Tổng cung gì? Các loại tổng cung? Yếu tố
ảnh hưởng đến tổng cung
1. Tổng cung gì?
Tổng cung (aggregate supply - AS) tổng khối lượng hàng hoá và dịch
vụ cuối cùng do các doanh nghiệp trong nước chính phủ sản xuất
cung ứng. Tổng cung tác động qua lại với tổng cầu để xác định mức sản
lượng thu nhập quốc dân cân bằng (Y* = AS = AD). Hiểu một cách đơn
giản hơn, chúng ta thể nói rằng tổng cung phản ánh mối quan hệ giữa
trình độ sản xuất của nền kinh tế giá cả.
Khi giá cả tăng, điều đó thường nghĩa các doanh nghiệp cần phải mở
rộng sản xuất cung ứng để theo kịp tổng cầu. Nếu nhu cầu tăng cung
không đổi, thì người tiêu dùng phải cạnh tranh để được hàng hoá sẵn có.
Điều đó lại làm tăng giá. Tăng mức sản xuất đ bán được nhiều hàng hơn
sau đó bình thường hoá giá cả, kết quả sẽ đạt lại được trạng thái cân bằng.
Trong ngắn hạn khi nền kinh tế còn năng lực sản xuất nhàn rỗi (tỉ lệ thất
nghiệp cao), tổng cung xu hướng thay đổi cùng với nhu cầu về hàng hóa
dịch vụ. vậy, trong các hình ngắn hạn về xác định sản lượng, tức
tổng cầu bằng bao nhiêu, tổng cung bằng bấy nhiêu nền kinh tế thể đạt
được trạng thái cân bằng khiếm dụng, tức chưa tận dụng hết năng lực sản
xuất của mình.
Trong dài hạn, tổng cung thể tăng khi sự gia tăng của số lượng chất
lượng lao động, khối lượng bản sự cải tiến ng nghệ. vậy, trong các
nh n bằng i hạn, tổng cung được giả định phụ thuộc vào sự gia
tăng của sản lượng tiềm năng ch không phụ thuộc vào tổng cầu.
Khi tính tổng cung, các nhà kinh tế học loại trừ đi số lượng cung cấp của các
hàng hoá trung gian dùng làm đầu vào cho sản xuất. Doanh thu từ bán tất cả
các loại hàng hoá trừ đi phần doanh thu t bán hàng hoá trung gian chính
phần giá trị gia ng. Chính thế, tổng cung cũng chính tổng giá trị gia
tăng của toàn bộ nền kinh tế. Giá trị gia tăng dùng đ làm tiền công trả cho
người lao động làm lợi nhuận n đầu tư. Chính thế, tổng cung cũng
thu nhập quốc dân.
Ngoài ra, còn khái niệm Tổng cung (AGGREGATE SUPPLY) tổng số
hàng hóa dịch vụ nội địa được các doanh nghiệp cung cấp, gồm cả sản
phẩm tiêu dùng liệu sản xuất. Tổng cung tác động tương hỗ vởi tổng
cầu để c định mức thu nhập quốc dân. Trong ngắn hạn, tổng cung sẽ
chiều hướng biến đổi với mức cầu hàng hóa dịch vụ. Ví dụ, doanh nghiệp
thể cung ứng nhiều sản phẩm hơn mức cầu trong thời gian ngắn. Sự sai
biệt một mặt biểu thị như một sự gia tăng hàng tồn kho không bán được
mặt khác, doanh nghiệp thể cung ng sản phẩm ít hơn mức cầu đòi hỏi,
biểu hiện hàng tổn kho giảm. Tuy nhiên chênh lệch giữa tổng cung tổng
cầu không thể quá,lớn hoặc kéo dài. Trong dài hạn, tổng cung thể gia tăng
do kết qu gia tăng lực lượng lao động, gia tăng vốn cổ phần, sự phát triển
khả năng lao động sản xuất.
2. Các nhân tố ảnh hưởng đến tổng cung
Lượng cung ứng được xác định bởi 4 yếu tố sản xuất. Thành công của một
nền kinh tế dựa trên sự phong phú của các yếu tố sản xuất y. khi các
yếu tố trên thay đổi thì sẽ dẫn đến sự thay đổi của tổng cung. Bốn yếu tố này
sẽ xác định nguồn cung dài hạn.
- Nhân công: những người m việc kiếm sống. Giá trị của sức lao động phụ
thuộc vào trình độ học vấn, kỹ năng động lực của người lao động. Phần
thưởng hoặc thu nhập cho lao động tiền lương. Nếu một quốc gia một
lực lượng lao động lớn, kỹ năng động, đáp ứng nhanh chóng các
nhu cầu kinh doanh đang thay đổi. Nhưng phải đối mặt với sự cạnh tranh
ngày càng tăng của lao động từ các nước khác. Họ cũng cung cấp những
công nhân kỹ năng tương tự với mức giá tháp hơn. Nếu một quốc gia
lực lượng lao động hạn hẹp, trình đ kém t sẽ không thể nhanh chóng đáp
ứng các nhu cầu sản xuất của nền kinh tế.
- liệu sản xuất: Các đ vật do con người tạo ra, chẳng hạn như máy móc
thiết b được sử dụng trong sản xuất. Thu nhập từ liệu sản xuất tiền
lãi. Khi liệu sản xuất hiện đại thì giúp tăng vượt bậc về nguồn cung.
- Tài nguyên thiên nhiên: Hàng hoá thô vật liệu do lao động sử dụng để
tạo ra cung. Như Việt Nam sự kết hợp độc đáo giữa đất nước dễ dàng
tiếp cận. một khí hậu ôn hoà, ven biển các tài nguyên thiên nhiên
như than đá, dầu mỏ, khí thiên nhiên, khoáng sản...
- Vốn tài chính: được sử dụng để mua các yếu tố sản xuất. Nói cách khác,
bản thân vốn tài chính không phải một bộ phận cấu thành nên bất cứ thứ
được sản xuất ra. Sự dễ dàng thu được vốn i chính, cho thông qua cổ
phiếu, trái phiếu hoặc c khoản vay, đóng một vai t quan trọng trong
nguồn cung.
nhiều biến số thể y ra sự thay đổi trong tổng cung. Chúng bao gồm
đổi mới công nghệ, thay đổi quy chất lượng lao động, thay đổi chi phí
sản xuất, nguồn lực sẵn có, trợ cấp, thay đổi tiền lương thuế, mức độ
lạm phát hiện tại. Những yếu tố y th dẫn đến sự dịch chuyển ch cực
hoặc tiêu cực trong đường tổng cung.
Đường tổng cung dịch chuyển sang phải sau khi hiệu quả lao động tăng hoặc
chi phí sản xuất giảm, mức lạm phát thấp hơn, sản lượng cao hơn khả
năng tiếp cận nguyên liệu thô d dàng hơn. Mặt khác, sự dịch chuyển
sang trái sau khi chi phí sản xuất tăng, mức thuế tiền lương cao hơn hoặc
hiệu quả lao động giảm.
3. Tổng cung dài hạn (LRAS)
Trong dài hạn một khoảng thời gian khái niệm trong đó không c yếu tố
sản xuất cố định. Về bản, khoảng thời gian này phải đ dài để cho phép
điều chỉnh tiền lương, giá cả vọng nhưng không đủ dài để vốn vật chất
trở thành một yếu tố đầu vào thể thay đổi được.
Với ý nghĩ đó, chúng ta thể định nghĩa tổng cung dài hạn (LRAS) n một
khái niệm đại diện cho sản lượng tối ưu thể được tạo ra bởi một nền kinh
tế khi sử dụng tất cả các yếu tố sản xuất do đó hoạt động chế độ
toàn dụng. Về lâu dài, những thay đổi về mức giá không ảnh hưởng đến tổng
cung. Đường cong chỉ thay đổi dựa trên những cải tiến về năng suất hiệu
quả. Những cải tiến này thường bao gồm nâng cao trình đ kỹ năng, tiến bộ
mới hơn trong công nghệ ng vốn. Điều này về bản nghĩa gía không
co giãn trong LRAS.
Một điều quan trọng cần lưu ý những quan điểm kinh tế khác nhau về
tổng cung dài hạn. Ví dụ, thuyết LRAS của Keynes khẳng định rằng tổng
cung dài hạn chỉ duy trì sự co giãn theo giá cho đến một thời điểm nhất định.
Sau thời điểm này, nguồn cung về bản trở nên không bị nh hưởng bởi sự
thay đổi giá cả. Nói cách khác, một điểm trong nền kinh tế các nhà sản
xuất ng h dịch vụ thể mở rộng năng lực của họ. Tuy nhiên, khi
chúng ta đạt đến điểm đó, việc mức giá tăng hay giảm sẽ không thành vấn đề.
Đường cong tổng cung dài hạn
Đường tổng cung trong dài hạn (LRAS) hoàn toàn thẳng đứng. thể chúng
ta đang hỏi tại sao. Đó bởi GDP thực tế trong dài hạn phụ thuộc vào việc
cung cấp vốn, lao động, nguyên liệu thô các yếu tố khác ngoài giá cả. Như
vậy, số lượng sản xuất trong khoảng thời gian đó không đổi bất kể sự thay
đổi của mức giá (giá không co giãn). Đây một sự khác biệt hoàn toàn so
với đường cung đối với hàng hoá riêng lẻ dốc n. Trong trường hợp này, đó
do đường cong liên quan đến giá của hàng hoá trong mối quan hệ với
hàng hoá hoặc dịch vụ khác. Do đó, c doanh nghiệp thể tận dụng lợi thế
của giá cả tương đối để tăng sản lượng.
4. Tổng cung ngắn hạn (SRAS)
Tổng cung ngắn hạn tổng sản lượng hàng hoá dịch vụ sẵn trong nền
kinh tế các mức giá khác nhau trong khi một số yếu tố sản xuất nguồn
lực cố định. Điều này nghĩa không thể đạt được một số nguồn lực
thâm dụng vốn nhất định trong thời gian ngắn. Ngay cả khi các công ty tăng
nguồn cung do giá cả tăng bằng cách thuê thêm công nhân hoặc kéo dài giờ
làm việc. Các nguồn lực thâm dụng vốn này bao gồm những th như không
gian văn phòng, máy móc mới nhân lực kỹ năng cao.
Không đơn vị thời gian cụ thể nào liên quan đến khoảng thời gian ngắn
hạn. thể hai tháng, tám tháng hoặc thậm chí một năm. Thay một
khoảng thời gian cố định, được gắn với khoảng thời gian các tài
nguyên đó được cố định. Công ty thể thiết lập một nhà máy hoặc nhà kho
mới nhanh chóng như thế nào? Thời gian để được một khoản vay đ mua
lắp đặt một máy mới bao lâu? Chúng ta thể đào tạo nhân viên để mở
rộng kỹ năng của họ với tốc độ nào? Câu trả lời cho những câu hỏi này yếu
tố quyết định đ dài của ngắn hạn.
Đối với SRAS, số lượng hàng hoá dịch vụ được cung cấp tăng n khi giá cả
tăng lên. Do đó, thường xem SRAS đàn hồi. Chủ yếu do trong ngắn hạn,
các công ty thể thay đổi các yếu tố sản xuất biến đổi của họ để tăng sản
lượng.
Đường cong tổng cung ngắn hạn
Trong ngắn hạn, đường tổng cung phản ứng với mức giá. Điều này nghĩa
đi lên dốc thay thẳng đứng hoàn toàn. Đường SRAS cũng được vẽ
để phản ánh một số biến số, chẳng hạn như tỷ lệ tiền lương danh nghĩa. Mức
lương danh nghĩa này được cố định trong ngắn hạn, do đó giá cả tăng lên
nghĩa tiềm năng lợi nhuận cao hơn để biện minh cho sự gia tăng sản xuất.
Điều này khác về lâu dài khi mức ơng danh nghĩa ph thuộc vào điều kiện
kinh tế (tỷ lệ thất nghiệp thấp dẫn đến mức lương danh nghĩa cao hơn
ngược lại). Giả định bản của đường SRAS các nhà cung cấp các nguồn
lực cần thiết cho sản xuất không phản ứng ngay lập tức với sự gia tăng của
mức giá.

Preview text:

Tổng cung là gì? Các loại tổng cung? Yếu tố
ảnh hưởng đến tổng cung 1. Tổng cung là gì?
Tổng cung (aggregate supply - AS) là tổng khối lượng hàng hoá và dịch
vụ cuối cùng do các doanh nghiệp trong nước và chính phủ sản xuất và
cung ứng
. Tổng cung tác động qua lại với tổng cầu để xác định mức sản
lượng và thu nhập quốc dân cân bằng (Y* = AS = AD). Hiểu một cách đơn
giản hơn, chúng ta có thể nói rằng tổng cung phản ánh mối quan hệ giữa
trình độ sản xuất của nền kinh tế và giá cả.
Khi giá cả tăng, điều đó thường có nghĩa là các doanh nghiệp cần phải mở
rộng sản xuất và cung ứng để theo kịp tổng cầu. Nếu nhu cầu tăng và cung
không đổi, thì người tiêu dùng phải cạnh tranh để có được hàng hoá sẵn có.
Điều đó lại làm tăng giá. Tăng mức sản xuất để bán được nhiều hàng hơn
sau đó bình thường hoá giá cả, kết quả sẽ đạt lại được trạng thái cân bằng.
Trong ngắn hạn và khi nền kinh tế còn năng lực sản xuất nhàn rỗi (tỉ lệ thất
nghiệp cao), tổng cung có xu hướng thay đổi cùng với nhu cầu về hàng hóa
và dịch vụ. Vì vậy, trong các mô hình ngắn hạn về xác định sản lượng, tức
tổng cầu bằng bao nhiêu, tổng cung bằng bấy nhiêu và nền kinh tế có thể đạt
được trạng thái cân bằng khiếm dụng, tức chưa tận dụng hết năng lực sản xuất của mình.
Trong dài hạn, tổng cung có thể tăng khi có sự gia tăng của số lượng và chất
lượng lao động, khối lượng tư bản và sự cải tiến công nghệ. Vì vậy, trong các
mô hình cân bằng dài hạn, tổng cung được giả định là phụ thuộc vào sự gia
tăng của sản lượng tiềm năng chứ không phụ thuộc vào tổng cầu.
Khi tính tổng cung, các nhà kinh tế học loại trừ đi số lượng cung cấp của các
hàng hoá trung gian dùng làm đầu vào cho sản xuất. Doanh thu từ bán tất cả
các loại hàng hoá mà trừ đi phần doanh thu từ bán hàng hoá trung gian chính
là phần giá trị gia tăng. Chính vì thế, tổng cung cũng chính là tổng giá trị gia
tăng của toàn bộ nền kinh tế. Giá trị gia tăng dùng để làm tiền công trả cho
người lao động và làm lợi nhuận nhà đầu tư. Chính vì thế, tổng cung cũng là thu nhập quốc dân.
Ngoài ra, còn có khái niệm Tổng cung (AGGREGATE SUPPLY) là tổng số
hàng hóa và dịch vụ nội địa được các doanh nghiệp cung cấp, gồm cả sản
phẩm tiêu dùng và tư liệu sản xuất. Tổng cung tác động tương hỗ vởi tổng
cầu để xác định mức thu nhập quốc dân. Trong ngắn hạn, tổng cung sẽ có
chiều hướng biến đổi với mức cầu hàng hóa và dịch vụ. Ví dụ, doanh nghiệp
có thể cung ứng nhiều sản phẩm hơn mức cầu trong thời gian ngắn. Sự sai
biệt một mặt biểu thị như một sự gia tăng hàng tồn kho không bán được và
mặt khác, doanh nghiệp có thể cung ứng sản phẩm ít hơn mức cầu đòi hỏi,
biểu hiện là hàng tổn kho giảm. Tuy nhiên chênh lệch giữa tổng cung và tổng
cầu không thể quá,lớn hoặc kéo dài. Trong dài hạn, tổng cung có thể gia tăng
do kết quả gia tăng lực lượng lao động, gia tăng vốn cổ phần, và sự phát triển
khả năng lao động sản xuất.
2. Các nhân tố ảnh hưởng đến tổng cung
Lượng cung ứng được xác định bởi 4 yếu tố sản xuất. Thành công của một
nền kinh tế dựa trên sự phong phú của các yếu tố sản xuất này. Và khi các
yếu tố trên thay đổi thì sẽ dẫn đến sự thay đổi của tổng cung. Bốn yếu tố này
sẽ xác định nguồn cung dài hạn.
- Nhân công: những người làm việc kiếm sống. Giá trị của sức lao động phụ
thuộc vào trình độ học vấn, kỹ năng và động lực của người lao động. Phần
thưởng hoặc thu nhập cho lao động là tiền lương. Nếu một quốc gia có một
lực lượng lao động lớn, có kỹ năng và cơ động, đáp ứng nhanh chóng các
nhu cầu kinh doanh đang thay đổi. Nhưng nó phải đối mặt với sự cạnh tranh
ngày càng tăng của lao động từ các nước khác. Họ cũng cung cấp những
công nhân có kỹ năng tương tự với mức giá tháp hơn. Nếu một quốc gia có
lực lượng lao động hạn hẹp, trình độ kém thì sẽ không thể nhanh chóng đáp
ứng các nhu cầu sản xuất của nền kinh tế.
- Tư liệu sản xuất: Các đồ vật do con người tạo ra, chẳng hạn như máy móc
và thiết bị được sử dụng trong sản xuất. Thu nhập từ tư liệu sản xuất là tiền
lãi. Khi tư liệu sản xuất hiện đại thì giúp tăng vượt bậc về nguồn cung.
- Tài nguyên thiên nhiên: Hàng hoá thô và vật liệu do lao động sử dụng để
tạo ra cung. Như Việt Nam có sự kết hợp độc đáo giữa đất và nước dễ dàng
tiếp cận. Nó có một khí hậu ôn hoà, ven biển và có các tài nguyên thiên nhiên
như than đá, dầu mỏ, khí thiên nhiên, khoáng sản..
- Vốn tài chính: được sử dụng để mua các yếu tố sản xuất. Nói cách khác,
bản thân vốn tài chính không phải là một bộ phận cấu thành nên bất cứ thứ gì
được sản xuất ra. Sự dễ dàng thu được vốn tài chính, cho dù thông qua cổ
phiếu, trái phiếu hoặc các khoản vay, đóng một vai trò quan trọng trong nguồn cung.
Có nhiều biến số có thể gây ra sự thay đổi trong tổng cung. Chúng bao gồm
đổi mới công nghệ, thay đổi quy mô và chất lượng lao động, thay đổi chi phí
sản xuất, nguồn lực sẵn có, trợ cấp, thay đổi tiền lương và thuế, và mức độ
lạm phát hiện tại. Những yếu tố này có thể dẫn đến sự dịch chuyển tích cực
hoặc tiêu cực trong đường tổng cung.
Đường tổng cung dịch chuyển sang phải sau khi hiệu quả lao động tăng hoặc
chi phí sản xuất giảm, mức lạm phát thấp hơn, sản lượng cao hơn và khả
năng tiếp cận nguyên liệu thô dễ dàng hơn. Mặt khác, có sự dịch chuyển
sang trái sau khi chi phí sản xuất tăng, mức thuế và tiền lương cao hơn hoặc
hiệu quả lao động giảm.
3. Tổng cung dài hạn (LRAS)
Trong dài hạn là một khoảng thời gian khái niệm trong đó không có các yếu tố
sản xuất cố định. Về cơ bản, khoảng thời gian này phải đủ dài để cho phép
điều chỉnh tiền lương, giá cả và kì vọng nhưng không đủ dài để vốn vật chất
trở thành một yếu tố đầu vào có thể thay đổi được.
Với ý nghĩ đó, chúng ta có thể định nghĩa tổng cung dài hạn (LRAS) như một
khái niệm đại diện cho sản lượng tối ưu có thể được tạo ra bởi một nền kinh
tế khi nó sử dụng tất cả các yếu tố sản xuất và do đó hoạt động ở chế độ
toàn dụng. Về lâu dài, những thay đổi về mức giá không ảnh hưởng đến tổng
cung. Đường cong chỉ thay đổi dựa trên những cải tiến về năng suất và hiệu
quả. Những cải tiến này thường bao gồm nâng cao trình độ kỹ năng, tiến bộ
mới hơn trong công nghệ tăng vốn. Điều này về cơ bản có nghĩa là gía không co giãn trong LRAS.
Một điều quan trọng cần lưu ý là có những quan điểm kinh tế khác nhau về
tổng cung dài hạn. Ví dụ, lý thuyết LRAS của Keynes khẳng định rằng tổng
cung dài hạn chỉ duy trì sự co giãn theo giá cho đến một thời điểm nhất định.
Sau thời điểm này, nguồn cung về cơ bản trở nên không bị ảnh hưởng bởi sự
thay đổi giá cả. Nói cách khác, có một điểm trong nền kinh tế mà các nhà sản
xuất hàng hoá và dịch vụ có thể mở rộng năng lực của họ. Tuy nhiên, khi
chúng ta đạt đến điểm đó, việc mức giá tăng hay giảm sẽ không thành vấn đề.
Đường cong tổng cung dài hạn
Đường tổng cung trong dài hạn (LRAS) hoàn toàn thẳng đứng. Có thể chúng
ta đang hỏi tại sao. Đó là bởi vì GDP thực tế trong dài hạn phụ thuộc vào việc
cung cấp vốn, lao động, nguyên liệu thô và các yếu tố khác ngoài giá cả. Như
vậy, số lượng sản xuất trong khoảng thời gian đó không đổi bất kể sự thay
đổi của mức giá (giá không co giãn). Đây là một sự khác biệt hoàn toàn so
với đường cung đối với hàng hoá riêng lẻ dốc lên. Trong trường hợp này, đó
là do đường cong liên quan đến giá của hàng hoá trong mối quan hệ với
hàng hoá hoặc dịch vụ khác. Do đó, các doanh nghiệp có thể tận dụng lợi thế
của giá cả tương đối để tăng sản lượng.
4. Tổng cung ngắn hạn (SRAS)
Tổng cung ngắn hạn là tổng sản lượng hàng hoá và dịch vụ có sẵn trong nền
kinh tế ở các mức giá khác nhau trong khi một số yếu tố sản xuất và nguồn
lực là cố định. Điều này có nghĩa là không thể đạt được một số nguồn lực
thâm dụng vốn nhất định trong thời gian ngắn. Ngay cả khi các công ty tăng
nguồn cung do giá cả tăng bằng cách thuê thêm công nhân hoặc kéo dài giờ
làm việc. Các nguồn lực thâm dụng vốn này bao gồm những thứ như không
gian văn phòng, máy móc mới và nhân lực có kỹ năng cao.
Không có đơn vị thời gian cụ thể nào liên quan đến khoảng thời gian ngắn
hạn. Nó có thể là hai tháng, tám tháng hoặc thậm chí một năm. Thay vì một
khoảng thời gian cố định, nó được gắn với khoảng thời gian mà các tài
nguyên đó được cố định. Công ty có thể thiết lập một nhà máy hoặc nhà kho
mới nhanh chóng như thế nào? Thời gian để có được một khoản vay để mua
và lắp đặt một máy mới là bao lâu? Chúng ta có thể đào tạo nhân viên để mở
rộng kỹ năng của họ với tốc độ nào? Câu trả lời cho những câu hỏi này là yếu
tố quyết định độ dài của ngắn hạn.
Đối với SRAS, số lượng hàng hoá dịch vụ được cung cấp tăng lên khi giá cả
tăng lên. Do đó, thường xem SRAS là đàn hồi. Chủ yếu là do trong ngắn hạn,
các công ty có thể thay đổi các yếu tố sản xuất biến đổi của họ để tăng sản lượng.
Đường cong tổng cung ngắn hạn
Trong ngắn hạn, đường tổng cung phản ứng với mức giá. Điều này có nghĩa
là nó đi lên dốc thay vì thẳng đứng hoàn toàn. Đường SRAS cũng được vẽ
để phản ánh một số biến số, chẳng hạn như tỷ lệ tiền lương danh nghĩa. Mức
lương danh nghĩa này được cố định trong ngắn hạn, do đó giá cả tăng lên có
nghĩa là tiềm năng lợi nhuận cao hơn để biện minh cho sự gia tăng sản xuất.
Điều này khác về lâu dài khi mức lương danh nghĩa phụ thuộc vào điều kiện
kinh tế (tỷ lệ thất nghiệp thấp dẫn đến mức lương danh nghĩa cao hơn và
ngược lại). Giả định cơ bản của đường SRAS là các nhà cung cấp các nguồn
lực cần thiết cho sản xuất không phản ứng ngay lập tức với sự gia tăng của mức giá.
Document Outline

  • Tổng cung là gì? Các loại tổng cung? Yếu tố ảnh hư
    • 1. Tổng cung là gì?
    • 2. Các nhân tố ảnh hưởng đến tổng cung
    • 3. Tổng cung dài hạn (LRAS)
    • 4. Tổng cung ngắn hạn (SRAS)