Tổng hợp bài tập luật la mã | Trường Đại học Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội

Trong xã hội chiếm hữu nô lệ, không phải tất cả mọi người đều được công nhận là chủ thềhaynóicáchkháclàngườicóquyềnvềmặt pháp luật. ChủthểcủaluậtLaMãrất hạnchếđịavị pháp lý của các chủ thể không bình đẳng. Lực lượng lao động chính trong xã hôi là nô lệ -được biết đến như công cụ biết nói (instrumentum vocale) hoàn toàn bị loại khỏi tầng lớpnhữngngườicónănglực phápluật. Tài liệu giúp bạn tham khảo và đạt kết quả cao. Mời bạn đọc đón xem!

Môn:

Luật la mã 19 tài liệu

Thông tin:
30 trang 6 tháng trước

Bình luận

Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để gửi bình luận.

Tổng hợp bài tập luật la mã | Trường Đại học Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội

Trong xã hội chiếm hữu nô lệ, không phải tất cả mọi người đều được công nhận là chủ thềhaynóicáchkháclàngườicóquyềnvềmặt pháp luật. ChủthểcủaluậtLaMãrất hạnchếđịavị pháp lý của các chủ thể không bình đẳng. Lực lượng lao động chính trong xã hôi là nô lệ -được biết đến như công cụ biết nói (instrumentum vocale) hoàn toàn bị loại khỏi tầng lớpnhữngngườicónănglực phápluật. Tài liệu giúp bạn tham khảo và đạt kết quả cao. Mời bạn đọc đón xem!

88 44 lượt tải Tải xuống
lOMoARcPSD| 45988283
TỔNG HỢP BÀI TẬP LA CỦA CÁC NHÓM
BÀI 1 : CHỦ THỂ CỦA LUẬT LA
I. KHÁI NIỆM
- Chủ thể của luật các nhân hay pháp nhân quyền nghĩa vụ trong một quan hệ pháp
luật
- Trong xã hội chiếm hữu nô lệ, không phải tất cả mọi người đều được công nhận là chủ thề
hay nói cách khác người quyền về mặt pháp luật. Chủ thể của luật La rất hạn chế địa
vị pháp lý của các chủ thể không bình đẳng. Lực lượng lao động chính trong xã hôi là nô lệ -
được biết đến như công cụ biết nói (instrumentum vocale) hoàn toàn bị loại khỏi tầng lớp
những người năng lực pháp luật.
- Chủ thể của luật La Mã là những người trực tiếp tham gia vào các quan hệ bản thân họ
các quyền nghĩa vụ từ quan hệ đó. Đồng thời họ phải chịu trách nhiệm về việc thực hiện
quyền nghĩa vụ của mình.
- Chủ thể của Luật năng lực pháp luậtnăng lực hành vi.
+ Năng lực pháp luật:( khả năng quyềnnghĩa vụ)
Người có năng lực pháp luật phải hội tụ 3 điều kiện sau đây:
STATUS LIBERATIS :tự do
STATUS CIVITATIS :công dân
STATUS FAMILIAL : gia chủ.
Như vậy, năng lực pháp luật đầy đủ yêu cầu cả ba yếu tố cơ bản,i cách khác họ phải
người tự do, có quốc tịch La Mã giữ vị trí độc lập trong gia đình.
Bấtsự thay đổi của 1 status nào cũng có ý nghĩa riêng, trong đó, yếu tố tự do đóng vai trò
quan trọng nhất. Xếp tiếp theo lần lượt địa vị công dân và yếu tố gia chủ.
Mãi cho tới năm 212, trật tự trên mới sự thay đổi. Trong hiến pháp của Hoàng đế Karakala
mới quy định sự bình đẳng giữa các công dân trừ nô lệ.
+ Năng lực hành vi:
khả năng của 1 người bằng hành vi của chính mình xác lập thực hiện quyềnnghĩa vụ,
pháp luật La Mã chia năng lực hành vi thành 3 mức độ dựa trên độ tuổi và khả năng nhận
thức:
Không năng lực hành vi: tất cả những người ới 7 tuổinhững người bị điên những
người không có năng lực hành vi, những người này không được phép tham gia vào các giao
dịch kể cả các giao dịch lợi cho họ trừ thừa kế.
Năng lực hành vi 1 phần: nữ từ 7 đến 12 tuổi, nam từ 7 đến 14 tuổi, những người này được
tham gia vào các giao dịch lợi cho mình không phải gánh chịu nghĩa vụ nhưng đối với
các giao dịch làm phát sinh nghĩa vụ tài sản hoặc chấm dứt quyền tài sản thì phải được sự
đồng ý của người giám hộ.
Năng lực hành vi toàn phần: nữ từ 12 tuổi, nam từ 14 tuổi trở lên và không bị điên đến 25
tuổi, về nguyên tắc đây là những người có năng lực hành vi toàn phần nhưng nếu họ vẫn phụ
thuộc vào gia chủ thì khi thực hiện các giao dịch làm phát sinh nghĩa vụ tài sản hoặc chấm dứt
quyềni sản thì vẫn phải sự đồng ý của gia chủ.
II. CÁC CHỦ THỂ TRONG LUẬT LA
Trong luật La Mã, các chủ thể của pháp luật gồm có : Công dân La Mã, người La Tinh và
người ngoại quốc. Ngoài ra trong bài viết, nhóm tác gi xin trình bày thêm 1 nhóm đối tượng
nông nô, điền.
1. Công dân La
-Công dân La những người quốc tịch La Mã, quốc tịch La được xác lập trong
các trường hợp sau:
+ Sinh ra từ công dân La Mã.
lOMoARcPSD| 45988283
+ Trả tự do cho nô lệ từ công dân La Mã.
+ Tặng danh hiệu công dân La cho người nước ngoài.
Công dân La đầy đủ các quyền về nhân thân và tài sản các quyền chính trị trong 1
số trường hợp quốc tịch La Mã bị tước đối với những người phạm trọng tội (vào thời
Justinian), bị kết án chung thân hoặc tử hình, bị xung vào làm nô lệ, bị bắt làm tù binh.
Trong pháp, năng lực pháp luật của công dân La được th hiện theo hai phần Ius
conubii (Quyền kết hôn) và Ius commercii (quyền buôn bán, giao dịch quyền hữu)
+ Năng lực hành vi:
Năng lực hành vi của con người luôn phụ thuộc vào lứa tuổi. Pháp luật La chia năng lực
hành vi thành 2 mức độ dựa trên độ tuổikhả năng nhận thức: infants và impuberes
Không năng lực hành vi (infantes): tất cả những người dưới 7 tuổi những người bị điên
là những người không có năng lực hành vi, những người này không được phép tham gia vào
các giao dịch kể cả các giao dịch có lợi cho họ trừ thừa kế.
Trong impuberes có thể được chia làm 2 phần:
Năng lực hành vi 1 phần:
Nữ từ 7 đến 12 tuổi, nam từ 7 đến 14 tuổi, những người này được tham gia vào các giao dịch
lợi cho mình không phải gánh chịu nghĩa vụ nhưng đối với các giao dịchm phát sinh
nghĩa vụ tài sản hoặc chấm dứt quyền tài sản thì phải được sự đồng ý của người giám hộ.
Năng lựcnh vi toàn phần:
Nữ từ 12 tuổi, nam từ 14 tuổi trở lên và không bị điên đến 25 tuổi, về nguyên tắc đây là
những người năng lực hành vi toàn phần nhưng nếu họ vẫn phụ thuộco gia chủ thì khi
thực hiện các giao dịch làm phát sinh nghĩa vụ tài sản hoặc chấm dứt quyền tài sản thì vẫn
phải có sự đồng ý của gia chủ.
Với phụ nữ
Trong nhiều thế kỉ, năng lực pháp luậtnăng lực hành vi của phụ nữ bị hạn chế. Trong thời
kì cộng hòa, pháp luật bắt buộc họ phải phụ thuộc hoàn toàn vào gia chủ. Sau này, điều này
được nới lỏng khi cho phép phụ nữ không còn phải phụ thuộc vào cha hay chồng khi đã lớn
tuổi. Sang đến thời Justinian những hạn chế với phụ nữ được giảm dần. Tuy vậy, xét cho
cùng, phụ nữ bao giờ cũng thiệt thòi hơn nam giới.
Infamia
Đây là cụm từ dùng để chỉ những người mắc trọng tội, vi phạm hình sự hoặc hành vi thiếu
đạo đức, vô luân,… những kẻ được gọi là Infamis tức vi phạm 1 hoặc nhiều điều trên sẽ bị
pháp luật La hạn chế nhiều quyền như giới thiệu người khác tham gia tố tụng, cử đại diện
thay cho bản thân trong tố tụng, hạn chế quyền thừa kế và kết hôn với người tự do khác
2. Người Latin người ngoại quốc
- Người LaTin dân cùng La-xi-um được nhận quốc tịch Latin từ giữa TK III scn. Người
La Mã và người LaTin sống gần nhau nhưng nhà nước của người La Mã xuất hiện sớm hơn ,
TK thứ II TCN La Mã bị quân Phổ xâm lược vì vậy người La Mã phải liên minh với người
LaTin để chống lại quân Phổ, dần dần sau đó nhà nước La Mã cho phép người LaTin nhập
quốc tịch La Mã.
- Về địa vị pháp luật: bản không khác với địa vị của công dân La Mã. Họ quyền tài sản,
quyền kết hôn khi nhà nước cho phép. Từ năm 268 TCN họ bắt đầ có quyền tố tụng nhưng lại
không có quyền lập di chúc.
- Người ngoại tộc hay dân nhập người dân La nhưng không năng lực pháp luật
La Mã hay pháp luật Latin. Họ bị coi là dân tộc ngoại lai. Sau này, họ được quyền có năng
lực pháp luật theo hệ thống luật các dân tộc Ius gentium.
- Từ TK III SCN luật pháp La công nhận tất cả những người LaTin, người ngoại quốc
sống trên lãnh thổ La đều là công dân La Mã.
3. Nông nô và tá điền
-Về nguyên tắc là những người tự do, tá điền là những người có nhà cửa nhưng không có
ruộng đất nên phải thuê đất và nộp tô thuế, nông nô là những nô lệ được giải phóng nhưng
không tài sản, không ruộng đất nên phải làm thuê cho chủ hoàn toàn phụ thuộc
vào chủ cũ, không được thưa kiệnphải cấp dưỡng trong trường hợp chủ bị psản.
4. lệ
lOMoARcPSD| 45988283
La một quốc gia chiếm hữulệ. Nô lệ được coi vật sở hữu của chủ nô. Tuy vậy, địa
vị của nô lệ trong từng giai đoạn không giống nhau.
Trong thời kỳ đầu, lượng nô lệ trong các gia đình còn chưa nhiều, họ sống và làm việc cùng
các thành viên trong gia đình, không sự khác biệt nét trong cách sinh hoạt giữa họ. Sau
này, khi số lượng nô lệ tăng lên, họ bắt đầu sống tách biệt với chủ nô. Địa vị của họ ngang
hang với các đồ vật cần thiết trong đời sống (Res mancipi)
Nô lệ không có quyền sở hữu tài sản, trong một số trường hợp nô lệ được chủ nô giao cho
một số tài, đất đai để buôn bán hoặc canh tác nhưng những tài sản đó vẫn thuộc quyền sở hữu
của chủ nô. Pháp luật La Mã không thừa nhận quan hệ hôn nhân giữa nô lệ và nô tì
(contubernium), quan hệ đó được coi như mối quan hệ thuần túy giữa hai Res mancipi mà
thôi. Con của nô lệ sinh ra thuộc quyền sở hữu của chủ nô. Chủ nô có quyền định đoạt nô lệ:
quyền sinh, quyềnt, bán, đổi, cho thuê, và thể giếtlệ trong trường hợp cần thiết.
Thân phận của người nô lệ cũng phụ thuộc vào chế độ chiếm hữu nô lệ và bị chính chế độ đó
chi phối. Vào thế kỷ thứ III đến thế kỷ thứ V chế độ nô lệ La được duy trì theo quy định
của hoàng đế Claudiuxo, cấm bắt nô lệ đau ốm lao động nặng, cấm giết nô lệ đau yếu. Thời
hoàng đế Nero đã cấm đưa nô lệ ra đấu với dã thú. Thời hoàng đế Atoniuxo nếu không có lý
do chính đáng thì không được giết lệ.
Trong luật La khái niệm Peculio, dùng để chỉ một khoản tài sản chủ nô trích ra để nuôi
nô lệ. Nô lệ có quyền sử dụng tài sản nói trên. Nô lệ có quyền sử dụng tài sản này, chịu hậu
quả pháp về hành vi của bản thân nhưng không quyền thu lợi từ tài sản đó mang lại.
Khi cho phép lệ sử dụng tài sản Peculio để giao dịch, chủ phải chịu trách nhiệm đối với
những giao dịch mà nô lệ tiến hành với người thứ ba. Trong quan hệ về tài sản giữa nô lệ với
người thứ ba và để giải quyết các hậu quả về tài sản, các quan chấp chính đã quy định cho
pháp chủ nợ (bên thứ ba) quyền kiện chủ nô ở các hình thức n sau:
Nếulệ giao dịch với bên thứ ba bằng một tài sản giới hạn trong Peculio để làm giàu thêm
cho chủ nô một khoản lợi tức nào đó thì người thứ ba chỉ có quyền kiện về khoản lợi tức đó
thôi. HÌnh thức kiện này gọi kiện lợi tức action de inrem verso
Nếu chủ nô chỉ định nô lệ của mình làm người làm công (institor) trong công việc buôn bán
của mình thì chủ nô phải chịu trách nhiệm về những việc mà nô lệ thực hiện trong giao dịch
với người thứ ba. Nếu lệ nhận giữ đồ vật hộ theo yêu cầu của bên thứ ba thì ch nô không
phải chịu trách nhiệm.
Nêu chủ nô chỉ đơn giản ủy quyền cho nô lệ làm việc (chỉ thị iusus), đối tác với nô lệ có thể
kiện chủ nô theo action quod iussu. Nếu lệ vi phạm pháp luật (như phá hoại tài sản, ổn hại
tài sảncủa người khác) thì kẻ bị hại có thể kiện chủ nô theo action noxalis (noxa – thiệt hại).
Chủ nô phải chịu trách nhiệm hoàn toàn trong những công việc mà chủ nô ra lệnh cho nô lệ
làm việc.
Chủchỉ phải chịu trách nhiệm về i sản trong phạm vi những khoản lợi thu được do sự
hoạt động của nô lệ mang lại.
Nô lệ được giao tài sản Peculio để hoạt động nhưng lợi tức thu được đều thuộc về chủ nô.
Tuy nhiên, chủphải chịu trách nhiệm về những việc làm của lệ trong giao dịch với bên
thứ ba.
Vai trò của nô lệ trong vấn đề này giống như mộtng cụ làm việc không hơn khôngm.
Những trường hợp bắt đầu trình trạng nô lệ:
binh bị bắt giữ trong các cuộc chiến tranh
Những con nợ không trả được nợ sẽ bị chủ nợ bắt làm lệ
Những n thường bị bắt cóc và bị bán làm nô lệ
Những người con dolệ sinh ra lệ bất kể bố chúng là ai, địa vị gì. Nhưng nếu bố
lệ, mẹ là người tự do thì con sinh ra người tự do.
Kẻ tử hay thù khổ sai cũng thể bị niến thànhlệ
lệ được giải phóng nhưng sau khi được giải phóng rồi tỏ ra bất nhã với người trao trả
tự do thì có thể bị quay trở lại tình trạng nô lệ.
Những trường hợp chấm dứt tình trạng nô lệ:
Được chủ nô giải phóng
Khi nô lệ chết đi
lOMoARcPSD| 45988283
Có rất nhiều con đường dẫn đến tình trạng nô lệ nhưng cơ hội để từ nô lệ trở lại thành
thường dân rất ít. Không những điều luật bảo vệ người dân thường khi họ bị bắt và đem
bán thành nô lệ, hay khôi phục thân phận dân thường cho những người này.
Kết luận:
La Mã,lệ được coi công cụ biết nói, không phải con người, hoàn toàn không địa vị
pháp lý và không được pháp luật bảo vệ, không được có tài sản cá nhân. Trong các mối quan
hệ xã hội cũng không được coi là con người như không được công nhận quan hệ hôn nhân
hay trong các cuộc giao dịch với người thứ ba bằng tài sản Peculio.
Đời sống vật chấttinh thần của ngườilệ thiếu thốn, khốn khổ, bị bóc lột tàn bạo tính
mạng không được đảm bảo. Do đó đã có nhiếu cuộc đấu tranh của nô lệ nổ ra trong suốt quá
trình lịch sử của nhà ớc La Mã.
5. “Pháp nhân”
- Trong luật La Mã, chưa có khái niệm về pháp nhân như một chủ thể của pháp luật
trong thời này, quan hệ phát sinh pháp nhân La chưa phát triển. Tuy vậy trong luật 12
Bảng có nhắc đến 1 khái niệm có thể coi nó tương đương như một pháp nhân đó là “Hiệp hội
tư nhân mang tính chất tôn giáo”, “Hiệp hội thủ công”,… Sự phát triển rực rỡ về kinh tế, văn
hóa, xã hội đã làm xuất hiện nhiều nghề nghiệp mới cùng với sự xuất hiện của đạo thiên chúa
trên lãnh thổ La Mã, xuất hiện nhiều nhà thờ và nhiều công trình xây dựng khác: rạp hát, nhà
trọ, các nghiệp đoàn mai tán , các tổ chức này có tài sản riêng, tổ chức riêng, tên gọi riêng
nhân danh tên mình tham gia vào các quan hệ. Cùng với thời gian, số lượng các tổ hợp này
càng tăng lên.
Nhận xét về các quy định của ch thể của Luật La Mã:
Chủ thể của luật la mã rất hạn chế, địa vị pháp lý của các chủ thể pháp lý không bình đẳng
( phân ra làm nhiều loại chủ thể với quyền lợi khác nhau ). Tuy nhiên, đây chỉ đứng trên
quan điểm của thời đại này, còn nếu xét ở tại thời điểm đó thì có thể nói đối tượng điều chỉnh
của Luật La Mã đã trở nên hết sức đa dạng và phong phú so với các bộ luật trước đó. Luật La
Mã không chỉ điều chỉnh những quan hệ tài sản, mà còn có cả những mối quan hệ phát sinh
giữa công dân La với nhau, giữang dân La người ngoại quốc (không mang quốc
tịch La Mã), giữa công dân và nô lệ, …
Chủ thể của luật La trực tiếp tham gia vào các quan hệ bản thân của họ các quyền
và nghĩa vụ và đồng thời họ phải gánh chịu trách nhiệm trong việc thực hiện các quyền và
nghĩa vụ đó.
Ngoài ra, dấu hiệu về khái niệm Pháp nhân đã manh nha xuất hiện trong Luật La Mã. Tuy
trong bộ luật này không đề cập đến cụm từ pháp nhân, nhưng trong các mối quan hệ dân sự
đã có sự xuất hiện phổ biến của các tổ chức như Tôn giáo, hội buôn, tổ chức kinh tế và các tổ
chức này thông qua hành vi của người đại diện tham gia các quan hệ tài sản vì lợi ích của tổ
chức. Luật còn công nhận quyền của một số tổ chức của nhiều người với một tài sản nhất định
như lập quỹ dù chưa quy định đó là pháp nhân. Tài sản thuộc sở hữu nhiều người, quyền gắn
vào tài sản thuộc về tổ chức.
thể nói đây đã những điểm rất tiến bộ của Luật La so với các bộ luật trước đó như
Hammurabi, Urnammu của Babylon.
BÀI 2: QUYỀN CHIẾM HỮU
KHÁI NIỆM, CÁC HÌNH THỨC CHIẾM HỮU:
Khái niệm:
Chiếm hữu: Sự chiếm dụng , “”thống trị” trên thực tế đối với đồ vật.
Quyền chiếm hữu( Ius Possessio): Thực tế kiểm soát và chi phối đồ vật được pháp luật bảo
hộ bằng phương pháp kiện dân sự.
Yêu cầu: - vật thực sự.
+ ý chí chiếm hữu luôn coi vật đó của mình.
Hình thức chiếm hữu:
Chiếm hữu hợp pháp:
+ Chủ sở hữu giữu quyền chiếm hữu.
+ Chủ sở hữu nhượng quyền chiếm hữu cho người khác hoặc giao cho người khác nắm giữ
lOMoARcPSD| 45988283
Chiếm hữu không hợp pháp:
+ Người chiếm hữu định đoạt trái phép tài khoản của chủ sở hữu ( trộm, cướp)
+ Nhặt được vật của người khác đánh rơi, làm mất vật
Chiếm hữu bất hợp pháp không ngay thẳng
+ Mua nhầm phải của gian ( người bán không phải chủ sở hữu)
Chiếm hữu bất hợp pháp ngay thẳng
Việc phân biệt chiếm hữu bất hợp pháp ngay thẳng hay không ngay thẳng có ý nghĩa quan
trọng trong việc bảo vệ quyền sở hữu cũng như xác lập quyền sở hữu. Người chiếm hữu ngay
thẳng thể trở thành chủ sở hữu theo thời hiệu.
II. PH N BIỆT QUYỀN CHIẾM HỮU VÀ CHIẾM HỮU
Quyền chiếm hữu
Quyền chiếm giữ
- Không theo ý chí của ch sở hữu
Trong trường hợp mất, bị cướp. Còn trong nhiều trường hợp là do chủ sở hữu thực hiện hành
vi chiếm hữu hợp pháp
- Người chiếm quyền bảo vệ đồ vật mình chiếm giữ đối với mọi hành vi xâm phạm( được
pháp luật bảo vệ để tránh nguy cơ bị tước đoạt)
- Hành vi chiếm hữu về mặt pháp phải thể hiện ý muốn chiếm dụng đồ vật một cách độc
lập không phụ thuộc vào ý chí của người khác muốn xem đồ vật đó của chínhmình
- Các dạng chiếm hữu
+Chiếm hữu hợp pháp: người chủ sở hữu
+Chiếm hữu bất hợp pháp: người chiếm hữu không biết mình không có quyền chiếm hữu
đồ vật kẻ ăn cắp( người biết đồ vật đấy không phải của mình nhưng làm như của mình)
-Thực hiện theo ý chí của chủ sở hữu trong các trường hợp như cho thuê, cho mượn
Thường thì chủ sở hữu không thực hiện hành vi chiếm hữu đồ vật
-Người chiếm giữ đồ vật chỉ thể bảo vệ đồ vật thông qua chủ sở hữu anh ta thuê mướn
-Hành vi chiếm giữ tài sản chỉ là hành vi nắm giữ quản nhưng không coi tài sản đó của
mình
VD:Anh ta đồ vật để sử dụng nhưng bằng hành vi trả tiền thuê, luật La coi người thuê
đồ vật người giữ đồ vật thay tên cho chủ sở hữu
III. CĂN CỨ XÁC LẬP CHẤM DỨT CHIẾM HỮU
Căn cứ xác lập/ Phát sinh
Các luật gia La đều cho rằng n cứ phát sinh chiếm hữu gồm 2 thành tố là: thực tế chiếm
giữ vật ( corpus possessioinis) và có ý chí chiếm giữ mà không phụ thuộc ý chí của người
khác ( animus possessioinis) tức vừa vật lại vừa ý đồ xem vật đó như là của mình.
Thời điểm xác lập chiếm hữu được xem thời điểm kết hợp giữa hai thành tố cấu thành này.
Việc xác định chứng minh corpus possessioinis theo nguyên tắc chung rất ràng : Người
nào đang có vật thì được coi người chiếm giữ vật
Tuy nhiên, việc xác định animus possessioinis lại phức tạp hơn rất nhiều.
VD: Một người có mặt trên một mảnh ruộng, cày xới và gieo trồng ở đó. Hoặc một người có
ngựa để cưỡi,người đang sinh sống trong một ngôi nhà,… Chúng ta không thể biết ý đồ muốn
chiếm dụng những thứ đó của họ. Trước mắt chúng ta, họ chỉ là người giữ đồ vật một cách
đơn thuần.
lOMoARcPSD| 45988283
Để trả lời cho câu hỏi đó, ta cần làm sáng tỏ cái gọi Causa possessioinis tức căn cứ pháp
của việc chiếm hữu đồ vật hay mục đích chiếm hữu
VD: Một người có thể có đồ vật vì mua nó qua người bán. Người khác có thể có đồ vật theo
hợp đồng vay mượn để sử dụng. Khi sử dụng đồ vật, cả hai người nói trên có thể có những
hành vi giống nhau nhưng: đối với người thứ nhất hành vi đó là biểu hiện ý chí chiếm hữu,
đối với người thứ hai thì hành vi đó đơn thuần sự biểu hiện của việc sử dụng phụ thuộc.
hay sự chiếm giữ.
Dựa trên cơ sở đó, luật La Mã đặt ra câu hỏi: Kẻ cắp theo luật La Mã là người chiếm hữu bất
hợp pháp không ngay tình nhưng dù sao hắn ta vẫn là người chiếm hữu, vẫn có ý chí chiếm
hữu và luôn coi vật đã ăn cắp được là của mình. Vì vậy, nếu người chủ sở hữu thực sự muốn
yêu cầu người đang chiếm hữu vật trả lại cho mình thì phải chứng minh vật thuộc sở hữu của
họ bị người chiếm giữ ‘ ăn cắp’ . Điều này làm cho chủ sở hữu đích thực trở nên khó khăn
rất khó chứng minh được ‘hành vi’ ăn cắp để có thể yêu cầu hoàn trả lại tài sản từ chiếm hữu
bất hợp pháp.
Để chứng minh animus possessioinis, luật La Mã áp dụng nguyên tắc: nemo sibi causam
possessioinis mutare potest không ai thể thay đổi căn cứ chiếm hữu cho chính bản thân
( Bộ Degest, quyển 41, mục 2,3,19). Nguyên tắc này không có nghĩa là: Nếu vào một thời
điểm nhất định ai đó đã đồ vật ( vd theo hợp đồng vay mượn) thì anh ta-( không bao giờ
và không vì điều kiện nào) có thể là người chiếm giữ. Hoặc ngược lại, kẻ chiếm giữ không
bao giờ người giữ đồ vật đơn thuần
.
Không chỉ cá nhân mới thực hiện quá trình chiếm hữu, mà chiếm hữu cũng có thể phát sinh
qua người đại diện. Và muốn có quyền chiếm hữu qua đại diện cần có những điều kiện sau
đây: Thứ nhất, người đại diện phải có đủ thẩm quyền chiếm hữu cho người khác dù thẩm
quyền đó xuất phát từ pháp luật hoặc từ một hợp đồng. Thứ hai, khi trao cho người đại diện
thẩm quyền này, chủ thể chiếm hữu phải thể hiện ý chí chiếm hữu của mình từ trước.Tức là,
mặc vật thực sự nhưng anh ta phải có ý thức không phải lấy đồ vật cho bản thân
cho người ủy quyền.
Tóm lại, để xác định animus possessoinis, cần làm mục đích chiếm hữu trên sở pháp
dẫn đến việc chiếm hữu đối với vật
Chấm dứt quyền chiếm hữu
Chiếm hữu không th tồn tại nếu thiếu một trong hai thành tố corpus possessoinis và animus
possessoinis.
Chủ thể không còn chiếm hữu vật nữa trong các trường hợp sau:
Vật rời khỏi anh ta
Anh ta vứt bỏ đồ vật ấy đi ( muốn chấm dứt chiếm hữu)
Vật bị hỏng hoặc không thể lưu thông được nữa
Với chiếm hữu được thực hiện qua đại diện thì nó chấm dứt theo ý chí của người chiếm hữu.
Đồng thời, khả năng chiếm giữ đồ vật của người đại diện hay người ủy quyền cũng chấm dứt.
IV.BẢO VỆ QUYỀN CHIẾM HỮU
Đặc điểm nổi bật của sự bảo vệ chiếm hữu được thể hiện ở chỗ: Trong quá trình xét xử về
chiếm hữu theo Luật La, không phải chứng minh quyền đối với vật đó, thậm chí không
được phép dựa vào vật quyền.
2 quan điểm để giải thích:
Do hiện tượng một chủ thể vừa là người chiếm hữu và là chủ sở hữu trong thực tế đời
sống quá phổ biến đến mức thể cho rằng người chiếm giữ đồ vật đó chủ sở hữungười
không có trong tay đồ vật thì không có quyền với vật đó.
Xuất phát từ tình hình thực tế nói trên nhà nước ban hành pháp luật bảo vệ cho chủ sở hữu
đồ vật- người đang chiếm giữ đồ vật trên thực tế, và không cho phép kéo dài việc xét xử bằng
luận cứ quyền sở hữu của bị cáo. Nếu người chiếm giữ đồ vật( nguyên cáo) nói trên ràng
lOMoARcPSD| 45988283
kẻ chiếm giữ bất hợp pháp thì bị cáo được quyền pháp đơn khiếu nại theo vật tố tụng để đòi
lại đồ vật của mình.
Trong trường hợp nàynđã thể hiện sự phù hợp với quy phạm của luật La Mã: Đối tượng
chiếm hữu những đồ vật thuộc quyền sở hữu( chẳng hạn đường công cộng, nhà hát công
cộng,… không phải những th thuộc quyền sở hữu của cá nhân)
Việc đơn giản hoá bảo vệ chiếm hữu một biện pháp của nhà nước để chống lại tình
trạng sử dụng tuỳ tiện. Chỉ có thể khẳng định quyền sở hữu thông qua xét xử, toà án và pháp
luật bảo vệ cho những kẻ chiếm giữ đồ vật thực tế. Điều này cho thấy đa phần công dân La
là những người chiếm giữ, còn chủ sở hữu lại tầng lớp giàu có.
Chiếm hữu được bảo vệ không phải bằng đơn kiện bằng những điều cấm của quan toà xét
xử (interdicta), đó là: điều cấm để giữ quyền chiếm hữu và điều cấm để trả lại quyền chiếm
hữu.
Interdicra Retinendae Possessionis (điều cấm để giữ quyền chiếm hữu)
Interdictum uti possidetis để bảo vệ cho những ai chiếm hữu bất động sản. Khái niệm
"Nec vi nec clam nec precarioab" dùng để chỉ luật pháp không bảo vệ chiếm hữu cho những
kẻ dùng sức mạnh ( Vi) để chiếm hữu bất động sản của bên mà trong khi xét xử gọi là ab
avercario. Kẻ nào mật (clam) chiếm bất động sản của bị cáo hoặc sử dụng bất động sản của
bị cáo trong lúc xét xử thì không được pháp luật bảo vệ ( Theo bộ Degest, quyển 43, mục 27,
trích đoạn 1).
Interdictum utrubi bảo vệ cho những người giữ đồ vật lần cuối cùng trước khi xét xử
với thời gian hơn một năm với điều kiện anh ta không chiến giữ bằng Vi, Clam, Precario.
Interdicra Recuperandae Possessionis (điều cấm để trả lại quyền chiếm hữu)
Interdictum unde vi dùng để bảo vệ người chiếm hữu hợp pháp bị người khác ớc
đoạt quyền chiếm hữu.
Interdictum de precario dùng để bảo vệ người cho thuê khi bị người thuê từ chối trả
lại đồ vật.
Đối với người chiếm hữu bất hợp pháp ngay thẳng còn được trao quyền Actioc in rem
publiciana. Quyền kiện này được trao cho ai chiếm hữu vật theo thời hiệu. Quan toà chỉ cần
khẳng định thời hiệu chiếm hữu của nguyên đơn là đủ cho anh ta có quyền sở hữu
BÀI 3: SỰ HÌNH THÀNH QUYỀN S HỮU NHÂN
I,Sự hình thành quyền sở hữu luật La Mã:
Tài sản thể hiện tư cách nhân thân của chủ sở hữu. Đây là giai đoạn sơ khai trong lịch sử phát
triển chế định sở hữu. Khái niệm quyền sở hữu ban đầu được hiểu khác xa rất nhiều so với
cách hiểu của chúng ta ngày nay. Tài sản khi đó được hiểu như là sự tiếp nối tư cách cá nhân
của chủ sở hữu. Ai xâm phạm đến tài sản của một người (lấy mất con thú săn được, hoa trái
thu lượm được) là xúc phạm tới cá nhân người đó. Thời La mã cổ đại có quan niệm rằng: Một
người kiện kẻ trộm không phải vì mình có quyền sở hữu, mà vì người ăn trộm đã xúc phạm
đến danh dự của mình thông qua hành vi ăn trộm đó. Kẻ trộm khi đó bị coi là kẻ xúc phạm (bị
kiện theo phương thức kiện hành vi trộm cắp – actio furti), chứ chưa được coi là người chiếm
hữu bất hợp pháp tài sản của người khác (chưa áp dụng các phương thức kiện bảo vệ quyền
sở hữu như kiện đòi lại tài sản thuộc sở hữu của mình – actio rei vindicatio, hay phương thức
kiện đòi lại tài sản bị trộm – condictio furtiva). Quan niệm đó dẫn đến một loạt các hệ quả
pháp quan trọng sau đây:
- Theo quan niệm đó mà pháp luật La mã giai đoạn cổ đại đã quy định cho phép chủ sở hữu
không những được lấy lại tài sản bị trộm mà còn được trả thù lại sự xúc phạm đó đối với kẻ
trộm: chặt tay, giam giữ, giết, bánm nô lệ, phạt gấp nhiều lần tài sản trộm, …(1).
- Nếu tài sản rời khỏi chủ sở hữu không có sự xúc phạm đến nhân thân của chủ sở hữu (Ví
dụ như: chủ sở hữu cho người khác mượn tài sản, sau đó người mượn lại đem bán tài sản đó
đi), thì chủ sở hữu không được quyền đòi lại(2).
- Cũng theo quan niệm đó mà Luật La mã thời kỳ cổ đại đã từng quy định rằng, nếu như có
nhiều kẻ trộm cùng ăn trộm một tài sản, thì hành vi của mỗi kẻ trộm được coi là những sự xúc
phạm riêng biệt đối với chủ sở hữu. Khi đó mỗi kẻ trộm phải trả cho người bị trộm toàn bộ tài
sản đã ăn trộm (có bao nhiêu kẻ trộm cùng thực hiện việc trộm cắp thì chủ sở hữu được
lOMoARcPSD| 45988283
hưởng ngần ấy lần tài sản của mình)(3). dụ như hai kẻ trộm cùng ăn trộm một con ngựa,
thì khi bị bắt mỗi kẻ trộm phải nộp cho người bị trộm một con ngựa.
- Do tài sản là sự tiếp nối tư cách nhân thân của chủ sở hữu, do đó khi chủ sở hữu chết thì tư
cách nhân thân chấm dứt, tài sản trở thành vô chủ. Một số tài liệu khảo cổ cho thấy thời xa
xưa tại nhiều dân tộc có tồn tại tập quán rằng sau khi một người chết đi thì tài sản của người
đó (tiền bạc, đồ dùng quý giá, thậm chí cả nô lệ) cũng được chôn theo. Cùng với đó một
nguyên tắc pháp được hình thành dưới thời La cổ đại có nội dung như sau: “Việc lấy đi
tài sản của người chết không được coi là ăn trộm” “Rei hereditariae furtum non fit”(4).
Trong giai đoạn này chế định thừa kế chưa được hình thành nét, chưa quy định cụ thể
cho việc dịch chuyển tài sản từ người chết sang cho những người còn sống.
Quyền sở hữu vật là quyền của chủ thể được chi phối tuyệt đối và theo ý chí của mình đối với
vật. Với sự phát triển của giao lưu dân sự, thì khái niệm quyền sở hữu thế hệ thứ hai dần được
hình thành và được hiểu là “quyền thống trị tuyệt đối của một chủ thể lên vật”. Quyền sở hữu
là một loại vật quyền quan trọng nhất thể hiện sự phụ thuộc tuyệt đối và vô hạn của vật đối
với chủ sở hữu. Chủ sở hữu có mọi quyền năng đối với vật. Việc xác lập quyền sở hữu đối
với vật trả lời cho câu hỏi: Vật này của ai?
Đối với một vật cụ thể thì không thể bất kỳ chủ thể nào nhiều quyền năng hơn chính
chủ sở hữu vật đó. Mọi hành vi tác động lên vật hoàn toàn phụ thuộc vào ý chí của chính chủ
sở hữu đó. Cũng từ khi cách hiểu này chủ sở hữu mới được bảo vệ bằng những phương
thức kiện vật quyền. Ví dụ như kiện đòi lại tài sản thuộc sở hữu của mình (rei vindicatio).
Cũng trong giai đoạn này mới hình thành nên nguyên tắc: “Một người không thể chuyển giao
cho người khác nhiều hơn những gì mình có” (Tiếng La-tinh: “Nemo ad alium plus juris
transferre potest, quam ipse habet”). Và hệ quả trực tiếp của nguyên tắc này là: nếu như tài
sản đã được chuyển giao từ người chiếm hữu bất hợp pháp sang cho người thứ ba thông qua
giao dịch dân sự thì chủ sở hữu vẫn được đòi lại tài sản từ người thứ ba đó. Ví dụ như một
người mua phải tài sản do trộm cắp được thì phải trả lại cho chủ sở hữu khi chủ sở hữu đòi
lại. Bởi lẽ bản thân kẻ trộm không có quyền sở hữu đối với vật trộm được, do đó không th
chuyển giao quyền sở hữu sang cho người mua (không thể chuyển giao cái mà chính mình
không có), khi đó người mua phải tài sản trộm cắp sẽ không thể trở thành chủ sở hữu tài sản
mua được.
Tại đây phát sinh một vấn đề: Khi đó một người khi mua tài sản nào đó thường sẽ rất băn
khoăn rằng: Không biết người bán cho mình có đích thực là chủ sở hữu tài sản không. Nếu
người bán không phải chủ sở hữu tài sản thì đến một lúc nào đó sau khi mua chủ sở hữu
sẽ đến đòi lại, bên mua khi đó bị buộc phải trả lại cho chủ sở hữu tài sản mình đã mua. Nhằm
khắc phục tận gốc vấn đề đó pháp luật các nước mới bắt đầu hình thành chế đăngtài
sản. Phương thức đăng ký tài sản đó ban đầu được áp dụng đối với bất động sản, sau đó áp
dụng dần cho các loại tài sản khác động sản.
Cách hiểu này đã cho phép chủ sở hữu mọi quyền năng đối với tài sản, do đó ở thế hệ thứ
hai này ta không thấy có sự liệt kê các quyền năng bản của chủ sở hữu.
Quyền sở hữu vật được hiểu thông qua việc liệt cụ thể các quyền năng cấu thành của chủ
sở hữu đối với vật của mình.
Trên thực tế thì trong một xã hội công dân, mọi hành vi của mỗi thành viên, trong đó kể cả
hành vi đối với tài sản của chính mình, cũng chỉ giới hạn trong phạm vi cho phép sao cho
không m ảnh ởng đến quyền lợi ích hợp pháp của các chủ thể khác, cũng n lợi ích
của toàn xã hội, của cộng đồng nói chung.
Chính vì lý do đó quyền năng của chủ sở hữu mới luôn bị hạn chế trong một giới hạn luật
định. Quyền năng hạn của chủ sở hữu đối với vật “của mình” chỉ được th hiện với ý nghĩa
lớn hơn so với bất kỳ một chủ thể nào khác, chứ không bao giờ có thể nhiều hơn những gì
pháp luật quy định. Nói cách khác, quyền sở hữu khi đó được hiểu là tập hợp một số quyền
năng cụ thể của chủ sở hữu mà pháp luật quy định. Bắt đầu hình thành khái niệm quyền sở
hữu thế hệ thứ ba liệtcụ thể các quyền năng cấu thành của quyền sở hữu vật.
Dưới thời cộng hoà La thì quyền sở hữu được hiểu bao gồm năm quyền năng là: 1) Quyền
chiếm hữu, 2) Quyền sử dụng, 3) Quyền hưởng dụng lợi ích từ việc sử dụng vật, 4) Quyền
định đoạt số phận vật, 5) Quyền kiện đòi lại vật từ người chiếm hữu bất hợp pháp.
Hạn chế đối với quyền sở hữu
lOMoARcPSD| 45988283
Ưu tiên lợi ích cộng đồng. dụ: người chủ sở hữu 1 BĐS chỉ thể phá dỡ 1 công trình khi
cam kết xây dựng 1 công trình mới; chủ sở hữu BĐS phải chịu trách nhiệm bảo vệ những
người láng giềng có nguy gặp nguy hiểm do BĐS, công trình trên BĐS của mình
Lạm dụng quyền: một người thực hiện quyền của mình gây hại cho người khác thì thể
có chế tài cho hành vi lạm dụng quyền này. Ví dụ: chủ sở hữu một dòng chảy có quyền thay
đổi một dòng chảy, nhưng nếu nó làm tổn hại đến dòng chảy của người láng giềng thì phải
chịu trách nhiệm
II, Khái niệm quyền sở hữu:
-Quyền sở hữu là loại chế định duy nhất mà người La Mã chưa đưa ra được một khái niệm
chính xác cho nó. Nhưng ta thể hiểu người chủ sở hữu vật người quyền năng thống trị
đối với vật đó. (Những quyền năng đó được luật pháp công nhận)
III, Nội dung của quyền sở hữu:
Quyền sở hữu một dạng quyền tuyệt đối và phạm vi rất rộng. Có 5 dạng quyền năng
bản của chủ sở hữu:
+ Ius Utendi (Quyền sử dụng): quyền khai thác những lợi ích kinh tế từ tài sản phù hợp với
tính năng, tác dụng của tài sản đó
+ Ius Fruendi (Quyền thu nhận thành quả từ tài sản) : về nguyên tắc chủ sở hữu người
hưởng thành quả lợi nhuận từ tài sản thuộc sở hữu của mình
+ Ius Possidendi (Quyền chiếm hữu tài sản)
+ Ius Abutendi (Quyền định đoạt tài sản): bao gồm định đoạt số phận thực tế cũng như số
phận pháp của tài sản như bán, thừa kế, ban tặng, thậm chí là hủy bỏ
+ Ius Videcandi (Quyền kiện đòi tài sản) .
Quyền sở hữu hạn chế với bất động sản liền kề. Ví dụ: chủ sở hữu BĐS phải chấp nhận cho
cành lá cây nhà láng giềng trổ sang đất đai nhà mình; phải để cho nước mưa chảy tự nhiên
trên đất nhà mình.
BÀI 4: QUYỀN SỞ HỮU
I/ Quyền sở hữu
Chế định quyền sở hữu là chế định duy nhất mà các luật gia La Mã chưa đưa ra được khái
niệm chính xác về quyền sở hữu cũng như nội dung quyền sở hữu. Tuy nhiên trong Luật La
Mã, quyền sở hữu thể được hiểu quyền sử dụng, và quyền định đoạt của chủ sở hữu đối
với tài sản của mình. Quyền sở hữu không được coi là quyền tuyệt đối vì vẫn bị một số giới
hạn do pháp luật quy định.
Các luật gia La đã chỉ ra được những quyền năng bản của chủ sở hữu i sản. Những
quyền năng đó bao gồm:
Quyền sử dụng tài sản (Ius Utendi): đây quyền khai thác những lợi ích kinh tế từ tài sản
phù hợp với tính năng, tác dụng của tài sản đó;
Quyền thu nhận thành quảlợi nhuận (Ius Fruendi): về nguyên tắc chủ sở hữu người
hưởng thành quả lợi nhuận từ tài sản thuộc sở hữu của mình;
Quyền định đoạt tài sản (Ius Abutendi): bao gồm định đoạt số phận thực tế cũng như số phận
pháp của tài sản như bán, thừa kế, ban tặng, thậm chí hủy bỏ;
Quyền chiếm hữu tài sản (Ius Possidendi)
Quyền đòi lại tài sản (Ius Vicicandi).
Về nguyên tắc chung, chủ sở hữu tài sản toàn quyền đối với tài sản của mình, thực hiện
hành vi pháp luật không cấm.
Người La căn cứ vào giá trị về mặt pháp củai sản để chia tài sản thành hai loại Res
mancipi (đất đai, nô lệ, động vật - những phương tiện sản xuất chủ yếu của người nông dân)
và Res nes mancipi(những tài sản còn lại). Lúc đầu chỉ có công dân La mới đưc quyền
sở hữu ruộng đất còn dân nhập cư và dân ở các địa phương khác không có quyền. Tuy nhiên
quyền sở hữu được pháp luật ghi nhận còn thực tế bình dân khác cũng sở hữu ruộng đất.Khác
với luật La Mã, ở pháp luật Lưỡng Hà, bộ luật Hammurabi phân loại tài sản căn cứ theo giá
trị, khả năng di dời của tài sản nên chia thành hai loại là động sản (nô lệ, gia súc..) và bất
lOMoARcPSD| 45988283
động sản (đất đai, nhà ở…). Nhưng có điểm giống nhau giữa hai bộ luật là họ đều coi trọng
loại tài sản là đất đai (bất động sản), điều này có thể giải thích được bởi trong xã hội cổ đại,
đất đai chủ yếu là loại tư liệu sản xuất quan trọng nhất và cũng là loại tài sản có giá trị lớn
nhất. Cần lưu ý rằng, không phải tài sản nào cũng là đối tượng của quyền sở hữu, và không
phải tài sản nào cũng được chiếm giữ, “ lưu thông” đó là tài sản chung như nước chảy trên
sông, không khí của tất cả mọi người, đồ cấm như thuốc độc,ch cấm, tài sản nhà ớc..
II/ Căn cứ xác lập quyền sở hữu
Những sự kiện mà với sự phát sinh của chúng, chủ thể đã có quyền sở hữu được gọi là các
phương thức thủ đắc quyền sở hữu (còn gọi modus acquirendi). Những sự kiện pháp
căn cứ để thủ đắc quyền sở hữu gọi hạng mục thủ đắc (tirulus acquirendi)
Phương thức thủ đắc quyền sở hữu được chia thành 2 loại:
Phương thức tự nhiên (căn cứ nguyên sinh)
Là những căn cứ mà từ đó quyền sở hữu đc xác lập mà không phụ thuộc vào quyền sở hữu
trước đó đối với tài sản (vật không thuộc sở hữu của ai, chiếm hữu theo thời hiệu, chủ sở hữu
từ bỏ quyền sở hữu…).
Đối tượng của quyền sở hữu phải là vật đc phép lưu thong (/tự do lưu thong, hạn chế lưu
thông)
Luật La quy tắc: Vật không thuộc quyền sở hữu của ai thì ai người chiếm giữ vật đó
đầu tiên sẽ là chủ sở hữu của vật đó, với ý định chiếm giữ cho mình.
VD: Cá sông, biển, trừng,vật chủ sở hữu đã từ bỏ quyền sở hữu,..
Căn cứ xác định sở hữu ban đầu với từng loại vật:
Vật vô chủ (Res nullius): bất kì một vật nào đó có thể sở hữu (kể cả nô lệ) mà chưa thuộc
quyền sở hữu của một chủ thể cụ thể nào đó đưc coi vật vô chủ vf được sở hữu một cách
tự do.
Quan niệm này trở thành sở pháp lý, luận để các quốc gia tuyên bố những vùng đất
chủ (terra nullius) là lãnh thổ thuộc chủ quyền lãnh thổ của nước mình vì đã phát hiện ra,
chiếm giữ hoặc đánh dấu chủ quyền lên lãnh thổ đó.
Trong luật La không được phép đánh đòng vật bị vứt bỏ với vật bị đánh mất hặc cất giấu.
Xác nhận theo từng trường hợp cụ thể:
Nếu người nào đó nhặt được mảnh giẻ cũ, quần áo rách rưới thì có th xem n những thữ
nhặt được là đồ vật bị vứt bỏ.
Nếu thấy đồ vật tương đối có giá trị (tiền, kim khí, đá quý,..) thì không được xem như đồ vật
bị vứt bỏ được xem như đồ vật bị đánh rơi.
Theo luật, kẻ nhận được đồ vật bị đánh giá trị chiếm thành của riêng thì mắc vào tội ăn
cắp. Anh ta phải tìm ra chủ của nó bằng mọi cách và nếu tìm được thì có thể yêu cầu bồi
thường chi phí tìm kiếm và trông giữ, nhưng về nguyên tắc luật thì không được xử bồi
thường.
Vật chôn, giấu Kho báu
Vật bị cất giấu vẫn xem như vật chủ vì vậy quyền sở hữu vẫn thuộc chủ sở hữu của vật
đó.
Nếu bị cất giấu quá lâu mà không tìm ra chủ của chúng thì chúng được gọi là vật bị chôn cất
(thesaurus). Theo luật La Mã, chủ nhân của vị trí tìm thấy vật bị chôn cất (thường đất) được
xem là chủ sở hữu của vật đó.
Từ thế kỉ II SCN, đồ vật bị cất giấu sở hữu của chủ nhân vị trí chôn cất và của người tìm ra
chúng (mỗi bên một nửa).
VD: B tìm thấy một viên đá quý trong vườn của A thì A được hưởng một nửa, B được hưởng
một nửa giá trị của viên đá quý đó.
Chế biến vật:
Đây hình thức tạo một vật mới từ nguyên liệu (chuyển từ dạng này sang dạng khác).
Nếu nguyên liệu thuộc sở hữu của một người và họ bỏ công sức hoặc chi phí của chính mình
ra để tạo ra một sản phẩm mới thì vật mới được tạo thành đương nhiên thuộc quyền sở hữu
của người đó (quyền sở hữu đối với nguyên vật liệu và vật tạo thành được xác lập liên tục).
Nếu nguyên vật liệu thuộc sở hữu của chủ thể này nhưng sức lao động bỏ ra hoặc chi phí chế
biến vật đó thuộc chủ thể khác thì vật mới tạo thành sẽ thuộc sở hữu của ai? Trong pháp luật
lOMoARcPSD| 45988283
La những thời điểm lịch sử khác nhau, vấn đề về vật tạo thành thuộc sở hữu của ai được
giải quyết khác nhau. Vào thời hoàng đế Justinian, sản phẩm tạo thành từ nguyên vật liệu của
người khác được giải quyết theo nguyên tắc sau:
+ Nếu vật mới được tạo thành có thể quay về trạng thái ban đầu (không phụ thuộc vào công
sức chế biến) thì vật mới tạo thành thuộc sở hữu của người sở hữu nguyên vật liệu (VD: Vàng
tạo thành đồ trang sực thì thể nung lại thành hình khối vàng ban đầu)
+ Nếu vật mới được tạo thành không thể quay về trạng thái ban đầu (VD: gỗ được chế biến
thành đồ gỗ) thì vật mới tạo thành thuộc sở hữu của người chế biến với điều kiện người chế
biến đó phải người chiếm hữu ngay tình. Người chế biến phải hoàn trả người có nguyên vật
liệu khoản lợi nh được từ việc chiếm hữu ngay tình đó.
Sáp nhập, trộn lẫn:
Nếu một vật kiên kết với một vật khác biến thành một phần của vật liên kết mà không còn
tồn tại độc lập t vật đó thuộc sở hữu của người có vật liên kết
VD: Phần gỗ được dùng làm càng xe ngựa thì gỗ thuộc quyền sở hữu cua người có xe ngựa.
Người có vật liên kết phải hoàn trả lại cho chủ sở hữu có vật ban đầu hai lần giá trị của vật,
nếu vật thể tách được vật đã lien kết thì quyền sở hữu được khôi phục nếu học không nhận
được phần đền bù 2 lần giá trị đó.
Việc liên kết một vật vào vật khác, trên sở đó làm phát sinh quyền sở hữu được coi căn
cứ đầu tiên: trồng cây hay xây dựng công trình trên đất nước của ngưi khác.
Trộn lẫn vật là hình thức liên kết mà sau đó không phân biệt được các thành phần đã liên kết
(hợp kim, vàng, bạc) vật được liên kết được tạo thành vật mới thuộc sở hữu chung của những
người có các vật thành phần.
Nếu vật bị trộn lẫn những vật cùng loại (VD: lương thực cùng loại cới số lượngchất
lượng khac nhau) thì hỗn hợp tạo thành là sở hữu chung theo phần của các chủ sở hữu có
thành phần hỗn hợp.
Theo thời hiệu
Quyền sở hữu xác lập theo thời hiệu là một dạng đặc biệt của căn cứ đầu tiên. Theo quan
niệm của các luật gia La thì một người chiếm hữu tài sản trong một thời gian nhất định
thực hiện quyền như chủ sở hữu mà không có bất kì tranh chấp nào sẽ đưc công nhận quyền
sở hữu đối với vật mà họ đã chiếm hữu ngay tình.
do điều trên:
Trong thời gian đó người chủ thực sự đủ thời gian để tìm lại tài sản đã mất của nh
nhưng đã không tìm, nên suy đoán họ đã từ bỏ quyền sở hữu.
Nếu họ không tìm thấy, không phát hiện được là tài sản của mình đang do người chiếm hữu
ngay tình chiếm hữu thì đã mất quyền khởi kiện để đòi lại. Về mặt khách quan thì quyền sở
hữu đồ vật nói trên thuộc về người khác. Người thứ 2 này có quyền phát đơn kiện và chững
minh được quyền sở hữu của mình trong phiên tòa xét xử. Trong trường hợp này thì người
thủ đắc ngay thẳng phải trả lại vật. Tuy nhiên nếu thời hạn khởi kiện đòi quá hạn thì người
thủ đắc thiện chí hoàn toàn có thể là chủ sở hữu của đồ vật. Cần công nhận người chiếm hữu
theo thời hiệu chủ sở hữu tài sản để ảo đảm tính ổn định của lưu thông. Quy định thời hiệu
chiếm hữu để trở thành chủ sở hữu khác nhau trong từng thời lịch sử:
+ Trong luật 12 bảng tthủ đắc theo thời hiệu (usucapio) được chấp nhận tương đối đơn
giản:
Đất đai: 2 năm
Các vật khác: 1 năm
Người th đắc theo thời hiệu được công nhận chủ sở hữu của vật nếu chiếm giữ đồ vật
trong thời gian nói trên và không phải đồ do ăn cắp có.
+ các địa phương quy định một dạng thời hiệu gọi Longi temporis paraescriptio:
Đối với người sống trong 1 tỉnh (inter paraesentes) thời hiệu là 10 năm
Đối với người khác tỉnh (inter absentes) là 20 năm
Đối với vật bị mất do trộm cắp thì không thời hiệu.
+ Dưới thời hoàng đế Justinian thống nhất 2 dạng thời hiệu usucapio và Longi temporis
paraescriptio:
Cần thiết phải chiếm giữ đồ vật.
Người chiếm hữu phải người chiếm gi ngay tình đang thực tế chiếm hữu vật.
lOMoARcPSD| 45988283
Chiếm hữu phải dựa trên sở của pháp luật về chiếm hữu.
Thời hiệu chiếm hữu với động sản 3 năm, bất động sản 10-20 năm.
Vật phải được phép lưu thông và không phải vật bị mất trộm.
Hoa lợi
Hoa lợi sản vật tự nhiên tài sản mang lại
VD: trái cây, trứng gà,..
Hoa lợi, trong một chừng mực nào đó được coi là vật phụ của tài sản gốc, vì vậy, chủ sở hữu
của tài sản gốc cũng là chủ sở hữu hoa lợi, dù hoa lợi đã hay chưa được thu hoạch. Nếu chủ
sở hữu chăm sóc vật mang hoa lợi thì hoa lợi thuộc về chủ sở hữu, còn nếu chủ sở hữukhông
chăm sóc mà do 1 người khác thì hoa lợi chia theo thỏa thuận hay hợp đồng.
Nếu vật làm ra hoa lợi bị mất hoặc bị ăn cắp thì chủ sở hữu thể khi kiện:
+ Nếu có người chiếm hữu ngay tình đối với vật sinh hoa lợi bị mất đó thì trong trường hp
hoa lợi được thu hoạch, chế biến trước thời điểm khởi kiện thì hoa lợi sẽ thuộc về người
chiếm hữu ngay tình đó. Còn nếu hoa lợi thu hoạch hoặc chế biến sau thời điểm khi kiện thì
phải để lại.
+ Nếu người chiếm hữu không ngay tình thì người chiếm hữu không bao giờ thành chủ sở
hữu
Căn cứ phái sinh (căn cứ kế tục): phương thức trong đó quyền s hữu của chủ thể đc
phát sinh từ quyền sở hữu của chủ sở hữu trước đây
Phương thức thủ đắc quyền sở hữu kế tục sự chuyển giao đồ vật (tradition), nghĩa quyền
sở hữu vật đc dịch chuyển từ chủ thể nay sang chủ thể khác (không phải sự chuyển giao nào
cũng đều kèm theo sự chuyển nhượng quyền sở hữu). Và ý chí của người trao và người nhận
phải đồng nhất, người chuyển giao tài sản phải có ý định chuyển giao cả quyền sở hữu, đồng
thời người nhận phải ý định tiếp nhận quyền sở hữu.
Việc chuyển giao tài sản phải thỏa mãn các điều kiện sau:
+ Việc chiếm hữu phải đc chuyển giao cho người tiếp nhận chuyển giao
+ Người chuyển giao phải quyền chuyển giao tài sản
+ Việc chuyển giao kèm với mục đích chuyển giao
+ Đối tượng chuyển giao phải đc phép lưu thông
III/ Chấm dứt quyền sở hữu
1/ Vật bị tiêu hủy do quy định của nhà nước bị cấm lưu thông
Vd: sách cấm
2/ chủ sở hữu bị tước quyền sở hữu
Tài sản bị tịch thu do phạm tội hay hây tổn thất phải đền bù cho bên bị hại
Tài sản thời hiệu bị người khác xác lập quyền sở hữu.
3/ chủ sở hữu từ bỏ quyền sở hữu đối với tài sản
-Vứt đồ vật đó đi coi như t bỏ quyền sở hữu. Tuy nhiên sẽ phát sinh vấn đề nhặt được đồ vật
phải xác minh đó là đồ vật bị đánh rơi, vứt bỏ hay chủ sở hữu từ bỏ quyền sở hữu đồ vật đó.
Theo đó luật la quy định rất ràng :
+Nếu người nào nhặt được một mảnh giẻ cũ, quần áo rách -> được xem đồ vật bị bỏ rơi
+Nếu đồ vật có giá trị t phải coi đồ vật bị đánh rơi; nếu chiếm lấy sẽ mắc vào tội ăn cắp.
Phải trình báo để tìm ra chủ của bằng mọi cách.Trong thời gian nhất định nếu không đc
=> người thủ đắc thiện chí hoàn toàn thể chủ s hữu.
Ngoài ra, khi biết tài sản sở hữu của mình bị chiếm hữu không khiếu kiện, ý kiến thì
sau 1 thời gian nhất định người chủ sở hữu đó sẽ mất quyền sở hữu
Bán đi tài sản của mình hoặc cho đi.
4/ Quyền sở hữu không hoàn toàn
Trong trường hợp chủ sở hữu đem i sản ra cầm cố thì chủ sở hữu sẽ tạm thời mất các quyền
năng đối với đồ vật đó tuy nhiên vẫn là chủ sở hữu của tài sản.quyền sở hữu sẽ bị mất và
chuyển sang cho người cầm đồ nếu trong thời hạn mà chủ sở hữu không thể trả nợ hoặc
không trả nợ.
5/ Khác
- Sau khi một người chết đi thì quan hệ sở hữu cũng kết thúc
- Cũng như trong phần bắt đầu quyền sở hữu. nếu một người làm rơi, thất lác một đồ vật mà
người thủ đắc thiện chí trong khoản thi gian nhất định cố gắng tìm ra chủ sở hữu không
lOMoARcPSD| 45988283
được thì sẽ mất quyền sở hữuquyền sở hữu đồ vật đó sẽ thuộc về người thủ đắc thiện chí
kia. Cụ thể 10-20 m đối với bất động sản và3 năm với động sản.
IV/ BẢO VỆ QUYỀN SỞ HỮU
Quyền sở hữu thể thể bị xâm hại bởi hành vi chiếm hữu của người khác. Đặt giả thiết
khi chủ sở hữu và người chiếm hữu là 2 người khác nhau, vậy để chấm dứt tình trạng đó,
người La cổ đại thực hiện một trong 2 biện pháp sau:
Làm biến mất quyền của chủ sở hữu và xác lập quyền đó cho người chiếm hữu. Đó biện
pháp xác lập quyền sở hữu theo thời điểm.
Chấm dứt tình trạng chiếm hữu của người chiếm hữu khôi phục việc chiếm hữu cho chủ sở
hữu. Đây chính mục đích của việc kiện đòi lại tài sản.
Trong Luật La Mã, việc kiện đòi lại tài sản 3 cấp độ: Đòi lại tài sản đúng nghĩa, đòi lại tài
sản theo nghĩa tương đối và trong trường hợp tài sản bị xâm phạm là bất động sản, việc kiện
thể mang tính chất của một biện pháp bảo vệ phụ trợ đối với quyền sở hữu.
Kiện đòi lại tài sản đúng nghĩa
Quyền kiện đòi lại tài sản được thừa nhận như một biện pháp giải quyết các xung đột giữa
tình trạng thực tế và tình trạng pháp lý.Đây là quyền mà chủ sở hữu kiện đòi lại tài sản bị
chiếm hữu bất hợp pháp (Ius Vidicatio).Người có trách nhiệm chứng minh trong vụ kiện đòi
lại tài sản này là người khởi kiện.Bên người bị kiện có quyền không chứng minh gì cả.Nếu
xét thấyc lẽ của người khởi kiện thỏa đáng, người bị kiện thể từ bỏ việc chiếm hữu
đối với tài sản.
Tuy nhiên rất khó để có thể giải quyết các hậu quả phức tạp của việc chiếm hữu.Quyền đối
với hoa lợi, trách nhiệm đối với những hỏng, xuống cấp, trách nhiệm đối với chi phí tu bổ,
nâng cấp tài sản.
Đối với người chiếm hữu ngay tình, họ phải chịu trách nhiệm đối với tài sản, từ thời điểm bắt
đầu khởi kiện, và được hoàn trả những chi phí bảo quản tài sản cần thiết.Còn người chiếm
hữu không ngay tình phải chịu trách nhiệm đối với mọi thiệt hại về tài sản kể từ khi họ chiếm
giữ tài sản đó.
Kiện đòi bảo vệ quyền sở hữu theo nghĩa tương đối
Chiếm hữu coi như mộtnh thức công bố quyền sở hữu
Quyền kiện yêu cầu bảo vệ quyền sở hữu theo nghĩa tương đối được thừa nhận cho một người
chuyển nhượng tài sản từ một người mà ta không rõ có tư cách chủ sở hữu hay không. Trong
điều kiện người được chuyển nhượng ngay tình, người ta giả định rằng, người chuyển nhượng
có quyền yêu cầu bảo vệ quyền sở hữu mà người chuyển nhượng đã giao cho do hiệu lực của
một giao dịch.
Bảo vệ phụ trợ đối với quyền sở hữu (đối với bất động sản)
Chống nguy gây thiệt hại đối với bất động sản (Cam kết bồi thường nếu không chấp nhận
cam kết sẽ chuyển giao quyền chiếm hữu bất động sản)
Chống những hành vi gây thiệt hại đã được thực hiện (bồi thường yêu cầu khôi phục lại
hiện trạng ban đầu)
BÀI 5: CĂN CỨ PHÁT SINH NGHĨA VỤ
Nghĩa vụ được phát sinh trên những sự kiện khác nhau luật pháp thừa nhận.
Theo căn cứ làm phát sinh nghĩa vụ thì nghĩa vụ được chủ yếu phát sinh từ hợp đồng ( ex
contractu) và nghĩa vụ từ hành vi vi phạm pháp luật (ex delictu). Đây là hai căn cứ quan
trọng, phổ biến nhất trong pháp luật La Mã.
Tuy hai căn cứ nêu trên được coi chủ yếu và quan trọng nhất làm phát sinh nghĩa vụ, nhưng
do sự phức tạp của của các quan hệ xã hội cũng như sự phát triển kinh tế , các luật gia La Mã
nhận thấy còn những nga vụ phát sinh từ những căn cứ mà không được liệt vào hợp đồng
cũng như là hành vi vi phạm. Đó là nghĩa vụ phát sinh như từ hợp đồng (ex quasi contractu)
nghĩa vụ phát sinh như từ vi phạm pháp luật (ex quasi delictio)
Tóm lại, Luật La quy định bốn căn cứ làm phát sinh nghĩa vụ:
Nghĩa vụ phát sinh từ hợp đồng (ex contractu)
Nghĩa vụ do hành vi vi phạm pháp( ex delictio)
Nghĩa vụ phát sinh như từ hợp đồng (ex quasi contractu)
lOMoARcPSD| 45988283
Nghĩa vụ phát sinh như từ các vi phạm pháp luật (ex quasi delictio)
NGHĨA VỤ PHÁT SINH TỪ HỢP ĐỒNG ( EX CONTRACTU)
1, Giao ưc khế ước
Giao ước: Là những thảo thuận, làm phát sinh những hậu quả nhưng không được pháp luật
bảo hộ bằng phương thức kiện nhưng do sự phát triển của kinh tế, một số giao ước được quan
tòa bảo hộ và một số được hoàng đế bảo hộ.
Hai bên tham gia thỏa thuận nếu không thực hiện đúng giao ưc thì không phải chịu trách
nhiệm trước pháp luật
Khế ước: Khế ước là những thỏa thuận được pháp luật bảo hộ thông qua các hình thức thực
hiện, chỉ những thảo thuận được pháp luật thừa nhận ( do pháp luật quy định) mới được coi
khế ước.
Hai bên thao gia thỏa thuận nếu không thực hiện đúng khế ước thì phải chịu trách nhiệm
trước pháp luật
2, Điều kiện hiệu lực của hợp đồng
Ý chí: Phải có sự trùng hợp ý chí giữa các bên trong việc tạo lập quyền và nghĩa vụ từ hợp
đồng. Phải thể hiện ý chí ra bên ngoài một cách tự nguyện phải nhận thức được sự thể hiện
đó.
Một số vấn đề phát sinh:
Ý chí được thể hiện ra ngoài không phù hợp với ý định đích thực: giải thích thông qua những
từ ngữ trong hợp đồng và ý nguyện đằng sau đó.
Một bên không sự trùng hợp ý chí và một bên không xác định được sự trùng hợp ý chí dẫn
đến hiểu lầm (Nếu nhầm lẫn của bên này do lỗi của bên kia thì vấn đề bồi thường thiệt hại
cho bên nhầm lẫn được đặt ra)
+ Nhầm lẫn về nội dung ( cho vay và tặng)
+ Nhầm lẫn về chủ thể hợp đồng
+ Nhầm lầm về đối tượng hợp đồng:
Nếu nhầm lẫn về đối tượng thì không phát sinh hiệu lực ( Người bán bán mảnh đất A nhưng
người mua nghĩ là mảnh đất B).
Nếu việc nhầm lẫn chỉ về mức độ chất ợng của đối tượng thì không bị coi nhầm lẫn.
Nếu chỉ nhầm lẫn về tên gọi mà không nhầm lẫn về bản chất thì vẫn hiệu lực.
sự tác động của một bên hoặc bên thứ ba:
+ Lừa dối (dolus): Hành vi của một bên cố tình làm cho bên kia nhầm lẫn về đối tượng
-> Vẫn hiệu lực nến bên bị lừa dối không đưa ra yêu cầu hủy bỏ hợp đồng.
+ Cưỡng ép, đe dọa:
->Người bị đe dọa quyền nại ra việc đe dọa để yêu cầu hủy bỏ hợp đồng ( nếu việc đe dọa
trái pháp luật).
Nội dung: Nội dung hp đồng phải được xác định.
Nội dung phải chỉ rõ đối tượng.
Nội dung được xác định bởi đối tượng của hợp đồng.
Đối tượng của hợp đồng phải vật tự do lưu thông.
Các điều khỏan của hợp đồng không được trái với các quy đinh của pháp luậtđạo đức.
Hành vi, công việc phải được thực hiện: Không thể tồn tại nghĩa vụ nếu hành vi, công việc
người phải thực hiện không thể thực hiện được.
Các hành vi không thể thực hiện được được xem xét trên ba phương diện:
+ Phương diện thực tế: Khả năng của con người không thực tế ( mưa, gọi gió,..)
+ Phương diện pháp lý: hành vi thực hiện trái pháp luật, đối tượng của nghĩa vụ vật cấm
lưu thông
+ Về đạo đức: hành vi trái đạo đức.
Hình thức của hợp đồng:
Hợp đồng miệng
Hợp đồng viết
3, Một số loại hợp đồng cụ thể:
Hợp đồng mua bán.
lOMoARcPSD| 45988283
Hợp đồng cho vay, mượn, gửi giữ
NGHĨA VỤ PHÁT SINH NHƯ TỪ HỢP ĐỒNG ( EX QUASI CONTRACTU)
Định nghĩa
Dùng để chỉ nghĩa vụ phát sinh giữa các bên mà giữa họ không có sự thoả thuận nhưng xét
về tính chấtnội dung của nghĩa vụ thì "hình như" giữa các bên một hợp đồng - tương tự
như các bên có hợp đồng.
Các loại nghĩa vụ:
Negotiorum gestio: Tiến hành công việc của người khác mà không có sự uỷ nhiệm. Nói cách
khác đó trách nhiệm phát sinh từ hợp đồng uỷ thác(madatum)(trách nhiệm hoàn trả những
thứ được từ sự nhầm lẫn, hoặc phải hoàn trả những thứ có được từ sự vô cớ nào đó)
Điều kiện phát sinh nghĩa vụ này:
Tiến hành một số công việc quản tài sản của người khác.
Khi thực hiện công việc của người khác (chủ công việc), người thực hiện người không
trách nhiệm về việc đó bị thúc đẩy do hành vi đạo đức.
Người thực hiện không ý định tặng cho người chủ công việc để thể hiện hảo tâm.
Người thực hiện không được phép đòi tiền công từ chủ công việc.
Trách nhiệm củac bên:
Người thực hiện công việc phải tiến hành công việc một cách cẩn thậnphải chịu trách
nhiệm về mọi việc xuất
Sau khi hoàn thành công việc phải báo cho chủ công việc và bàn giao mọi thứ cho anh ta.
Chủ công việc phải bồi hoàn mọi phí tổn cho người thực hiện, đương nhiên những phí tổn
hợp lý, ích cho công việc.
Nếu chi phí nói trên không hiệu quả thì người thực hiện không những không được đòi bồi
hoàn mà còn phải bồi thường cho chủ công việc nếu anh ta gây thiệt hại cho chủ công việc
những xuất. Anh ta chỉ được phép đòi lại những gì chủ công việc đã do hiệu quả công
việc mang lại.
Nghĩa vụ phát sinh do được lợi về tài sản không căn cứ
Luật thừa nhận nguyên tắc: Người làm giàu không căn cứ phải nghĩa vụ
hoàn trả lại cho đối tác tác của mình. Người bị tước đoạt có các quyền khiếu nại Condictio:
Condictio certae pecuniae : khiếu nại để đòi được hoàn trả số tiền nhất định.
Condictio certae rei: khiếu nại để đòi được hoàn trả đồ vật nhất định.
Condictio incerti: khiếu nại đòi hoàn trả tài sản làm giàu.
Condictio indebiti: khiếu nại đòi hoàn trả những không phải nộp.
Condictio causa data causa non secuta: khiếu nại đòi hoàn trả những đã đưa ra không
thực hiện được mục đích.
Condictio ex causa furtiva: khiếu nại đòi tài sản bị đánh cắp.
Condictio nes sine causa: khiếu nại đòi hoàn trả những gì bị lấy mất không căn cứ.
NGHĨA VỤ PHÁT SINH TỪ VI PHẠM PHÁP LUẬT ( EX DELICTIO)
Khái niệm và đặc điểm
Khái niệm: Nghĩa vụ phát sinh từ các vi phạm pháp luật (ex delicto)là nghĩa vụ phát sinh đối
với người vi phạm tư pháp khi họ có những hành vi vi phạm tư pháp như: xâm phạm đến
quyền lợi ích của cá nhân, các chủ thể cá biệt.
Đặc điểm:
+ Pháp luật liệt kê các hành vi, những trường hợp mà khi hành vi được thực hiện trong các
trường hợp đó thì phát sinh nghĩa vụ không đưa ra các quy tắc chung về việc xác lập các
căn cứ làm phát sinh nghĩa vụ dạng này.
+ Việc xác định nghĩa vụ từ các hành vi vi phạm trong thời kì đầu của nhà nước La không
xem xét đến lỗi, dần dần lỗi là một điều kiện không thể thiếu được khi xác định trách nhiệm
của người bị vi phạm.
+ Điều kiện làm phát sinh nghĩa vụ bồi thường thiệt hại trong hệ thống pháp luật La được
xác định
+ thiệt hại xảy ra. Hành vi có ý thức của một người nhằm gây thiệt hại ( về thân thể hoặc
tài sản) cho 1 người khác. Ý thức có th mang tính chất của lỗi cố ý hoặc lỗi vô ý
+ Nghĩa vụ được xác lập do sự ràng buộc của luật
lOMoARcPSD| 45988283
2. Các hành vi vi phạm tư pháp
a) Xâm phạm nhân thân của người khác (Uniuria)
- Khái niệm: hành vi của một người gây thiệt hại cho người khác về phương diện thân thể
vật lý( dùng vũ lực ) hoặc phương diện tinh thần( cử chỉ, lời lẽ)
- Biện pháp chế tài:
+ Ban đầu: đắp vật chất đơn giản: mắt đền mắt, răng đền răng,…
+ Sau: Các biện pháp này không còn thực tế nên thay thế bằng phạt tiền
b) Xâm phạm tài sản( Furtum)
- Khái niệm: hành vi nào nhằm tước đoạt tài sản của người khác trái với ý chí của người
ấy. Khách thể bị xâm phạm ở đây sản nghiệp chứ không phải nhân thân
Luật cổ
Luật cổ điển
Quan niệm
Hành vi xâm phạm tài sản đặc trưng bằng sự chiếm đoạt gian lận và lén lút Đối tượng xâm
phạm: động sản
Xâm phạm tài sản không nhất thiết sự chiếm đoạt, đó hành vi sử dụng một cách không
chính đáng tài sản của người khác+Người xâm phạm phải hành vi vụ lợi
Chế tài
-Xâm phạm quả tang:
+ Công dân tự do: bị đánh+TA giao cho người bị mất trộm giải quyết
+ lệ: bị đánh+bị ném từ núi cao xuống dưới sự kiểm soát của TA
+Còn nhỏ:bị đánh+bồi thường thiệt hại
-Xâm phạm không quả tang:người xâm phạm thể bị phát tiền gấp đôi giá trị tài sảnm
phạm
Người bị thiệt hại thể tiến hành một vụ án hình sự theo luật hoặc một vụ kiệ theo luật
dân sự
Gây thiệt hại về tài sản( Damum Iniuria Datun)
- Khái niệm: hành vi của một người gây thiệt hại về tài sản cho người khác nhưng lại
không thu được lợi ích vật chất gì từ hành vi đó
VD: Một ngườim cháy ncủa người khác, làm hư hỏnga màng của một người khác.
-Đặc điểm:
+Hành vi gây thiệt hại phải được thực hiện đối vớii sản của người khác và trong điều kiện
người gây thiệt hại không có quyền. Nếu trong trường hợp phòng vệ chính đáng, người gây
thiệt hại không phải chịu trách nhiêm dân sự.
VD: Một người giết nô lệ hoặc súc vật nếu người đó bị chúng tấn công trước
+ Hành vi gây thiệt hại phải có tính chất phạm pháp và phải gây ra thiệt hại vật chất
trực tiếp đối với tài sản thông qua sự tác động ý thức. VD: Chủtrói nô lệ vào thân cây
để trừng phạt. Một người đi qua, động long thương xót, cắt dây trói. Nô lệ trốn thoát. Tuy
nhiên, người đó không tội.
Gây thiệt hại về tài sản dùng lực( Rapina)
Hành vi này chế tài nặng: Người thực hiện hành vi thể bị phạt tiền gấp 4 lần giá
trị tài sản.
IV. NGHĨA VỤ PHÁT SINH NHƯ TỪ CÁC VI PHẠM PHÁP LUẬT ( EX QUASI
DELICTIO)
Khái niệm và đặc điểm
lOMoARcPSD| 45988283
Hành vi gần như trái pháp luật hành vi gây thiệt hại cho người khác( về thân thể hoặc tài
sản) do tác động của vật thuộc quyền sở hữu của người gây ra thiệt hại, ngoài sự kiểm soát
của người này
Tính trái pháp luật đặc trưng cơ bản của chúng.
Sự khác nhau giữa Nghĩa vụ phát sinh từ các vi phạm pháp luật và Nghĩa vụ phát sinh như từ
các vi phạm pháp luật
Sự vi phạm không thể có nếu không có hậu quả xấu, còn Quasi declitio xuất hiện cho dù
không hậu quả nhưng nguy xuất hiện hậu quả xấu ( đồ vật đang nằm trong tình trạng
thể rơi, đồ gây thiệt hại)
Sự vi phạm không thể nếu người thực hiện hành vi không lỗi, còn Quasi declitio thì
thể nếu người thực hiện hành vi xác định không lỗi
Sự vi phạm không thể nếu người thực hiện hành vi không biết đối tượng bị hại là người,
động vật hay đồ vật, còn Quasi declitio xuất hiện ngay cả trong tình trạng đó
Các trường hợp phát sinh nghĩa vụ như từ vi phạm pháp luật
Thiệt hại do đồ vật thuộc quyền sở hữu gây ra:
+ Nếu một vật được ném đổ ra hoặc rơi xuống từ một căn nhà mà gây thiệt hại cho người đi
đường thì chủ nhà phải chịu trách nhiệm, đây một loại trách nhiêmh khách quan không tính
đến yếu tố lỗi
+ Nếu người nào treo bên ngoài nhà của mình một vật mà khi rơi xuống gây thiệt hại cho
người đi đường thì phải chịu trách nhiệm
Thiệt hại do người phụ thuộc gây ra:
Người chủ gia đình không bị ràng buộc bởi các hợp đồng do người phụ thuộc giao kết nhưng
chủ gia đình phải chịu trách nhiệm về những hành vi vi phạm pháp luật của người phụ thuộc
gây ra cho người khác. Hành vi vi phạm pháp luật đó có tính chất như một tội phạm tư nếu
người phụ thuộc phạm một tội công thì trách nhiệm được quy kết ngoài khuôn khổ dân sự
( Thực chất chủ gia đình không bị buộc phải chịu trách nhiệm các nhân về hành vi của người
phụ thuộc: Nếu muốn người chủ gia đình có thể để mặc người bị thiệt hại xử lý người gây
thiệt hại. Trong trường hợp người chủ gia đình nhận trách nhiệm về mình thì người này thể
bị phạt tiền)
Thiệt hại do súc vật gây ra:
Trong trường hợp thiệt hại do súc vật gây ra thì trên nguyên tắc, việc xác định trách nhiệm
cũng tương tự như trong trường hợp thiệt hại do người phụ thuộc gây ra: Chủ sở hữu có thể
nhận trách nhiệm về mình và bồi thường thiệt hại hoặc để mặc súc vật cho người bị thiệt hại
xử lý. Nhưng khác với người chủ gia đình của người phụ thuộc, người chủ sở hữu không thể
bỏ súc vật chết cho người bị thiệt hại như một cách bồi thường trong khi chủ gia đình có thể
đẻ mặc thi thể người gây thiệt hại cho người bị thiệt hại xử lý
BÀI 6: QUYỀN ĐỐI VỚI TÀI SẢN CỦA NGƯỜI KHÁC
(iusa in re aliena)
Nội dung
- Khái niệm quyền đối với i sản của người khác:quyền của một chủ thể không phải là chủ
sở hữu của tài sản nhưng lại quyền hạn đối với tài sản đó.
Bề ngoài chế định này vẻ như bất hợp khi một người không phải chủ sở hữu
đồ vật nhưng lại có quyền hạn đối với đồ vật đó. Thẩm quyền sử dụng đồ vật người khác
hoàn toàn bị hạn chế. Trong khi chủ sở hữu đồ vật được phép làm tất cả trong quyền hạn đối
với đồ vật mà luật pháp cho phép, thì người sử dụng tài sản của kẻ khác chỉ giới hạn hành vi
của mình đối với tài sản đó trong những hình thức cho phép sau:
+ Quyền sử dụng tài sản của người khác (servitus)
+ Quyền thuê đất dài hạn
+ Quyền cầm cố
1. Quyền sử dụng tài sản của người khác (servitus)
- Khái niệm: Servitus là loại quyền thuê đất của người khác để đảm bảo việc sản xuất và sinh
hoạt trên đất củanh khi đó không đủ mọi điều kiện tối thiểu nhất.
lOMoARcPSD| 45988283
+ những khoảnh đất hoặc không nước, hoặc không bãi thả. Để sử dụng bình thường,
chủ nhân của nó buộc phải sử dụng mảnh đất bên cạnh để dẫn nước, đến với đường sá, sông
ngòi…
+ Sự phát triển đô thị, đặc biệt là mật độ công trình xây dựng ngày càng lớn, các chủ sở hữu
đất canh tác trong thành thị cần đưc pháp luật bảo vệ để ngăn ngừa tình trạng đất canh tác
của họ bị che tối từ phía công trình nhà ở bên cạnh…
Để đáp ứng các nhu cầu trên, nhà nước La đã ban hành một số đạo luật để:
+ Ghi nhận thỏa thuận của các bên sử dụng đất lẫn nhau, chẳng hạn: A thỏa thuận với B về
việc B sẽ cho A sử dụng đất của mình đ A thể tiếp cận nguồn nước đưa vào ruộng.
+ Tuy nhiên trong việc này bên thuê đất (A) hoàn toàn bị động vì chủ sở hữu (B) có thể bán
mảnh đất cho một người khác để thể khai thác đất đai bình thường như trước A lại phải
tiếp tục thỏa thuận với chủ mới của mảnh đất. Để tránh tình trạng đó thì luật pháp cho A
quyền sử dụng đất của người khác
Đối tượng của Servitus mảnh đất của B chứ không phải hành vi của B. Cho dù chủ sở hữu
mảnh đất thay đổi thì vẫn không ảnh hưởng tới Servitus của A.
Về sau không chỉ tồn tại servitus đất đai dạng servitus sử dụng tất cả mọi thứ đồ vật
khác : dụng ích cá nhân
1.1. Phân loại servitus
+ Quyền địa dịch (servitius đất đai): là quyền sử dụng đất của người khác. Mảnh đất lúc này
được hiểu đất của chính chủch sử dụng (Chính chủ người thực sự có quyền sở hữu
mảnh đất đó, còn chủ sử dụng là người có Servitus).
Người sử dụng phải có trách nhiệm tu bổ mảnh đất được chủ sở hữu của nó cho phép sử
dụng, tức không gây hại cho mảnh đất đó. Người chủ sở hữu không được cấm đoán trong
việc sử dụng, tức phải tạo điều kiện cho Servitus.
* Nguyên tắc:
- Không mang tính đền
- Một dạng quyền không thể phân chia
- Mang bản chất liên tục
- Vĩnh cửu
- Tạo điều kiện cho các bất động sản liền kề thỏa mãn
* Phân loại: 2 loại
- Địa dịch đất đai nông nghiệp: là địa dịch được thiết lập nhằm thỏa mãn yêu cầu canh tác
(Quyền lối đi lại, quyền chăn dắt gia súc đi qua, quyền dẫn nước, thoát nước, chăn dắt gia
súc trên đất của người khác,…)
- Địa dịch thành phố: địa dịch được xác lập để phục vụ công trình xây dựng (quyền được
lợi dụng nhà của người khác để xây nmình, quyền được lấy ánh sáng, không khí,…)
+ Quyền dụng ích(servitius cá nhân) được định nghĩa trong quyển Degest, điều 7 mục 1:
quyền sử dụng tài sản của người khác cũng như quyền thu hoạch mọi lợi tức do tài sản đó
mang lại nhưng với điều kiện phải bảo toàn tài sản nguyên vẹn.
Người quyền này phải sử dụng đồ vật nói trên như là một người chủ tốt và sử dụng đúng
chức năng đồ vật. Mọi lợi tức thuộc về người quyền dụng ích kể từ ngày chiếm giữ.
VD: Người có quyền dụng ích được sử dụng cái ao nuôi cá, nhưng khi ao cạn nước thì anh ta
không thể làm việc khác (xây nhà, trồng cây,…)
* Đặc điểm:
- Được xác lập cho một chủ thể xác định chỉ người đó được hưởng (thời hạn
hoặc hưởng suốt đời)
- Đây quyền suốt đời nhưng không được thừa kế cho người khác và không được
chuyển nhượng.
- Mọi thiệt hại người Servitus nhân gây ra cho chủ sở hữu đều phải bồi
thường.
* Phân loại: 4 loại
- Ususfructus: Quyền đưc sử dụngthu hoa lợi suốt đời (bắt nguồn từ hai từ: usu sử dụng
và fructus hoa lợi), trong đó bao gồm cả quyền cho thuê và quyền bán hoa lợi đi.
- Usus: Quyền hạn chế hơn, chỉ được sử dụng chứ không được ng hoa lợi (đôi khi chỉ
được hưởng hoa lợi trong phạm vi nhu cầu cá nhân của chính người sử dụng).
lOMoARcPSD| 45988283
- Habitatio: Quyền được sống trong ngôi nhà thuộc sở hữu của người khác.
- Operae servorum vel animalium: Quyền được sử dụng lệ gia súc của người khác.
*Sự khác nhau giữa quyền địa dịch và quyền dụng ích
- Quyền dụng ích nhân phạm vi sử dụng rộng hơn (tất cả các đồ vật); còn quyền địa
dịch thì chỉ sử dụng đất đai.
- Quyền dụng ích được xác lập cho một chủ thể nhất định (quan tâm đến chủ thể); còn quyền
địa dịch được xác lập cho đối tượng của quyền (mảnh đất, bất động sản liền kề) mà không
quan tâm chủ sở hữu.
1.2. Xác lậpchấm dứt servitus
* Xác lập
Quyền dụng ích được xác lập theoý chí của chủ sở hữu tài sản thông qua hành vi pháp lý đơn
phương của họ hoặc theo hợp đồng giữa chủ sở hữu tài sản với người được hưởng dụng ích.
Quyền dụng ích có thể được xác lập theo quy định của pháp luật thông qua tòa án, hoặc theo
thời hiệu. Việc sử dụng này phải công khai, không sử dụng bạo lực.
* Chấm dứt
Servitus sẽ chấm dứt nếu đối tượng là đồ vật bị hư hỏng (không còn khả năng để sử dụng);
chủ thể Servitus qua đời. Nếu chủ thể Servitus trở thành chủ sở hữu cùng một đối tượng đồ
vật thì được luật pháp công nhận theo quy tắc: nemini ré sua servit không ai có quyền
servitus đối với đồ vật của mình (bộ Degest, quyển 8, mục 2, điều 26). Hoặc chủ thể của nó
khước từ hoặc không được thực hiện trong vòng 10 năm (inter praesentes) và trong vòng 20
năm (inter absentes).
1.3. Bảo vệ servitus
- Servitus được bảo vệ thông qua hình thức kiện action confessoria
- Chủ sở hữu của đối tượng servitus (chính chủ) được bảo vệ bằng hình thức kiện action
negatoria.
2. Quyền thuê đất dài hạn
2.1. Lịch sử hình thành và khái niệm
Khi nhà nước mới hình thành, đất đai thuộc sở hữu của nhà nước. Tuy nhiên nhà nước không
thể cai quản hết do diện tích quá rộng và không đủ nhân lực. Nhà nước La Mã lúc này chia
đất cho quý tộc, sau đó các quý tộc (chủ sở hữu) lại cho thuê đất. Để điều chỉnh quan hệ giữa
các chủ đấtngười thuê đất; đồng thời tạo điều kiện cho người thuê ổn đnh, yên tâm làm ăn
cũng như hưởng lợi ích lâu dài trên mảnh đất thuê của mình. Từ đó, quyền thuê đất dài hạn
hình thành thay cho các hình thức ngắn hạn trước đây.
Trên thực tế, chủ sở hữu xuất hiện trên danh nghĩa, xác lập bằng hợp đồng thuê, người thuê
quyền sở hữu, dịch chuyển đồ vật, để lại di chúc nếu như không rơi vào những trường hợp
hạn chế thì chủ sở hữu không bao giờ có quyền đòi lại.
- Emphyteusis quyền sử dụng đất của người khác với mục đích sản xuất nông nghiệp
- Superficies quyền sử dụng đất của người khác với mục đích xây dựng
Giống như servitus đây là những khái niệm về quyền sử dụng tài sản của người khác
nhưng nội dung quyền hạn rộng lớn và bền vững hơn. Quyền sở hữu theo Emphyteusis và
Superficies ch mang tính tạm thời, chỉ sau khi chúng chấm dứt thì quyền sở hữu mới thực sự
thật.
2.2. Phân loại
2 dạng cơ bản:
- Thuê đất để canh tác: Ius in agro vectigali và Emphyteusis
- Thuê đất để xây dựng (Superficies)
+ Ius in agro vectigali chế định đất lĩnh canh theo thừa kế dài hạn thuộc sở hữu nhà nước
hoặc phường hội với điều kiện trả tiền theo từng m. Quyền của người lĩnh canh không chỉ
mang tính thường xuyên, mà còn được thừa kế và có thể chuyển cho người thứ ba khi còn
thời hạn.
+ Emphyteusis là một hình thức lĩnh canh dài hạn. Đối tượng của Emphyteusis là những
mảnh đất trồng một loại cây nhất địnhnhững mảnh hoang hóa. Trong thời gian đầu, người
lĩnh canh không phải trả tiền thuê đất, sau đó mới phải trả. Mức tiền thuê thấp hơn so với giá
thuê đất bình thường. Người có quyền Emphyteusis có các nghĩa vụ giống như người lĩnh
canh theo Ius in agro vectigali.
lOMoARcPSD| 45988283
Bao gồm: quyền sử dụng đất, quyền thu hoạch, quyền cầm cố Emphyteusis, quyền thoái thác
hoặc chuyển cho người khác theo thừa kế.
+Superficies: Ngưi thuê quyền năng thường xuyên, thừa kế và xây dựng cùng trách
nhiệm trả tiền thuê đất.
Bao gồm:quyền xây dựng trên đất của người khác theo chuyển nhượng hoặc thừa kếquyền
sử dụng công trình xây dựng đó.
* Quyền nghĩa vụ các bên tham gia
- Quyền:
+ Người cho thuê: được trả tiền cho thuê đất hàng m
+ Người thuê : quyền sử dụng đất đai đó, thay đổi mục đích sử dụng của mảnh đất với điều
kiện không làm tình trạng mảnh đất xấu đi, được ởng hoa lợi từ mảnh đất, quyền chuyển lại
thừa kế (đối với sử dụng đất của người khác để sản xuất nông nghiệp); Người thuê đất có
quyền sử dụng và thừa kế tất cả những công trình thuộc về mảnh đất (Đối với thuê đất để xây
dựng).
- Nghĩa vụ:
+ Người cho thuê: tạo điều kiện không được gây khó dễ cho người thuê
+ Người thuê: trả cho chủ đất, thuế cho nnước
2.3. Chấm dứt quyền thuê đất dài hạn
Chủ thể Emphyteusis phải báo trước cho chủ sở hữu biết trước ý định thoái thác (Chủ sở hữu
được quyền ưu tiên mua lại với giá rẻ hơn trong thời hạn 2 tháng). Chủ thể phải trả cho chủ sở
hữu 2% giá bán quyền Emphyteusis.
Chủ thể Enphyteusis phải trả cho chủ sở hữuthuế ruộng đất cho nhà nước. Nếu trong
vòng 3 năm không trả thì Enphyteusis chấm dứt.
2.4. Bảo vệ quyền thuê đất dài hạn
- Người lĩnh canh trong Ius in agro vectigali được bảo vệ bằng nh thức khiếu nại action
vectigalis.
- Để bảo vệ Emphyteusis luật pháp cho phép sử dụng hình thức kiện actioes utiles. Hình thức
kiện này cũng được sử dụng để bảo vệ cho chủ sở hữu.
- Quyền superficies được bảo vệ bằng rei vindication utilis và interdictum superficiesus.
Dựa trên nguyên tắc superficies solo cedit chủ sở hữu đất xây dựng cũng quyền sở hữu tài
sản đối với công trình xây dựng có trên đất của anh ta.
3. Quyền cầm cố
3.1. Khái niệmđặc điểm quyền cầm cố
- Khái niệm: Quyền cầm cố là một dạng quyền đối với tài sản của người khác nhằm bảo đảm
thực hiện một nghĩa vụ đang tồn tại. Theo pháp luật La Mã, quyền cầm cố là quyền tước đoạt
tài sản của con nợ trong trường hợp con nợ không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa
vụ của họ đối với chủ nợ.
VD: A có trách nhiệm phải làm một việc gì đó cho B (trả tiền, chuyển quyền sử dụng đồ vật,
đào mương, tát ao…). A không thực hiện trách nhiệm nói trên và gây thiệt hại cho B vì điều
đó. Vì không ép A thực hiện trách nhiệm được và để yên tâm sẽ không thiệt hại trong trường
hợp nếu A không thực hiện trách nhiệm, B nhận từ A một tài sản nhất định nào đó. ( A là
người cầm cố, B là người nhận tài sản cầm cố). B nhận cầm cố, và không quan tâm đến tới
việc A bao nhiêu tài sản và còn nợ ai bao nhiêu, không quan tâm tới việc tài sản cầm cố
còn tài sản của A nữa hay không.
Nội dung
Nghĩa vụ là quan hệ trái quyền, quan hệ tương đối trong đó chủ nợ chỉ có thể yêu cầu con nợ
phải thực hiện nghĩa vụ của họ. Trong trường hợp con nợ không thực hiện hoặc thực hiện
không đúng nghĩa vụ, chủ nợ thể buộc người đó thực hiện nghĩa vụ buộc phải chịu trách
nhiệm do đã không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ. Điều đó ch có thể thực
hiện được khi con nợ có tài sản, trong trường hợp họ không có tài sản khoặc không đủ tài sản
để thực hiện nghĩa vụ thì quyền lợi của chủ nợ không được bảo đảm.
Để bảo đảm quyền lợi của chủ nợ trong trường hợp con nợ không thực hiện hoặc thực hiện
không đúng nghĩa vụ của họ, khi tham gia vào quan hệ nghĩa vụ con nợ phải dùng tài sản của
mình để bảo đảm trong trường hợp con nợ không thực hiện hoặc không thực hiện đúng nghĩa
| 1/30

Preview text:

lOMoAR cPSD| 45988283
TỔNG HỢP BÀI TẬP LA MÃ CỦA CÁC NHÓM
BÀI 1 : CHỦ THỂ CỦA LUẬT LA MÃ I. KHÁI NIỆM
- Chủ thể của luật là các cá nhân hay pháp nhân có quyền nghĩa vụ trong một quan hệ pháp luật
- Trong xã hội chiếm hữu nô lệ, không phải tất cả mọi người đều được công nhận là chủ thề
hay nói cách khác là người có quyền về mặt pháp luật. Chủ thể của luật La Mã rất hạn chế địa
vị pháp lý của các chủ thể không bình đẳng. Lực lượng lao động chính trong xã hôi là nô lệ -
được biết đến như công cụ biết nói (instrumentum vocale) hoàn toàn bị loại khỏi tầng lớp
những người có năng lực pháp luật.
- Chủ thể của luật La Mã là những người trực tiếp tham gia vào các quan hệ mà bản thân họ
có các quyền và nghĩa vụ từ quan hệ đó. Đồng thời họ phải chịu trách nhiệm về việc thực hiện
quyền và nghĩa vụ của mình.
- Chủ thể của Luật có năng lực pháp luật và năng lực hành vi.
+ Năng lực pháp luật:( khả năng có quyền và nghĩa vụ)
Người có năng lực pháp luật phải hội tụ 3 điều kiện sau đây: STATUS LIBERATIS :tự do STATUS CIVITATIS :công dân STATUS FAMILIAL : gia chủ.
Như vậy, năng lực pháp luật đầy đủ yêu cầu cả ba yếu tố cơ bản, nói cách khác họ phải là
người tự do, có quốc tịch La Mã và giữ vị trí độc lập trong gia đình.
Bất kì sự thay đổi của 1 status nào cũng có ý nghĩa riêng, trong đó, yếu tố tự do đóng vai trò
quan trọng nhất. Xếp tiếp theo lần lượt là địa vị công dân và yếu tố gia chủ.
Mãi cho tới năm 212, trật tự trên mới có sự thay đổi. Trong hiến pháp của Hoàng đế Karakala
mới quy định sự bình đẳng giữa các công dân trừ nô lệ. + Năng lực hành vi:
Là khả năng của 1 người bằng hành vi của chính mình xác lập thực hiện quyền và nghĩa vụ,
pháp luật La Mã chia năng lực hành vi thành 3 mức độ dựa trên độ tuổi và khả năng nhận thức:
Không có năng lực hành vi: tất cả những người dưới 7 tuổi và những người bị điên là những
người không có năng lực hành vi, những người này không được phép tham gia vào các giao
dịch kể cả các giao dịch có lợi cho họ trừ thừa kế.
Năng lực hành vi 1 phần: nữ từ 7 đến 12 tuổi, nam từ 7 đến 14 tuổi, những người này được
tham gia vào các giao dịch có lợi cho mình mà không phải gánh chịu nghĩa vụ nhưng đối với
các giao dịch làm phát sinh nghĩa vụ tài sản hoặc chấm dứt quyền tài sản thì phải được sự
đồng ý của người giám hộ.
Năng lực hành vi toàn phần: nữ từ 12 tuổi, nam từ 14 tuổi trở lên và không bị điên đến 25
tuổi, về nguyên tắc đây là những người có năng lực hành vi toàn phần nhưng nếu họ vẫn phụ
thuộc vào gia chủ thì khi thực hiện các giao dịch làm phát sinh nghĩa vụ tài sản hoặc chấm dứt
quyền tài sản thì vẫn phải có sự đồng ý của gia chủ.
II. CÁC CHỦ THỂ TRONG LUẬT LA MÃ
Trong luật La Mã, các chủ thể của pháp luật gồm có : Công dân La Mã, người La Tinh và
người ngoại quốc. Ngoài ra trong bài viết, nhóm tác giả xin trình bày thêm 1 nhóm đối tượng là nông nô, tá điền. 1. Công dân La Mã
-Công dân La Mã là những người có quốc tịch La Mã, quốc tịch La Mã được xác lập trong các trường hợp sau:
+ Sinh ra từ công dân La Mã. lOMoAR cPSD| 45988283
+ Trả tự do cho nô lệ từ công dân La Mã.
+ Tặng danh hiệu công dân La Mã cho người nước ngoài.
Công dân La Mã có đầy đủ các quyền về nhân thân và tài sản và các quyền chính trị trong 1
số trường hợp quốc tịch La Mã bị tước đối với những người phạm trọng tội (vào thời
Justinian), bị kết án tù chung thân hoặc tử hình, bị xung vào làm nô lệ, bị bắt làm tù binh.
Trong tư pháp, năng lực pháp luật của công dân La Mã được thể hiện theo hai phần Ius
conubii (Quyền kết hôn) và Ius commercii (quyền buôn bán, giao dịch – quyền tư hữu) + Năng lực hành vi:
Năng lực hành vi của con người luôn phụ thuộc vào lứa tuổi. Pháp luật La Mã chia năng lực
hành vi thành 2 mức độ dựa trên độ tuổi và khả năng nhận thức: infants và impuberes
Không có năng lực hành vi (infantes): tất cả những người dưới 7 tuổi và những người bị điên
là những người không có năng lực hành vi, những người này không được phép tham gia vào
các giao dịch kể cả các giao dịch có lợi cho họ trừ thừa kế.
Trong impuberes có thể được chia làm 2 phần:
Năng lực hành vi 1 phần:
Nữ từ 7 đến 12 tuổi, nam từ 7 đến 14 tuổi, những người này được tham gia vào các giao dịch
có lợi cho mình mà không phải gánh chịu nghĩa vụ nhưng đối với các giao dịch làm phát sinh
nghĩa vụ tài sản hoặc chấm dứt quyền tài sản thì phải được sự đồng ý của người giám hộ.
Năng lực hành vi toàn phần:
Nữ từ 12 tuổi, nam từ 14 tuổi trở lên và không bị điên đến 25 tuổi, về nguyên tắc đây là
những người có năng lực hành vi toàn phần nhưng nếu họ vẫn phụ thuộc vào gia chủ thì khi
thực hiện các giao dịch làm phát sinh nghĩa vụ tài sản hoặc chấm dứt quyền tài sản thì vẫn
phải có sự đồng ý của gia chủ. Với phụ nữ
Trong nhiều thế kỉ, năng lực pháp luật và năng lực hành vi của phụ nữ bị hạn chế. Trong thời
kì cộng hòa, pháp luật bắt buộc họ phải phụ thuộc hoàn toàn vào gia chủ. Sau này, điều này
được nới lỏng khi cho phép phụ nữ không còn phải phụ thuộc vào cha hay chồng khi đã lớn
tuổi. Sang đến thời Justinian những hạn chế với phụ nữ được giảm dần. Tuy vậy, xét cho
cùng, phụ nữ bao giờ cũng thiệt thòi hơn nam giới. Infamia
Đây là cụm từ dùng để chỉ những người mắc trọng tội, vi phạm hình sự hoặc hành vi thiếu
đạo đức, vô luân,… những kẻ được gọi là Infamis tức vi phạm 1 hoặc nhiều điều trên sẽ bị
pháp luật La Mã hạn chế nhiều quyền như giới thiệu người khác tham gia tố tụng, cử đại diện
thay cho bản thân trong tố tụng, hạn chế quyền thừa kế và kết hôn với người tự do khác
2. Người Latin và người ngoại quốc
- Người LaTin là dân cư cùng La-xi-um được nhận quốc tịch Latin từ giữa TK III scn. Người
La Mã và người LaTin sống gần nhau nhưng nhà nước của người La Mã xuất hiện sớm hơn ,
TK thứ II TCN La Mã bị quân Phổ xâm lược vì vậy người La Mã phải liên minh với người
LaTin để chống lại quân Phổ, dần dần sau đó nhà nước La Mã cho phép người LaTin nhập quốc tịch La Mã.
- Về địa vị pháp luật: Cơ bản không khác với địa vị của công dân La Mã. Họ có quyền tài sản,
quyền kết hôn khi nhà nước cho phép. Từ năm 268 TCN họ bắt đầ có quyền tố tụng nhưng lại
không có quyền lập di chúc.
- Người ngoại tộc hay dân nhập cư là người dân La Mã nhưng không có năng lực pháp luật
La Mã hay pháp luật Latin. Họ bị coi là dân tộc ngoại lai. Sau này, họ được quyền có năng
lực pháp luật theo hệ thống luật các dân tộc – Ius gentium.
- Từ TK III SCN luật pháp La Mã công nhận tất cả những người LaTin, người ngoại quốc
sống trên lãnh thổ La Mã đều là công dân La Mã. 3. Nông nô và tá điền
-Về nguyên tắc là những người tự do, tá điền là những người có nhà cửa nhưng không có
ruộng đất nên phải thuê đất và nộp tô thuế, nông nô là những nô lệ được giải phóng nhưng
không có tài sản, không có ruộng đất nên phải làm thuê cho chủ cũ và hoàn toàn phụ thuộc
vào chủ cũ, không được thưa kiện và phải cấp dưỡng trong trường hợp chủ cũ bị phá sản. 4. Nô lệ lOMoAR cPSD| 45988283
La Mã là một quốc gia chiếm hữu nô lệ. Nô lệ được coi là vật sở hữu của chủ nô. Tuy vậy, địa
vị của nô lệ trong từng giai đoạn không giống nhau.
Trong thời kỳ đầu, lượng nô lệ trong các gia đình còn chưa nhiều, họ sống và làm việc cùng
các thành viên trong gia đình, không có sự khác biệt rõ nét trong cách sinh hoạt giữa họ. Sau
này, khi số lượng nô lệ tăng lên, họ bắt đầu sống tách biệt với chủ nô. Địa vị của họ ngang
hang với các đồ vật cần thiết trong đời sống (Res mancipi)
Nô lệ không có quyền sở hữu tài sản, trong một số trường hợp nô lệ được chủ nô giao cho
một số tài, đất đai để buôn bán hoặc canh tác nhưng những tài sản đó vẫn thuộc quyền sở hữu
của chủ nô. Pháp luật La Mã không thừa nhận quan hệ hôn nhân giữa nô lệ và nô tì
(contubernium), quan hệ đó được coi như mối quan hệ thuần túy giữa hai Res mancipi mà
thôi. Con của nô lệ sinh ra thuộc quyền sở hữu của chủ nô. Chủ nô có quyền định đoạt nô lệ:
quyền sinh, quyền sát, bán, đổi, cho thuê, và có thể giết nô lệ trong trường hợp cần thiết.
Thân phận của người nô lệ cũng phụ thuộc vào chế độ chiếm hữu nô lệ và bị chính chế độ đó
chi phối. Vào thế kỷ thứ III đến thế kỷ thứ V chế độ nô lệ ở La Mã được duy trì theo quy định
của hoàng đế Claudiuxo, cấm bắt nô lệ đau ốm lao động nặng, cấm giết nô lệ đau yếu. Thời
hoàng đế Nero đã cấm đưa nô lệ ra đấu với dã thú. Thời hoàng đế Atoniuxo nếu không có lý
do chính đáng thì không được giết nô lệ.
Trong luật La Mã có khái niệm Peculio, dùng để chỉ một khoản tài sản chủ nô trích ra để nuôi
nô lệ. Nô lệ có quyền sử dụng tài sản nói trên. Nô lệ có quyền sử dụng tài sản này, chịu hậu
quả pháp lý về hành vi của bản thân nhưng không có quyền thu lợi từ tài sản đó mang lại.
Khi cho phép nô lệ sử dụng tài sản Peculio để giao dịch, chủ nô phải chịu trách nhiệm đối với
những giao dịch mà nô lệ tiến hành với người thứ ba. Trong quan hệ về tài sản giữa nô lệ với
người thứ ba và để giải quyết các hậu quả về tài sản, các quan chấp chính đã quy định cho
pháp chủ nợ (bên thứ ba) có quyền kiện chủ nô ở các hình thức như sau:
Nếu nô lệ giao dịch với bên thứ ba bằng một tài sản giới hạn trong Peculio để làm giàu thêm
cho chủ nô một khoản lợi tức nào đó thì người thứ ba chỉ có quyền kiện về khoản lợi tức đó
mà thôi. HÌnh thức kiện này gọi là kiện lợi tức – action de inrem verso
Nếu chủ nô chỉ định nô lệ của mình làm người làm công (institor) trong công việc buôn bán
của mình thì chủ nô phải chịu trách nhiệm về những việc mà nô lệ thực hiện trong giao dịch
với người thứ ba. Nếu nô lệ nhận giữ đồ vật hộ theo yêu cầu của bên thứ ba thì chủ nô không phải chịu trách nhiệm.
Nêu chủ nô chỉ đơn giản ủy quyền cho nô lệ làm việc (chỉ thị iusus), đối tác với nô lệ có thể
kiện chủ nô theo action quod iussu. Nếu nô lệ vi phạm pháp luật (như phá hoại tài sản, ổn hại
tài sảncủa người khác) thì kẻ bị hại có thể kiện chủ nô theo action noxalis (noxa – thiệt hại).
Chủ nô phải chịu trách nhiệm hoàn toàn trong những công việc mà chủ nô ra lệnh cho nô lệ làm việc.
Chủ nô chỉ phải chịu trách nhiệm về tài sản trong phạm vi những khoản lợi thu được do sự
hoạt động của nô lệ mang lại.
Nô lệ được giao tài sản Peculio để hoạt động nhưng lợi tức thu được đều thuộc về chủ nô.
Tuy nhiên, chủ nô phải chịu trách nhiệm về những việc làm của nô lệ trong giao dịch với bên thứ ba.
Vai trò của nô lệ trong vấn đề này giống như một công cụ làm việc không hơn không kém.
Những trường hợp bắt đầu trình trạng nô lệ:
Tù binh bị bắt giữ trong các cuộc chiến tranh
Những con nợ không trả được nợ sẽ bị chủ nợ bắt làm nô lệ
Những dân thường bị bắt cóc và bị bán làm nô lệ
Những người con do nô lệ sinh ra là nô lệ bất kể bố chúng là ai, có địa vị gì. Nhưng nếu bố là
nô lệ, mẹ là người tự do thì con sinh ra là người tự do.
Kẻ tử tù hay thù khổ sai cũng có thể bị niến thành nô lệ
Nô lệ được giải phóng nhưng sau khi được giải phóng rồi mà tỏ ra bất nhã với người trao trả
tự do thì có thể bị quay trở lại tình trạng nô lệ.
Những trường hợp chấm dứt tình trạng nô lệ:
Được chủ nô giải phóng Khi nô lệ chết đi lOMoAR cPSD| 45988283
 Có rất nhiều con đường dẫn đến tình trạng nô lệ nhưng cơ hội để từ nô lệ trở lại thành
thường dân rất ít. Không có những điều luật bảo vệ người dân thường khi họ bị bắt và đem
bán thành nô lệ, hay khôi phục thân phận dân thường cho những người này. Kết luận:
Ở La Mã, nô lệ được coi là công cụ biết nói, không phải con người, hoàn toàn không có địa vị
pháp lý và không được pháp luật bảo vệ, không được có tài sản cá nhân. Trong các mối quan
hệ xã hội cũng không được coi là con người như không được công nhận quan hệ hôn nhân
hay trong các cuộc giao dịch với người thứ ba bằng tài sản Peculio.
Đời sống vật chất và tinh thần của người nô lệ thiếu thốn, khốn khổ, bị bóc lột tàn bạo và tính
mạng không được đảm bảo. Do đó đã có nhiếu cuộc đấu tranh của nô lệ nổ ra trong suốt quá
trình lịch sử của nhà nước La Mã. 5. “Pháp nhân”
- Trong luật La Mã, chưa có khái niệm về pháp nhân như là một chủ thể của pháp luật vì
trong thời kì này, quan hệ phát sinh pháp nhân ở La Mã chưa phát triển. Tuy vậy trong luật 12
Bảng có nhắc đến 1 khái niệm có thể coi nó tương đương như một pháp nhân đó là “Hiệp hội
tư nhân mang tính chất tôn giáo”, “Hiệp hội thủ công”,… Sự phát triển rực rỡ về kinh tế, văn
hóa, xã hội đã làm xuất hiện nhiều nghề nghiệp mới cùng với sự xuất hiện của đạo thiên chúa
trên lãnh thổ La Mã, xuất hiện nhiều nhà thờ và nhiều công trình xây dựng khác: rạp hát, nhà
trọ, các nghiệp đoàn mai tán , các tổ chức này có tài sản riêng, tổ chức riêng, tên gọi riêng và
nhân danh tên mình tham gia vào các quan hệ. Cùng với thời gian, số lượng các tổ hợp này càng tăng lên.
Nhận xét về các quy định của chủ thể của Luật La Mã:
Chủ thể của luật la mã rất hạn chế, địa vị pháp lý của các chủ thể pháp lý không bình đẳng
( phân ra làm nhiều loại chủ thể với quyền lợi khác nhau ). Tuy nhiên, đây chỉ là đứng trên
quan điểm của thời đại này, còn nếu xét ở tại thời điểm đó thì có thể nói đối tượng điều chỉnh
của Luật La Mã đã trở nên hết sức đa dạng và phong phú so với các bộ luật trước đó. Luật La
Mã không chỉ điều chỉnh những quan hệ tài sản, mà còn có cả những mối quan hệ phát sinh
giữa công dân La Mã với nhau, giữa công dân La Mã và người ngoại quốc (không mang quốc
tịch La Mã), giữa công dân và nô lệ, …
Chủ thể của luật La Mã trực tiếp tham gia vào các quan hệ mà bản thân của họ có các quyền
và nghĩa vụ và đồng thời họ phải gánh chịu trách nhiệm trong việc thực hiện các quyền và nghĩa vụ đó.
Ngoài ra, dấu hiệu về khái niệm Pháp nhân đã manh nha xuất hiện trong Luật La Mã. Tuy
trong bộ luật này không đề cập đến cụm từ pháp nhân, nhưng trong các mối quan hệ dân sự
đã có sự xuất hiện phổ biến của các tổ chức như Tôn giáo, hội buôn, tổ chức kinh tế và các tổ
chức này thông qua hành vi của người đại diện tham gia các quan hệ tài sản vì lợi ích của tổ
chức. Luật còn công nhận quyền của một số tổ chức của nhiều người với một tài sản nhất định
như lập quỹ dù chưa quy định đó là pháp nhân. Tài sản thuộc sở hữu nhiều người, quyền gắn
vào tài sản thuộc về tổ chức.
Có thể nói đây đã là những điểm rất tiến bộ của Luật La Mã so với các bộ luật trước đó như
Hammurabi, Urnammu của Babylon.
BÀI 2: QUYỀN CHIẾM HỮU
KHÁI NIỆM, CÁC HÌNH THỨC CHIẾM HỮU: Khái niệm:
Chiếm hữu: Sự chiếm dụng , “”thống trị” trên thực tế đối với đồ vật.
Quyền chiếm hữu( Ius – Possessio): Thực tế kiểm soát và chi phối đồ vật được pháp luật bảo
hộ bằng phương pháp kiện dân sự.
Yêu cầu: - Có vật thực sự.
+ Có ý chí chiếm hữu luôn coi vật đó là của mình. Hình thức chiếm hữu: Chiếm hữu hợp pháp:
+ Chủ sở hữu giữu quyền chiếm hữu.
+ Chủ sở hữu nhượng quyền chiếm hữu cho người khác hoặc giao cho người khác nắm giữ lOMoAR cPSD| 45988283
Chiếm hữu không hợp pháp:
+ Người chiếm hữu định đoạt trái phép tài khoản của chủ sở hữu ( trộm, cướp)
+ Nhặt được vật của người khác đánh rơi, làm mất vật
Chiếm hữu bất hợp pháp không ngay thẳng
+ Mua nhầm phải của gian ( người bán không phải chủ sở hữu)
Chiếm hữu bất hợp pháp ngay thẳng
Việc phân biệt chiếm hữu bất hợp pháp ngay thẳng hay không ngay thẳng có ý nghĩa quan
trọng trong việc bảo vệ quyền sở hữu cũng như xác lập quyền sở hữu. Người chiếm hữu ngay
thẳng có thể trở thành chủ sở hữu theo thời hiệu.
II. PH N BIỆT QUYỀN CHIẾM HỮU VÀ CHIẾM HỮU Quyền chiếm hữu Quyền chiếm giữ
- Không theo ý chí của chủ sở hữu
Trong trường hợp mất, bị cướp. Còn trong nhiều trường hợp là do chủ sở hữu thực hiện hành vi chiếm hữu hợp pháp
- Người chiếm có quyền bảo vệ đồ vật mình chiếm giữ đối với mọi hành vi xâm phạm( được
pháp luật bảo vệ để tránh nguy cơ bị tước đoạt)
- Hành vi chiếm hữu về mặt pháp lý phải thể hiện ý muốn chiếm dụng đồ vật một cách độc
lập không phụ thuộc vào ý chí của người khác muốn xem đồ vật đó là của chínhmình - Các dạng chiếm hữu
+Chiếm hữu hợp pháp: là người chủ sở hữu
+Chiếm hữu bất hợp pháp: người chiếm hữu không biết mình không có quyền chiếm hữu
đồ vật và kẻ ăn cắp( người biết đồ vật đấy không phải của mình nhưng làm như là của mình)
-Thực hiện theo ý chí của chủ sở hữu trong các trường hợp như cho thuê, cho mượn
Thường thì chủ sở hữu không thực hiện hành vi chiếm hữu đồ vật
-Người chiếm giữ đồ vật chỉ có thể bảo vệ đồ vật thông qua chủ sở hữu mà anh ta thuê mướn
-Hành vi chiếm giữ tài sản chỉ là hành vi nắm giữ quản lý nhưng không coi tài sản đó là của mình
VD:Anh ta có đồ vật để sử dụng nhưng bằng hành vi trả tiền thuê, luật La Mã coi người thuê
đồ vật là người giữ đồ vật thay tên cho chủ sở hữu
III. CĂN CỨ XÁC LẬP VÀ CHẤM DỨT CHIẾM HỮU
Căn cứ xác lập/ Phát sinh
Các luật gia La Mã đều cho rằng căn cứ phát sinh chiếm hữu gồm 2 thành tố là: thực tế chiếm
giữ vật ( corpus possessioinis) và có ý chí chiếm giữ mà không phụ thuộc ý chí của người
khác ( animus possessioinis) tức là vừa có vật lại vừa có ý đồ xem vật đó như là của mình.
Thời điểm xác lập chiếm hữu được xem là thời điểm kết hợp giữa hai thành tố cấu thành này.
Việc xác định và chứng minh corpus possessioinis theo nguyên tắc chung rất rõ ràng : Người
nào đang có vật thì được coi là người chiếm giữ vật
Tuy nhiên, việc xác định animus possessioinis lại phức tạp hơn rất nhiều.
VD: Một người có mặt trên một mảnh ruộng, cày xới và gieo trồng ở đó. Hoặc một người có
ngựa để cưỡi,người đang sinh sống trong một ngôi nhà,… Chúng ta không thể biết ý đồ muốn
chiếm dụng những thứ đó của họ. Trước mắt chúng ta, họ chỉ là người giữ đồ vật một cách đơn thuần. lOMoAR cPSD| 45988283
Để trả lời cho câu hỏi đó, ta cần làm sáng tỏ cái gọi là Causa possessioinis tức là căn cứ pháp
lý của việc chiếm hữu đồ vật hay mục đích chiếm hữu
VD: Một người có thể có đồ vật vì mua nó qua người bán. Người khác có thể có đồ vật theo
hợp đồng vay mượn để sử dụng. Khi sử dụng đồ vật, cả hai người nói trên có thể có những
hành vi giống nhau nhưng: đối với người thứ nhất hành vi đó là biểu hiện ý chí chiếm hữu,
đối với người thứ hai thì hành vi đó đơn thuần là sự biểu hiện của việc sử dụng có phụ thuộc. hay là sự chiếm giữ.
Dựa trên cơ sở đó, luật La Mã đặt ra câu hỏi: Kẻ cắp theo luật La Mã là người chiếm hữu bất
hợp pháp không ngay tình nhưng dù sao hắn ta vẫn là người chiếm hữu, vẫn có ý chí chiếm
hữu và luôn coi vật đã ăn cắp được là của mình. Vì vậy, nếu người chủ sở hữu thực sự muốn
yêu cầu người đang chiếm hữu vật trả lại cho mình thì phải chứng minh vật thuộc sở hữu của
họ bị người chiếm giữ ‘ ăn cắp’ . Điều này làm cho chủ sở hữu đích thực trở nên khó khăn vì
rất khó chứng minh được ‘hành vi’ ăn cắp để có thể yêu cầu hoàn trả lại tài sản từ chiếm hữu bất hợp pháp.
Để chứng minh animus possessioinis, luật La Mã áp dụng nguyên tắc: nemo sibi causam
possessioinis mutare potest – không ai có thể thay đổi căn cứ chiếm hữu cho chính bản thân
( Bộ Degest, quyển 41, mục 2,3,19). Nguyên tắc này không có nghĩa là: Nếu vào một thời
điểm nhất định ai đó đã có đồ vật ( vd theo hợp đồng vay mượn) – thì anh ta-( không bao giờ
và không vì điều kiện nào) có thể là người chiếm giữ. Hoặc ngược lại, kẻ chiếm giữ không
bao giờ là người giữ đồ vật đơn thuần .
Không chỉ cá nhân mới thực hiện quá trình chiếm hữu, mà chiếm hữu cũng có thể phát sinh
qua người đại diện. Và muốn có quyền chiếm hữu qua đại diện cần có những điều kiện sau
đây: Thứ nhất, người đại diện phải có đủ thẩm quyền chiếm hữu cho người khác dù thẩm
quyền đó xuất phát từ pháp luật hoặc từ một hợp đồng. Thứ hai, khi trao cho người đại diện
thẩm quyền này, chủ thể chiếm hữu phải thể hiện ý chí chiếm hữu của mình từ trước.Tức là,
mặc dù có vật thực sự nhưng anh ta phải có ý thức không phải lấy đồ vật cho bản thân mà là cho người ủy quyền.
Tóm lại, để xác định animus possessoinis, cần làm rõ mục đích chiếm hữu trên cơ sở pháp lý
dẫn đến việc chiếm hữu đối với vật
Chấm dứt quyền chiếm hữu
Chiếm hữu không thể tồn tại nếu thiếu một trong hai thành tố corpus possessoinis và animus possessoinis.
Chủ thể không còn chiếm hữu vật nữa trong các trường hợp sau: Vật rời khỏi anh ta
Anh ta vứt bỏ đồ vật ấy đi ( muốn chấm dứt chiếm hữu)
Vật bị hỏng hoặc không thể lưu thông được nữa
Với chiếm hữu được thực hiện qua đại diện thì nó chấm dứt theo ý chí của người chiếm hữu.
Đồng thời, khả năng chiếm giữ đồ vật của người đại diện hay người ủy quyền cũng chấm dứt.
IV.BẢO VỆ QUYỀN CHIẾM HỮU
Đặc điểm nổi bật của sự bảo vệ chiếm hữu được thể hiện ở chỗ: Trong quá trình xét xử về
chiếm hữu theo Luật La Mã, không phải chứng minh quyền đối với vật đó, thậm chí không
được phép dựa vào vật quyền.
Có 2 quan điểm để giải thích:
Do hiện tượng một chủ thể vừa là người chiếm hữu và là chủ sở hữu trong thực tế đời
sống quá phổ biến đến mức có thể cho rằng người chiếm giữ đồ vật đó là chủ sở hữu và người
không có trong tay đồ vật thì không có quyền với vật đó.
Xuất phát từ tình hình thực tế nói trên mà nhà nước ban hành pháp luật bảo vệ cho chủ sở hữu
đồ vật- người đang chiếm giữ đồ vật trên thực tế, và không cho phép kéo dài việc xét xử bằng
luận cứ quyền sở hữu của bị cáo. Nếu người chiếm giữ đồ vật( nguyên cáo) nói trên rõ ràng là lOMoAR cPSD| 45988283
kẻ chiếm giữ bất hợp pháp thì bị cáo được quyền pháp đơn khiếu nại theo vật tố tụng để đòi
lại đồ vật của mình.
Trong trường hợp nàynđã thể hiện sự phù hợp với quy phạm của luật La Mã: Đối tượng
chiếm hữu là những đồ vật thuộc quyền sở hữu( chẳng hạn đường sá công cộng, nhà hát công
cộng,… không phải là những thứ thuộc quyền sở hữu của cá nhân)
Việc đơn giản hoá bảo vệ chiếm hữu là một biện pháp của nhà nước để chống lại tình
trạng sử dụng tuỳ tiện. Chỉ có thể khẳng định quyền sở hữu thông qua xét xử, toà án và pháp
luật bảo vệ cho những kẻ chiếm giữ đồ vật thực tế. Điều này cho thấy đa phần công dân La
Mã là những người chiếm giữ, còn chủ sở hữu lại là tầng lớp giàu có.
Chiếm hữu được bảo vệ không phải bằng đơn kiện mà bằng những điều cấm của quan toà xét
xử (interdicta), đó là: điều cấm để giữ quyền chiếm hữu và điều cấm để trả lại quyền chiếm hữu.
Interdicra Retinendae Possessionis (điều cấm để giữ quyền chiếm hữu)
Interdictum uti possidetis để bảo vệ cho những ai chiếm hữu bất động sản. Khái niệm
"Nec vi nec clam nec precarioab" dùng để chỉ luật pháp không bảo vệ chiếm hữu cho những
kẻ dùng sức mạnh ( Vi) để chiếm hữu bất động sản của bên mà trong khi xét xử gọi là ab
avercario. Kẻ nào bí mật (clam) chiếm bất động sản của bị cáo hoặc sử dụng bất động sản của
bị cáo trong lúc xét xử thì không được pháp luật bảo vệ ( Theo bộ Degest, quyển 43, mục 27, trích đoạn 1).
Interdictum utrubi bảo vệ cho những người giữ đồ vật lần cuối cùng trước khi xét xử
với thời gian hơn một năm với điều kiện anh ta không chiến giữ bằng Vi, Clam, Precario.
Interdicra Recuperandae Possessionis (điều cấm để trả lại quyền chiếm hữu)
Interdictum unde vi dùng để bảo vệ người chiếm hữu hợp pháp bị người khác tước
đoạt quyền chiếm hữu.
Interdictum de precario dùng để bảo vệ người cho thuê khi bị người thuê từ chối trả lại đồ vật.
Đối với người chiếm hữu bất hợp pháp ngay thẳng còn được trao quyền Actioc in rem
publiciana. Quyền kiện này được trao cho ai chiếm hữu vật theo thời hiệu. Quan toà chỉ cần
khẳng định thời hiệu chiếm hữu của nguyên đơn là đủ cho anh ta có quyền sở hữu
BÀI 3: SỰ HÌNH THÀNH QUYỀN SỞ HỮU TƯ NHÂN
I,Sự hình thành quyền sở hữu ở luật La Mã:
Tài sản thể hiện tư cách nhân thân của chủ sở hữu. Đây là giai đoạn sơ khai trong lịch sử phát
triển chế định sở hữu. Khái niệm quyền sở hữu ban đầu được hiểu khác xa rất nhiều so với
cách hiểu của chúng ta ngày nay. Tài sản khi đó được hiểu như là sự tiếp nối tư cách cá nhân
của chủ sở hữu. Ai xâm phạm đến tài sản của một người (lấy mất con thú săn được, hoa trái
thu lượm được) là xúc phạm tới cá nhân người đó. Thời La mã cổ đại có quan niệm rằng: Một
người kiện kẻ trộm không phải vì mình có quyền sở hữu, mà vì người ăn trộm đã xúc phạm
đến danh dự của mình thông qua hành vi ăn trộm đó. Kẻ trộm khi đó bị coi là kẻ xúc phạm (bị
kiện theo phương thức kiện hành vi trộm cắp – actio furti), chứ chưa được coi là người chiếm
hữu bất hợp pháp tài sản của người khác (chưa áp dụng các phương thức kiện bảo vệ quyền
sở hữu như kiện đòi lại tài sản thuộc sở hữu của mình – actio rei vindicatio, hay phương thức
kiện đòi lại tài sản bị trộm – condictio furtiva). Quan niệm đó dẫn đến một loạt các hệ quả
pháp lý quan trọng sau đây:
- Theo quan niệm đó mà pháp luật La mã giai đoạn cổ đại đã quy định cho phép chủ sở hữu
không những được lấy lại tài sản bị trộm mà còn được trả thù lại sự xúc phạm đó đối với kẻ
trộm: chặt tay, giam giữ, giết, bán làm nô lệ, phạt gấp nhiều lần tài sản trộm, …(1).
- Nếu tài sản rời khỏi chủ sở hữu mà không có sự xúc phạm đến nhân thân của chủ sở hữu (Ví
dụ như: chủ sở hữu cho người khác mượn tài sản, sau đó người mượn lại đem bán tài sản đó
đi), thì chủ sở hữu không được quyền đòi lại(2). ☺
- Cũng theo quan niệm đó mà Luật La mã thời kỳ cổ đại đã từng quy định rằng, nếu như có
nhiều kẻ trộm cùng ăn trộm một tài sản, thì hành vi của mỗi kẻ trộm được coi là những sự xúc
phạm riêng biệt đối với chủ sở hữu. Khi đó mỗi kẻ trộm phải trả cho người bị trộm toàn bộ tài
sản đã ăn trộm (có bao nhiêu kẻ trộm cùng thực hiện việc trộm cắp thì chủ sở hữu được lOMoAR cPSD| 45988283
hưởng ngần ấy lần tài sản của mình)(3). Ví dụ như hai kẻ trộm cùng ăn trộm một con ngựa,
thì khi bị bắt mỗi kẻ trộm phải nộp cho người bị trộm một con ngựa.
- Do tài sản là sự tiếp nối tư cách nhân thân của chủ sở hữu, do đó khi chủ sở hữu chết thì tư
cách nhân thân chấm dứt, tài sản trở thành vô chủ. Một số tài liệu khảo cổ cho thấy thời xa
xưa tại nhiều dân tộc có tồn tại tập quán rằng sau khi một người chết đi thì tài sản của người
đó (tiền bạc, đồ dùng quý giá, thậm chí cả nô lệ) cũng được chôn theo. Cùng với đó một
nguyên tắc pháp lý được hình thành dưới thời La mã cổ đại có nội dung như sau: “Việc lấy đi
tài sản của người chết không được coi là ăn trộm” – “Rei hereditariae furtum non fit”(4).
Trong giai đoạn này chế định thừa kế chưa được hình thành rõ nét, chưa có quy định cụ thể
cho việc dịch chuyển tài sản từ người chết sang cho những người còn sống.
Quyền sở hữu vật là quyền của chủ thể được chi phối tuyệt đối và theo ý chí của mình đối với
vật. Với sự phát triển của giao lưu dân sự, thì khái niệm quyền sở hữu thế hệ thứ hai dần được
hình thành và được hiểu là “quyền thống trị tuyệt đối của một chủ thể lên vật”. Quyền sở hữu
là một loại vật quyền quan trọng nhất thể hiện sự phụ thuộc tuyệt đối và vô hạn của vật đối
với chủ sở hữu. Chủ sở hữu có mọi quyền năng đối với vật. Việc xác lập quyền sở hữu đối
với vật trả lời cho câu hỏi: Vật này của ai?
Đối với một vật cụ thể thì không thể có bất kỳ chủ thể nào có nhiều quyền năng hơn chính
chủ sở hữu vật đó. Mọi hành vi tác động lên vật hoàn toàn phụ thuộc vào ý chí của chính chủ
sở hữu đó. Cũng từ khi có cách hiểu này mà chủ sở hữu mới được bảo vệ bằng những phương
thức kiện vật quyền. Ví dụ như kiện đòi lại tài sản thuộc sở hữu của mình (rei vindicatio).
Cũng trong giai đoạn này mới hình thành nên nguyên tắc: “Một người không thể chuyển giao
cho người khác nhiều hơn những gì mình có” (Tiếng La-tinh: “Nemo ad alium plus juris
transferre potest, quam ipse habet”). Và hệ quả trực tiếp của nguyên tắc này là: nếu như tài
sản đã được chuyển giao từ người chiếm hữu bất hợp pháp sang cho người thứ ba thông qua
giao dịch dân sự thì chủ sở hữu vẫn được đòi lại tài sản từ người thứ ba đó. Ví dụ như một
người mua phải tài sản do trộm cắp có được thì phải trả lại cho chủ sở hữu khi chủ sở hữu đòi
lại. Bởi lẽ bản thân kẻ trộm không có quyền sở hữu đối với vật trộm được, do đó không thể
chuyển giao quyền sở hữu sang cho người mua (không thể chuyển giao cái mà chính mình
không có), khi đó người mua phải tài sản trộm cắp sẽ không thể trở thành chủ sở hữu tài sản mua được.
Tại đây phát sinh một vấn đề: Khi đó một người khi mua tài sản nào đó thường sẽ rất băn
khoăn rằng: Không biết người bán cho mình có đích thực là chủ sở hữu tài sản không. Nếu
người bán mà không phải chủ sở hữu tài sản thì đến một lúc nào đó sau khi mua chủ sở hữu
sẽ đến đòi lại, bên mua khi đó bị buộc phải trả lại cho chủ sở hữu tài sản mình đã mua. Nhằm
khắc phục tận gốc vấn đề đó mà pháp luật các nước mới bắt đầu hình thành cơ chế đăng ký tài
sản. Phương thức đăng ký tài sản đó ban đầu được áp dụng đối với bất động sản, sau đó áp
dụng dần cho các loại tài sản khác là động sản.
Cách hiểu này đã cho phép chủ sở hữu có mọi quyền năng đối với tài sản, do đó ở thế hệ thứ
hai này ta không thấy có sự liệt kê các quyền năng cơ bản của chủ sở hữu.
Quyền sở hữu vật được hiểu thông qua việc liệt kê cụ thể các quyền năng cấu thành của chủ
sở hữu đối với vật của mình.
Trên thực tế thì trong một xã hội công dân, mọi hành vi của mỗi thành viên, trong đó kể cả
hành vi đối với tài sản của chính mình, cũng chỉ giới hạn trong phạm vi cho phép sao cho
không làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể khác, cũng như lợi ích
của toàn xã hội, của cộng đồng nói chung.
Chính vì lý do đó quyền năng của chủ sở hữu mới luôn bị hạn chế trong một giới hạn luật
định. Quyền năng vô hạn của chủ sở hữu đối với vật “của mình” chỉ được thể hiện với ý nghĩa
lớn hơn so với bất kỳ một chủ thể nào khác, chứ không bao giờ có thể nhiều hơn những gì
pháp luật quy định. Nói cách khác, quyền sở hữu khi đó được hiểu là tập hợp một số quyền
năng cụ thể của chủ sở hữu mà pháp luật quy định. Bắt đầu hình thành khái niệm quyền sở
hữu thế hệ thứ ba – liệt kê cụ thể các quyền năng cấu thành của quyền sở hữu vật.
Dưới thời cộng hoà La mã thì quyền sở hữu được hiểu bao gồm năm quyền năng là: 1) Quyền
chiếm hữu, 2) Quyền sử dụng, 3) Quyền hưởng dụng lợi ích từ việc sử dụng vật, 4) Quyền
định đoạt số phận vật, 5) Quyền kiện đòi lại vật từ người chiếm hữu bất hợp pháp.
Hạn chế đối với quyền sở hữu lOMoAR cPSD| 45988283
Ưu tiên lợi ích cộng đồng. Ví dụ: người chủ sở hữu 1 BĐS chỉ có thể phá dỡ 1 công trình khi
cam kết xây dựng 1 công trình mới; chủ sở hữu BĐS phải chịu trách nhiệm bảo vệ những
người láng giềng có nguy cơ gặp nguy hiểm do BĐS, công trình trên BĐS của mình
Lạm dụng quyền: một người thực hiện quyền của mình mà gây hại cho người khác thì có thể
có chế tài cho hành vi lạm dụng quyền này. Ví dụ: chủ sở hữu một dòng chảy có quyền thay
đổi một dòng chảy, nhưng nếu nó làm tổn hại đến dòng chảy của người láng giềng thì phải chịu trách nhiệm
II, Khái niệm quyền sở hữu:
-Quyền sở hữu là loại chế định duy nhất mà người La Mã chưa đưa ra được một khái niệm
chính xác cho nó. Nhưng ta có thể hiểu người chủ sở hữu vật là người có quyền năng thống trị
đối với vật đó. (Những quyền năng đó được luật pháp công nhận)
III, Nội dung của quyền sở hữu:
Quyền sở hữu là một dạng quyền tuyệt đối và có phạm vi rất rộng. Có 5 dạng quyền năng cơ bản của chủ sở hữu:
+ Ius Utendi (Quyền sử dụng): quyền khai thác những lợi ích kinh tế từ tài sản phù hợp với
tính năng, tác dụng của tài sản đó
+ Ius Fruendi (Quyền thu nhận thành quả từ tài sản) : về nguyên tắc chủ sở hữu là người
hưởng thành quả và lợi nhuận từ tài sản thuộc sở hữu của mình
+ Ius Possidendi (Quyền chiếm hữu tài sản)
+ Ius Abutendi (Quyền định đoạt tài sản): bao gồm định đoạt số phận thực tế cũng như số
phận pháp lý của tài sản như bán, thừa kế, ban tặng, thậm chí là hủy bỏ
+ Ius Videcandi (Quyền kiện đòi tài sản) .
Quyền sở hữu hạn chế với bất động sản liền kề. Ví dụ: chủ sở hữu BĐS phải chấp nhận cho
cành lá cây nhà láng giềng trổ sang đất đai nhà mình; phải để cho nước mưa chảy tự nhiên trên đất nhà mình.
BÀI 4: QUYỀN SỞ HỮU I/ Quyền sở hữu
Chế định quyền sở hữu là chế định duy nhất mà các luật gia La Mã chưa đưa ra được khái
niệm chính xác về quyền sở hữu cũng như nội dung quyền sở hữu. Tuy nhiên trong Luật La
Mã, quyền sở hữu có thể được hiểu là quyền sử dụng, và quyền định đoạt của chủ sở hữu đối
với tài sản của mình. Quyền sở hữu không được coi là quyền tuyệt đối vì vẫn bị một số giới
hạn do pháp luật quy định.
Các luật gia La Mã đã chỉ ra được những quyền năng cơ bản của chủ sở hữu tài sản. Những quyền năng đó bao gồm:
Quyền sử dụng tài sản (Ius Utendi): đây là quyền khai thác những lợi ích kinh tế từ tài sản
phù hợp với tính năng, tác dụng của tài sản đó;
Quyền thu nhận thành quả và lợi nhuận (Ius Fruendi): về nguyên tắc chủ sở hữu là người
hưởng thành quả và lợi nhuận từ tài sản thuộc sở hữu của mình;
Quyền định đoạt tài sản (Ius Abutendi): bao gồm định đoạt số phận thực tế cũng như số phận
pháp lý của tài sản như bán, thừa kế, ban tặng, thậm chí là hủy bỏ;
Quyền chiếm hữu tài sản (Ius Possidendi)
Quyền đòi lại tài sản (Ius Vicicandi).
Về nguyên tắc chung, chủ sở hữu tài sản có toàn quyền đối với tài sản của mình, thực hiện
hành vi mà pháp luật không cấm.
Người La Mã căn cứ vào giá trị về mặt pháp lý của tài sản để chia tài sản thành hai loại là Res
mancipi (đất đai, nô lệ, động vật - những phương tiện sản xuất chủ yếu của người nông dân)
và Res nes mancipi(những tài sản còn lại). Lúc đầu chỉ có công dân La Mã mới được quyền
sở hữu ruộng đất còn dân nhập cư và dân ở các địa phương khác không có quyền. Tuy nhiên
quyền sở hữu được pháp luật ghi nhận còn thực tế bình dân khác cũng sở hữu ruộng đất.Khác
với luật La Mã, ở pháp luật Lưỡng Hà, bộ luật Hammurabi phân loại tài sản căn cứ theo giá
trị, khả năng di dời của tài sản nên chia thành hai loại là động sản (nô lệ, gia súc..) và bất lOMoAR cPSD| 45988283
động sản (đất đai, nhà ở…). Nhưng có điểm giống nhau giữa hai bộ luật là họ đều coi trọng
loại tài sản là đất đai (bất động sản), điều này có thể giải thích được bởi trong xã hội cổ đại,
đất đai chủ yếu là loại tư liệu sản xuất quan trọng nhất và cũng là loại tài sản có giá trị lớn
nhất. Cần lưu ý rằng, không phải tài sản nào cũng là đối tượng của quyền sở hữu, và không
phải tài sản nào cũng được chiếm giữ, “ lưu thông” đó là tài sản chung như nước chảy trên
sông, không khí là của tất cả mọi người, đồ cấm như thuốc độc, sách cấm, tài sản nhà nước..
II/ Căn cứ xác lập quyền sở hữu
Những sự kiện mà với sự phát sinh của chúng, chủ thể đã có quyền sở hữu được gọi là các
phương thức thủ đắc quyền sở hữu (còn gọi là modus acquirendi). Những sự kiện pháp lý là
căn cứ để thủ đắc quyền sở hữu gọi là hạng mục thủ đắc (tirulus acquirendi)
Phương thức thủ đắc quyền sở hữu được chia thành 2 loại:
Phương thức tự nhiên (căn cứ nguyên sinh)
Là những căn cứ mà từ đó quyền sở hữu đc xác lập mà không phụ thuộc vào quyền sở hữu
trước đó đối với tài sản (vật không thuộc sở hữu của ai, chiếm hữu theo thời hiệu, chủ sở hữu
từ bỏ quyền sở hữu…).
Đối tượng của quyền sở hữu phải là vật đc phép lưu thong (/tự do lưu thong, hạn chế lưu thông)
Luật La Mã có quy tắc: Vật không thuộc quyền sở hữu của ai thì ai là người chiếm giữ vật đó
đầu tiên sẽ là chủ sở hữu của vật đó, với ý định chiếm giữ cho mình.
VD: Cá ở sông, biển, thú rừng,vật mà chủ sở hữu đã từ bỏ quyền sở hữu,..
Căn cứ xác định sở hữu ban đầu với từng loại vật:
Vật vô chủ (Res nullius): bất kì một vật nào đó có thể sở hữu (kể cả nô lệ) mà chưa thuộc
quyền sở hữu của một chủ thể cụ thể nào đó – được coi là vật vô chủ vf được sở hữu một cách tự do.
Quan niệm này trở thành cơ sở pháp lý, lý luận để các quốc gia tuyên bố những vùng đất vô
chủ (terra nullius) là lãnh thổ thuộc chủ quyền lãnh thổ của nước mình vì đã phát hiện ra,
chiếm giữ hoặc đánh dấu chủ quyền lên lãnh thổ đó.
Trong luật La Mã không được phép đánh đòng vật bị vứt bỏ với vật bị đánh mất hặc cất giấu.
Xác nhận theo từng trường hợp cụ thể:
Nếu người nào đó nhặt được mảnh giẻ cũ, quần áo rách rưới thì có thể xem như những thữ
nhặt được là đồ vật bị vứt bỏ.
Nếu thấy đồ vật tương đối có giá trị (tiền, kim khí, đá quý,..) thì không được xem như đồ vật
bị vứt bỏ mà được xem như đồ vật bị đánh rơi.
Theo luật, kẻ nhận được đồ vật bị đánh có giá trị mà chiếm thành của riêng thì mắc vào tội ăn
cắp. Anh ta phải tìm ra chủ của nó bằng mọi cách và nếu tìm được thì có thể yêu cầu bồi
thường chi phí tìm kiếm và trông giữ, nhưng về nguyên tắc luật thì không được xử bồi thường.
Vật chôn, giấu – Kho báu
Vật bị cất giấu vẫn xem như là vật có chủ vì vậy quyền sở hữu vẫn thuộc chủ sở hữu của vật đó.
Nếu bị cất giấu quá lâu mà không tìm ra chủ của chúng thì chúng được gọi là vật bị chôn cất
(thesaurus). Theo luật La Mã, chủ nhân của vị trí tìm thấy vật bị chôn cất (thường là đất) được
xem là chủ sở hữu của vật đó.
Từ thế kỉ II SCN, đồ vật bị cất giấu là sở hữu của chủ nhân vị trí chôn cất và của người tìm ra
chúng (mỗi bên một nửa).
VD: B tìm thấy một viên đá quý trong vườn của A thì A được hưởng một nửa, B được hưởng
một nửa giá trị của viên đá quý đó. Chế biến vật:
Đây là hình thức tạo một vật mới từ nguyên liệu (chuyển từ dạng này sang dạng khác).
Nếu nguyên liệu thuộc sở hữu của một người và họ bỏ công sức hoặc chi phí của chính mình
ra để tạo ra một sản phẩm mới thì vật mới được tạo thành đương nhiên thuộc quyền sở hữu
của người đó (quyền sở hữu đối với nguyên vật liệu và vật tạo thành được xác lập liên tục).
Nếu nguyên vật liệu thuộc sở hữu của chủ thể này nhưng sức lao động bỏ ra hoặc chi phí chế
biến vật đó thuộc chủ thể khác thì vật mới tạo thành sẽ thuộc sở hữu của ai? Trong pháp luật lOMoAR cPSD| 45988283
La Mã ở những thời điểm lịch sử khác nhau, vấn đề về vật tạo thành thuộc sở hữu của ai được
giải quyết khác nhau. Vào thời hoàng đế Justinian, sản phẩm tạo thành từ nguyên vật liệu của
người khác được giải quyết theo nguyên tắc sau:
+ Nếu vật mới được tạo thành có thể quay về trạng thái ban đầu (không phụ thuộc vào công
sức chế biến) thì vật mới tạo thành thuộc sở hữu của người sở hữu nguyên vật liệu (VD: Vàng
tạo thành đồ trang sực thì có thể nung lại thành hình khối vàng ban đầu)
+ Nếu vật mới được tạo thành không thể quay về trạng thái ban đầu (VD: gỗ được chế biến
thành đồ gỗ) thì vật mới tạo thành thuộc sở hữu của người chế biến với điều kiện người chế
biến đó phải là người chiếm hữu ngay tình. Người chế biến phải hoàn trả người có nguyên vật
liệu khoản lợi mà mình có được từ việc chiếm hữu ngay tình đó. Sáp nhập, trộn lẫn:
Nếu một vật kiên kết với một vật khác và biến thành một phần của vật liên kết mà không còn
tồn tại độc lập thì vật đó thuộc sở hữu của người có vật liên kết
VD: Phần gỗ được dùng làm càng xe ngựa thì gỗ thuộc quyền sở hữu cua người có xe ngựa.
Người có vật liên kết phải hoàn trả lại cho chủ sở hữu có vật ban đầu hai lần giá trị của vật,
nếu vật có thể tách được vật đã lien kết thì quyền sở hữu được khôi phục nếu học không nhận
được phần đền bù 2 lần giá trị đó.
Việc liên kết một vật vào vật khác, trên cơ sở đó làm phát sinh quyền sở hữu được coi là căn
cứ đầu tiên: trồng cây hay xây dựng công trình trên đất nước của người khác.
Trộn lẫn vật là hình thức liên kết mà sau đó không phân biệt được các thành phần đã liên kết
(hợp kim, vàng, bạc) vật được liên kết được tạo thành vật mới thuộc sở hữu chung của những
người có các vật thành phần.
Nếu vật bị trộn lẫn là những vật cùng loại (VD: lương thực cùng loại cới số lượng và chất
lượng khac nhau) thì hỗn hợp tạo thành là sở hữu chung theo phần của các chủ sở hữu có thành phần hỗn hợp. Theo thời hiệu
Quyền sở hữu xác lập theo thời hiệu là một dạng đặc biệt của căn cứ đầu tiên. Theo quan
niệm của các luật gia La Mã thì một người chiếm hữu tài sản trong một thời gian nhất định và
thực hiện quyền như chủ sở hữu mà không có bất kì tranh chấp nào sẽ được công nhận quyền
sở hữu đối với vật mà họ đã chiếm hữu ngay tình. Lý do có điều trên:
Trong thời gian đó người chủ thực sự có đủ thời gian để tìm lại tài sản đã mất của mình
nhưng đã không tìm, nên suy đoán là họ đã từ bỏ quyền sở hữu.
Nếu họ không tìm thấy, không phát hiện được là tài sản của mình đang do người chiếm hữu
ngay tình chiếm hữu thì đã mất quyền khởi kiện để đòi lại. Về mặt khách quan thì quyền sở
hữu đồ vật nói trên thuộc về người khác. Người thứ 2 này có quyền phát đơn kiện và chững
minh được quyền sở hữu của mình trong phiên tòa xét xử. Trong trường hợp này thì người
thủ đắc ngay thẳng phải trả lại vật. Tuy nhiên nếu thời hạn khởi kiện đòi quá hạn thì người
thủ đắc thiện chí hoàn toàn có thể là chủ sở hữu của đồ vật. Cần công nhận người chiếm hữu
theo thời hiệu là chủ sở hữu tài sản để ảo đảm tính ổn định của lưu thông. Quy định thời hiệu
chiếm hữu để trở thành chủ sở hữu khác nhau trong từng thời kì lịch sử:
+ Trong luật 12 bảng thì thủ đắc theo thời hiệu (usucapio) được chấp nhận tương đối đơn giản: Đất đai: 2 năm Các vật khác: 1 năm
Người thủ đắc theo thời hiệu được công nhận là chủ sở hữu của vật nếu chiếm giữ đồ vật
trong thời gian nói trên và không phải đồ do ăn cắp mà có.
+ Ở các địa phương quy định một dạng thời hiệu gọi là Longi temporis paraescriptio:
Đối với người sống trong 1 tỉnh (inter paraesentes) thời hiệu là 10 năm
Đối với người khác tỉnh (inter absentes) là 20 năm
Đối với vật bị mất do trộm cắp thì không có thời hiệu.
+ Dưới thời hoàng đế Justinian thống nhất 2 dạng thời hiệu usucapio và Longi temporis paraescriptio:
Cần thiết phải chiếm giữ đồ vật.
Người chiếm hữu phải là người chiếm giữ ngay tình đang thực tế chiếm hữu vật. lOMoAR cPSD| 45988283
Chiếm hữu phải dựa trên cơ sở của pháp luật về chiếm hữu.
Thời hiệu chiếm hữu với động sản là 3 năm, bất động sản là 10-20 năm.
Vật phải được phép lưu thông và không phải vật bị mất trộm. Hoa lợi
Hoa lợi là sản vật tự nhiên mà tài sản mang lại
VD: trái cây, trứng gà,..
Hoa lợi, trong một chừng mực nào đó được coi là vật phụ của tài sản gốc, vì vậy, chủ sở hữu
của tài sản gốc cũng là chủ sở hữu hoa lợi, dù hoa lợi đã hay chưa được thu hoạch. Nếu chủ
sở hữu chăm sóc vật mang hoa lợi thì hoa lợi thuộc về chủ sở hữu, còn nếu chủ sở hữukhông
chăm sóc mà do 1 người khác thì hoa lợi chia theo thỏa thuận hay hợp đồng.
Nếu vật làm ra hoa lợi bị mất hoặc bị ăn cắp thì chủ sở hữu có thể khởi kiện:
+ Nếu có người chiếm hữu ngay tình đối với vật sinh hoa lợi bị mất đó thì trong trường hợp
hoa lợi được thu hoạch, chế biến trước thời điểm khởi kiện thì hoa lợi sẽ thuộc về người
chiếm hữu ngay tình đó. Còn nếu hoa lợi thu hoạch hoặc chế biến sau thời điểm khởi kiện thì phải để lại.
+ Nếu là người chiếm hữu không ngay tình thì người chiếm hữu không bao giờ thành chủ sở hữu
Căn cứ phái sinh (căn cứ kế tục): là phương thức mà trong đó quyền sở hữu của chủ thể đc
phát sinh từ quyền sở hữu của chủ sở hữu trước đây
Phương thức thủ đắc quyền sở hữu kế tục là sự chuyển giao đồ vật (tradition), nghĩa là quyền
sở hữu vật đc dịch chuyển từ chủ thể nay sang chủ thể khác (không phải sự chuyển giao nào
cũng đều kèm theo sự chuyển nhượng quyền sở hữu). Và ý chí của người trao và người nhận
phải đồng nhất, người chuyển giao tài sản phải có ý định chuyển giao cả quyền sở hữu, đồng
thời người nhận phải có ý định tiếp nhận quyền sở hữu.
Việc chuyển giao tài sản phải thỏa mãn các điều kiện sau:
+ Việc chiếm hữu phải đc chuyển giao cho người tiếp nhận chuyển giao
+ Người chuyển giao phải có quyền chuyển giao tài sản
+ Việc chuyển giao kèm với mục đích chuyển giao
+ Đối tượng chuyển giao phải đc phép lưu thông
III/ Chấm dứt quyền sở hữu
1/ Vật bị tiêu hủy do quy định của nhà nước bị cấm lưu thông Vd: sách cấm
2/ chủ sở hữu bị tước quyền sở hữu
Tài sản bị tịch thu do phạm tội hay hây tổn thất phải đền bù cho bên bị hại
Tài sản có thời hiệu bị người khác xác lập quyền sở hữu.
3/ chủ sở hữu từ bỏ quyền sở hữu đối với tài sản
-Vứt đồ vật đó đi coi như từ bỏ quyền sở hữu. Tuy nhiên sẽ phát sinh vấn đề nhặt được đồ vật
phải xác minh đó là đồ vật bị đánh rơi, vứt bỏ hay chủ sở hữu từ bỏ quyền sở hữu đồ vật đó.
Theo đó luật la mã quy định rất rõ ràng :
+Nếu người nào nhặt được một mảnh giẻ cũ, quần áo rách -> được xem là đồ vật bị bỏ rơi
+Nếu đồ vật có giá trị thì phải coi là đồ vật bị đánh rơi; nếu chiếm lấy sẽ mắc vào tội ăn cắp.
Phải trình báo để tìm ra chủ của nó bằng mọi cách.Trong thời gian nhất định nếu không tì đc
=> người thủ đắc thiện chí hoàn toàn có thể là chủ sở hữu.
Ngoài ra, khi biết tài sản sở hữu của mình bị chiếm hữu mà không có khiếu kiện, ý kiến thì
sau 1 thời gian nhất định người chủ sở hữu đó sẽ mất quyền sở hữu
Bán đi tài sản của mình hoặc cho đi.
4/ Quyền sở hữu không hoàn toàn
Trong trường hợp chủ sở hữu đem tài sản ra cầm cố thì chủ sở hữu sẽ tạm thời mất các quyền
năng đối với đồ vật đó tuy nhiên vẫn là chủ sở hữu của tài sản.quyền sở hữu sẽ bị mất và
chuyển sang cho người cầm đồ nếu trong thời hạn mà chủ sở hữu không thể trả nợ hoặc không trả nợ. 5/ Khác
- Sau khi một người chết đi thì quan hệ sở hữu cũng kết thúc
- Cũng như trong phần bắt đầu quyền sở hữu. nếu một người làm rơi, thất lác một đồ vật mà
người thủ đắc thiện chí trong khoản thời gian nhất định cố gắng tìm ra chủ sở hữu mà không lOMoAR cPSD| 45988283
được thì sẽ mất quyền sở hữu và quyền sở hữu đồ vật đó sẽ thuộc về người thủ đắc thiện chí
kia. Cụ thể là 10-20 năm đối với bất động sản và3 năm với động sản.
IV/ BẢO VỆ QUYỀN SỞ HỮU
Quyền sở hữu có thể có thể bị xâm hại bởi hành vi chiếm hữu của người khác. Đặt giả thiết
khi chủ sở hữu và người chiếm hữu là 2 người khác nhau, vậy để chấm dứt tình trạng đó,
người La Mã cổ đại thực hiện một trong 2 biện pháp sau:
Làm biến mất quyền của chủ sở hữu và xác lập quyền đó cho người chiếm hữu. Đó là biện
pháp xác lập quyền sở hữu theo thời điểm.
Chấm dứt tình trạng chiếm hữu của người chiếm hữu và khôi phục việc chiếm hữu cho chủ sở
hữu. Đây chính là mục đích của việc kiện đòi lại tài sản.
Trong Luật La Mã, việc kiện đòi lại tài sản có 3 cấp độ: Đòi lại tài sản đúng nghĩa, đòi lại tài
sản theo nghĩa tương đối và trong trường hợp tài sản bị xâm phạm là bất động sản, việc kiện
có thể mang tính chất của một biện pháp bảo vệ phụ trợ đối với quyền sở hữu.
Kiện đòi lại tài sản đúng nghĩa
Quyền kiện đòi lại tài sản được thừa nhận như một biện pháp giải quyết các xung đột giữa
tình trạng thực tế và tình trạng pháp lý.Đây là quyền mà chủ sở hữu kiện đòi lại tài sản bị
chiếm hữu bất hợp pháp (Ius Vidicatio).Người có trách nhiệm chứng minh trong vụ kiện đòi
lại tài sản này là người khởi kiện.Bên người bị kiện có quyền không chứng minh gì cả.Nếu
xét thấy các lý lẽ của người khởi kiện là thỏa đáng, người bị kiện có thể từ bỏ việc chiếm hữu đối với tài sản.
Tuy nhiên rất khó để có thể giải quyết các hậu quả phức tạp của việc chiếm hữu.Quyền đối
với hoa lợi, trách nhiệm đối với những hư hỏng, xuống cấp, trách nhiệm đối với chi phí tu bổ, nâng cấp tài sản.
Đối với người chiếm hữu ngay tình, họ phải chịu trách nhiệm đối với tài sản, từ thời điểm bắt
đầu khởi kiện, và được hoàn trả những chi phí bảo quản tài sản cần thiết.Còn người chiếm
hữu không ngay tình phải chịu trách nhiệm đối với mọi thiệt hại về tài sản kể từ khi họ chiếm giữ tài sản đó.
Kiện đòi bảo vệ quyền sở hữu theo nghĩa tương đối
Chiếm hữu coi như một hình thức công bố quyền sở hữu
Quyền kiện yêu cầu bảo vệ quyền sở hữu theo nghĩa tương đối được thừa nhận cho một người
chuyển nhượng tài sản từ một người mà ta không rõ có tư cách chủ sở hữu hay không. Trong
điều kiện người được chuyển nhượng ngay tình, người ta giả định rằng, người chuyển nhượng
có quyền yêu cầu bảo vệ quyền sở hữu mà người chuyển nhượng đã giao cho do hiệu lực của một giao dịch.
Bảo vệ phụ trợ đối với quyền sở hữu (đối với bất động sản)
Chống nguy cơ gây thiệt hại đối với bất động sản (Cam kết bồi thường nếu không chấp nhận
cam kết sẽ chuyển giao quyền chiếm hữu bất động sản)
Chống những hành vi gây thiệt hại đã được thực hiện (bồi thường và yêu cầu khôi phục lại hiện trạng ban đầu)
BÀI 5: CĂN CỨ PHÁT SINH NGHĨA VỤ
Nghĩa vụ được phát sinh trên những sự kiện khác nhau mà luật pháp thừa nhận.
Theo căn cứ làm phát sinh nghĩa vụ thì nghĩa vụ được chủ yếu phát sinh từ hợp đồng ( ex
contractu) và nghĩa vụ từ hành vi vi phạm pháp luật (ex delictu). Đây là hai căn cứ quan
trọng, phổ biến nhất trong pháp luật La Mã.
Tuy hai căn cứ nêu trên được coi là chủ yếu và quan trọng nhất làm phát sinh nghĩa vụ, nhưng
do sự phức tạp của của các quan hệ xã hội cũng như sự phát triển kinh tế , các luật gia La Mã
nhận thấy còn có những nghĩa vụ phát sinh từ những căn cứ mà không được liệt vào hợp đồng
cũng như là hành vi vi phạm. Đó là nghĩa vụ phát sinh như từ hợp đồng (ex quasi contractu)
và nghĩa vụ phát sinh như từ vi phạm pháp luật (ex quasi delictio)
Tóm lại, Luật La Mã quy định bốn căn cứ làm phát sinh nghĩa vụ:
Nghĩa vụ phát sinh từ hợp đồng (ex contractu)
Nghĩa vụ do hành vi vi phạm tư pháp( ex delictio)
Nghĩa vụ phát sinh như từ hợp đồng (ex quasi contractu) lOMoAR cPSD| 45988283
Nghĩa vụ phát sinh như từ các vi phạm pháp luật (ex quasi delictio)
NGHĨA VỤ PHÁT SINH TỪ HỢP ĐỒNG ( EX CONTRACTU)
1, Giao ước và khế ước
Giao ước: Là những thảo thuận, làm phát sinh những hậu quả nhưng không được pháp luật
bảo hộ bằng phương thức kiện nhưng do sự phát triển của kinh tế, một số giao ước được quan
tòa bảo hộ và một số được hoàng đế bảo hộ.
Hai bên tham gia thỏa thuận nếu không thực hiện đúng giao ước thì không phải chịu trách nhiệm trước pháp luật
Khế ước: Khế ước là những thỏa thuận được pháp luật bảo hộ thông qua các hình thức thực
hiện, chỉ những thảo thuận được pháp luật thừa nhận ( do pháp luật quy định) mới được coi là khế ước.
Hai bên thao gia thỏa thuận nếu không thực hiện đúng khế ước thì phải chịu trách nhiệm trước pháp luật
2, Điều kiện có hiệu lực của hợp đồng
Ý chí: Phải có sự trùng hợp ý chí giữa các bên trong việc tạo lập quyền và nghĩa vụ từ hợp
đồng. Phải thể hiện ý chí ra bên ngoài một cách tự nguyện và phải nhận thức được sự thể hiện đó.
Một số vấn đề phát sinh:
Ý chí được thể hiện ra ngoài không phù hợp với ý định đích thực: giải thích thông qua những
từ ngữ trong hợp đồng và ý nguyện đằng sau đó.
Một bên không có sự trùng hợp ý chí và một bên không xác định được sự trùng hợp ý chí dẫn
đến hiểu lầm (Nếu nhầm lẫn của bên này do lỗi của bên kia thì vấn đề bồi thường thiệt hại
cho bên nhầm lẫn được đặt ra)
+ Nhầm lẫn về nội dung ( cho vay và tặng)
+ Nhầm lẫn về chủ thể hợp đồng
+ Nhầm lầm về đối tượng hợp đồng:
Nếu nhầm lẫn về đối tượng thì không phát sinh hiệu lực ( Người bán bán mảnh đất A nhưng
người mua nghĩ là mảnh đất B).
Nếu việc nhầm lẫn chỉ về mức độ chất lượng của đối tượng thì không bị coi là nhầm lẫn.
Nếu chỉ nhầm lẫn về tên gọi mà không nhầm lẫn về bản chất thì vẫn có hiệu lực.
Có sự tác động của một bên hoặc bên thứ ba:
+ Lừa dối (dolus): Hành vi của một bên cố tình làm cho bên kia nhầm lẫn về đối tượng
-> Vẫn có hiệu lực nến bên bị lừa dối không đưa ra yêu cầu hủy bỏ hợp đồng. + Cưỡng ép, đe dọa:
->Người bị đe dọa có quyền nại ra việc đe dọa để yêu cầu hủy bỏ hợp đồng ( nếu việc đe dọa trái pháp luật).
Nội dung: Nội dung hợp đồng phải được xác định.
Nội dung phải chỉ rõ đối tượng.
Nội dung được xác định bởi đối tượng của hợp đồng.
Đối tượng của hợp đồng phải là vật tự do lưu thông.
Các điều khỏan của hợp đồng không được trái với các quy đinh của pháp luật và đạo đức.
Hành vi, công việc phải được thực hiện: Không thể tồn tại nghĩa vụ nếu hành vi, công việc mà
người phải thực hiện không thể thực hiện được.
Các hành vi không thể thực hiện được được xem xét trên ba phương diện:
+ Phương diện thực tế: Khả năng của con người không thực tế ( hô mưa, gọi gió,..)
+ Phương diện pháp lý: hành vi thực hiện trái pháp luật, đối tượng của nghĩa vụ là vật cấm lưu thông
+ Về đạo đức: hành vi trái đạo đức.
Hình thức của hợp đồng: Hợp đồng miệng Hợp đồng viết
3, Một số loại hợp đồng cụ thể: Hợp đồng mua bán. lOMoAR cPSD| 45988283
Hợp đồng cho vay, mượn, gửi giữ
NGHĨA VỤ PHÁT SINH NHƯ TỪ HỢP ĐỒNG ( EX QUASI CONTRACTU) Định nghĩa
Dùng để chỉ nghĩa vụ phát sinh giữa các bên mà giữa họ không có sự thoả thuận nhưng xét
về tính chất và nội dung của nghĩa vụ thì "hình như" giữa các bên có một hợp đồng - tương tự
như các bên có hợp đồng. Các loại nghĩa vụ:
Negotiorum gestio: Tiến hành công việc của người khác mà không có sự uỷ nhiệm. Nói cách
khác đó là trách nhiệm phát sinh từ hợp đồng uỷ thác(madatum)(trách nhiệm hoàn trả những
thứ có được từ sự nhầm lẫn, hoặc phải hoàn trả những thứ có được từ sự vô cớ nào đó)
Điều kiện phát sinh nghĩa vụ này:
Tiến hành một số công việc quản lý tài sản của người khác.
Khi thực hiện công việc của người khác (chủ công việc), người thực hiện là người không có
trách nhiệm về việc đó mà bị thúc đẩy do hành vi đạo đức.
Người thực hiện không có ý định tặng cho người chủ công việc để thể hiện hảo tâm.
Người thực hiện không được phép đòi tiền công từ chủ công việc.
Trách nhiệm của các bên:
Người thực hiện công việc phải tiến hành công việc một cách cẩn thận và phải chịu trách
nhiệm về mọi việc sơ xuất
Sau khi hoàn thành công việc phải báo cho chủ công việc và bàn giao mọi thứ cho anh ta.
Chủ công việc phải bồi hoàn mọi phí tổn cho người thực hiện, đương nhiên là những phí tổn
hợp lý, có ích cho công việc.
Nếu chi phí nói trên không hiệu quả thì người thực hiện không những không được đòi bồi
hoàn mà còn phải bồi thường cho chủ công việc nếu anh ta gây thiệt hại cho chủ công việc
những sơ xuất. Anh ta chỉ được phép đòi lại những gì chủ công việc đã có do hiệu quả công việc mang lại.
Nghĩa vụ phát sinh do được lợi về tài sản không có căn cứ
Luật Lã Mã thừa nhận nguyên tắc: Người làm giàu không có căn cứ phải có nghĩa vụ
hoàn trả lại cho đối tác tác của mình. Người bị tước đoạt có các quyền khiếu nại Condictio:
Condictio certae pecuniae : khiếu nại để đòi được hoàn trả số tiền nhất định.
Condictio certae rei: khiếu nại để đòi được hoàn trả đồ vật nhất định.
Condictio incerti: khiếu nại đòi hoàn trả tài sản làm giàu.
Condictio indebiti: khiếu nại đòi hoàn trả những gì không phải nộp.
Condictio causa data causa non secuta: khiếu nại đòi hoàn trả những gì đã đưa ra mà không
thực hiện được mục đích.
Condictio ex causa furtiva: khiếu nại đòi tài sản bị đánh cắp.
Condictio nes sine causa: khiếu nại đòi hoàn trả những gì bị lấy mất mà không có căn cứ.
NGHĨA VỤ PHÁT SINH TỪ VI PHẠM PHÁP LUẬT ( EX DELICTIO)
Khái niệm và đặc điểm
Khái niệm: Nghĩa vụ phát sinh từ các vi phạm pháp luật (ex delicto)là nghĩa vụ phát sinh đối
với người vi phạm tư pháp khi họ có những hành vi vi phạm tư pháp như: xâm phạm đến
quyền và lợi ích của cá nhân, các chủ thể cá biệt. Đặc điểm:
+ Pháp luật liệt kê các hành vi, những trường hợp mà khi hành vi được thực hiện trong các
trường hợp đó thì phát sinh nghĩa vụ mà không đưa ra các quy tắc chung về việc xác lập các
căn cứ làm phát sinh nghĩa vụ dạng này.
+ Việc xác định nghĩa vụ từ các hành vi vi phạm trong thời kì đầu của nhà nước La Mã không
xem xét đến lỗi, dần dần lỗi là một điều kiện không thể thiếu được khi xác định trách nhiệm
của người bị vi phạm.
+ Điều kiện làm phát sinh nghĩa vụ bồi thường thiệt hại trong hệ thống pháp luật La Mã được xác định
+ Có thiệt hại xảy ra. Hành vi có ý thức của một người nhằm gây thiệt hại ( về thân thể hoặc
tài sản) cho 1 người khác. Ý thức có thể mang tính chất của lỗi cố ý hoặc lỗi vô ý
+ Nghĩa vụ được xác lập do sự ràng buộc của luật lOMoAR cPSD| 45988283
2. Các hành vi vi phạm tư pháp
a) Xâm phạm nhân thân của người khác (Uniuria)
- Khái niệm: Là hành vi của một người gây thiệt hại cho người khác về phương diện thân thể
vật lý( dùng vũ lực ) hoặc phương diện tinh thần( cử chỉ, lời lẽ) - Biện pháp chế tài:
+ Ban đầu: Bù đắp vật chất đơn giản: mắt đền mắt, răng đền răng,…
+ Sau: Các biện pháp này không còn thực tế nên thay thế bằng phạt tiền
b) Xâm phạm tài sản( Furtum)
- Khái niệm: Là hành vi nào nhằm tước đoạt tài sản của người khác trái với ý chí của người
ấy. Khách thể bị xâm phạm ở đây là sản nghiệp chứ không phải nhân thân Luật cổ Luật cổ điển Quan niệm
Hành vi xâm phạm tài sản đặc trưng bằng sự chiếm đoạt gian lận và lén lút Đối tượng xâm phạm: động sản
Xâm phạm tài sản không nhất thiết là sự chiếm đoạt, đó là hành vi sử dụng một cách không
chính đáng tài sản của người khác+Người xâm phạm phải có hành vi vụ lợi Chế tài -Xâm phạm quả tang:
+ Công dân tự do: bị đánh+TA giao cho người bị mất trộm giải quyết
+ Nô lệ: bị đánh+bị ném từ núi cao xuống dưới sự kiểm soát của TA
+Còn nhỏ:bị đánh+bồi thường thiệt hại
-Xâm phạm không quả tang:người xâm phạm có thể bị phát tiền gấp đôi giá trị tài sản xâm phạm
Người bị thiệt hại có thể tiến hành một vụ án hình sự theo luật tư hoặc một vụ kiệ theo luật dân sự
Gây thiệt hại về tài sản( Damum Iniuria Datun)
- Khái niệm: Là hành vi của một người gây thiệt hại về tài sản cho người khác nhưng lại
không thu được lợi ích vật chất gì từ hành vi đó
VD: Một người làm cháy nhà của người khác, làm hư hỏng mùa màng của một người khác. -Đặc điểm:
+Hành vi gây thiệt hại phải được thực hiện đối với tài sản của người khác và trong điều kiện
người gây thiệt hại không có quyền. Nếu trong trường hợp phòng vệ chính đáng, người gây
thiệt hại không phải chịu trách nhiêm dân sự.
VD: Một người giết nô lệ hoặc súc vật nếu người đó bị chúng tấn công trước
+ Hành vi gây thiệt hại phải có tính chất phạm pháp và phải gây ra thiệt hại vật chất
trực tiếp đối với tài sản thông qua sự tác động có ý thức. VD: Chủ nô trói nô lệ vào thân cây
để trừng phạt. Một người đi qua, động long thương xót, cắt dây trói. Nô lệ trốn thoát. Tuy
nhiên, người đó không có tội.
Gây thiệt hại về tài sản có dùng vũ lực( Rapina)
Hành vi này có chế tài nặng: Người thực hiện hành vi có thể bị phạt tiền gấp 4 lần giá trị tài sản.
IV. NGHĨA VỤ PHÁT SINH NHƯ TỪ CÁC VI PHẠM PHÁP LUẬT ( EX QUASI DELICTIO)
Khái niệm và đặc điểm lOMoAR cPSD| 45988283
Hành vi gần như trái pháp luật là hành vi gây thiệt hại cho người khác( về thân thể hoặc tài
sản) do tác động của vật thuộc quyền sở hữu của người gây ra thiệt hại, ngoài sự kiểm soát của người này
Tính trái pháp luật là đặc trưng cơ bản của chúng.
Sự khác nhau giữa Nghĩa vụ phát sinh từ các vi phạm pháp luật và Nghĩa vụ phát sinh như từ các vi phạm pháp luật
Sự vi phạm không thể có nếu không có hậu quả xấu, còn Quasi declitio xuất hiện cho dù
không có hậu quả nhưng có nguy cơ xuất hiện hậu quả xấu ( đồ vật đang nằm trong tình trạng
có thể rơi, đồ gây thiệt hại)
Sự vi phạm không thể có nếu người thực hiện hành vi không có lỗi, còn Quasi declitio thì có
thể nếu người thực hiện hành vi xác định không có lỗi
Sự vi phạm không thể có nếu người thực hiện hành vi không biết đối tượng bị hại là người,
động vật hay đồ vật, còn Quasi declitio xuất hiện ngay cả trong tình trạng đó
Các trường hợp phát sinh nghĩa vụ như từ vi phạm pháp luật
Thiệt hại do đồ vật thuộc quyền sở hữu gây ra:
+ Nếu một vật được ném đổ ra hoặc rơi xuống từ một căn nhà mà gây thiệt hại cho người đi
đường thì chủ nhà phải chịu trách nhiệm, đây là một loại trách nhiêmh khách quan không tính đến yếu tố lỗi
+ Nếu người nào treo bên ngoài nhà của mình một vật mà khi rơi xuống gây thiệt hại cho
người đi đường thì phải chịu trách nhiệm
Thiệt hại do người phụ thuộc gây ra:
Người chủ gia đình không bị ràng buộc bởi các hợp đồng do người phụ thuộc giao kết nhưng
chủ gia đình phải chịu trách nhiệm về những hành vi vi phạm pháp luật của người phụ thuộc
gây ra cho người khác. Hành vi vi phạm pháp luật đó có tính chất như một tội phạm tư nếu
người phụ thuộc phạm một tội công thì trách nhiệm được quy kết ngoài khuôn khổ dân sự
( Thực chất chủ gia đình không bị buộc phải chịu trách nhiệm các nhân về hành vi của người
phụ thuộc: Nếu muốn người chủ gia đình có thể để mặc người bị thiệt hại xử lý người gây
thiệt hại. Trong trường hợp người chủ gia đình nhận trách nhiệm về mình thì người này có thể bị phạt tiền)
Thiệt hại do súc vật gây ra:
Trong trường hợp thiệt hại do súc vật gây ra thì trên nguyên tắc, việc xác định trách nhiệm
cũng tương tự như trong trường hợp thiệt hại do người phụ thuộc gây ra: Chủ sở hữu có thể
nhận trách nhiệm về mình và bồi thường thiệt hại hoặc để mặc súc vật cho người bị thiệt hại
xử lý. Nhưng khác với người chủ gia đình của người phụ thuộc, người chủ sở hữu không thể
bỏ súc vật chết cho người bị thiệt hại như một cách bồi thường trong khi chủ gia đình có thể
đẻ mặc thi thể người gây thiệt hại cho người bị thiệt hại xử lý
BÀI 6: QUYỀN ĐỐI VỚI TÀI SẢN CỦA NGƯỜI KHÁC (iusa in re aliena) Nội dung
- Khái niệm quyền đối với tài sản của người khác: là quyền của một chủ thể không phải là chủ
sở hữu của tài sản nhưng lại có quyền hạn đối với tài sản đó.
Bề ngoài chế định này có vẻ như bất hợp lý khi mà một người không phải chủ sở hữu
đồ vật nhưng lại có quyền hạn đối với đồ vật đó. Thẩm quyền sử dụng đồ vật người khác
hoàn toàn bị hạn chế. Trong khi chủ sở hữu đồ vật được phép làm tất cả trong quyền hạn đối
với đồ vật mà luật pháp cho phép, thì người sử dụng tài sản của kẻ khác chỉ giới hạn hành vi
của mình đối với tài sản đó trong những hình thức cho phép sau:
+ Quyền sử dụng tài sản của người khác (servitus)
+ Quyền thuê đất dài hạn + Quyền cầm cố
1. Quyền sử dụng tài sản của người khác (servitus)
- Khái niệm: Servitus là loại quyền thuê đất của người khác để đảm bảo việc sản xuất và sinh
hoạt trên đất của mình khi ở đó không đủ mọi điều kiện tối thiểu nhất. lOMoAR cPSD| 45988283
+ Có những khoảnh đất hoặc không có nước, hoặc không có bãi thả. Để sử dụng bình thường,
chủ nhân của nó buộc phải sử dụng mảnh đất bên cạnh để dẫn nước, đến với đường sá, sông ngòi…
+ Sự phát triển đô thị, đặc biệt là mật độ công trình xây dựng ngày càng lớn, các chủ sở hữu
đất canh tác trong thành thị cần được pháp luật bảo vệ để ngăn ngừa tình trạng đất canh tác
của họ bị che tối từ phía công trình nhà ở bên cạnh…
Để đáp ứng các nhu cầu trên, nhà nước La Mã đã ban hành một số đạo luật để:
+ Ghi nhận thỏa thuận của các bên sử dụng đất lẫn nhau, chẳng hạn: A thỏa thuận với B về
việc B sẽ cho A sử dụng đất của mình để A có thể tiếp cận nguồn nước đưa vào ruộng.
+ Tuy nhiên trong việc này bên thuê đất (A) hoàn toàn bị động vì chủ sở hữu (B) có thể bán
mảnh đất cho một người khác và để có thể khai thác đất đai bình thường như trước A lại phải
tiếp tục thỏa thuận với chủ mới của mảnh đất. Để tránh tình trạng đó thì luật pháp cho A
quyền sử dụng đất của người khác
Đối tượng của Servitus là mảnh đất của B chứ không phải hành vi của B. Cho dù chủ sở hữu
mảnh đất có thay đổi thì vẫn không ảnh hưởng tới Servitus của A.
Về sau không chỉ tồn tại servitus đất đai mà có dạng servitus sử dụng tất cả mọi thứ đồ vật khác : dụng ích cá nhân 1.1. Phân loại servitus
+ Quyền địa dịch (servitius đất đai): là quyền sử dụng đất của người khác. Mảnh đất lúc này
được hiểu là đất của chính chủ và chủ sử dụng (Chính chủ là người thực sự có quyền sở hữu
mảnh đất đó, còn chủ sử dụng là người có Servitus).
Người sử dụng phải có trách nhiệm tu bổ mảnh đất được chủ sở hữu của nó cho phép sử
dụng, tức là không gây hại cho mảnh đất đó. Người chủ sở hữu không được cấm đoán trong
việc sử dụng, tức phải tạo điều kiện cho Servitus. * Nguyên tắc:
- Không mang tính đền bù
- Một dạng quyền không thể phân chia
- Mang bản chất liên tục - Vĩnh cửu
- Tạo điều kiện cho các bất động sản liền kề thỏa mãn * Phân loại: 2 loại
- Địa dịch đất đai nông nghiệp: là địa dịch được thiết lập nhằm thỏa mãn yêu cầu canh tác
(Quyền có lối đi lại, quyền chăn dắt gia súc đi qua, quyền dẫn nước, thoát nước, chăn dắt gia
súc trên đất của người khác,…)
- Địa dịch thành phố: là địa dịch được xác lập để phục vụ công trình xây dựng (quyền được
lợi dụng nhà của người khác để xây nhà mình, quyền được lấy ánh sáng, không khí,…)
+ Quyền dụng ích(servitius cá nhân) được định nghĩa trong quyển Degest, điều 7 mục 1:
quyền sử dụng tài sản của người khác cũng như quyền thu hoạch mọi lợi tức do tài sản đó
mang lại nhưng với điều kiện phải bảo toàn tài sản nguyên vẹn.
Người có quyền này phải sử dụng đồ vật nói trên như là một người chủ tốt và sử dụng đúng
chức năng đồ vật. Mọi lợi tức thuộc về người có quyền dụng ích kể từ ngày chiếm giữ.
VD: Người có quyền dụng ích được sử dụng cái ao nuôi cá, nhưng khi ao cạn nước thì anh ta
không thể làm việc khác (xây nhà, trồng cây,…) * Đặc điểm:
- Được xác lập cho một chủ thể xác định và chỉ người đó được hưởng (có thời hạn
hoặc hưởng suốt đời)
- Đây là quyền suốt đời nhưng không được thừa kế cho người khác và không được chuyển nhượng.
- Mọi thiệt hại mà người có Servitus cá nhân gây ra cho chủ sở hữu đều phải bồi thường. * Phân loại: 4 loại
- Ususfructus: Quyền được sử dụng và thu hoa lợi suốt đời (bắt nguồn từ hai từ: usu – sử dụng
và fructus – hoa lợi), trong đó bao gồm cả quyền cho thuê và quyền bán hoa lợi đi.
- Usus: Quyền hạn chế hơn, chỉ được sử dụng chứ không được hưởng hoa lợi (đôi khi chỉ
được hưởng hoa lợi trong phạm vi nhu cầu cá nhân của chính người sử dụng). lOMoAR cPSD| 45988283
- Habitatio: Quyền được sống trong ngôi nhà thuộc sở hữu của người khác.
- Operae servorum vel animalium: Quyền được sử dụng nô lệ và gia súc của người khác.
*Sự khác nhau giữa quyền địa dịch và quyền dụng ích
- Quyền dụng ích cá nhân có phạm vi sử dụng rộng hơn (tất cả các đồ vật); còn quyền địa
dịch thì chỉ sử dụng đất đai.
- Quyền dụng ích được xác lập cho một chủ thể nhất định (quan tâm đến chủ thể); còn quyền
địa dịch được xác lập cho đối tượng của quyền (mảnh đất, bất động sản liền kề) mà không quan tâm chủ sở hữu.
1.2. Xác lập và chấm dứt servitus * Xác lập
Quyền dụng ích được xác lập theoý chí của chủ sở hữu tài sản thông qua hành vi pháp lý đơn
phương của họ hoặc theo hợp đồng giữa chủ sở hữu tài sản với người được hưởng dụng ích.
Quyền dụng ích có thể được xác lập theo quy định của pháp luật thông qua tòa án, hoặc theo
thời hiệu. Việc sử dụng này phải công khai, không sử dụng bạo lực. * Chấm dứt
Servitus sẽ chấm dứt nếu đối tượng là đồ vật bị hư hỏng (không còn khả năng để sử dụng);
chủ thể Servitus qua đời. Nếu chủ thể Servitus trở thành chủ sở hữu cùng một đối tượng đồ
vật thì được luật pháp công nhận theo quy tắc: nemini ré sua servit – không ai có quyền
servitus đối với đồ vật của mình (bộ Degest, quyển 8, mục 2, điều 26). Hoặc chủ thể của nó
khước từ hoặc không được thực hiện trong vòng 10 năm (inter praesentes) và trong vòng 20 năm (inter absentes). 1.3. Bảo vệ servitus
- Servitus được bảo vệ thông qua hình thức kiện – action confessoria
- Chủ sở hữu của đối tượng servitus (chính chủ) được bảo vệ bằng hình thức kiện – action negatoria.
2. Quyền thuê đất dài hạn
2.1. Lịch sử hình thành và khái niệm
Khi nhà nước mới hình thành, đất đai thuộc sở hữu của nhà nước. Tuy nhiên nhà nước không
thể cai quản hết do diện tích quá rộng và không đủ nhân lực. Nhà nước La Mã lúc này chia
đất cho quý tộc, sau đó các quý tộc (chủ sở hữu) lại cho thuê đất. Để điều chỉnh quan hệ giữa
các chủ đất và người thuê đất; đồng thời tạo điều kiện cho người thuê ổn định, yên tâm làm ăn
cũng như hưởng lợi ích lâu dài trên mảnh đất thuê của mình. Từ đó, quyền thuê đất dài hạn
hình thành thay cho các hình thức ngắn hạn trước đây.
Trên thực tế, chủ sở hữu xuất hiện trên danh nghĩa, xác lập bằng hợp đồng thuê, người thuê
có quyền sở hữu, dịch chuyển đồ vật, để lại di chúc nếu như không rơi vào những trường hợp
hạn chế thì chủ sở hữu không bao giờ có quyền đòi lại.
- Emphyteusis là quyền sử dụng đất của người khác với mục đích sản xuất nông nghiệp
- Superficies là quyền sử dụng đất của người khác với mục đích xây dựng
Giống như servitus đây là những khái niệm về quyền sử dụng tài sản của người khác
nhưng nội dung quyền hạn rộng lớn và bền vững hơn. Quyền sở hữu theo Emphyteusis và
Superficies chỉ mang tính tạm thời, chỉ sau khi chúng chấm dứt thì quyền sở hữu mới thực sự có thật. 2.2. Phân loại Có 2 dạng cơ bản:
- Thuê đất để canh tác: Ius in agro vectigali và Emphyteusis
- Thuê đất để xây dựng (Superficies)
+ Ius in agro vectigali – chế định đất lĩnh canh theo thừa kế dài hạn thuộc sở hữu nhà nước
hoặc phường hội với điều kiện trả tiền theo từng năm. Quyền của người lĩnh canh không chỉ
mang tính thường xuyên, mà còn được thừa kế và có thể chuyển cho người thứ ba khi còn thời hạn.
+ Emphyteusis là một hình thức lĩnh canh dài hạn. Đối tượng của Emphyteusis là những
mảnh đất trồng một loại cây nhất định và những mảnh hoang hóa. Trong thời gian đầu, người
lĩnh canh không phải trả tiền thuê đất, sau đó mới phải trả. Mức tiền thuê thấp hơn so với giá
thuê đất bình thường. Người có quyền Emphyteusis có các nghĩa vụ giống như người lĩnh
canh theo Ius in agro vectigali. lOMoAR cPSD| 45988283
Bao gồm: quyền sử dụng đất, quyền thu hoạch, quyền cầm cố Emphyteusis, quyền thoái thác
nó hoặc chuyển cho người khác theo thừa kế.
+Superficies: Người thuê có quyền năng thường xuyên, thừa kế và xây dựng cùng trách
nhiệm trả tiền thuê đất.
Bao gồm:quyền xây dựng trên đất của người khác theo chuyển nhượng hoặc thừa kế và quyền
sử dụng công trình xây dựng đó.
* Quyền và nghĩa vụ các bên tham gia - Quyền:
+ Người cho thuê: được trả tiền cho thuê đất hàng năm
+ Người thuê : quyền sử dụng đất đai đó, thay đổi mục đích sử dụng của mảnh đất với điều
kiện không làm tình trạng mảnh đất xấu đi, được hưởng hoa lợi từ mảnh đất, quyền chuyển lại
thừa kế (đối với sử dụng đất của người khác để sản xuất nông nghiệp); Người thuê đất có
quyền sử dụng và thừa kế tất cả những công trình thuộc về mảnh đất (Đối với thuê đất để xây dựng). - Nghĩa vụ:
+ Người cho thuê: tạo điều kiện không được gây khó dễ cho người thuê
+ Người thuê: trả tô cho chủ đất, thuế cho nhà nước
2.3. Chấm dứt quyền thuê đất dài hạn
Chủ thể Emphyteusis phải báo trước cho chủ sở hữu biết trước ý định thoái thác (Chủ sở hữu
được quyền ưu tiên mua lại với giá rẻ hơn trong thời hạn 2 tháng). Chủ thể phải trả cho chủ sở
hữu 2% giá bán quyền Emphyteusis.
Chủ thể Enphyteusis phải trả tô cho chủ sở hữu và thuế ruộng đất cho nhà nước. Nếu trong
vòng 3 năm không trả thì Enphyteusis chấm dứt.
2.4. Bảo vệ quyền thuê đất dài hạn
- Người lĩnh canh trong Ius in agro vectigali được bảo vệ bằng hình thức khiếu nại – action vectigalis.
- Để bảo vệ Emphyteusis luật pháp cho phép sử dụng hình thức kiện actioes utiles. Hình thức
kiện này cũng được sử dụng để bảo vệ cho chủ sở hữu.
- Quyền superficies được bảo vệ bằng rei vindication utilis và interdictum superficiesus.
Dựa trên nguyên tắc superficies solo cedit chủ sở hữu đất xây dựng cũng có quyền sở hữu tài
sản đối với công trình xây dựng có trên đất của anh ta. 3. Quyền cầm cố
3.1. Khái niệm và đặc điểm quyền cầm cố
- Khái niệm: Quyền cầm cố là một dạng quyền đối với tài sản của người khác nhằm bảo đảm
thực hiện một nghĩa vụ đang tồn tại. Theo pháp luật La Mã, quyền cầm cố là quyền tước đoạt
tài sản của con nợ trong trường hợp con nợ không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa
vụ của họ đối với chủ nợ.
VD: A có trách nhiệm phải làm một việc gì đó cho B (trả tiền, chuyển quyền sử dụng đồ vật,
đào mương, tát ao…). A không thực hiện trách nhiệm nói trên và gây thiệt hại cho B vì điều
đó. Vì không ép A thực hiện trách nhiệm được và để yên tâm sẽ không thiệt hại trong trường
hợp nếu A không thực hiện trách nhiệm, B nhận từ A một tài sản nhất định nào đó. ( A là
người cầm cố, B là người nhận tài sản cầm cố). B nhận cầm cố, và không quan tâm đến tới
việc A có bao nhiêu tài sản và còn nợ ai bao nhiêu, không quan tâm tới việc tài sản cầm cố có
còn là tài sản của A nữa hay không. Nội dung
Nghĩa vụ là quan hệ trái quyền, quan hệ tương đối trong đó chủ nợ chỉ có thể yêu cầu con nợ
phải thực hiện nghĩa vụ của họ. Trong trường hợp con nợ không thực hiện hoặc thực hiện
không đúng nghĩa vụ, chủ nợ có thể buộc người đó thực hiện nghĩa vụ và buộc phải chịu trách
nhiệm do đã không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ. Điều đó chỉ có thể thực
hiện được khi con nợ có tài sản, trong trường hợp họ không có tài sản khoặc không đủ tài sản
để thực hiện nghĩa vụ thì quyền lợi của chủ nợ không được bảo đảm.
Để bảo đảm quyền lợi của chủ nợ trong trường hợp con nợ không thực hiện hoặc thực hiện
không đúng nghĩa vụ của họ, khi tham gia vào quan hệ nghĩa vụ con nợ phải dùng tài sản của
mình để bảo đảm trong trường hợp con nợ không thực hiện hoặc không thực hiện đúng nghĩa