăng giá dầu tăng từ 2,89 USD một thùng lên 11,65 USD. Thời gian
này được gọi cuộc khủng hoảng dầu lần thứ nhất, OPEC khai thác 55%
lượng dầu của thế giới.
1974 đến 1978: tăng giá dầu 5-10% hầu như mỗi nửa năm một lần để chống
lại việc USD bị lạm phát.
1979: Khủng hoảng dầu lần thứ hai. Sau cuộc cách mạng Hồi giáo giá dầu từ
15,5 USD một thùng được nâng lên 24 USD. Libia, Angiêri Irắc thậm chí
đòi đến 30 USD cho một thùng.
1980: Đỉnh điểm chính sách cao giá của OPEC. Lybi đòi 41 USD, Rập
Saudi 32 USD các nước thành viên còn lại 36 USD cho một thùng dầu.
1981: Lượng tiêu thụ dầu giảm do các nước công nghiệp lâm vào cuộc khủng
hoảng kinh tế bắt nguồn từ cuộc khủng hoảng dầu lần thứ nhất, do giá dầu
cao, nhiều nước trên thế giới đầu vào các nguồn năng lượng khác. Lượng
tiêu thụ dầu thế giới giảm 11% trong thời gian từ 1979 đến 1983, thị phần dầu
của OPEC trên thị trường thế giới giảm xuống còn 40%.
1982: Quyết định giảm lượng sản xuất tuy được thông qua nhưng lại không
được các thành viên giữ đúng. Thị phần của OPEC giảm xuống còn 33%
vào năm 1985 còn 30% trên tổng số lượng khai thác dầu trên thế giới. Lượng
khai thác dầu giảm xuống đến mức thấp kỷ lục 17,34 triệu thùng một ngày.
1983: Giảm giá dầu từ 34 USD xuống 29 USD một thùng. Giảm hạn ngạch
khai thác từ 18,5 triệu xuống 16 triệu thùng một ngày.
1986: Giá dầu rơi xuống đến dưới 10 USD một thùng do sản xuất thừa do
một số nước trong OPEC giảm giá dầu.
1990: Giá dầu được nâng lên trong tầm từ 18 đến 21 USD một thùng. Nhờ
vào chiến tranh vùng Vịnh giá dầu đạt mức cao.
2000: Giá dầu đã dao động mạnh, vượt qua cả hai mức thấp cao nhất
trong lịch sử. Nếu trong quý I, chỉ với 9 USD người ta cũng thể mua được
một thùng dầu thì trong quý IV giá đã vượt trên 37 USD một thùng. Các thành
viên của OPEC đồng ý giữ giá dầu mức 22-28 USD/thùng.
2005: OPEC quyết định giữ nguyên lượng khai thác 27 triệu thùng. Các thành
viên đã nhất trí "tạm ngưng" không giữ giá dầu mức 22-28 USD/thùng.
Sau một thời gian dài từ năm 2007, giá dầu mỏ liên tục tăng, thời điểm đạt
mức xấp xỉ 150 USD/thùng, hiện nay (8-2008) giá dầu đang đứng mức trên
dưới 110 USD/thùng.
6. Công cụ điều chỉnh sản lượng dầu của OPEC
Công cụ chính được OPEC sử dụng để điều chỉnh sản lượng dầu bán ra thị
trường của các nước thành viên chính hạn ngạch sản xuất. Đại diện các
quốc gia thành viên nhóm họp mỗi năm 2 lần nhằm thiết lập chính sách sản
xuất chung trong tương lai dựa trên dự báo toàn cầu về cung cầu dầu lửa.
Mỗi hội nghị OPEC đều đặt ra hạn ngạch sản xuất mới, chia theo tỉ lệ tương
ứng cho các quốc gia thành viên.
Cam kết của các nước thành viên đối với hạn ngạch sản xuất không phải c
nào cũng nhất quán, một số nước thành viên OPEC, đặc biệt những
nước sản lượng nhỏ, thường xuyên vượt quá hạn ngạch được phép của
mình.
Các thành viên sản lượng lớn, đặc biệt Rập Út, thường phải cắt
giảm sản lượng của mình để cho việc sản xuất quá hạn ngạch của các
thành viên khác. Việc giá dầu sụt giảm giữa những năm 1980 cuối những
năm 1990 một phần là do các thành viên thiếu cam kết trong việc tuân thủ hệ
thống hạn ngạch.
Trên đây nội dung Luật Minh Khuê sưu tầm biên soạn. Nếu n ớng
mắc, chưa hoặc cần hỗ trợ pháp khác bạn vui lòng liên h bộ phận
vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại số: 1900.6162 để được giải
đáp.
Rất mong nhận được sự hợp tác!
Trân trọng./.

Preview text:

Tổ chức các nước xuất khẩu dầu mỏ (OPEC) là gì ?
1. Tổ chức các nước xuất khẩu dầu mỏ là gì?
Tổ chức các nước xuất khẩu dầu mỏ (OPEC) là một tổ chức liên chính phủ
được thành lập tại Hội nghị Baghdad năm 1960. Năm nước thành viên sáng
lập của OPEC là Iran, Iraq, Kuwait, Ả Rập Xê Út và Venezuela. OPEC là một
tổ chức liên chính phủ thường trực của 14 quốc gia đang phát triển xuất khẩu
dầu mỏ, là tổ chức điều phối và thống nhất các chính sách dầu khí của các quốc gia thành viên.
OPEC là tổ chức đa chính phủ được thành lập bởi các nước Iran, Iraq,
Kuwait, Ả Rập Xê Út và Venezuela trong hội nghị tại Bagdad (10-14/9/1960).
Các thành viên Qatar (1961), Libya (1962), UAE (1967), Algérie (1969) và
Nigeria (1971) lần lượt gia nhập tổ chức sau đó. Ecuador (1973–1992),
Indonesia (1962-2008) và Gabon (1975–1994) cũng từng là thành viên của
OPEC. Trong 5 năm đầu tiên trụ sở của OPEC đặt ở Genève, Thụy Sĩ, sau
đấy chuyển về Viên, Áo từ tháng 9/1965.
Trong năm năm đầu tiên trụ sở của OPEC đặt ở Genève, Thụy Sĩ, sau đấy
chuyển về Wien, Áo từ tháng 91965. Các nước thành viên OPEC khai thác
vào khoảng 40% tổng sản lượng dầu lửa thế giới và nắm giữ khoảng 3/4 trữ
lượng dầu thế giới. OPEC có khả năng điều chỉnh hạn ngạch khai thác dầu
lửa của các nước thành viên và qua đó có khả năng khống chế giá dầu. Hội
nghị các bộ trưởng phụ trách năng lượng và dầu mỏ thuộc tổ chức OPEC
được tổ chức mỗi năm hai lần nhằm đánh giá thị trường dầu mỏ và đề ra các
biện pháp phù hợp để bảo đảm việc cung cấp dầu.
Bộ trưởng các nước thành viên thay nhau theo nguyên tắc xoay vòng làm
chủ tịch của tổ chức hai năm một nhiệm kỳ. Mục tiêu chính thức được ghi vào
hiệp định thành lập của OPEC là ổn định thị trường dầu thô, bao gồm các
chính sách khai thác dầu, ổn định giá dầu thế giới và ủng hộ về mặt chính trị
cho các thành viên khi bị các biện pháp cưỡng chế vì các quyết định của OPEC.
Nhưng thật ra nhiều biện pháp được đề ra lại có động cơ bắt nguồn từ quyền
lợi quốc gia, thí dụ như trong các cơn khủng hoảng dầu, OPEC chẳng những
đã không tìm cách hạ giá dầu mà lại duy trì chính sách cao giá trong thời gian
dài. Mục tiêu của OPEC thật ra là một chính sách dầu chung nhằm để giữ giá.
OPEC dựa vào việc phân bổ hạn ngạch cho các thành viên để điều chỉnh
lượng khai thác dầu, tạo ra khan hiếm hoặc dư dầu giả tạo nhằm thông qua
đó có thể tăng, giảm hoặc giữ giá dầu ổn định. Có thể coi OPEC như là một
liên minh độc quyền (cartel) luôn tìm cách giữ giá dầu ở mức có lợi nhất co các thành viên. 2. Thành viên
Thành viên gồm có các nước: Vênêzuêla, Gabông, lran, Irăc, Kôoet,
Inđônêxia, Libi, Angiêri, Cata, Nigiêria, Êcuađo, Liên bang các tiểu vương
quốc Arập thống nhất, Arập Xêut. Các nước của tổ chức này chiếm 60%
nguồn dự trữ, 70% sản lượng khát te và gần 80% số lượng dầu mỏ xuất khẩu của thế giới.
Hiện nay OPEC có 13 nước thành viên được liệt kê dưới đây theo thời gian gia nhập. Châu Phi - Angêri (tháng 7 năm 1969) - Libi (tháng 12 năm 1962)
- Nigêria (tháng 7 năm 1971) - Angôla (tháng 1 năm 2007) Trung Đông - Iran (tháng 9 năm 1960)
- Irắc (tháng 9 năm 1960) (không được tính vào phần xuất khẩu của OPEC từ năm 1998)
- Cô oét (tháng 9 năm 1960) - Cata (tháng 12 năm 1961)
- Arập Xêut (tháng 9 năm 1960)
- Các Tiểu vương quốc Arập Thống nhất (tháng 11 năm 1967) Nam Mỹ
- Vênêxuêla (tháng 9 năm 1960) - Equađo (1973-1993, 2007) Đông Nam Á
- Inđônêxia (tháng 12 năm 1962). Đã rút khỏi Tổ chức do trên thực tế không
còn là nước xuất khẩu dầu nữa. Cựu thành viên
- Gabông (Thành viên chính thức từ 1975 đến 1995).
Các nước đã được OPEC mời tham gia gồm Bôlivia, Canađa, Xuđăng và Xiri
3. Cơ quan của tổ chức
Các cơ quan của tổ chức gồm: 1) Hội nghị là cơ quan cao nhất được triệu tập
ít nhất 2 lần/năm. Hội nghị có thẩm quyền xác định chính sách của tổ chức,
bổ nhiệm các giám đốc với nhiệm kì 2 năm, bầu chủ tịch hội đồng giám đốc
với nhiệm kì 1 năm. Hội đồng thông qua các quyết định trên cơ sở nguyên tắc
nhất trí, 2) Hội đồng giám đốc là cơ quan quản lí của tổ chức; 3) Ban thư kí
(đứng đầu là tổng thư kí) là cơ quan chấp hành. Trong ban thư kí có uỷ ban
kinh tế phân tích tình hình thị trường dầu mỏ và chuẩn bị các khuyến nghị về
chính sách của các nước khai thác dầu mỏ.
Trụ sở của tổ chức các nước xuất khẩu dầu mỏ đặt tại Viên (Áo). 4. Mục tiêu
Mục tiêu chính thức được ghi vào Văn bản thành lập của OPEC là ổn định thị
trường dầu thô, bao gồm các chính sách khai thác dầu, ổn định giá dầu thế
giới và ủng hộ về mặt chính trị cho các thành viên để duy trì sự phối hợp hoạt
động của OPEC. Tuy nhiên, nhiều biện pháp được đề ra lại có động cơ bắt
nguồn từ quyền lợi quốc gia, thí dụ như trong các cuộc khủng hoảng dầu,
OPEC chẳng những đã không tìm cách hạ giá dầu mà lại duy trì giá cao trong thời gian dài.
Mục tiêu của OPEC thật ra là một chính sách chung về dầu nhằm để giữ giá.
OPEC dựa vào việc phân bổ hạn ngạch cho các thành viên để điều chỉnh
lượng khai thác dầu, tạo ra khan hiếm hoặc dư dầu giả tạo nhằm thông qua
đó có thể điều tiết tăng, giảm hoặc giữ giá dầu ổn định. Có thể coi OPEC như
là một liên minh độc quyền (cartel) luôn tìm cách giữ giá dầu ở mức có lợi nhất cho các thành viên.
5. Qúa trình hoạt động
Ngành công nghiệp dầu mỏ ngày nay mang những đặc điểm của một mô
hình đa nhân tố. Có một số nhân tố quan trọng, song không một nhân tố nào
có thể một mình duy trì được sự ổn định của thị trường. Tầm quan trọng của
OPEC đã suy giảm sau giai đoạn được xem là đỉnh cao của tổ chức này vào
giữa những năm 1970, nhưng chưa có một tổ chức nào có đủ khả năng để thay thế nó.
Sự suy giảm về tầm quan trọng của OPEC cũng đi kèm với nỗ lực chung của
thế giới trong việc tiết kiệm năng lượng và tìm kiếm các nguồn năng lượng
thay thế. Trong cơ cấu doanh nghiệp của ngành, các công ty quốc doanh
hiện giữ vai trò chủ đạo. Theo Cơ quan Thông tin Năng lượng Mỹ (US Energy
Information Administration), tính đến thời điểm năm 2007, xấp xỉ 78% sản
lượng dầu thế giới do 50 công ty sản xuất, 70% số sản lượng này được sản
xuất bởi các công ty dầu mỏ quốc doanh.
14 tháng 9 năm 1960: thành lập tổ chức theo đề xuất của Vênêxuêla tại Bátđa.
1965: Dời trụ sở về Viên. Các thành viên thống nhất một chính sách khai thác chung để bảo vệ giá.
1970: Nâng giá dầu lên 30%, nâng thuế tối thiểu áp dụng cho các công ty
khai thác dầu lên 55% của lợi nhuận.
1971: Nâng giá dầu sau khi thương lượng với các tập đoàn khai thác. Tiến tới
đạt tỷ lệ quốc gia hóa 50% các tập đoàn.
1973: Tăng giá dầu tăng từ 2,89 USD một thùng lên 11,65 USD. Thời gian
này được gọi là cuộc khủng hoảng dầu lần thứ nhất, OPEC khai thác 55%
lượng dầu của thế giới.
1974 đến 1978: tăng giá dầu 5-10% hầu như mỗi nửa năm một lần để chống
lại việc USD bị lạm phát.
1979: Khủng hoảng dầu lần thứ hai. Sau cuộc cách mạng Hồi giáo giá dầu từ
15,5 USD một thùng được nâng lên 24 USD. Libia, Angiêri và Irắc thậm chí
đòi đến 30 USD cho một thùng.
1980: Đỉnh điểm chính sách cao giá của OPEC. Lybi đòi 41 USD, Ả Rập
Saudi 32 USD và các nước thành viên còn lại 36 USD cho một thùng dầu.
1981: Lượng tiêu thụ dầu giảm do các nước công nghiệp lâm vào cuộc khủng
hoảng kinh tế và bắt nguồn từ cuộc khủng hoảng dầu lần thứ nhất, do giá dầu
cao, nhiều nước trên thế giới đầu tư vào các nguồn năng lượng khác. Lượng
tiêu thụ dầu thế giới giảm 11% trong thời gian từ 1979 đến 1983, thị phần dầu
của OPEC trên thị trường thế giới giảm xuống còn 40%.
1982: Quyết định giảm lượng sản xuất tuy được thông qua nhưng lại không
được các thành viên giữ đúng. Thị phần của OPEC giảm xuống còn 33% và
vào năm 1985 còn 30% trên tổng số lượng khai thác dầu trên thế giới. Lượng
khai thác dầu giảm xuống đến mức thấp kỷ lục là 17,34 triệu thùng một ngày.
1983: Giảm giá dầu từ 34 USD xuống 29 USD một thùng. Giảm hạn ngạch
khai thác từ 18,5 triệu xuống 16 triệu thùng một ngày.
1986: Giá dầu rơi xuống đến dưới 10 USD một thùng do sản xuất thừa và do
một số nước trong OPEC giảm giá dầu.
1990: Giá dầu được nâng lên trong tầm từ 18 đến 21 USD một thùng. Nhờ
vào chiến tranh vùng Vịnh giá dầu đạt ở mức cao.
2000: Giá dầu đã dao động mạnh, vượt qua cả hai mức thấp và cao nhất
trong lịch sử. Nếu trong quý I, chỉ với 9 USD người ta cũng có thể mua được
một thùng dầu thì trong quý IV giá đã vượt trên 37 USD một thùng. Các thành
viên của OPEC đồng ý giữ giá dầu ở mức 22-28 USD/thùng.
2005: OPEC quyết định giữ nguyên lượng khai thác 27 triệu thùng. Các thành
viên đã nhất trí "tạm ngưng" không giữ giá dầu ở mức 22-28 USD/thùng.
Sau một thời gian dài từ năm 2007, giá dầu mỏ liên tục tăng, có thời điểm đạt
mức xấp xỉ 150 USD/thùng, hiện nay (8-2008) giá dầu đang đứng ở mức trên dưới 110 USD/thùng.
6. Công cụ điều chỉnh sản lượng dầu của OPEC
Công cụ chính được OPEC sử dụng để điều chỉnh sản lượng dầu bán ra thị
trường của các nước thành viên chính là hạn ngạch sản xuất. Đại diện các
quốc gia thành viên nhóm họp mỗi năm 2 lần nhằm thiết lập chính sách sản
xuất chung trong tương lai dựa trên dự báo toàn cầu về cung và cầu dầu lửa.
Mỗi hội nghị OPEC đều đặt ra hạn ngạch sản xuất mới, chia theo tỉ lệ tương
ứng cho các quốc gia thành viên.
Cam kết của các nước thành viên đối với hạn ngạch sản xuất không phải lúc
nào cũng nhất quán, và một số nước thành viên OPEC, đặc biệt là những
nước có sản lượng nhỏ, thường xuyên vượt quá hạn ngạch được phép của mình.
Các thành viên có sản lượng lớn, đặc biệt là Ả Rập Xê Út, thường phải cắt
giảm sản lượng của mình để bù cho việc sản xuất quá hạn ngạch của các
thành viên khác. Việc giá dầu sụt giảm giữa những năm 1980 và cuối những
năm 1990 một phần là do các thành viên thiếu cam kết trong việc tuân thủ hệ thống hạn ngạch.
Trên đây là nội dung Luật Minh Khuê sưu tầm và biên soạn. Nếu còn vướng
mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ bộ phận tư
vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại số: 1900.6162 để được giải đáp.
Rất mong nhận được sự hợp tác! Trân trọng./.
Document Outline

  • Tổ chức các nước xuất khẩu dầu mỏ (OPEC) là gì ?
    • 1. Tổ chức các nước xuất khẩu dầu mỏ là gì?
    • 2. Thành viên
    • 3. Cơ quan của tổ chức
    • 4. Mục tiêu
    • 5. Qúa trình hoạt động
    • 6. Công cụ điều chỉnh sản lượng dầu của OPEC