



















Preview text:
lOMoAR cPSD| 61470371
ĐỀ CƯƠNG GIÁO DỤC HỌC Mục lục
I) Nội dung 1: Những vấn đề chung về GDH 2
1. Phân tích các chức năng XH của GD? Rút ra KLSP 2
2. Trình bày các tính chất của GD( tính phổ biến nhân văn, tính vĩnh hằng, vai trò
lịch sử, tính giai cấp, tính dân tộc, tính nhân loại) 3
3. Phân tích vai trò của GD đối với sự phát triển nhân cách? Rút ra kết luận SP cần thiết 4
4. Các khái niệm cơ bản của GDH ( GD nghĩa rộng, GD nghĩa hẹp, Dạy học).Mối
quan hệ giữa các khái niệm. Cho ví dụ minh hoạ 6
5. GD trong xã hội hiện đại: Đặc điểm XH ngày nay, xu hướng PTGD, định hướng PTGDVN 7
6. Mục đích, mục tiêu GD, nguyên lý GD 8
II) ND2: Quá trình Giáo dục (nghĩa hẹp) 9
1. Khái niệm, cấu trúc của QTGD 9
2. Đặc điểm, bản chất của QTGD 12
3. Động lực, Lôgic (các khâu) của QTGD (nghĩa hẹp). Rút ra KLSP 17
4. Các nguyên tắc của quá trình giáo dục (nghĩa hẹp) ở trường phổ thông hiện nay 21
5. Nội dung, các nhóm PP, các PP GD của QTGD (nghĩa hẹp).Tại sao phảilựa chọn
phối hợp các PPGD trong tổ chức hoạt động giáo dục 22 III) ND3 23
1. Trình bầy vai trò, chức năng, nhiệm vụ của GVCN 23
2. Phân tích nội dung, phương pháp giáo dục của GVCN 27 IV) Nội dung 4 30
1. Ý nghĩa, đặc điểm, yêu cầu tổ chức HĐTN 30
2. Nội dung, phương thức tổ chức (Hình thức tổ chức), quy trình tổ chứcHĐTN 30
3. Lựa chọn chủ đề HĐTN ở trường phổ thông, thiết kế HĐTN 32 lOMoAR cPSD| 61470371
I) Nội dung 1: Những vấn đề chung về GDH
1. Phân tích các chức năng XH của GD? Rút ra KLSP.
a.Chức năng văn hóa – xã hội:
- GD có vai trò quan trọng trong việc XD hệ tư tưởng chi phối toàn XH, một lốisống
phổ biến cho toàn XH, một trình độ văn hóa cho toàn XH, bồi dưỡng nhân tài cho đất nước
- GD là con đường cơ bản xây dựng một XH tốt đẹp trên cơ sở xây dựng quan hệứng
xử giữa con người với con người hướng tới chuẩn mực.
- GD là con đường cơ bản để giữ gìn, phát triển các giá trị văn hóa của mỗi quốcgia tránh tụt hậu.
* Kết luận sư phạm:
- Đa dạng hoá các loại hình và phương thức đào tạo trong hệ thống giáo dục quốcdân,
nhằm tạo cơ hội cho người dân đi học và học suốt đời.
- Sử dụng sức mạnh của phương tiện thông tin đại chúng.b. Chức năng kinh tế - sản xuất:
- GD đào tạo lực lượng lao động mới (có trình độ, phẩm chất) phục vụ cho nềnKT- SX của XH.
- GD không trực tiếp SX nhưng đã tái SX sức lao động XH (nâng cao năng lựcngười
lao động - tạo ra năng xuất lao động cao hơn) thúc đẩy SX , phát triển KT.
- GD - yếu tố cấu thành quá trình SX : KH – GD – KT - SX
- GD là động lực của sự phát triển KT- SX bằng cách phát huy nhân tố con người.Đặc
biệt XH hậu công nghiệp đòi hỏi GD đáp ứng nguồn nhân lực chất lượng cao.
* Kết luận sư phạm: -
Giáo dục luôn gắn kết với thực tiễn xã hội. -
Tiếp tục thực hiện nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài. -
Hệ thống giáo dục nhà trường không ngừng đổi mới nhằm phát triển năng
lựchành động cho người học, đáp ứng yêu cầu của thực tiễn nghề nghiệp.
c. Chức năng chính trị - xã hội:
- GD là công cụ mạnh mẽ, lợi hại nhất để khai sáng nhận thức, tình cảm, củng cốniềm
tin, kích thích hành động của tất cả các lực lượng XH thực hiện đường lối, chính sách,
pháp luật của nhà nước nhằm duy trì củng cố chế độ chính trị đó lOMoAR cPSD| 61470371
- GD làm cho hệ tư tưởng XH trở nên thuần nhất, hệ tư tưởng của g/c thống trịđóng vai trò chính thống.
- GD là phương thức để những tư tưởng XH được thấm đến từng người, hình
thànhthế giới quan khoa học, niềm tin, lý tưởng cá nhân; GD ý thức, hành vi phù hợp với các CMXH.
- GD nâng cao nhận thức cho toàn XH, giúp cho các tâng lớp, nhóm XH thuầnnhất,
hiểu và xích lại gần nhau hơn. Chinh trị -XH ổn định tạo điều kiện KT phát triển.
- GD tạo cơ hội cho mọi người phát huy năng lực cá nhân tham gia vào các hoạtđộng
đời sống XH, tạo điều kiện thay đổi vị trí Xh, XH phát triển.
* Kết luận sư phạm:
- Người giáo viên luôn phải nắm vững quan điểm, đường lối, chủ trương của
Đảng,pháp luật của nhà nước.
- Giúp học sinh hiểu, tin tưởng và thực hiện theo đường lối, chủ trương của
Đảng,pháp luật của nhà nước.
2. Trình bày các tính chất của GD( tính phổ biến nhân văn,
tính vĩnh hằng, vai trò lịch sử, tính giai cấp, tính dân
tộc, tính nhân loại)
a.Tính phổ biến, vĩnh hằng của giáo dục.
- Giáo dục chỉ có ở xã hội loài người, là một phần không thể tách rời của đời sống
xã hội, giáo dục có ở mọi thời đại, mọi thiết chế xã hội khác nhau.
- Giáo dục là điều kiện không thể thiếu được cho sự tồn tại và phát triển của mỗi cá
nhân và xã hội loài người.
=> Như vậy, giáo dục tồn tại cùng với sự tồn tại của xã hội loài người, là con đường
đặc trưng cơ bản để loài người tồn tại và phát triển.
b.Tính lịch sử của giáo dục
-Giáo dục là một hoạt động gắn liền với tiến trình đi lên của xã hội, ở mỗi giai đoạn
phát triển của lịch sử đều có nền giáo dục tương ứng.
-Giáo dục chịu sự quy định của xã hội, nó phản ánh trình độ phát triển kinh tế - xã
hội và đáp ứng các yêu cầu kinh tế - xã hội trong những điều kiện cụ thể.
-Giáo dục luôn biến đổi trong quá trình phát triển của lịch sử loài người, không có
một nền giáo dục rập khuôn cho mọi hình thái kinh tế – xã hội, cho mọi giai đoạn của
mỗi hình thái kinh tế - xã hội cũng như cho mọi quốc gia, chính vì vậy giáo dục mang
tính lịch sử. Ở mỗi thời kì lịch sử khác nhau thì giáo dục khác nhau về mục đích, nội
dung, phương pháp, hình thức tổ chức giáo dục. lOMoAR cPSD| 61470371
c. Tính giai cấp của giáo dục.
- Trong xã hội có giai cấp, giáo dục bao giờ cũng mang tính giai cấp.
- Giáo dục thuộc về một giai cấp xác định - giai cấp thống trị xã hội.
- Giáo dục được sử dụng như một công cụ để duy trì và củng cố vai trò thống trịcủa mình.
- Giáo dục cũng được sử dụng như một công cụ, phương tiện để đấu tranh giai cấp
– đối với giai cấp bị bóc lột, bị thống trị.
- Giáo dục làm phương tiện đấu tranh, lật đổ giai cấp thống trị.
- Tính giai cấp của giáo dục thường được biểu hiện qua mục đích giáo dục và nóchi
phối, định hướng chính trị đối với sự vận động và phát triển của giáo dục.
- Ở Việt Nam, mục đích của Nhà nước ta là hướng tới xoá bỏ áp bức bóc lột, từ
đóhướng tới sự bình đẳng, công bằng trong giáo dục. Khi chuyển sang cơ chế thị trường,
bên cạnh những mặt tích cực cơ bản vẫn có những mặt trái khó tránh được, nhà nước ta
đã cố gắng đưa ra những chính sách đảm bảo công bằng trong giáo dục như:
- Mọi công dân đều có quyền tiếp cận hệ thống giáo dục.
- Đảm bảo cho những học sinh, sinh viên có năng khiếu, tài năng tiếp tục được đàotạo
lên cao bất kể điều kiện kinh tế, hoàn cảnh, giới tính, dân tộc, tôn giáo v,v..
- Tiến hành xoá mù chữ, phổ cập giáo dục.
- Đa dạng, mềm dẻo các loại hình đào tạo, các loại hình trường lớp nhằm tạo cơhội
học tập cho mọi tầng lớp nhân dân.
3. Phân tích vai trò của GD đối với sự phát triển nhân
cách? Rút ra kết luận SP cần thiết
a. Khái niệm sự phát triển cá nhân
- Phát triển cá nhân thực chất là khẳng định bản chất xã hội của con người, khẳng
định trình độ phát triển nhân cách của chính cá nhân. Sự phát triển nhân cách cá nhân
được biểu hiện qua những dấu hiệu sau:
+ Sự phát triển về mặt thể chất: Thể hiện ở sự tăng trưởng về chiều cao, trọng lượng,
cơ bắp, sự hoàn thiện chức năng các giác quan, sự phối hợp các chức năng vận động của cơ thể.
+ Sự phát triển về mặt tâm lý: Thể hiện sự biến đổi cơ bản trong đời sống tâm lý
của cá nhân: trình độ nhận thức, khả năng tư duy, quan điểm, lập trường, thói quen, xúc
cảm, tình cảm, tâm tư, nguyện vọng, nhu cầu, ý chí, vv...
+ Sự phát triển về mặt xã hội: Thể hiện ở thái độ, hành vi ứng xử trong các mối
quan hệ với những người xung quanh, ở tính tích cực nhận thức tham gia vào các hoạt
động cải biến, phát triển xã hội. lOMoAR cPSD| 61470371
b. Các yếu tố ảnh hưởng đến sự hình thành và phát triển nhân
cách của mỗi cá nhân - Yếu tố di truyền - Bẩm sinh - Yếu tố môi trường
- Yếu tố hoạt động cá nhân - Yếu tố giáo dục
c.Vai trò của yếu tố giáo dục
- Giáo dục giữ vai trò chủ đạo đối với quá trình hình thành và phát triển nhân cách,bởi
vì nó được thực hiện theo định hướng thống nhất vì mục đích nhân cách lí tưởng mà xã hội đang yêu cầu.
- Ba lực lượng giáo dục là gia đình, nhà trưởng và các đoàn thể xã hội, trong đónhà
trường có vai trò, vị trí vô cùng quan trọng trong việc thực hiện mục đích, nội dung giáo
dục bằng các phương pháp khoa học có tác động mạnh nhất giúp cho học sinh hình
thành năng lực ngăn ngừa, đấu tranh với những ảnh hưởng tiêu cực từ môi trường hoặc di truyền bẩm sinh.
d. Vai trò của yếu tố giáo dục đối với quá trình hình thành và
phát triển nhân cách được thể hiện:
- Giáo dục vạch ra chiều hướng, mục tiêu hình thành và phát triển nhân cách của
học sinh và tổ chức, chỉ đạo, dẫn dắt học sinh thực hiện quá trình đó đến kết quả mong muốn.
- Giáo dục là những tác động tự giác có điều khiển, có thể mang lại những tiến bộmà
các yếu tố di truyền bẩm sinh hoặc môi trường, hoàn cảnh không thể tạo ra được do tác động tự phát.
Giáo dục có sức mạnh cải biến những nét tính cách, hành thành phẩm chất lệch lạc
không phù hợp với yêu cầu, chuẩn mực của xã hội. Đó chính là kết quả quan trọng của
giáo dục lại đối với trẻ em hư hoặc người phạm pháp.
- Giáo dục có tầm quan trọng đặc biệt đối với những người khuyết tật hoặc thiểunăng
do bệnh tật, tai nạn hoặc bẩm sinh, di truyền tạo ra.
- Giáo dục là những tác động có điều khiển và điều chỉnh cho nên không nhữngthích
ứng với các yếu tố di truyền, bám sinh, môi trường, hoàn cảnh trong quá trình hình
thành và phát triển nhân cách mà nó còn có khả năng kìm hãm hoặc thúc đẩy các yếu
tố ảnh hưởng đến quá trình đó theo một gia tốc phù hợp mã di truyền và môi trường
không thể thực hiện được. lOMoAR cPSD| 61470371
e. Kết luận sư phạm
- Cần có nhận thức đúng đắn về vai trò của giáo dục đến sự hình thành và phát triển nhân cách.
Biến quy trình giáo dục thành quá trình tự giáo dục ở người học
- Tổ chức quá trình giáo dục một cách khoa học, hợp lý:
+ Phù hợp với đặc điểm tâm sinh lý HS
+ Yêu cầu giáo dục mang tính vừa sức với HS
+ Tổ chức các hoạt động và giao lưu đa dạng, phong phú cho HS
+ Lựa chọn nội dung giáo dục phù hợp và các phương pháp giáo dục khoa học
+ Xây dựng mối quan hệ tốt đẹp giữa nhà giáo dục và người được giáo dục
+ Khơi dậy khả năng tiềm ẩn, tổ chất di truyền, tính tích cực trong hoạt động cá nhân
của học sinh nhằm mang lại hiệu quả cho quá trình giáo dục
4. Các khái niệm cơ bản của GDH ( GD nghĩa rộng, GD
nghĩa hẹp, Dạy học). Mối quan hệ giữa các khái niệm.
Cho ví dụ minh hoạ. *
GD nghĩa rộng: Tác động có mục đích, có tổ chức + phương pháp khoa học
của nhà giáo dục tới người được giáo dục => hình thành nhân cách cho họ *
GD nghĩa hẹp: Tổ chức hoạt động và giao lưu => hình thành cho người
được giáo dục lý tưởng, tình cảm, niềm tin, hành vi, cư xử đúng đắn và nét tính cách của nhân cách *
Dạy học: Tác động qua lại giữa người dạy và người học => lĩnh hội tri thức
khoa học + hoạt động nhận thức và thực tiễn => hình thành thế giới quan + phẩm chất
theo mục đích giáo dục. *
Mối quan hệ giữa các khái niệm: -
Giáo dục theo nghĩa rộng: Phát triển toàn diện cả về phẩm chất và năng lực. -
Giáo dục theo nghĩa hẹp: Phát triển và phẩm chất -
Dạy học: Phát triển về năng lực
Giáo dục nghĩa hẹp + Dạy học = Giáo dục nghĩa rộng
* Ví dụ minh hoạ: -
Dạy học: Học sinh được dạy học môn toán, để có kỹ năng tính toán. Nhà
khoahọc được đào tạo, để có các kỹ năng nghiên cứu khoa học. -
Giáo dục theo nghĩa hẹp: như trí thông minh căn bản là cái có sẵn, tính thiện
làcái có sẵn,… Giáo dục làm tăng trưởng trí thông minh căn bản, và tính thiện lên. lOMoAR cPSD| 61470371
5. GD trong xã hội hiện đại: Đặc điểm XH ngày nay, xu
hướng PTGD, định hướng PTGDVN
a. Đặc điểm XH ngày nay: -
Xu thế toàn cầu hóa -
Sự phát triển cảu CN cao:
+ CNTT, CN sinh học, CN vật liệu đặc biệt là bước nhảy vọt của CNTT tạo ra sự
thay đổi lớn trong cơ cấu kinh tế
+ CN cao làm thay đổi phong đổi phong cách làm việc, giao tiếp, sản xuất,… của con người.
+ Sự phát triển của KHCN làm thay đổi cơ cấu nghành, nghề trong nền kinh tế đòi
hỏi GD và đào tạo cần có sự điều chỉnh cơ cấu nghành nghề, cơ cấu trình độ đào tạo
cho phù hợp với yêu cầu của nền kinh tế hiện nay. -
Hình thành nền kinh tế tri thức: Nền kinh tế được xây dựng trên cơ sở
sản xuất, phân phối, sử dụng tri thức, thông tin.
+ GD nhà trường chỉ là 1 phần, 1 giai đoạn ngắn trong cuộc sống mỗi người.
+ GD ngoài nhà trường có vai trò càng lớn +
GD thường xuyên, GD suốt đời.
+ Đa dạng các chương trình, hình thức đào tạo.
+ GD chuyển từ tinh hoa sang GD đại chúng( Tri thức- nhân tố quan trọng trong đời sống cá nhân)
+ GD phải đổi mới: môi trường, nội dung, giáo viên, phương pháp, phương thức, đánh giá.
b. Định hướng PTGDVN -
GD là sự nghiệp hàng đầu của các quốc gia - Mở rộng XHH giáo dục -
Hướng tới 1 nền GD suốt đời -
Chất lượng mới của GD hướng vào” Phát triển người “ “ Phát triển nguồn nhânlực” -
Yêu cầu đổi mới mạnh mẽ quy luật GD -
Áp dụng sáng tạo và rộng tãi CNTT vào quá trình GD c. Xu hướng PTGD:
- 5 phẩm chất cần hình thành cho người học: + Yêu nước lOMoAR cPSD| 61470371 + Nhân ái + Chăm chỉ + Trung thực + Trách nhiệm
- Năng lực chiung cần hình thành cho học sinh:
+ Năng lực tự chủ và tự học
+ Năng lực giao tiếp và hợp tác
+ Năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo
- Năng lực chuyên môn cần hình thành cho học sinh: + Năng lực ngôn ngữ + Năng lực tính toán
+ Năng lực tìm hiểu tự nhiên và xã hội + Năng lực công nghệ + Năng lực tin học + Năng lực thẩm mỹ + Năng lực thể chất
6. Mục đích, mục tiêu GD, nguyên lý GD a.Mục đích GD: -
Khái niệm: +là mô hình lí tưởng vể sản phẩm giáo dục
+ Là mô hình khách quan về nhân cách người học mà nhà trường và xã hội đào tạo.
+ Nêu lên những thuộc tính cơ bản, những nét đặc trưng bản về một kiểu người phù
hợp với yêu cầu của xã hội trong từng giai đoạn lịch sử cụ thể. - Đặc điểm:
+ Mục đích giáo dục là một phạm trù mang tính lịch sử
+ Mục đích giáo dục có tính giai cấp
+ Mục đích giáo dục mang tính dân tộc
+ Mục đích giáo dục mang tính thời đại b.Mục tiêu GD: - Khái niệm: lOMoAR cPSD| 61470371
+ Là những tiêu chí, chỉ tiêu, những yêu cầu cụ thể đối với từng khâu, từng nhiệm
vụ, nội dung của quá trình giáo dục phải đạt được sau một hoạt động giáo dục. + Mục
tiêu giáo dục là biểu hiện cụ thể của mục đích giáo dục - Đặc điểm:
+ Mục tiêu GD nhằm phát triển toàn diện con người cho xã hội hiện đại.
+ Mục tiêu GD đào tạo đầy đủ các cấp học.
c.Nguyên lí GD Việt Nam: -
Khái niệm: là những luận điểm chung nhất, có tính quy luật của lí thuyết
giáo dục, có vai trò định hướng, chỉ đạo các hoạt động giáo dục trong nhà trường. - Đặc điểm:
+ Nguyên lí GD là một tư tưởng GD có tầm thời đại
+ Nguyên lí GD là tư tưởng GD được khái quát từ bản chất của GD
+ Nguyên lí GD được khái quát từ quá trình dạy học
+ Nguyên lí GD được rút ra từ bản chất của quá trình GD
+ Nguyên lí GD còn được đúc rút từ những kinh nghiệm thực tiền GD qua nhiều thời đại. -
ND của nguyên lí giáo dục VN có 4 điểm quan trọng cần lưu ý: + Học đi đôi với hành
+ GD kết hợp với lao động sản xuất
+ Lí luận gắn liền với thực tiễn
+ Giáo dục nhà trường kết hợp với GD gia đình và GD xã hội.
II) ND2: Quá trình Giáo dục (nghĩa hẹp)
1. Khái niệm, cấu trúc của QTGD
Khái niệm của QTGD
- Quá trình giáo dục là một quá trình trong đó dưới vai trò chủ đạo của nhà giáo dục,
người được giáo dục tự giác, tích cực, chủ động tự giáo dục nhằm thực hiện tốt các nhiệm vụ giáo dục.
Phân tích cấu trúc của quá trình giáo dục lOMoAR cPSD| 61470371
Theo cách tiếp cận hệ thống, quá trình giáo dục bao gồm các thành tố cấu trúc
như: mục đích, nhiệm vụ giáo dục, nội dung giáo dục, phương pháp và phương tiện giáo
dục, nhà giáo dục, người được giáo dục, kết quả giáo dục. Mỗi thành tố đều có chức
năng riêng và có mối quan hệ biện chứng với nhau.
a. Mục đích, nhiệm vụ giáo dục
Mục đích giáo dục là thành tố có vai trò định hướng, ảnh hưởng, chi phối, qui định
sự phát triển của các thành tố khác của quá trình giáo dục (nội dung, phương pháp,
phương thức tổ chức giáo dục, kiểm tra, đánh giá,…) cũng như toàn bộ quá trình giáo dục.
Mục đích giáo dục được xem như là “đơn đặt hàng của xã hội” về mẫu người mà
quá trình giáo dục phải tạo ra. Hay mục đích giáo dục chính là mô hình dự kiến về nhân
cách con người đáp ứng được các yêu cầu của xã hội. Mục đích giáo dục có tính lịch
sử, chúng luôn biến đổi cùng với sự phát triển của xã hội và thời đại.
Mục đích giáo dục của nhà trường hiện nay là: đào tạo người được GD, trước hết là
thế hệ trẻ trở thành những người công dân, những người lao động có đủ năng lực và
phẩm chất, có khả năng hoà nhập và thích ứng năng động sáng tạo với cuộc sống đang
đổi mới toàn diện sâu sắc hiện nay.
Trong Điều 27, Luật giáo dục (2005) quy định:
“Mục tiêu của giáo dục phổ thông là giúp học sinh phát triển toàn diện về đạo đức,
trí tuệ, thể chất, thẩm mỹ và các kỹ năng cơ bản, phát triển năng lực cá nhân, tính năng
động và sáng tạo, hình thành nhân cách con người Việt Nam xã hội chủ nghĩa, xây dựng
tư cách và trách nhiệm công dân, chuẩn bị cho học sinh tiếp tục học lên hoặc đi vào
cuộc sống lao động, tham gia lao động và bảo vệ Tổ quốc”
b. Nhiệm vụ giáo dục
Nhiệm vụ giáo dục chịu sự chi phối của mục đích, mục tiêu giáo dục. Nhiệm vụ giáo
dục của nhà trường là tác động đến toàn bộ tới nhân cách của người được giáo dục (nhận
thức, thái độ và hành vi) và đồng thời hướng dẫn, khuyến khích người được giáo dục
tạo lập những thói quen hành vi phù hợp với các chuẩn mực xã hội qui định. Vì vậy
nhiệm vụ của quá trình giáo dục bao gồm 3 nhiệm vụ sau đây:
+ Tổ chức hình thành và phát triển ở người được GD ý thức cá nhân về các chuẩn
mực xã hội (CMXH) nói chung, các chuẩn mực đạo đức, pháp luật nói riêng đã được
qui định. Ý thức cá nhân về các chuẩn mực xã hội là một thể thống nhất giữa sự hiểu
biết và niềm tin của cá nhân về các chuẩn mực xã hội đó.
+ Tổ chức hình thành và phát triển ở người được GD những xúc cảm, tình cảm tích
cực đối với các CMXH, trên cơ sở đó có tác dụng thúc đẩy cá nhân chuyển hoá ý thức
cá nhân về các chuẩn mực xã hội thành hành vi, thói quen hành vi tương ứng ở họ.
+ Tổ chức hình thành và phát triển ở người được GD hệ thống những hành vi phù
hợp với các chuẩn mực xã hội đã qui định đồng thời lặp đi lặp lại những hành vi đó
thành những thói quen bền vững gắn mật thiết với nhu cầu tích cực của cá nhân. lOMoAR cPSD| 61470371
c. Nội dung giáo dục
Nội dung giáo dục là hệ thống những tri thức, thái độ, hành vi, thói quen hành vi phù
hợp với những chuẩn mực xã hội qui định cần được giáo dục cho người được giáo dục.
Nội dung giáo dục trong nhà trường được thiết kế theo mục đích giáo dục, được chi
tiết hóa thành từng mảng cụ thể phù hợp với trình độ, lứa tuổi, theo từng cấp học, phù
hợp với từng tình huống giáo dục cụ thể.
Nội dung giáo dục trong nhà trường bao gồm giáo dục đạo đức và ý thức công dân,
giáo dục văn hóa, thẩm mỹ, giáo dục thể chất, giáo dục lao động và hướng nghiệp, giáo
dục môi trường, giáo dục giới tính và sức khỏe sinh sản, giáo dục dân số, giáo dục phòng
chống các tệ nạn xã hội,…
d. Phương pháp và phương tiện giáo dục
Phương pháp và phương tiện giáo dục là những cách thức, biện pháp, phương tiện
tổ chức hoạt động giáo dục cho người được giáo dục tham gia nhằm giúp người được
GD chuyển hóa các yêu cầu, chuẩn mực xã hội qui định thành hành vi và thói quen
tương ứng ở họ. Phương pháp, phương tiện giáo dục càng khoa học, hiện đại, tiên tiến
thì càng tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình giáo dục đạt kết quả cao. e. Nhà giáo dục
Nhà giáo dục là chủ thể của quá trình giáo dục và giữ vai trò chủ đạo. Nhà giáo dục
trong phạm vi nhà trường là giáo viên, tập thể sư phạm; ở gia đình là ông bà, cha mẹ,
những người thân khác; trong các tổ chức xã hội là cán bộ phụ trách đoàn thể,… Vai trò
chủ đạo của nhà giáo dục được thể hiện ở những mặt sau:
- Quán triệt mục đích, yêu cầu, nhiệm vụ giáo dục và chuyển tải tới đối tượng giáodục.
- Định hướng sự phát triển nhân cách đối tượng giáo dục theo đúng mục đích giáo
dục của Đảng và Nhà nước đã đề ra và mục tiêu giáo dục cụ thể của nhà trường.
- Nhà giáo dục là người tổ chức, điều khiển toàn bộ quá trình giáo dục: xác địnhmục
tiêu, lựa chọn nội dung, phương pháp và các hình thức tổ chức, hướng dẫn người được
giáo dục; kiểm tra, đánh giá kết quả quá trình giáo dục.
- Có kế hoạch, phương pháp tổ chức hợp lí, khoa học, hệ thống các hoạt động giáodục
trong và ngoài nhà trường.
- Phát huy được ý thức tự giác, tính chủ động, tích cực tự giáo dục của học sinh.
- Phối hợp kết hợp với các lực lượng giáo dục (nhà trường, gia đình, xã hội) tạonên
những tác động đồng bộ, thống nhất đến người được giáo dục. lOMoAR cPSD| 61470371
f. Đối tượng giáo dục
Đối tượng giáo dục - người được GD ở trường phổ thông là cá nhân hay tập thể học
sinh. Người được GD đóng vai trò vừa là khách thể vừa là chủ thể của quá trình giáo dục.
Với tư cách là khách thể của quá trình giáo dục, các em nhận sự tác động có định
hướng, có kế hoạch, có phương pháp, có tổ chức và có hệ thống của nhà giáo dục.
Với tư cách là chủ thể của quá trình giáo dục, các em tiếp nhận các tác động giáo
dục một cách có chọn lọc thông qua lăng kính chủ quan của mình và tự vận động, biến
các yêu cầu giáo dục bên ngoài thành nhu cầu được giáo dục bên trong của bản thân.
Trong quá trình giáo dục, người được GD luôn thể hiện vai trò chủ động, tích cực,
độc lập, sáng tạo của mình, không phụ thuộc hoàn toàn vào nhà giáo dục, tự tìm ra cách
thức, con đường tu dưỡng và rèn luyện để phát triển và hoàn thiện nhân cách.
g. Kết quả giáo dục
Kết quả giáo dục là sản phẩm của những tác động giáo dục theo từng giai đoạn và
của quá trình giáo dục. Sản phẩm của giai đoạn này là tiền đề cho giai đoạn sau và
chúng kế thừa nối tiếp nhau để đạt mục đích giáo dục tổng thể.
Kết quả giáo dục được thể hiện trong sự hình thành và phát triển nhận thức, thái độ,
tình cảm, hành vi và thói quen của học sinh theo mục đích, nhiệm vụ giáo dục của nhà
trường. Nếu mục đích giáo dục là dự kiến mô hình giáo dục mong muốn thì kết quả
giáo dục là cái đã đạt được, là sản phẩm thực tế của quá trình giáo dục. Giữa mục đích
giáo dục (M) và kết quả giáo dục (Kq) sẽ có các mối tương quan sau: Kq → M; Kq ≈ M; Kq < M
Kq → M: Kết quả giáo dục hoàn toàn phù hợp với mục đích giáo dục đã đề ra.
Kq ≈ M: Kết quả giáo dục gần phù hợp với mục đích giáo dục.
Kq < M: Kết quả giáo dục trái (lệch hoặc ngược) với mục đích giáo dục.
Tóm lại, quá trình giáo dục là một hệ thống gồm nhiều thành tố, mỗi thành tố có
vai trò và chức năng riêng nhưng có mối quan hệ mật thiết với nhau, tác động qua lại,
tương hỗ lẫn nhau, tạo nên một chỉnh thể thống nhất. Mặt khác chúng lại có quan hệ và
bị chi phối bởi môi trường chính trị - kinh tế - văn hóa – khoa học kĩ thuật và quan hệ
sản xuất xã hội… Chất lượng giáo dục phụ thuộc vào chất lượng của từng thành tố.
2. Đặc điểm, bản chất của QTGD
a.Đặc điểm của quá trình giáo dục
Quá trình giáo dục diễn ra dưới những tác động phức hợp.
Sự phát triển nhân cách của người được giáo dục chịu ảnh hưởng của rất nhiều các
yếu tố: khách quan, chủ quan; bên trong, bên ngoài; trực tiếp, gián tiếp; có chủ định, không có chủ định. lOMoAR cPSD| 61470371
Quá trình giáo dục diễn ra trong suốt cuộc đời mỗi con người, do đó quá trình giáo
dục cũng luôn chịu sự tác động của rất nhiều những yếu tố đó.
Yếu tố khách quan là những yếu tố môi trường KT-XH, KHCN ảnh hưởng tới quá
trình giáo dục (GD nhà trưởng), ảnh hưởng tới người được giáo dục. Ví dụ như: điều
kiện kinh tế, văn hóa, chính trị xã hội, phong tục, tập quán, các hoạt động văn hóa, giáo
dục, xã hội ngoài nhà trường, các hoạt động thông tin tuyên truyền qua các phương tiện
và các kênh thông tỉn khác nhau...có ảnh hưởng tới.
Yếu tố chủ quan là các thành tố của quá trình giáo dục (mục đích, nội dung, phương
pháp, phương tiện...) cách tổ chức được chủ thể và khách thể của quá trình giáo dục tác
động để nó vận hành và phát triển nhằm đem lại hiệu quả giáo dục; các yếu tố tâm lí,
trình độ được giáo dục, điều kiện, hoàn cảnh gia đình,... của đối tượng giáo dục; các
mối quan hệ sư phạm được tạo ra trong quá trình tác động qua lại giữa học sinh với giáo
viên, giữa học sinh với các lực lượng giáo dục khác.
Yếu tố chủ quan là các thành tố của quá trình giáo dục (mục đích, nội dung, phương
pháp, phương tiện...), cách tổ chức được chủ thể và khách thể của quá trình giáo dục tác
động để nó vận hành và phát triển nhằm đem lại hiệu quả giáo dục; các yếu tố tâm lí,
trình độ được giáo dục, điều kiện, hoàn cảnh gia đình,... của đối tượng giáo dục; các
mối quan hệ sư phạm được tạo ra trong quá trình tác động qua lại giữa học sinh với giáo
viên, giữa học sinh với các lực lượng giáo dục khác.
Quá trình giáo dục luôn diễn ra dưới những tác động vừa phức tạp, vừa hỗn hợp của
rất nhiều các yếu tố. Tuy nhiên, các yếu tố tác động đến quá trình giáo dục với nhiều
mức độ khác nhau, chúng có thể thống nhất, hỗ trợ cho nhau trong quá trình giáo dục,
cũng có thể có mâu thuẫn làm hạn chế, suy giảm, thậm chí làm vô hiệu hóa kết quả của
quá trình giáo dục. Chính vì vậy, quá trình giáo dục chỉ có thể đạt được mục tiêu của
mình khi nhà giáo dục biết chủ động phối hợp thống nhất các tác động giáo dục (gia
đình, nhà trường, xã hội) nhằm phát huy những tác động tích cực và hạn chế những tác
động tiêu cực tác động tới người được giáo dục.
Quá trình giáo dục là một quá trình diễn ra lâu dài
Mục tiêu của quá trình giáo dục là hình thành quan điểm, thể giới quan, nhân sinh
quan, niềm tin, lý tưởng, chăm chút nhân cách của người công dân, người lao động mà
xã hội yêu cầu ở người được giáo dục. Để thực hiện mục tiêu đó đòi hỏi quá trình giáo
dục phải diễn ra một thời gian dài mới đạt được kết quả và thực tiễn giáo dục đã cho
thấy: giáo dục diễn ra suốt cuộc đời mỗi người. Tính chất lâu dài của quá trình giáo dục
được xem xét ở các góc độ sau:
Việc hình thành hành vi và thói quen hành vi đúng đắn ở người được GD, đòi hỏi
quá trình giáo dục phải tác động đến nhận thức, tạo lập xúc cảm, tình cảm tích cực đối
với hành vi đó đồng thời người được giáo dục phải trải qua một quá trình luyện tập, trải
nghiệm để lặp đi lặp lại hành vi đó trở thành thói quen bền vững gắn với nhu cầu của
họ. Vì vậy quá trình giáo dục đòi hỏi trong một thời gian dài, liên tục mới có được kết quả. lOMoAR cPSD| 61470371
Trong quá trình hình thành quan điểm, thải độ, niềm tin, thói quen hành vi mới phù
hợp với các CMXH quy định ở người được giáo dục, bản thân người được giáo dục
cũng luôn phải diễn ra cuộc đấu tranh động cơ giữa cái cũ và cái mới cần phải hinh
thảnh quan điểm, niềm tin, giá trị, hành vi, thói quen hành vi mới). Thông thường, những
cái cũ, lạc hậu thường tồn tại dai dẳng khó thay đổi, đặc biệt là những thói quen hành
vi xấu đã được tạo lập ở mỗi người. Nếu người được giáo dục không quyết tâm thay đổi
thì cái cũ lại nhanh chóng quay trở lại và cái mới khó được hình thành.
Vì vậy, quá trình giáo dục muốn đạt được mục tiêu, hiệu quả giáo dục đòi hỏi nhà
giáo dục không được nôn nóng, vội vàng đốt cháy giai đoạn mà cần phải kiên trì, bền
bỉ, liên tục tác động cùng với sự tự giác, nỗ lực quyết tâm tự rèn luyện của người được giáo dục.
Quá trình giáo dục mang tính cá biệt, cụ thể
Quá trình giáo dục được thực hiện trong cuộc sống, hoạt động và giao lưu của mỗi
cá nhân con người. Người được giáo dục có sự khác nhau về tuổi tác, trình độ, tính cách,
điều kiện hoàn cảnh... Vì vậy, trong những điều kiện môi trường giáo dục xác định, với
những đối tượng giáo dục cụ thể...Quá trình giáo dục luôn có những tác động phù hợp.
Tính cá biệt, cụ thể của quá trình giáo dục được thể hiện như sau:
Quá trình giáo dục phải tính đến đặc điểm của từng nhóm đối tượng, từng đối tượng
giáo dục cụ thể: đặc điểm tâm sinh lý, trình độ được giáo dục, kinh nghiệm sống, thải
độ, hành vi, thói quen, điều kiện hoàn cảnh sống,...khi thực hiện tổ chức các hoạt động
giáo dục và đưa ra những quyết định của nhà giáo dục.
Quá trình giáo dục diễn ra trong thời gian, thời điểm, không gian với những điều
kiện, hoàn cảnh cụ thể. Do đó quá trình giáo dục phải trên cơ sở những điều kiện cụ thể
của tình huống giáo dục để có những yêu cầu và tác động phù hợp đối với người được giáo dục.
Quá trình giáo dục phải đặc biệt chú ý luyện tập và rèn luyện các thao tác, kĩ năng
hành động ở người được giáo dục thể hiện theo các yêu cầu, nội dung, chuẩn mực xã
hội về nhiều mặt, nhiều lĩnh vực trong đời sống của cá nhân nhưng vẫn thể hiện nét tính
cách độc đáo riêng của mỗi con người.
Bên cạnh những tác động chung, đòi hỏi nhà giáo dục cần phải có những tác động
riêng phù hợp với từng đối tượng giáo dục trong từng bối cảnh cụ thể. Tuyệt đối tránh
các cách giáo dục rập khuôn máy móc, hình thức bởi, với cách giáo dục đó sẽ mang lại
thất bại, tác động phản giáo dục.
Kết quả giáo dục cũng mang tính cụ thể của một quá trình giáo dục cho từng đối
tượng, từng nhóm đối tượng giáo dục cụ thể, đối với từng mặt, từng yêu cầu cụ thể....,
trong những điều kiện, hoàn cảnh nhất định.
Quá trình giáo dục thống nhất biện chứng với quá trình dạy học
Qúa trình dạy học và quá trình giáo dục là hai quá trình bộ phận của quá trình sư
phạm tổng thể có mối quan hệ thống nhất biện chứng với nhau. Sự thống nhất của hai
quá trình này là cùng hướng tới phát triển nhân cách toàn diện cho người học đáp ứng lOMoAR cPSD| 61470371
các yêu cầu của xã hội. Tuy nhiên, mỗi quá trình có chức năng, nhiệm vụ riêng nên giữa
chúng có sự tác động qua lại, hỗ trợ, đan xen bổ sung cho nhau cũng đem lại sự phát
triển nhân cách của người học.
Nhiệm vụ của quá trình dạy học không những chi hình thành cho người học tri trứe,
kỳ năng kỹ xảo, phát triển năng lực hoạt động trí tuệ mà còn hình thành phẩm chất nhân
cách của người công dân, người lao động. Hay ta thường nói: thông qua “dạy chữ” để “dạy người”.
Ngược lại: nhờ có quá trình giáo dục mà người được giáo dục xây dựng được thế
giới quan khoa học, động cơ thái độ học tập đúng đắn, thói quen hành vi tích cực...
Chính kết quả giáo dục này sẽ tạo điều kiện thúc đẩy hoạt động học tập của người học
nói riêng, hoạt động dạy học nói chung vận động phát triển.
Mục đích cuối cùng của giáo dục là phát triển con người có đủ tài và đức để đáp ứng
các yêu cầu của xã hội, đủ sức cạnh tranh và phát triển. Vì vậy trong công tác giáo dục
nói chung, giáo dục ở nhà trường nói riêng tránh tách rời hai quá trình giáo dục và quá trình dạy học.
b.Bản chất của quá trình giáo dục theo nghĩa hẹp
*Cơ sở xác định bản chất của quá trình giáo dục
Quy trình giáo dục là quá trình hình thành một kiểu nhân cách trong xã hội
Nhân cách của mỗi người được thể hiện không chỉ thông qua lời nói mà quan trọng
là ở hành vi và thói quen hành vi ở họ trong cuộc sống. Vì vậy, mục đích của quá trình
giáo dục là hình thành ở người được giáo dục hành vi và thói quen hành vi phù hợp với
các chuẩn mực xã hội (CMXH) quy định.
Sự phát triển nhân cách con người là kết quả của quá trình hoạt động và giao lưu của
con người trong xã hội. “Trong tính hiện thực của nó, bản chất con người là tổng hòa
các mối quan hệ xã hội” (Mác).
Vì vậy để hình thành nhân cách con người có hành vi, thói quen hành vi phù hợp với
các CMXH quy định đòi hỏi quá trình giáo dục phải tổ chức cuộc sống, tổ chức hoạt
động và các quan hệ giao lưu của người được giáo dục , nhằm thu hút sự tham gia của
họ vào quá trình giáo dục trên cơ đó đạt được mục tiêu giáo dục đặt ra,
Mối quan hệ giữa nhà giáo dục và người được giáo dục trong quá trình giáo dục
Trong quá trình giáo dục, mối quan hệ giữa nhà giáo dục và người được giáo dục (cá
nhân hoặc tập thể) là quan hệ sư phạm, một loại quan hệ xã hội đặc thù. Quan hệ sư
phạm này luôn luôn chịu sự chi phối của các quan hệ chính trị, tư tưởng, văn hóa, xã
hội, kinh tế, khoa học - kĩ thuật ..., đặc biệt là quan hệ chính trị xã hội.
Hiệu quả của quá trình giáo dục phụ thuộc vào mối quan hệ thống nhất biện chứng
giữa vai trò chủ đạo của nhà giáo dục và vai trò tự giác, tích cực tự giáo dục của người lOMoAR cPSD| 61470371
được giáo dục. Xét cho cùng, sự nỗ lực của nhà giáo dục và người được giáo dục trong
quá trình giáo dục là nhằm giúp người được giáo dục chuyển hóa những yêu cầu của
CMXH quy định thành hành vi, thói quen hành vi tương ứng ở họ trên cơ sở đó thực
hiện tốt các nhiệm vụ giáo dục.
Vì vậy, quá trình giáo dục chỉ đem lại hiệu quả khi quá trình giáo dục phát huy được
vai trò tự giác, tích cực tự giáo dục của người được giáo dục tham gia vào quá trình giáo
dục. Trên cơ sở đó thực hiện tốt các nhiệm vụ giáo dục
*Bản chất của quá trình giáo dục
Quá trình giáo dục - quá trình xã hội nhằm giúp đối tượng giáo dục biến các yêu
cầu khách quan thành vêu cầu chủ quan của cá nhân.
Quá trình giáo dục nhằm hình thành và phát triển cá nhân con người trở thành những
thành viên xã hội. Những thành viên này phải thỏa mãn được hai mặt: vừa phù hợp
(thích ứng) với các yêu cầu xã hội ở mỗi giai đoạn phát triển, vừa có khả năng tác động
cải tạo, xây dựng xã hội làm cho nó tốn tại và phát triển. Những nét bản chất của cá
nhân con người chính là do các mối quan hệ xã hội hợp thành. Quá trình giáo dục là
quá trình làm cho đối tượng giáo dục ý thức được các quan hệ xã hội và các giá trị của
nó, biết vận dụng vào các lĩnh vực của đời sống xã hội: kinh tế, văn hóa - xã hội, đạo
đức, tôn giáo, pháp luật, gia đình, ứng xử ... nhằm thỏa mãn nhu cầu của cá nhân và yêu cầu của xã hội.
Khi đứa trẻ mới sinh ra, ý thức, nhân cách của nó chưa được hình thành. Các chuẩn
mực, các quy tắc ... của xã hội vốn tồn tại khách quan bên ngoài, độc lập với đứa trẻ.
Quá trình trẻ lớn lên trong môi trường văn minh của xã hội loài người, thẩm thấu những
giá trị văn hóa của loài người để tạo ra nhân cách của chính mình - quá trình xã hội hóa
con người. Đó là quá trình giúp trẻ biến những yêu cầu khách quan của xã hội thánh ý
thức, thảnh niềm tin và thái độ, thành những thuộc tinh, những phẩm chất nhân cách
của cá nhân. Bên cạnh đó, quá trình này cũng giúp đối tượng biết loại bỏ khỏi bản thân
những quan niệm, những biểu hiện tiêu cực, tàn dư cũ, lạc hậu không còn phù hợp với xã hội hiện đại.
Quá trình giáo dục là quá trình tổ chức cuộc sống, hoạt động và giao lưu cho đối
tượng giáo dục
Quá trình giáo dục là quá trình hình thành bản chất ngưởi – bản chất xã hội trong
mỗi cá nhân một cách có ý thức, là quá trình tổ chức để mỗi cá nhân chiếm lĩnh được các kinh nghiệm xã hội.
Triết học Mác - xít đã khẳng định: Bản chất xã hội của con người chỉ có được khi nó
tham gia vào đời sống xã hội đích thực thông qua hoạt động vi giao lưu ở một môi
trường văn hóa (văn hóa vật chất và tinh thần).
Hoạt động và giao lưu là hai mặt cơ bản, thống nhất trong cuộc sống của con người
và cũng là điều kiện tất yếu của sự hình thành và phát triển nhân cách của cá nhân. Tâm
lý học đã khẳng định: hoạt động và giao lưu vừa là nguồn gốc của là động lực của sự
hình thành và phát triển nhân cách. lOMoAR cPSD| 61470371
Các thuyết về hoạt động đã chứng tỏ là con người muốn tồn tại và phát triển phải có
hoạt động và giao lưu. Nếu các hoạt động và giao lưu của cá nhân (hoặc nhóm người)
được tổ chức một cách khoa học với các điều kiện, phương tiện hoạt động tiên tiến,
phong phú, cá nhân được tham gia vào các hoạt động và giao lưu đó thì sẽ có rất nhiều
cơ hội tốt cho sự phát triển.
Chính vì vậy quá trình giáo dục vừa mang tính chất của hoạt động, vừa mang tính
chất của giao lưu, Giáo dục là một quá trình tác động qua lại mang tính xã hội giữa nhà
giáo dục và đối tượng giáo dục, giữa các đối tượng giáo dục với nhau và với các lực
lượng, các quan hệ xã hội trong và ngoài nhà trường.
Như vậy, bản chất của quá trình giáo dục là quá trình tổ chức cuộc sống, tổ chức
các hoạt động và giao lưu cho người được giáo dục tham gia một cách tự giác, tích
cực, độc lập, sáng tạo nhằm chuyển hóa những yêu cầu của các chuẩn mực của xã
hội quy định thành hành vi và thói quen hành vi tương ứng ở họ trên cơ đó thực
hiện tốt các nhiệm vụ giáo dục.
3. Động lực, Lôgic (các khâu) của QTGD (nghĩa hẹp). Rút ra KLSP.
a.Trình bày động lực của quá trình giáo dục.
- Theo quan điểm triết học duy vật biện chứng, mọi quá trình trong thế giới
kháchquan đều luôn vận động và phát triển không ngừng là do có sự đấu tranh và thống
nhất giữa các mặt đối lập, nghĩa là do có cá mâu thuẫn bên trong và mâu thuẫn bên ngoài.
- Động lực của một quá trình hoạt động là kết quả của việc giải quyết những
mâuthuẫn bên trong, bên ngoài của quá trình đó, trong đó, việc giải quyết các mâu thuẫn
bên trong có ý nghĩa quyết định sự phát triển, việc giải quyết các mâu thuẫn bên ngoài
tạo điều kiện cho sự phát triển.
- Quá trình giáo dục cũng luôn vận động và phát triển không ngừng do có các
mâuthuẫn bên trong và mâu thuẫn bên ngoài.
+ Mâu thuẫn bên trong của quá trình giáo dục là mâu thuẫn giữa các thành tố và
mâu thuẫn giữa các yếu tố của quá trình giáo dục.
Ví dụ về mâu thuẫn bên trong giữa các thành tố và mâu thuẫn giữa các yếu tố
của quá trình giáo dục.
Trong quá trình giáo dục: mục đích nhiệm vụ giáo dục đã được được đổi mới,
nâng cao trong khi đó chương trình nội dung giáo dục chưa được đổi mới, phương pháp
giáo dục còn lạc hậu…
Nhà giáo dục đặt ra những yêu cầu nhiệm vụ giáo dục cao đối với người được
giáo dục, trong khi đó khả năng trình độ giáo dục hiện có ở người được giáo dục còn bị hạn chế. lOMoAR cPSD| 61470371
Ví dụ về mâu thuẫn bên trong giữa các thành tố và mâu thuẫn giữa các yếu tố
của quá trình giáo dục
Trong nhân tố người được giáo dục thường nảy sinh những mâu thuẫn: giữa
lời nói và việc làm, giữa tình cảm và lý trí.
Trong nhân tố nhà giáo dục thường có mâu thuẫn giữa trình độ chuyên môn
thì tốt song lại non kém về trình độ sư phạm trong giao tiếp ứng xử với người được giáo dục.
+ Mâu thuẫn bên ngoài của quá trình giáo dục là mâu thuẫn giữa các thành tố
của quá trình giáo dục với các nhân tố của môi trường kinh tế, chính trị, xã hội, văn hóa,
khoa học, kĩ thuật, công nghệ…
Ví dụ: Mâu thuẫn giữa sự tiến bộ xã hội với mục đích, nhiệm vụ, nội dung, phương pháp giáo dục.
- Động lực của quá trình giáo dục là kết quả của việc phát hiện và giải quyết các
mâu thuẫn của quá trình giáo dục. Trong đó, việc giải quyết các mâu thẫn bên trong có
ý nghĩa quyết định sự phát triển, việc giải quyết những mâu thuẫn bên ngoài tạo ra điều
kiện cho sự phát triển. Tuy nhiên, trong những điều kiện, hoàn cảnh cụ thể, việc giải
quyết các mâu thuẫn bên ngoài lại có ý nghĩa hết sức quan trọng cho sự vận động và
phát triển của quá trình giáo dục.
b. Phân tích logic của quá trình giáo dục
1. Khái niệm logic của Quá trình giáo dục
Lôgic của quá trình giáo dục là trình tự vận động hợp quy luật của quá trình giáo dục,
nhằm đảm bảo cho người được giáo dục đi từ trình độ tri thức, xúc cảm, tình cảm và
hành vi, thói quen hành vi phù hợp với các chuẩn mực xã hội tương ứng từ lúc bắt đầu
tham gia một hoạt động giáo dục nào đó, đến trình độ trình độ tri thức, xúc cảm, tình
cảm và hành vi, thói quen hành vi phù hợp với các chuẩn mực xã hội, tương ứng với
lúc kết thúc hoạt động giáo dục.
2. Các khâu của quá trình giáo dục
Quá trình giáo dục mang tính toàn vẹn. Để hình thành và phát triển bất kì một phẩm
chất nhân cách nào đó đều phải tác động vào tất cả các mặt của đời sống tâm lý cá nhân:
nhận thức, tình cảm, kĩ năng hành động ý chí, … Từ lý luận và thực tiễn giáo dục, ta có
thể thấy quá trình giáo dục diễn ra theo các khâu cơ bản sau:
a. Tổ chức điều khiển người được GD nắm vững những tri thức về các chuẩn
mực xã hội đã quy định
Các chuẩn mực xã hội là thước đo giá trị hành vi của con người được xã hội
thừa nhận, có tác dụng định hướng, điều tiết hành vi của cá nhân, của nhóm xã hội trong
những điều kiện nhất định. Chuẩn mực xã hội cũng chính là những điều kiện mà xã hội
kiểm tra hành vi của cá nhân và cá nhân lại có thể sử dụng nó để kiểm tra hành vi của
mình trên cơ sở đó hướng tới sự phát triển xã hội.
Trong xã hội tồn tại rất nhiều hệ thống các giá trị chuẩn mực xã hội: giá trị chuẩn
mực về pháp luật, chuẩn mực về đạo đức, chuẩn mực về truyền thống, chuẩn mực về lOMoAR cPSD| 61470371
phong tục tập quán, chuẩn mực về thẩm mỹ…Trong đó, nhiều loại chuẩn mực về đạo
đức, pháp luật đã được lựa chọn và đưa vào nội dung quá trình giáo dục.
Nhận thức là cơ sở, là kim chỉ nam cho sự hình thành và điều chỉnh tình cảm, thái độ,
hành vi của mỗi cá nhân. Muốn người được giáo dục tự giác tích cực thực hiện theo các
chuẩn mực xã hội đã quy định. Đòi hỏi nhà giáo dục cần phải tác động tới nhận thức
của người được giáo dục, giúp cho người được giáo dục nắm vững được những tri thức
về các chuẩn mực xã hội bao gồm:
- Ý nghĩa xã hội và ý nghĩa cá nhân của các chuẩn mực xã hội quy
định. - Nội dung của các chuẩn mực (bao gồm các khái niệm tương
ứng) - Cách thức thực hiện theo các yêu cầu chuẩn mực đó.
Tuy nhiên, kết quả của quá trình nhận thức đó phụ thuộc vào trình độ văn hóa, kinh
khái niệm về đạo đức, về quyền lợi và nghĩa vụ, về quy tắc sống, chuẩn mực xã hội,
những giá trị văn hóa sẽ được hình thành.
b. Tổ chức điều kiển người được giáo dục hình thành niềm tin và tình cảm tích
cực với các chuẩn mực xã hội quy định
Chính trong quá trình hình thành, phát triển tri thức về các chuẩn mực xã hội cho
người được giáo dục thì thái độ, niềm tin, tình cảm tích cực đối với các chuẩn mực xã
hội ở họ dần được hình thành.
Trong quá trình giáo dục, niềm tin đối với các chuẩn mực xã hội được thể hiện
ở người được giáo dục theo các mức độ tăng dần như sau:
- Người được giáo dục nắm được nghiệm sống, sự trải nghiệm của mỗi
người,là sản phẩm của quá trình học tập và tự tu dưỡng. Đối với học sinh phổ
thông, giáo dục ý thức cá nhân là khâu cực kì quan trọng, quá trình này được
thực hiện thông qua quá trình học tập và các hoạt động rèn luyện trong và ngoài
nhà trường. Qua đó những những tri thức về các chuẩn mực xã hội
- Tin về mặt lý luận cũng như về mặt thực tiễn đối với tính chân lý
đúng đắncủa các chuẩn mực xã hội
- Mong muốn tuân theo những yêu cầu được phản ánh trong các chuẩn mực xãhội.
- Bước đầu có hành vi phù hợp với các chuẩn mực xã hội
- Hài lòng về hành vi của mình khi đã hoàn thành phù hợp với các chuẩn mựcxã hội
- Tỏ thái độ không khoan nhượng đối với những hành vi của người
khác có mâuthuẫn với những chuẩn mực xã hội.
Chính niềm tin đó cùng với những tri thức tương ứng thu lượm được sẽ tạo nên
ở người được giáo dục ý thức đúng đắn. Trong quá trình hình thành ý thức nói chung,
niềm tin nói riêng cho người được giáo dục đã làm nảy nở những xúc cảm, tình cảm tốt
đẹp đối với các chuẩn mực xã hội. Những xúc cảm, tình cảm tích cực đó như là những
“chất men” kích thích người được giáo dục chuyển hoá ý thức cá nhân thành hành vi thói quen tương ứng.
Kinh nghiệm thực tiễn giáo dục cho thấy:
- Nếu ý thức về các chuẩn mực xã hội của người được giáo dục bị hạn
chế thì tình cảm tương ứng cũng bị hạn chế, điều đó dẫn tới hành vi tương lOMoAR cPSD| 61470371
ứng mang tính chất hình thức, thậm chí không hình thành hoặc rơi vào tình trạng sai lệch.
- Nếu người được giáo dục có nhận thức đúng về các chuẩn mực xã
hội màkhông có tình cảm tương ứng thì hành vi tương ứng sẽ khô khan cứng
nhắc và thậm chí không hình thành hay sai lệch: “Yêu nên tốt, ghét nên xấu”
- Nếu người được giáo dục nắm các chuẩn mực xã hội một cách không
tự giácsẽ dẫn đến tình trạng nói và làm không đi đôi với nhau và kết quả giáo
dục là hình thành bộ mặt nhân cách giả tạo.
Đối với các trường phổ thông thì công tác giáo dục thái độ, niềm tin, tình cảm tích cực
cho học sinh đối với việc học tập, các mối quan hệ gia đình, bè bạn, xã hội, đối với tự
nhiên và môi trường xung quanh là điều có ý nghĩa rất quan trọng. Giáo dục xây dựng
niềm tin cho các em vào chân lí, lẽ phải, giáo dục tình cảm yêu mến, kính trọng thầy cô
giáo, cha mẹ; thân ái với bạn bè,… và đồng thời chú ý uốn nắn, điều chỉnh kịp thời
những biểu hiện thái độ lệch lạc, thiếu trong sáng làm ảnh hưởng tới hiệu quả quá trình giáo dục.
c. Tổ chức điều khiển người được giáo dục hình thành hành vi và thói quen hành
vi phù hợp với các chuẩn mực xã hội đã quy định
Nhân cách của mỗi ngưòi được thể hiện bằng hành vi và thói quen hành vi của
họ chứ không chỉ dừng ở sự hiểu biết của họ. Hành vi là biểu hiện cụ thể nhất của bộ
mặt tâm lí, đạo đức của con người.
Mục đích của quá trình giáo dục là hình thành ở người được giáo dục phẩm chất nhân
cách của người công dân, người lao động đáp ứng yêu cầu xã hội. Do đó, quá trình giáo
dục quan trọng nhất là phải tổ chức, điều khiển ngưòi được giáo dục tham gia vào những
mối quan hệ hoạt động và giao lưu để họ tự rèn luyện nhằm hình thành những hành vi
phù hợp với các chuẩn mực xã hội và lặp đi lặp lại những hành vi đó thành thói quen
tương ứng. Bởi hành vi văn hóa khi đã trở thành thói quen sẽ mang tính bền vững và tự
động hóa trong cách ứng xử của mọi tình huống cuộc sống hàng ngày của người được giáo dục.
Hành vi và thói quen hành vi của mỗi người được hình thành trong quá trình hoạt động
và được rèn luyện trong các tình huống cụ thể, đa dạng của cuộc sống. Giáo dục hành
vi, thói quen hành vi có văn hóa là kết quả của cả một quá trình học tập tu dưỡng và rèn
luyện lâu dài của người được giáo dục.
Chính vì vậy, quá trình giáo dục phải tổ chức các hoạt động đa dạng phong phú dưới
nhiều hình thức khác nhau và ngày càng phức tạp đồng thời chú ý bồi dưỡng cho người
được giáo dục ý thức tự rèn luyện, năng lực tự kiểm tra, tự đánh giá thường xuyên trên
cơ sở đó các thói quen hành vi đạo đức của người được giáo dục mới được hình thành.
Lưu ý: những hành vi hình thành ở người được giáo dục phải thoả mãn các tiêu chí sau đây:
● Hành vi đó có phù hợp với các chuẩn mực xã hội quy định hay không?
● Hành vi đó có được thể hiện ở mọi nơi mọi lúc hay không?
● Hành vi có được duy trì bền vững theo thời gian hay không?
● Hành vi đó có động cơ đúng hay sai? Có ý nghĩa xã hội và cá nhân như thế nào?